Xem Nhiều 11/2022 #️ Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa… / 2023 # Top 17 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 11/2022 # Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa… / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa… / 2023 mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

2. THỰC TRẠNG

Để xác định các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình, chúng tôi đã tiến hành điều tra 88 phụ huynh (44 nam và 44 nữ) trên địa bàn thành phố Thanh Hoá.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Bảng 1: Nhận thức của cha mẹ về giáo dục HVVH trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình.

Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Hồng Đức

26

Qua bảng số liệu cho thấy: Số lƣợng ý kiến của các bậc cha mẹ cho rằng việc giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ 6 – 11 tuổi trong gia đình là “rất cần thiết” chiếm tỉ lệ cao nhất (53,4% tổng số ý kiến trả lời), số ý kiến trả lời “cần thiết” chiếm 42,1% và số ý kiến cho rằng công việc này bình thƣờng chiếm tỉ lệ rất ít 4,5% và không có ý kiến nào cho rằng, công việc này là không cần thiết. Nhƣ vậy, hầu hết các bậc cha mẹ đều nhận thức đƣợc tầm quan trọng và sự cần thiết của việc hình thành thói quen, nếp sống, hành vi ứng xử văn hoá cho con trong độ tuổi này. Một số ít cha mẹ trả lời bình thƣờng là do họ chƣa thực sự quan tâm đến việc giáo dục, uốn nắn con cái trong độ tuổi này và họ quá đề cao đời sống vật chất, ít chú ý tới đời sống tinh thần của trẻ.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Để hiểu rõ hơn sự quan tâm của các bậc cha mẹ đối việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hƣởng, thời gian cha mẹ dành cho con cái…

Bảng 2: Mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục trong gia đình của các bậc cha mẹ.

27

Qua kết quả ở Bảng 2, chúng tôi có một số nhận xét sau: Các biện pháp: 2.1; 2.2; 2.3; 2.4; 2.5; 2.6; 2.7; 2.8; 2.9 có ĐTB từ 2,21 đến 2,86 chứng tỏ cha mẹ đã chú ý sử dụng ở mức độ thƣờng xuyên.

Biện pháp mà các bậc cha mẹ sử dụng nhiều nhất là biện pháp “Khen thƣởng, động viên, khích lệ” và biện pháp “Cha mẹ làm gƣơng cho con” có ĐTB đạt 2,85. Trong độ tuổi này trẻ chƣa có khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá các hành động, hành vi của bản thân và ngƣời lớn, trẻ thiên về bắt chƣớc và làm theo. Do đó, cha mẹ luôn uốn nắn mình, làm gƣơng cho con cái là rất cần thiết. Việc cha mẹ sử dụng các biện pháp này thƣờng xuyên chứng tỏ họ đã ý thức đƣợc tính chất giáo dục bằng sự làm gƣơng trong gia đình có ảnh hƣởng rất lớn đến trẻ và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục. Khen thƣởng, động viên khuyến khích là biện pháp uốn nắn hành vi của trẻ, giúp trẻ phân biệt cái tốt, cái xấu, cái đƣợc phép và không đƣợc phép rất hiệu quả. Còn biện pháp “mắng chửi thậm tệ” các bậc cha mẹ không hoặc rất ít sử dụng. ĐTB chỉ 1.20 thấp nhất chứng tỏ các bậc cha mẹ không sử dụng hoặc rất ít khi sử dụng. Các bậc cha mẹ nhận thức rất rõ nếu thƣờng xuyên chửi mắng con sẽ làm trẻ bị tổn thƣơng về mặt tinh thần và làm cho trẻ trở nên bƣớng bỉnh hơn, chống đối, cãi lại cha mẹ và ảnh hƣởng đến cách cƣ xử của trẻ với mọi ngƣời…

Từ kết quả điều tra thực trạng cùng với quan sát cuộc sống của một số gia đình, phỏng vấn cha mẹ có con trong độ tuổi, nghiên cứu, trao đổi với các chuyên gia về giáo dục gia đình, các giảng viên ở trƣờng ĐH… Chúng tôi rút ra một số nhận xét về về hành vi văn hoá của trẻ 6-11 tuổi trong gia đình nhƣ sau:

Phần lớn trẻ đã bắt đầu nhận thức đƣợc những yêu cầu cần phải thực hiện theo đúng chuẩn mực, nhƣng đó chỉ là những hành vi đơn giản và mang tính bắt buộc cao. Các bậc cha mẹ đã nhận thức đƣợc sự cần thiết phải hình thành cho trẻ thói quen, nề nếp tốt trong gia đình. Họ đã tích cực tổ chức cuộc sống nề nếp ngăn nắp và tạo cho các em những mối quan hệ trong gia đình theo yêu cầu chuẩn mực văn hoá, đạo đức xã hội. Nhiều bậc bậc cha mẹ ý thức rất rõ vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Họ đã áp dụng tốt những mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em độ tuổi tiểu học… Nhƣng nhìn chung, các bậc cha mẹ tập chung đầu tƣ nhiều cho con học tốt các môn văn hoá, mong muốn con đỗ đạt cao còn vấn đề giáo dục đạo đức lối sống, quan hệ ứng xử hàng ngày cho trẻ còn coi nhẹ và còn lúng túng trong việc xử dụng các biện pháp giáo dục con trong gia đình.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Một trong những vấn đề mà các bậc cha mẹ còn hạn chế trong giáo dục trẻ hiện nay là:

Họ tạo mọi điều kiện vật chất tốt nhất cho cuộc sống, sinh hoạt của con nhƣng chƣa có sự theo dõi, kiểm soát chặt chẽ. Hình thức này thƣờng gặp ở các gia đình kinh doanh, buôn bán hoặc ở những gia đình bố mẹ làm ở các công ty lớn yêu cầu công việc cao.

28

Nhiều cha mẹ giáo dục con theo kiểu hình thức, tự nhiên, khi con bắt đầu có những biểu hiện hành vi sai lệch mới vội vàng tìm cách ngăn ngừa.

Một bộ phận cha mẹ quá đề cao giáo dục nhà trƣờng, gần nhƣ khoán trắng con cho nhà trƣờng còn sự theo dõi của gia đình chỉ là thứ yếu…

3.1. Xây dựng ý thức hành vi văn hoá cho trẻ thông qua việc bồi dưỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình nói chung và nâng cao nhận thức cho cha mẹ về nhiệm vụ, vai trò, mục tiêu, nội dung giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình. Mục tiêu, ý nghĩa

Sở dĩ các bậc cha mẹ còn tồn tại những vấn đề trên là do ảnh hƣởng của nền kinh tế thị trƣờng, chính sách mở cửa giao lƣu kinh tế, văn hoá trong giai đoạn hiện nay đã có những tác động đến nhận thức và hành vi của trẻ, cũng nhƣ của cha mẹ học sinh. Thời gian dành cho trẻ quá ít nên việc rèn luyện, hƣớng dẫn cho con không thƣờng xuyên trong khi đó hàng ngày, hàng giờ có nhiều hành vi, lối sống từ bên ngoài tác động vào trẻ làm cho các em bắt chƣớc và thay đổi hành vi của mình. Phần lớn các cha mẹ kiến thức hiểu biết về tâm sinh lí của con chƣa đầy đủ nên cách giáo dục con còn áp đặt, phiến diện một chiều, nhiều cha mẹ đặt lợi ích của bản thân nhiều hơn là mong muốn phát triển con cái theo đúng nhu cầu và sự phát triển của trẻ. Trong khi đó, sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và các tổ chức xã hội chƣa thực sự có sự thống nhất chặt chẽ.

3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HOÁ CHO TRẺ TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

Để xác định biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, chúng tôi dựa trên cơ sở mục tiêu giáo dục, xuất phát từ cơ sở lí luận tâm lí, ý thức, nhân cách đƣợc hình thành và phát triển thông qua hoạt động, từ kết quả thực tiễn nghiên cứu để đề xuất một số biện pháp nhƣ sau:

Bồi dƣỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình cho các bậc cha mẹ để họ nắm đƣợc một số kiến thức cơ bản nhất trong giáo dục con cái. Biết cách xây dựng chƣơng trình, kế hoạch và nội dung giáo dục con cái phù hợp với từng độ tuổi.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014 Cách thức tổ chức

Các kiến thức đƣa ra, cha mẹ có thể hiểu và áp dụng trong giáo dục con cái mọi nơi, mọi tình huống ở gia đình. Các bậc cha mẹ nhận thức đúng đắn trách nhiệm của mình trong giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ. Nhận thức đƣợc sự cần thiết, cũng nhƣ tầm quan trọng của việc dạy dỗ, giáo dục con cái…

Mục tiêu nội dung giáo dục phù hợp với sự phát triển chung của lứa tuổi, mục tiêu của giáo dục tiểu học.

29

Các kiến thức về giáo dục trẻ em trong gia đình có thể chuyển tải đến cha mẹ dƣới các hình thức: Tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo, mời chuyên gia nói chuyện, trao đổi và phổ biến các kinh nghiệm giáo dục gia đình cho các bậc cha mẹ. Các đối tƣợng tham gia tuyên truyền và tổ chức có: Nhà trƣờng, Hội phụ nữ xã, phƣờng, thành phố, các tổ chức xã hội khác…

Các buổi hội thảo, tuyên truyền, tập huấn, tập trung vào các nội dung:

Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của giáo dục gia đình, các điều kiện cần thiết cho giáo dục gia đình, những nội dung cơ bản của giáo dục gia đình và giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, một số phƣơng pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình.

Giáo dục cho trẻ biết cách quan tâm đến mọi ngƣời, phát triển tính độc lập, tự chủ và kỹ năng khắc phục khó khăn để vƣơn lên hoàn thiện nhân cách.

Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ vì cái đẹp tồn tại trong hành vi văn hoá của con ngƣời…

Cung cấp một số kiến thức về sự phát triển tâm sinh lí trẻ em ở từng độ tuổi để cha mẹ thực sự hiểu trẻ.

Các kiến thức về khoa học giáo dục con cái có thể cung cấp đến cha mẹ thông qua các kênh thông tin: Truyền hình, internet, sách, báo… Xây dựng giáo trình, tài liệu về giáo dục gia đình có thể cung cấp cho các bậc cha mẹ tham khảo và vận dụng.

Cung cấp cho các gia đình nội dung giáo dục hành vi văn hoá, những chuẩn mực hành vi chung.

Mục tiêu, ý nghĩa

Công tác tuyên truyền giáo dục này đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, định kỳ theo quy định của xã, phƣờng nhân ngày 8/3; ngày gia đình Việt Nam 28/6 hàng năm.

3.2. Cha mẹ tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình, để giúp trẻ lĩnh hội các chuẩn mực hành vi văn hoá theo yêu cầu.

Hoạt động, giao lƣu là con đƣờng cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách của con ngƣời. Qua hoạt động, giao lƣu trẻ biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm của bản thân và phát triển năng lực tinh thần và biểu hiện các hành vi ra bên ngoài.

Qua tổ chức các hoạt động cho trẻ, giúp các em biết xác định mục tiêu, kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập và rèn luyện mà gia đình đã vạch ra.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Cha mẹ cần bám sát cuộc sống của trẻ để phát hiện ra những hành động, thói quen sinh hoạt của trẻ, trên cơ sở đó thiết kế và tổ chức lại các hoạt động của trẻ cho phù hợp với chuẩn mực hành vi văn hoá.

Trẻ tích cực tham gia, thực hiện tốt các loại hình hoạt động giúp trẻ có đƣợc những tri thức về kỹ năng, thao tác thực hành. Đồng thời giúp trẻ hiểu thêm các chuẩn mực hành vi văn hoá, hình thành năng lực định hƣớng giá trị trong cuộc sống, biết phân biệt cái đúng –

30

cái sai, cái thiện – cái ác… bồi dƣỡng cho trẻ những cảm xúc, tình cảm tích cực. Xây dựng những nề nếp, thói quen thực hiện chuẩn mực hành vi trong sinh hoạt hàng ngày.

Các hoạt động phải tạo đƣợc hứng thú, hấp dẫn và cha mẹ cần phải tổ chức phối

Cách thức tổ chức

kết hợp nhiều loại hình hoạt động nhƣ giải trí, lao động, học tập…

Các hoạt động phải mang tính sáng tạo, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí lứa

tuổi các em…

Khi tổ chức thực hiện các hoạt động cho con cái trong gia đình đạt kết quả cao, cha mẹ cần nắm rõ quy trình giáo dục HVVH cho trẻ:

Cha mẹ cung cấp cho trẻ những biểu tƣợng về HVVH bằng cách sử dụng hình thức kể chuyện, hƣớng dẫn, quan sát và tổ chức đàm thoại trong gia đình

Biểu diễn HVVH mẫu và tổ chức cho trẻ làm theo mẫu hành vi.

Ví dụ: Chuẩn mực HVVH thể hiện sự chăm sóc ông bà, cha mẹ bao gồm những việc cụ thể:

3.3. Cha mẹ thường xuyên rèn luyện thói quen hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho con

Hàng ngày làm vui lòng ông bà, cha mẹ bằng việc đi xin phép, về chào hỏi, lễ phép, vâng lời, lấy tăm, rót nƣớc mời ông bà…

Sẵn sàng giúp đỡ ông bà, cha mẹ làm những việc phù hợp

Tổ chức cho trẻ thực hiện hành vi văn hoá trong đời sống hàng ngày

Lặp lại những hành vi đã trải nghiệm có ý nghĩa để trở thành nề nếp, thói quen trong cuộc sống và quan hệ hàng ngày.

Mục tiêu, ý nghĩa

Tổ chức các hoạt động sao cho cân bằng, trong giáo dục trí tuệ, đức, thể, mỹ…

trong cuộc sống gia đình.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Thói quen hành vi văn hoá bao gồm sự lễ phép với mọi ngƣời, thái độ ân cần tôn trọng ngƣời lớn tuổi, ngôn ngữ đúng đắn, dáng điệu nghiêm chỉnh… mỗi nét tính cách bền vững đều đƣợc biểu hiện trong những thói quen tƣơng ứng. Song thói quen sẽ yếu đi và mất đi khi điều kiện thay đổi. Do đó, cần phải giáo dục thói quen, HVVH một cách liên tục, thƣờng xuyên.

Tất cả những thói quen, HVVH, từ cử chỉ, hành động ổn định trở thành nhu cầu của con ngƣời, nếu nhu cầu đƣợc thoả mãn, con ngƣời cảm thấy vui vẻ, dần dần sẽ mang tính tự nhiên, ổn định, bền vững. Để đạt đƣợc sự ổn định, bền vững cần tập luyện thƣờng xuyên, liên tục, trong đó cha mẹ cần:

31

Tổ chức cho con lặp đi, lặp lại thƣờng xuyên những hành động, cử chỉ, hành vi phù hợp với chuẩn mực.

Cha mẹ giúp con hình dung đƣợc những thao tác cụ thể và tiến hành thao tác đó một cách ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.

Tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện và thƣờng xuyên giúp đỡ trẻ trong quá trình luyện tập.

Luyện tập thói quen hành vi văn hoá càng phong phú, đa dạng trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh khác nhau thì giá trị giáo dục càng cao. Không nên gò ép, trẻ, mà nên tạo ra nhiều tình huống phong phú, cho trẻ cơ hội tiếp xúc, bộc lộ càng tốt. Cha mẹ cần theo dõi, kiểm tra nhắc nhở trẻ kịp thời sửa lỗi.

Luyện tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với sự vận động, phát triển tâm sinh lí lứa tuổi. Cha mẹ cần kiên trì, không nóng vội, phải làm đi làm lại nhiều lần để củng cố hoàn thiện trở thành thói quen hành vi.

Cách thức tổ chứ c

Giáo dục thói quen hành vi cho trẻ, cha mẹ cần đi từ các bƣớc sau:

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Bƣớc thứ nhất: Tập làm, nhằm hình thành cho trẻ những kỹ năng cụ thể để thực hiện các thói quen đạo đức, thói quen văn hoá.

Bƣớc thứ hai: Khích lệ, động viên thƣờng xuyên để tạo hứng thú, xây dựng tính tự giác, tích cực cho trẻ thực hiện HVVH . Ở bƣớc này cha mẹ có thể:

Bƣớc ba: Rèn luyện, ôn tập: Để hình thành thói quen, HVVH một cách bền vững, chắc chắn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ là một quá trình lân dài, bền bỉ không thể nóng vội vì hành vi của trẻ chƣa mang tính ổn định cao mà phải tạo điều kiện cho trẻ tham gia rèn luyện củng cố thƣờng xuyên trong một thời gian nhất định thì mới có hiệu quả.

MEASURES IN EDUCATINY CULTURAL BECHAVIOURS IN COMMUNICATION FOR 6 – 11 YEAR OLD CHILDREN Nguyen Thi Phuong Lan ABSTRACT The cultural behavior education for 6-11 year old children is necessary and crucial as this is the first foundation for the for mativi, and comprehensive and sustainable development of each individuals. The parents need to determine their responsibilities and roles to cooperate with schools and society to educate the cultural behaviors for their children during this developement stage. To orgauize activities and pratise habits and cultural behaviours in communication more regularly for children in cach family that cluldren can perceive standardized habits and cultural behaviours.

32

Qua nghiên cứu và tìm hiểu thực tế việc sử dụng biện pháp giáo dục HVVH cho trẻ trong gia đình cho thấy: Các bậc cha mẹ đã quan tâm nhiều đến việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ nhƣng vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc sử dụng các biện pháp giáo dục, việc dành thời gian cho trẻ, phƣơng pháp giáo dục của các bậc cha mẹ đều xuất phát từ những kinh nghiệm rời rạc. Vì vậy hiệu quả chƣa cao, để giúp các bậc cha mẹ có đƣợc các biện pháp giáo dục thích hợp, góp phần vào sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, các bậc cha mẹ cần nhận thức đúng đắn vai trò trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái trƣởng thành và việc làm đầu tiên đối với mỗi ngƣời làm cha, mẹ là nâng cao hiểu biết về giáo dục gia đình nói chung và những kiến thức về giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình. Giáo dục con cái cần xuất phát từ lợi ích và quy luật phát triển tự nhiên về tâm sinh lí của trẻ, cũng nhƣ xuất phát từ thực tế cuộc sống, hoàn cảnh hiện tại của gia đình để rèn luyện những thói quen, hành vi văn hoá cho con theo chuẩn mực.

Phạm Khắc Chƣơng, Nguyễn Thị Bích Hồng. Giáo dục gia đình, NXBGD 1999.

Trần Tuyết Oanh. Giáo dục học, tập 2, NBĐHSP, 2008).

Nguyễn Thanh Bình. Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con cái ở lứa tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay. NXBĐHQG, 2001.

Một số biện pháp giúp cha mẹ giáo dục hành vi đạo đức cho con cái trong gia đình theo chương trình lớp 1, 2 bậc tiểu học. Luận án thạc sĩ GDH, 2003.

Keywords: measures, chilren, edcation, cultural behaviours, culturally habitual behaviours.

Ngƣời phản biện: chúng tôi Phan Thanh Long; Ngày nhận bài: 02/11/2013; Ngày

thông qua phản biện: 29/11/2013; Ngày duyệt đăng: 26/12/2013

33

Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

Giáo Trình Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa Cho Trẻ / 2023

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON

GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ)

GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ (Dành cho sinh viên ngành ĐHGD mầm non)

Tác giả: Nguyễn Thị Diễm Hằng

1

MỤC LỤC Trang

CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HÀNH VI VĂN HÓA ……………………………………. 4 1.1. Khái niệm về hành vi………………………………………………………………………………………………… 4 1.2. Khái niệm hành vi văn hóa ………………………………………………………………………………………. 5 1.3. Hai hình thái bên ngoài và bên trong của hành vi văn hóa …………………………………….. 6 1.4. Các loại hành vi văn hóa ………………………………………………………………………………………….. 7 CHƯƠNG 2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HÀNH VI VĂN HÓA 12 2.1. Sự hình thành và phát triển hành vi trong bậc thang tiến hóa ………………………………. 12 2.2. Các trình độ hành vi ở người ………………………………………………………………………………….. 14 2.3. Tự ý thức và sự xuất hiện hành vi văn hóa ……………………………………………………………. 17 2.4. Đặc điểm phát triển hành vi văn hóa của trẻ mẫu giáo (3 – 6 tuổi) …………………….. 21 CHƯƠNG 3. NỘI DUNG GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ ………………….. 30 DƯỚI 6 TUỔI ……………………………………………………………………………………………………………………. 30 3.1. Nguyên tắc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ dưới 6 tuổi ……………………………………. 30 3.2. Nội dung giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ dưới 6 tuổi ……………………………………….. 32 CHƯƠNG 4. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA ……………………………. 46 CHO TRẺ DƯỚI 6 TUỔI …………………………………………………………………………………………………. 46 4.1. Phương pháp dùng tình cảm để giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ ………………………. 46 4.2. Phương pháp dùng tác phẩm nghệ thuật ……………………………………………………………….. 47 4.3. Phương pháp dùng trò chơi …………………………………………………………………………………….. 50 4.4. Phương pháp luyện tập thường xuyên …………………………………………………………………… 54 4.5. Phương pháp tạo dựng môi trường ………………………………………………………………………… 55 4.6. Phương pháp làm gương cho trẻ noi theo ……………………………………………………………… 55 4.7. Phương pháp khen chê ……………………………………………………………………………………………. 56 4.8. Phương pháp thống nhất tác động giáo dục…………………………………………………………… 56 4.9. Phương pháp lấy trẻ làm trung tâm………………………………………………………………………… 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………………………………………. 60

2

LỜI NÓI ĐẦU Giáo dục hành vi văn hóa là một trong những môn học thuộc chương trình đào tạo thuộc khối ngành mầm non. Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của sinh viên mầm non, chúng tôi biên soạn tập bài giảng này. Trong khi biên soạn, nhóm tác giả đã tiếp thu, kế thừa có chọn lọc nhiều tài liệu hiện có trong và ngoài nước, đồng thời mạnh dạn mở rộng, bổ sung nhiều vấn đề hiện đại mang tính cập nhật như: Vấn đề hành vi, hành vi văn hóa, đặc điểm hành vi văn hóa… cho nên giáo trình này là tài liệu tham khảo bổ ích đối với cán bộ giảng dạy, sinh viên chuyên ngành mầm non. Trong quá trình biện soạn bài giảng khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định, mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp và độc giả. Xin chân thành cảm ơn

3

CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HÀNH VI VĂN HÓA 1.1. Khái niệm về hành vi 1.1.1. Hành vi là gì? Bắt đầu từ đầu thế kĩ XX thuật ngữ hành vi (behavior) được sử dụng nhiều và được xem xét từ nhiều quan điểm khác nhau. Một số quan điểm chủ yếu: Các nhà sinh học đại diện là E.L.Tooc-đai-nơ (1874-1949) xem hành vi là cách sống và hoạt động trong một môi trường nhất định của một cá thể để thích nghi với môi trường đó nhằm đảm bảo cho nó được tồn tại. Chủ nghĩa hành vi là một trong những trào lưu phổ biến nhất trong tâm lý học tư sản hiện đại. Trường phái này có khá nhiều quan điểm: Trước hết là chủ nghĩa hành vi cổ điển do G.Oat-xơn (1878 – 1958) đề xướng vào năm 1913 tại trường Đại học Sicago, cơ sở thực nghiệm của chủ nghĩa hành vi này là những công trình nghiên cứu của Tooc-đai-nơ về hành vi động vật. Ông quan niệm tâm lý học: “Hành vi người, tức là mọi ứng xử và từ ngữ của con người cả những cái di truyền lẫn những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu. Đó là việc nghiên cứu con người làm gì, bắt đầu từ trong bào thai đến lúc chết”. Vậy so với tâm lý học duy tâm (nghiên cứu một cách trừu tượng) thì nghiên cứu của ông được đánh giá cao hơn. Chủ nghĩa hành vi mới, tác giả tiêu biểu là C.Han-lơ (1884-1952) và E.Tôn-men (1886-1959); chủ nghĩa hành vi bảo thủ do chúng tôi Xkin-nơ (1904) khởi xướng ra đời dưới ảnh hưởng của học thuyết I.P.Pap-lốp đã vay mượn thuật ngữ và cách phân loại những hình thức hành vi trong học thuyết này nhưng về bản chất lại khôn giống nhau. Dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng họ đều có chung một quan điểm là: coi mọi hành vi đều biểu thị bằng công thức : S-R

Trong đó: S là kích thước; R là phản ứng Theo nguyên tắc trực tiếp và không có sự tham gia của chủ thể. Mặc dù sau này có một số quan niệm phản ứng của con người không chỉ đối với các kích thích có tính sinh học mà còn phản ứng với những kích thích trong môi trường xã hội, có lợi cho bản thân, thì luận điểm cơ bản của họ là xem con người chỉ là một cơ thể và quy những hiện tượng tâm lý của con người chỉ là những phản ứng của cơ thể; đồng nhất hóa giữa ý thức và hành vi mà đơn vị cơ bản của nó là mối liên hệ S – R. Do đó con người chỉ có phản ứng thụ động,

4

hoàn toàn lệ thuộc vào những kích thích tác động bên ngoài, không cần biết giữa kích thích và phản ứng có gì. Như vậy, hành vi là cách ứng xử của con người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định với sự điều khiển, điều chỉnh của tâm lý, ý thức người đó 1.1.2. Phân biệt hành vi con người và hành vi con vật Giống nhau: Hành vi là phản ứng của một cá thể trong một môi trường nhất định nhằm tạo ra sự cân bằng giữa cơ thể với môi trường để tồn tại. Khác nhau: HV con người

HV con vật

Hành vi con người mang tính chủ thể HV chỉ phản ứng trực tiếp với những cao. Thích nghi với môi trường và biến kích thích trong một môi trường nhất đổi đối tượng trong môi trường để phù định nhằm thích nghi với môi trường hợp với nhu cầu của bản thân.

đó.

Thực hiện theo nguyên tắc gián tiếp. Thực hiện theo nguyên tắc gián tiếp Biểu thị theo công thức sau:

Biểu thị theo công thức sau:

S-X-R

S-R

Hành vi có ý thức

Hành vi mang tính bản năng

Như vậy, muốn có hành vi văn hóa, con người phải được giáo dục rèn luyện cả về mặt đạo đức và thẩm mĩ. Xem xét hành vi văn hóa trong mối quan hệ với hành vi giao tiếp có văn hóa. Trong cuộc sống hàng ngày con người thường giao tiếp với nhau được thực hiện trong mối quan hệ chủ thể – chủ thể, quan hệ giữa người với người. Là một bộ phận quan trọng của hành vi văn hóa và chứa đựng cả mặt tốt lẫn mặt chưa tốt, mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực. Để có hành vi giao tiếp tốt hay giao tiếp có văn hóa, con người cần giáo dục và rèn luyện về mặt đạo đức cũng như mặt thẩm mĩ. 1.3. Hai hình thái bên ngoài và bên trong của hành vi văn hóa 1.3.1. Hai chiều “nhập tâm” và “xuất tâm” của hoạt động Hoạt động của con người thường có 2 chiều: Chiều thứ nhất: Chủ thể vật chất hóa năng lực năng lực, tâm lý, ý thức của mình vào trong sản phẩm tạo ra (xuất tâm). Chiều thứ hai: Con người tách năng lực năng lực, tâm lý, ý thức đã được kết tinh trong đối tượng để chuyển thành năng lực tâm lý, ý thức của chủ thể hoạt động (nhập tâm). Hai chiều của hoạt động đã tạo ra kết quả kép: Trong khi tác động vào đối tượng để tạo ra sản phẩm mới – tức là thế giới khách quan được cải tạo (đó là kết quả thứ nhất) thì đồng thời con người lĩnh hội năng lực tinh thần đã được ghi lại trong thế giới đối tượng để phát triển và hoàn thiện tâm lý bản thân mình (đó là kết quả thứ 2). Hai hình thái bên ngoài và bên trong là hai mặt thống nhất của hoạt động. Các nhà khoa học đã chứng minh về nguyên tắc, muốn hình thành và phát triển tâm lý trước hết phải tổ chức hoạt động bên ngoài mới đến hoạt động bên trong theo con đường nhập tâm, đặc biệt đối với sự phát triển tâm lý trẻ em. Điều này có thể thực hiện được nhờ hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong cùng có cấu trúc giống nhau. 1.3.2. Sự thống nhất giữa hình thái bên trong và bên ngoài của hành vi văn hóa Hình thái bên trong của hành vi: Mặt tinh thần, động cơ và có chức năng thúc đẩy cho hình thái bên ngoài được thể hiện, đó là mặt động cơ. Hình thái bên ngoài: Mặt tâm lý, ý thức… cho nên khi tác động vào đối tượng xung quanh, tiếp nhận ảnh hưởng từ thế giới đối tượng tác động vào nội tâm làm biến đổi, phát triển tâm lý con người (đã tác động trở lại hình thái bên trong để phát triển hoàn thiện nhân cách con người) và có vai trò đặc biệt, nó trực tiếp tác động đến đối tượng và biểu hiện bằng những vận động, cử chỉ, lời nói, tức hành động vật chất được người ngoài nhận biết trước khi nhận biết mặt tinh thần – tâm lý – động cơ ẩn dấu bên trong hành vi. Hình thái bên ngoài mới mang tính năng động, cải tạo đối với hiện thực khách quan. Sự tác động qua lại giữa hình thái bên trong và bên ngoài để tạo nên hành vi của một con người. Hai hình thái trên thống nhất với nhau. Hình thái bên trong chủ yếu là ý thức đạo đức, ý thức đạo đức càng trong sáng, càng sâu sắc thì hành vi mới thể hiện mạnh mẽ và 6

có tác động tích cực đến đối tương bấy nhiêu và ngược lại. Khi thể hiện cái bên trong ra bên ngoài thì lại đòi hỏi mặt hình thức cần có tính thẩm mĩ, sẽ làm cho hiệu quả của hành vi được nâng cao, nhất là trong cách ứng xử với mọi người và sự thống nhất giữa hai hình thái diễn ra một cách tự nhiên. Mối tương quan giữa hai hình thái bên trong và bên ngoài của hành vi, chúng ta có thể kết luận: Để có một hành vi văn hóa hoàn hảo nhất thiết phải có một hình thái bên trong, chủ yếu là động cơ đạo đức thật tốt và cần được thể hiện ở một hình thái bên ngoài thật đẹp bằng cử chỉ, điệu bộ, lời nói ý tứ, tế nhị, mang tính thẩm mĩ để tác động của nó có hiệu quả tích cực đến xung quanh. 1.4. Các loại hành vi văn hóa 1.4.1. Hành vi văn hóa xã giao Nhiều loài động vật biết thể hiện tính hiệu mỗi khi gặp nhau như đàn kiến gặp nhau lại chào, đàn ong báo cho nhau biết ở đâu có hoa mà hút mật… Nhưng đó chỉ là hành vi bản năng, sinh ra đã có, đó không phải hành vi văn hóa. Ở con người mỗi khi tiếp xúc với nhau, người ta đã thể hiện những hành vi mang tính xã giao: gặp nhau thì chào hỏi, ai giúp đỡ mình thì cảm ơn, làm ai điều gì thì phải xin lỗi… đó là những hành vi văn hóa đích thực bên trong chứa đựng tình người và bên ngoài là những cử chỉ mà mình tiếp xúc. Những hành vi văn hóa như thế được gọi là hành vi văn hóa xã giao, được hình thành trong cuộc sống nhờ sự giáo dục và rèn luyện hằng ngày mới có, chứ không phải là có sẵn là cơ chế di truyền, không phải là hành vi bẩm sinh. Tuy nhiên, lời chào hỏi được thốt lên từ sự vui mừng khi gặp gỡ một người mà mình mong gặp mặt hay một người mà mình tôn trọng. Như vậy, để có hành vi văn hóa xã giao cần có một thái hình bên trong chứa đựng nội dung tốt đẹp quan trọng giữa người với người và một hình thái bên ngoài thể hiện bằng lời nói, cử chỉ niềm nở, ân cần. Đó chính là phép lịch sự trong ứng xử giữa người với người trong xã hội văn minh, hành vi văn hóa đích thực. 1.4.2. Hành vi văn hóa xúc cảm Đời sống tình cảm của con người rất phong phú, chúng ta sống trong xã hội, quan hệ giữa người với người thật thiên hình vạn trạng: đối với người này thì yêu thương, đối với người khác thì ghét bỏ người thì giận hờn… thái độ tình cảm đó bao giờ cũng được biểu hiện ra bên ngoài bằng những cử chỉ lời nói khiến người ngoài có thể nhận ra khi giao tiếp và để lại những rung động tích cực hay tiêu cực cho cả đôi bên. Đó là những hành vi văn hóa xúc cảm, mà cuộc sống không thể thiếu được… Một hành vi có thể đem đến cho người khác niềm vui hay nổi buồn, sự cảm thông hay sự chối từ, điều đó phụ thuộc vào động cơ có trong sáng hay không và phụ thuộc vào cả hành động bên ngoài có tử tế, tế nhị hay không.

7

Đời sống tình cảm của mỗi người thường được tạo nên bởi những hành vi văn hóa xúc cảm đó. Một cháu bé luôn thể hiện cử chỉ trìu mến, chăm sóc ông bà khiến cho tuổi già đỡ cô quạnh… Tất cả những cách ứng xử đầy ân tình ấy đều có tác động tích cực đến con người, những hành vi đó mang đến cho chúng ta những giá trị vật chất đôi khi không là bao nhiêu nhưng giá trị tinh thần thì thật là vô tận, thậm chí còn làm thay đổi cả một đời người. Tình cảm là động lực mạnh mẽ bên trong thôi thúc con người vượt qua mọi khó khăn để tìm đến nhau. Hiệu quả của một hành vi văn hóa xúc cảm bao giờ cũng có tác dụng hai chiều: một mặt là để con người trút nỗi lòng mình đến với những người mà mình tin tưởng, mặt khác là tiếp nhận sự đồng cảm của họ, bởi tình yêu có hai chiều là cho và nhận. Khi có thể tìm hiểu được một hành vi văn hóa xúc cảm nào lại chỉ có hiệu quả một chiều ngay cả việc làm từ thiện. Hành vi văn hóa mang tính xúc cảm không chỉ biểu hiện giữa người với người mà còn biểu hiện giữa con người với thiên nhiên. Xem thiên nhiên là người bạn thân thiết của mình, đó là kiểu ứng xử của những người có văn hóa rất đậm tình người. Bởi thiên nhiên và con người có mối quan hệ gắn bó với nhau: càng yêu con người bao nhiêu càng yêu thiên nhiên bấy nhiêu và ngược lại. Điều đó dễ nhận ra trong hành vi của các em nhỏ em nào biết nâng niu những mầm sống như con gà mới nở, nụ hoa mới hé… thường là những em bé biết thương yêu, thân ái với bạn bè biết quan tâm chăm sóc những em thơ dại, biết lễ phép với người lớn, biết giúp đỡ ân cần đối với người già yếu, bệnh tật. Trái lại những đứa trẻ nào thường có những hành vi thô bạo với thiên nhiên, ngắt lá bẻ cành… thì cũng thường hay bắt nạt những em bé yếu hơn mình, ăn nói thô lỗ, láo lếu với người lớn và đặc biệt rất thích nghịch trò, quậy phá, gây nguy hiểm cho người khác … đó là manh nha những hành vi độc ác sau này. Rõ ràng hành vi thô bạo với thiên nhiên thường đi đôi với cách ứng xử độc ác với con người của các em nhỏ thiếu giáo dục. 1.4.3. Hành vi văn hóa nhận thức Nhận thức của con người là vô tận bởi sự tìm tòi chân lý không bao giờ đến tận cùng. Từ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày đến những điều lớn lao về xã hội và tự nhiêu đều đòi hỏi con người luôn luôn khám phá để có được nhận thức đúng, vì nó mang tính định hướng cao cho hành vi. Nhận thức của con người luôn luôn vận động từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, đó là nhờ lòng ham hiểu biết của mỗi người không bao giờ được thỏa mãn đầy đủ. Muốn có định hướng đúng để cuộc sống được hoàn thiện về vật chất và tinh thần, con người luôn nâng cao sự hiểu biết của mình bằng những tìm tòi khám phá thể hiện ở những hành vi văn hóa nhận thức. Sự tìm tòi khám phá đó được thực hiện qua nhiều con đường sau: Thông qua giao tiếp: Con người không bao giờ hiểu hết lẽ đời bởi tính đa dạng và sâu sắc của nó. Mỗi khi thắc mắc, băn khoăn người ta thường tìm gặp người khác để bày tỏ thắc 8

mắc nhằm được giải đáp, hiện tượng đó được gọi là giao tiếp nhận thức – một bộ phận trong hành vi văn hóa nhận thức. Trong giao tiếp các chủ thể truyền cho nhau những thông tin mới lạ, để thỏa mãn nhu cầu nhận thức. Mỗi khi không biết một điều gì con người cần tìm đến người khác để hỏi, để giải tỏa thắc mắc, nhưng mặt khác khi biết được một điều gì mới lạ, người ta thường bộc lộ, nói ra cho người khác cùng biết, đó cũng chính là để thỏa mãn nhu cầu nhận thức – nhu cầu tiếp nhận thông tin và truyền đạt thông tin. Thông qua việc tiếp xúc với sách báo (kể cả báo hình và báo nói điện tử). Đối với người có văn hóa việc tiếp xúc với sách báo là một nhu cầu bức thiết không thể thỏa mãn được. Sách báo là người bạn thân thiết của nhiều người. Hằng ngày báo chí đem đến cho chúng ta biết bao tin tức mới lạ, tin về mọi mặt tình hình trong nước và thế giới. Người ta ví báo chí tựa như là người chỉ đường, nhờ đó chúng ta có thể định hướng được các công việc phải làm sao cho phù hợp với thế sự trước mắt cũng như lâu dài. Nếu báo cho chúng ta những hiểu biết vô cùng phong phú thì sách lại cho chúng từ những tri thức vô cùng sâu rộng. Những cảnh đời với nhiều quan niệm sống, những lí luận với nhiều triết lý thâm thúy, những thành tựu khoa học với những chân lý sáng ngời… sẽ giúp con người biết ứng xử đúng với nhân tình thế thái, đúng với quy luật vận động của tự nhiên và xã hội. Thông qua con đường tự tìm kiếm, tự khám phá trong thực tiễn. Hành vi văn hóa nhận thức của con người nền văn minh của nhân loại sở dĩ bước được những bước khổng lồ đế ngày nay chính là nhờ nhu cầu nhận thức của con người là vô tận, thúc đẩy những hành vi khám phá, phát minh, sáng tạo ngày một cao. 1.4.4. Hành vi văn hóa hợp tác Xã hội càng phát triển đòi hỏi tính hợp tác phải càng cao, càng rộng. Trong xã hội đương đại sự hợp tác đang mở rộng đến nắm châu bốn biển và mang tính toàn cầu. Sự hội nhập giữa các quốc gia đã mang đến cho loài người những thành tựu phát triển to lớn về nhiều mặt. Hơn nữa, một đặc điểm nổi bật trong thời hiện đại là các ngành khoa học chuyên biệt đang phát triển rất sâu và với tốc độ nhanh, hỗ trợ cho nhau trong ứng dụng thực tiễn, vì vậy xu hướng hợp tác, hội nhập. 1.4.5. Hành vi văn hóa đánh giá Hành vi này thường thực hiện ở hai chiều: Đánh giá người khác và đánh giá bản thân mình. Hành vi đánh giá người khác: Con người bao giờ cũng tồn tại trong một nhóm xã hội, khi còn bé thì sống trong gia đình; lớn lên vui chơi cùng bạn bè, đến trường học tập trong lớp có thầy có bạn; khi trưởng thành được làm việc với các đồng nghiệp… Đó là những môi trường để con người phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình. Hằng ngày đối diện với những người xung quanh, vô tình hay hữu ý ta đều nhận ra những đặc điểm của họ, trước hết là dáng vẻ bên ngoài, sau đó là tính tình bên trong. Đương nhiên trong khi tiếp xúc với người ngoài thông thường ta khó mà thoát khỏi thái độ đánh giá họ. Thái độ đánh giá đó 9

bao giờ cũng kèm theo cách ứng xử tương ứng: Gần gũi hay xa lánh, khâm phục hay khinh bỉ, khó chịu hay dễ chịu… điều đó thường được thể hiện ở hình thái bên ngoài của hành vi đánh giá. Đánh giá người khác là việc rất khó khăn, đòi hỏi người đánh giá cần có thái độ khách quan, thực sự cầu thị, tức là một thái độ nhìn nhận công bằng, khách quan. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta đánh giá một cách quá dễ dãi, xuề xòa hay ngược lại quá khắt khe… Những hành vi đánh giá như vậy thường không mang lại lợi ích gì cho người đánh giá lẫn người được đánh giá mà nhiều khi còn có hại cho quan hệ giữa đôi bên. “Đánh giá đón trước” là một kiểu hành vi đánh giá rất có văn hóa mang tính nhân đạo cao. Thực chất của việc đánh giá đón trước là nâng phẩm chất nhân cách người đó vốn có, để rồi từ đó mà tìm biện pháp giúp đỡ họ vươn tới mức của sự đánh giá đón trước. Người ta đã nhận thấy rằng phương pháp đánh giá đón trước thường mang lại kết quả khả quan trong việc giáo dục phát triển và hoàn thiện nhân cách con người. Đánh giá người khác là một việc rất khó, hành vi đánh giá đòi hỏi vừa phải mang tính khoa học, đúng mực, thẳng thắn, lại phải vừa mang tính nghệ thuật phù hợp với hoàn cảnh. Đó mới là hành vi đánh giá có văn hóa. Đánh giá bản thân – Tự đánh giá: Tự đánh giá bao giờ cũng trên cơ sở biết đánh giá, nhận xét người khác qua đó mà nhận thức về bản thân để nhận ra mình là người như thế nào, mạnh ở mặt nào, yếu ở mặt nào. Đánh giá người khác đã khó, nhưng đánh giá bản thân mình lại càng khó hơn. Biểu hiện: Tự đánh giá có hai mặt: một mặt là biết nhận xét bản thân xem mình có ưu điểm gì, khuyết điểm gì, tức là tự phê bình; mặt khác là biết tiếp thu sự nhận xét, đánh giá của người khác về mình, tức là phải biết tiếp nhận phê bình. Trong việc tự phê bình có người không dám nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, lại càng không dám nói ra điều đó với người khác. Ngược lại có người luôn đánh giá bản thân quá thấp, lúc nào cũng thấy mình hèn kém hơn người khác đâm ra tự ti, không tin vào sức mình, không bao giờ dám nghĩ, dám làm một việc gì mới, thường ỷ lại vào người khác, mất hết tính độc lập, tính sáng tạo trong công việc, họ thường sống rất thụ động. Tự phê bình thường đi đôi với việc tiếp thu phê bình của người khác đối với mình. Thông thường việc tự đánh giá lại phụ thuộc phần lớn vào việc tiếp nhận sự đánh giá từ phía người khác đối với bản thân. Biết rằng nghe người khác nhận xét về mình để phát huy mặt mạnh và hạn chế mặt yếu là một cách xử sự khôn ngoan. Cho dù đôi khi nhận xét đó không đúng với giá trị vốn có của mình thì vẫn nên bình tĩnh lắng nghe rồi tự ngẫm nghĩ, suy xét, vì điều đó chỉ có lợi, giúp bản thân nhìn lại mình một cách khách quan và đề phòng những điều có thể xảy ra khi gặp hoàn cảnh thích hợp. Đó là hành vi tự đánh giá có văn hóa cần có của mỗi người. 10

Việc phân chia hành vi văn hóa ra làm nhiều loại như trên là để nghiên cứu theo chiều sâu. Nhưng trên thực tế lại rất khó khăn phân chia rạch ròi các loại hành vi văn hóa. Trong nhiều trường hợp khi thực hiện một hành vi văn hóa nào đó thì các tính chất của các loại hành vi văn hóa khác cũng có mặt trong đó, chúng đan xen, hòa quyện vào nhau tạo ra một tổng thể để mang đến một hiệu quả lớn hơn. Do đó thông thường các hành vi văn hóa đều mang tính tích hợp. Do vậy sự phân chia thành các loại hành vi văn hóa như trên chỉ mang tính ước lệ. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Trình bày khái niệm hành vi, hành vi văn hóa, hành vi đạo đức, giao tiếp có văn hóa. Mối quan hệ giữa hành vi văn hóa, hành vi đạo đức và hành vi giao tiếp có văn hóa 2. Phân tích mối quan hệ giữa hình thái bên trong và bên ngoài của hành vi văn hóa 3. Phân tích đặc điểm các loại hành vi văn hóa. Lấy ví dụ minh họa.

11

CHƯƠNG 2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HÀNH VI VĂN HÓA 2.1. Sự hình thành và phát triển hành vi trong bậc thang tiến hóa

và xuất hiện tính nhạy cảm để thực hiện chức năng tín hiệu và định hướng của cơ thể, giúp cho những hành vi của chúng phức tạp hơn như kiếm mồi, tha mồi, làm tố … Từ 350 – 300 triệu năm trước (đại dương) động vật có xương sống xuất hiện với hệ thần kinh có não tủy (còn gọi là tủy sống) và não đầu (còn gọi là đại não). Hệ thần kinh này xét về cơ cấu thì ngay từ giai đoạn tiến hóa đầu tiên đã tạo mọi điều kiện để có mối liên hệ với trung tâm tốt hơn ( hệ thần kinh trung ương – mầm móng của vỏ não). Nhờ đó mà tạo điều kiện cho những đáp ứng tinh tế và chính xác của cơ thể với tư cách là một chỉnh thể đối với môi trường. Tuy nhiên các hình thái hành vi của động vật được quy định bởi các điều kiện tồn tại của chúng quan trọng hơn so với quan hệ giữa hành vi với cơ thể, với hệ thần kinh. Bắt đầu là lớp cá, lớp cá trong môi trường nước đã tạo điều kiện để phát triển cơ quan khứu giác và vị giác, nhưng cơ quan thị giác không phát triển mấy. còn ở lớp chim thì hoàn cảnh sống trên không và phần nào ở dưới đất đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẻ các trung tâm thị giác và sự phối hợp tác động.Nhờ đó hành vi của lớp chinh linh hoạt hơn, phóng khoáng hơn. Từ 200 – 100 triệu năm trước đây, lớp bò sát xuất hiện với hệ thần kinh não bộ phát triển và vỏ não bắt đầu xuất hiện, tri giác phát triển mạnh và đặc biệt là khả năng chú ý trong môi trường biến động giúp cho hành vi rình mồi của bò sát thận trọng, chính xác hơn. Từ 50 – 30 triệu năm trước đây, lớp có vú bậc thấp xuất hiện với hệ thần kinh có bán cầu não lớn và vỏ não phát triển, bắt đầu có biểu tượng của trí nhớ. Nhờ đó hành vi của lớp thú bậc thấp ( sói, hổ, cáo, voi…) khi săn mồi đã trở nên tinh khôn hơn trong môi trường rừng núi rộng lớn. Khoảng chục triệu năm trước đây, khi họ khỉ xuất hiện với hệ thần kinh phát triển, vỏ não trùm lên các phần khác của não, khỉ bắt đầu có tư duy bằng tay và mầm móng của trí tưởng tượng, khiến cho hành vi khỉ mang tính hợp lý hơn hay còn gọi là trí khôn. 2.1.2. Sự xuất hiện hành vi của con người Khoảng 2 – 1 triệu năm trước đây, trong môi trường luôn luôn biến động, loài hôm – sapiens (giống người đầu tiên) xuất hiện với hệ thần kinh hết sức tinh vi: vùng não trước phát triển nhiều nếp nhăn, khúc cuộn não phát triển mạnh, tăng diện tích võ não lên rất nhiều, xuất hiện hệ thống tín hiệu thứ hai, khiến cho hành vi của con người khác hẳn về chất so với hành vi động vật trước đây, kể cả lớp khỉ. Hành vi của con người được điều khiển bởi ý thức, tâm lý bậc cao rất phức tạp (bao gồm tư duy trừu tượng, ngôn ngữ, ý chí…) giúp con người không chỉ thích nghi với môi trường mà quan trọng hơn là cải tạo môi trường. Cũng từ đây con người đã thoát khỏi thế giới động vật để trở nên sáng tạo mới của lịch sử, tạo ra một cuộc sống ngày càng phát triển như ngày hôm nay. Trải qua hàng triệu năm, quá trình tiến hóa hành vi của thế giới động vật đã bước những bước phát triểu từ thấp đến cao. Quá trình đó phụ thuộc vào hai mối quan hệ cơ bản là mối quan hệ giữa hành vi của động vật với cơ thế (chủ yếu là hệ thần kinh) và mối quan 13

hệ giữa hành vi và môi trường. Trong sự phụ thuộc đó thì môi trường đóng một vai trò vô cũng quan trọng, vì chính nó đã biến đổi cấu tạo cơ thể (chủ yếu là hệ thần kinh) mà biến đổi hành vi động vật. 2.2. Các trình độ hành vi ở người 2.2.1. Hành vi bản năng Bản năng là những hình thức hành vi bẩm sinh, phức tạp, mang bản chất sinh vật, được biểu hiện ở hoạt động sống của sinh vật và con người, nhằm thỏa mản nhu cầu sinh vật (như tiêu hóa, tuần hoàn, hô hấp…) và được cũng cố bằng con đường di truyền. Bản năng vốn là một phản ứng toàn vẹn của cơ thể trước những kích thích phức tạp của môi trường bên ngoài và bên trong. Xét về mặt cơ chế bản năng là những phản xạ không điều kiện. Động vật có vô số bản năng, dù có khác nhau đến đâu đi nữa thì bao giờ thì bao giờ nó cũng gắn liền với sự thỏa mản nhu cầu sinh vật, đó là những nhu cầu căn bản để tồn tại một đời sống sinh vật, như bản năng sinh dục, bản năng chăm sóc con cái, bản năng ăn uống, bản năng di truyền theo mùa… Các hình thức hành vi bản năng có thể ở các mức độ khác nhau, nhưng cơ sở của chúng bao giờ cũng là những phản xạ không điều kiện, kèm với sự đáp ứng rập khuôn của những kích thích trực tiếp có tính chất sinh vật trong hoàn cảnh rất ít biến đổi. Trong hành vi bản năng của động vật, đôi khi có sự biểu hiện một cách hợp lý do được quy định bởi một yếu tố thuần túy bên ngoài và hành vi của con vật không thay đổi trước sự biến đổi của hoàn cảnh, thường chỉ có những cải biến không đáng kể. Nhưng nhiều khi chỉ cần một biến đổi không đáng kể đó trong một phức hợp nhất định những điều kiện gây ra hành vi bản năng thì cũng đủ làm rối loạn sự cân bằng của các hành vi bản năng ấy. Sở dĩ như vậy là vì một loạt hành vi bản năng của con vật đã được hình thành trong những điều kiện ổn định và được lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ. Ở động vật, hình thức hành vi bản năng bẩm sinh là hành vi cơ bản. Còn ở người các hình thức bản năng chỉ đóng vai trò quan trọng trong những tháng đầu tiên mới sinh ra, rồi sau đó bản năng sẽ chịu sự chi phối của ý thức con người. Nhiều người đánh giá quá cao vai trò của bản năng trong đời sống của con người (như thuyết học phân tâm của S.Freud coi bản năng là hoạt động cơ bản của con người). Nhưng trên thực tế thì ở người lớn các biểu hiện bản năng lại tùy thuộc vào hoạt động có ý thức và so ý thức chỉ huy. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt, bản năng mới có thể quy định hành vi của con người. Từ trong bụng mẹ, một môi trường tương đối ổn định, đứa trẻ ra đời như đột ngột bị đẩy vào một hoàn cảnh mới mẻ của môi trường không khí với vô số kích thích của thế giới bên ngoài. Sở dĩ đời sống của em bé trong môi trường mới này vẫn được đảm bảo là nhờ những cơ chế di truyền có sẵn: hệ thần kinh đã sẵn sàng thích nghi với điều kiện bên ngoài, 14

những hoạt động sống (hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa…) được thực hiện trên cơ sở những phản xạ không điều kiện bắt đầu khởi động. Đây là thời kì duy nhất trong đời sống con người những hành vi bản năng được biểu hiện dưới dạng thuần túy nhất để thỏa mản những nhu cầu cơ thể, đảm bảo sự sống còn của đứa trẻ. Đối với thế giới động vật, những phản xạ không điều kiện là cơ sở để đảm bảo cho con vật một đời sống bình thường. Trong khi đó những phản xạ không điều kiện của đứa trẻ lại không thể đảm bảo sự xuất hiện các hành vi của con người như nói năng, suy nghĩ, lao động… Tuy vậy, khi mới sinh ra đứa trẻ lại có một khả năng đặc biệt mà động vật không có được, đó là khả năng tiếp nhận kinh nghiệm lịch sử – xã hội để hình thành những hành vi đặc biệt của con người mà ta thường gọi là hành vi văn hóa. Như vậy sự lớn lên thành người là quá trình đứa trẻ tiếp nhận kinh nghiệm lịch sử – xã hội ngày một phong phú, sâu rộng để hình thành và phát triển những hành vi văn hóa ngày càng cao. Đồng thời trong quá trình đó những hành vi bản năng không còn giữ nguyên tình trạng như bẩm sinh lúc đầu mà được biến đổi theo trình độ văn hóa đã được hình thành và phát triển ở con người. Nói cách khác, hành vi bản năng ở con người đã bị chi phối bởi ý thức xã hội mà thành hành vi xã hội mang trong mình một trình độ văn hóa nhất định. Sở dĩ con người thoát ra khỏi thế giới động vật để bước sang phạm trù người và cao hơn hẳn con vật, đó là nhờ con người biết biến hành vi bản năng thành hành vi văn hóa. Do đó việc ăn uống, sinh đẻ, nuôi con… vốn là những hành vi bản năng được con người kế thừa từ tổ tiên động vật, nhưng giờ đây hành vi bản năng đó ở con người không còn tính chất bẩm sinh nữa mà thay đổi để biến thành hành vi văn hóa. Hành vi bản năng đóng vai trò nhất định trong cuộc sống của con người, đó là hoạt động sống, là điều kiện ban đầu để con người tồn tại như một thực thể sinh vật mà thôi. Nhìn chung trong toàn bộ hoạt động của con người thì đại bộ phận hành vi của con người là hành vi văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng), bên cạnh còn một số hành vi khác vốn là hành vi bản năng nhưng đã biến hành hành vi văn hóa do ý thức của con người chi phối. Hành vi bản năng thuần túy bao giờ cũng mang tính bột phát vì đó là những phản ứng tự nhiên của cơ thể đối với những kích thích trực tiếp của ngoại giới trên cơ sở phản xạ không điều kiện mà không bị ý thức chi phối nên được gọi là là vi không ý thức. 2.2.2. Hành vi có ý thức Hoạt động của con người căn bản khác với hoạt động của con vật ở chổ phần lớn những hành vi của con người đều có ý thức. Đó là những hành vi cao hơn hẳn về chất và phức tạp hơn rất nhiều so với hành vi của con vật, vì nó có sự thống nhất với ý thức và phụ thuộc vào ý thức nên được gọi là hành vi có ý thức. Ý thức là một hình thức cao của sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ ở con người mới có. Ngay đối với hoạt động sống, C.Mác đã nhận xét: con vật không phân biệt nó với hoạt động của nó. Nó chính là hoạt động sống ấy. Còn con người thì biến bản thân 15

và cho những người xung quanh, chia sẽ niềm vui, nỗi buồn, cho nhau cuộc sống và hợp tác với nhau trong công việc. Hơn nữa trong lao động, con người phải nhận thức đối tượng và phương thức lao động, phải thăm dò từng bước đi, học hỏi kinh nghiệm của bạn cùng làm việc, đoán trước những khó khăn sẽ gặp phải để tìm cách đối phó cũng như những điều kiện thuận lợi để tận dụng là tính toán hiệu quả sẽ đạt được… điều đó giúp con người hiểu người, hiểu mình và nhờ đó ý thức được hình thành. Như vậy là nhờ có sinh hoạt xã hội và lao động mà những hành vi có ý thức – hành vi văn hóa – được hình thành và phát triển, giúp cho thế giới con người đạt tới trình độ như ngày nay. Do đó có thể nói rằng quá trình xây dựng xã hội cũng là quá trình phát triển ý thức, phát triển hành vi văn hóa ở mỗi thành viên của xã hội. Xã hội ngày nay, một xã hội văn minh, hiện đại đòi hỏi thế hệ nối tiếp phải có ý thức sâu sắc về cuộc sống và bản thân. Để mỗi cá nhân cũng như cuộc sống xã hội phát triển tới đỉnh cao thì mỗi người cần phải có hệ thống hành vi văn hóa chất lượng cao. Các yếu tố hình thành ý thức cũng tức là hình thành hành vi văn hóa có thể kể ra khá nhiều nhưng chung quy vẫn là giao tiếp và hoạt động, đó là hai con đường cơ bản, chủ yếu để con người tiếp thu kinh nghiệm lịch sử – xã hội được kết tinh trong nền văn hóa của dân tộc của nhân loài. Đối với thế hệ trẻ, để tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp họ đi trên hai con đường đó đạt hiệu quả tốt, rất cần một sự dẫn hướng chu đáo và khoa học từ phía người lớn, đó là giáo dục. 2.3. Tự ý thức và sự xuất hiện hành vi văn hóa 2.3.1. “Cái tôi” hình thành và sự xuất hiện hành vi văn hóa Mức độ cao của ý thức chính là tự ý thức tức là tự nhận thức về bản thân, về vai trò của mình đối với người xung quanh, tự nhận thức, tự đánh giá được vị trí của mình là một thành viên trong xã hội để chủ động điều chỉnh hành vi của mình. Tự ý thức còn được gọi là ý thức bản ngã hay “cái tôi”. Tự nhận thức về bản thân, thông thường trước hết là về vẻ bề ngoài của mình (đầu tóc, ăn mặc, đi đứng …) sau đó mới đến nội dung tâm hồn (tính tình, thái độ, năng lực, quan điểm…) và vị thế của mình trong các mối quan hệ xã hội. Sự xuất hiện tự ý thức là dấu hiệu đầu tiên và cơ bản nhất để nhận biết nhân cách đã bắt đầu hình thành ở một đứa trẻ hay chưa và cũng từ đây hành vi của trẻ bắt đầu bị chi phối bởi ” cái tôi” hay bởi ý thức bản ngã, cũng có thể coi đây là thời điểm xuất hiện hành vi mang nhân cách. Ý thức của con người bắt đầu hình thành từ nữa đầu năm thứ hai khi trẻ bắt đầu biết nói (khoảng 18 tháng), còn tự ý thức thì xuất hiện muộn hơn, ở tuổi lên ba (tức là từ cuối năm thứ hai đến năm thứ ba). Lúc ngày những yếu tố của nhân cách mới bắt đầu hình thành, nhưng phải trải qua tuổi thiếu niên rồi thanh niên (đến 18 tuổi) nhân cách mới được định hình về cơ bản.

17

Lên ba, đứa trẻ đứa trẻ có thể hành động không chỉ dưới ảnh hưởng của những kích thích trực tiếp bên ngoài mà còn dưới ảnh hưởng của những biểu tượng được giữ lại trong trí nhớ. Sự tham gia của trí nhớ vào các quá trình tâm lí đã làm cho thế giới bên trong của đứa trẻ được hình thành và hành vi của nó cũng được cải biến: từ hành vi bột phát đến hành vi có ý thức. Trí nhớ lúc này giúp trẻ nhận ra vị trí của mình trong thế giới đồ vật, trong quan hệ với những người xung quanh và bắt đầu nhận ra mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và trong tương lai, tạo điều kiện cho “cái tôi” ra đời. Nhờ đó thế giới bên trong mà hạt nhân là ý thức bản ngã bắt đầu có tác dụng chi phối hành vi của trẻ và thực hiện chức năng như là động cơ của hành vi. Tuy nhiên, trẻ chưa thể có động cơ theo ý nghĩa đầy đủ của nó để có thể điều khiển hành vi một cách tự giác như người lớn. Bởi vì thế giới bên trong nó mới hình thành nhưng chưa xác định, đặc biệt là “cái tôi” vẫn chưa xác định. Tuy vậy thế giới bên trong đó cũng đã mang đặc điểm riêng của từng đứa trẻ, nên lúc này người lớn không thể trực tiếp áp đặt cho trẻ thái độ của mình đối với con người và sự vật xung quanh, cũng không thể bắt trẻ phải theo cách ứng xử của mình. Nếu trước đây người lớn có thể áp đặt cho trẻ chế độ sinh hoạt hàng ngày ( ăn, ngủ, tắm, chơi…) thì lúc này trẻ đã không ngoan ngoãn phục tùng người lớn, có nghĩa là từng người lớn không còn hoàn toàn chỉ huy được hành vi của trẻ nữa. Chính cái thế giới bên trong này đã quy định thái độ riêng của đứa trẻ khi tiếp nhận những tác động bên ngoài, kể cả tác động giáo dục. Nó tiếp nhận những tác động đó như thế nào là tùy theo những tác động đó đáp ứng đến chừng mức nào đối với các nhu cầu và hứng thú đã được hình thành. Trẻ em thường hay bắt chước, nếu trước đây đứa trẻ bắt chước người lớn một cách không ý thức thì ở tuổi lên ba sự bắt chước đã có tính lựa chọn, nó chỉ bắt chước hành vi nào mà nó thích, với ý thức là muốn làm như người lớn, được sống như người lớn. Do đó ảnh hưởng của người lớn đối với trẻ em lúc này rất mạnh mẽ, người lớn được coi như tấm gương cho trẻ noi theo. Đây là một mâu thuẩn trong sự phát triển của trẻ, một mặt trẻ muốn tách mình ra khỏi người lớn để được coi như một người riêng biệt, nhiều khi còn muốn chống đối người lớn để bảo vệ cái riêng của mình, nhưng mặt khác lại muốn giống như người lớn đặc biệt trong hành vi, cách ứng xử. Đây cũng là điều kiện để trẻ tiếp nhận kinh nghiệm ứng xử ở người lớn giúp cho hành vi của nó ngày càng có văn hóa. Ngôn ngữ phát triển là điều kiện để hình thành ý thức. Một bước tiến bộ đáng quan tâm trong sự phát triển của trẻ lên ba là biết sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với người xung quanh (trước đây phương tiện giao tiếp chủ yếu là phi ngôn ngữ: cử chỉ, điệu bộ…), để tiếp nhận kinh nghiệm lịch sử – xã hội và đó cũng là một trong những điều kiện chủ yếu để hình thành tự ý thức ở đứa trẻ. Vì bằng ngôn ngữ con người mới thể hiện bản thân có hiệu quả hơn, tinh vi hơn là bằng phi ngôn ngữ.

18

Khi tự ý thức xuất hiện thì hành vi của trẻ trở nên ít phụ thuộc vào tình huống cụ thể trước mắt mà đã có cơ sở để phát triển hành vi bằng lời nói, tức là sự thực hiện hành vi hướng tới những mục đích được chỉ ra bằng ngôn ngữ. Một trong những thời điểm quan trọng nhất trong tiến trình phát triển của con người là khi tự ý thức xuất hiện, tức là lúc trẻ tách được mình ra khỏi những người xung quanh (trước đây trẻ đồng nhất mình với người khác), bắt đầu ý thức được mình là một con người riêng biệt, khác với người xung quanh, có ý muốn riêng có thể hợp hay không hợp với ý muốn của người lớn. Trẻ nhận ra tên gọi của mình và đồng nhất bản thân mình với tên gọi, tên gọi giới thiệu trẻ như một người riêng biệt khác với những đứa trẻ cùng tuổi và phân định nó với một cá nhân. Ý thức về bản thân là nguồn gốc làm nảy sinh những ý muốn và hành vi phân biệt mình với người khác giúp cho xu hướng độc lập trong hành vi xuất hiện và ngày càng rõ nét. Từ tình trạng sống lệ thuộc vào người lớn như trước đây (đói người lớn cho ăn, khát người lớn cho uống, nóng người lớn quạt cho…) nay trẻ chuyển sang một cuộc sống độc lập hơn và tự khẳng định mình trong thế giới xung quanh. Vì trên thực tế trẻ đã làm được nhiều điều: nó đã có thể tự đi từ nơi này sang nơi khác, nắm được khá nhiều phương thức sử dụng đồ vật (thìa, bát, bút chì, tắt bật tivi…), có khả năng làm một số việc đơn giản để thỏa mản nhu cầu hằng ngày (ăn, ngủ, “đi vệ sinh”…) và chủ động giao tiếp với những người xung quanh bằng ngôn ngữ. Tất cả những thay đổi ấy khiến trẻ lần đầu tiên nhận ra sức mạnh nơi bản thân mình và nhận ra mình là một chủ thể. Bước cao hơn của ý thức là trẻ biết tự nhận xét đánh giá mình. Tuy nhiên sự nhận xét này là dựa trên sự nhận xét của người lớn, có khi trẻ còn liên hệ bản thân với những nhân vật trong truyện mà người lớn cho là tốt hay xấu và tự nhận mình là ngoan hay hư. Tình cảm của trẻ đã biểu hiện nhiều sắc thái trái ngược: lòng thấy tự hào khi làm được việc tốt và thấy xấu hổ khi phạm sai lầm. Một đứa trẻ được giáo dục tốt luôn có nguyện vọng trở thành “bé ngoan” để được người lớn khen ngợi. Nguyện vọng đó dẫn đến sự phát triển tin thần tự trọng và có tác dụng làm cho hành vi của trẻ trở nên tốt đẹp và có văn hóa. 2.3.2. Khủng hoảng của trẻ lên ba và đặc điểm hành vi của trẻ Khi trẻ tách được mình ra khỏi người khác và có ý thức về khả năng của chình mình thì đồng thời cũng xuất hiện một thái độ mới đối với người lớn: trẻ bắt đầu so sánh mình với người lớn và bắt đầu muốn làm việc như người lớn, muốn được độc lập, tự chủ trong mọi việc như người lớn. Trẻ lên ba thường hay nói: “con tự xúc cơm” hay “con tự mặc áo”… chúng không muốn người lớn can thiệp vào “công việc” của mình, nhu cầu muốn hành động độc lập là rất lớn. Do muốn “cái tôi” của mình được mọi người xung quanh công nhận nên nhu cầu tự khẳng định được nổi lên rõ rệt trong cuộc sống hàng ngày và trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy trẻ làm những việc để “cái tôi” được khẳng định. Đây chính là dấu hiệu của sự trưởng thành rất đáng mừng. Nhưng cùng với nó, ở nhiều trẻ lên 19

ba lại xuất hiện một số tính mới lạ và trở nên trái tính trái nết. Biểu hiện rõ nét nhất là tính bướng bỉnh, muốn làm theo ý mình và tự làm những gì mình muốn. Hơn thế nữa, trẻ còn cố tình làm trái ý người lớn, làm những việc mà người lớn ngăn cấm hoặc bảo một đằng làm một nẻo, thậm chí bắt người lớn phải làm theo ý mình như một vị chỉ huy độc đoán. Hiện tượng không vâng lời tương đối phổ biến khiến người lớn không bằng lòng và quan hệ giữa họ với trẻ trở nên căng thẳng. Một biểu hiện nữa ở trẻ là tính ích kỉ, cái gì cũng đòi là của riêng mình, giành đồ chơi của bạn, đòi lấy các thứ của khách đến nhà…Bởi bé muốn có thẩm quyền với những vật xung quanh, nhiều khi thật vô lý. Một em bé không cho chị ngồi cạnh mẹ vì mẹ là của riêng nó; không cho chị hát một bài hát quen thuộc vì bài hát đó là của riêng nó. Quyền sở hữu cá nhân quả thật là đã phát huy đến chỗ cực đoan “cái tôi” của đứa trẻ lúc này đã quá lớn, dường như lất át mọi người xung quanh. Ở trong nhà thì nó như một ông vua con, đòi gì được nấy, nếu không được thì nhiều đứa trẻ lăn ra ăn vạ. Dường như trong “vũ trụ” này nó là tất cả, nó là trung tâm, em bé chỉ biết có mình. Đó là hiện tượng tự kỉ trung tâm tức là lấy mình làm trung tâm (ego centrisme) thường biểu hiện ở những em bé lên ba. Vì “cái tôi” mới được hình thành nên chưa phân biệt được đâu là chủ quan, đâu là khách quan, lấy ý muốn của mình gắn cho các sự vật. Tất cả mọi thứ trên đời này dường như đều do mình nghĩ ra và tất cả phải phục tùng ý muốn chủ quan của mình, bất chấp quy luật khách quan và luật lệ trong xã hội. Một em bé cứ đòi mẹ lấy kẹo khi đi mua một của hàng bánh kẹo mà không cần biết trong túi mẹ có tiền hay không; một em bé khác bị vấp ngã lại đòi đánh cái bàn vì nó làm cho em ngã, những đòi hỏi trái khoáy đó làm người lớn rất khó xử. Nhiều nhà tâm lí học gọi đó là hiện tượng khủng hoảng tuổi lên ba thường bắt gặp trong các gia đình có trẻ vào tuổi ấy, đặc biết trong những môi trường mà đứa trẻ được nuông chiều quá đáng, khiến cho hành vi của nó trở nên kì quái, khó chịu. Thường thì vào tuổi lên ba đứa trẻ nào ít nhiều cũng bị rơi vào tình trạng khủng hoảng đó. Nếu biết cách giáo dục tốt, đặc biệt người lớn cần chủ động cải tổ quan hệ giữa mình với trẻ em, phát hiện được những khả năng mới của trẻ và tin vào những khả năng đó, mạnh dạn tạo điều kiện cho trẻ có những hành động độc lập, chủ động trong cuộc sống hàng ngày thì đứa trẻ sẽ thoát khỏi cơn khủng hoảng đó một cách nhẹ nhàng. Nhưng nếu người lớn vẫn quá coi thường tình trạng này mà không thay đổi thái độ của mình đối với các cháu, vẫn nuông chiều, trẻ muốn gì được nấy hoặc vẫn cấm đoán, không cho phép trẻ được độc lập trong “công việc” của nó, thay vào đó là một sự chăm sóc quá đáng, làm thay các “công việc” lẽ ra nó phải tự làm, thì những cơn khủng hoảng sẽ kéo dài suốt thời kì thơ ấu và để lại những dấu vết nặng nề sau này. Mặt khác chúng ta lại cần phải thấy khủng hoảng tuổi lên ba là một hiện tượng tạm thời mang tính chất chuyển tiếp. Tùy theo phương pháp giáo dục của người lớn có phù hợp hay không mà thời kì khủng hoảng được rút ngắn lại hay kéo dài ra, mang tính chất nặng nề hay nhẹ nhàng. 20

Biện Pháp Giáo Dục Nhân Cách Văn Hóa Cho Sinh Viên Sư Phạm / 2023

Nguyễn Thanh Bình

Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tóm tắt. Sống theo và thể hiện được các giá trị “Yêu thương”; “Tin tưởng”; “Công dân tích cực”; “Tận tụy/Tận tâm”; “Hợp tác”; “Sáng tạo” được xem là nội dung nhân cách văn hóa của sinh viên sư phạm. Bài viết đề cập đến các biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa nói chung, giáo dục giá trị nghề nghiệp nói riêng cho sinh viên sư phạm để họ có thể tạo ra giá trị, năng lực thực hiện hiệu quả hoạt động nghề nghiệp sau này.

Từ khóa: Nhân cách văn hóa, giá trị nghề nghiệp, sinh viên sư phạm, biện pháp giáo dục.

1. 

Mở

đầu

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở pháp lí ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế về giáo dục nhân cách văn hóa trong nhà trường, tác giả Đào Thị Oanh đã đề xuất hệ giá trị và khung tiêu chí nhân cách văn hóa cho sinh viên đại học sư phạm của Việt Nam hiện nay như sau:

Giá trị (1) – Yêu thương;

Giá trị (2) – Tin tưởng/Tin cậy; Giá trị (3) – Công dân tích cực;

Giá trị (4) – Tận tụy/Tận tâm (với nghề); Giá trị (5) – Hợp tác;

Giá trị (6) – Sáng tạo.

                     

Bảng 1. Đánh giá về mức độ quan trọng của những giá trị nhân cách ở một người sinh viên sư phạm

TT

Giá trị nhân cách

ĐTB

ĐLC

Không quan trọng

Phân vân

Quan trọng

Rất quan trọng

1

Yêu thương

3,92

0,34

0

2,4

2,4

95,2

2

Tin tưởng/Tin cậy

3,88

0,32

0

0

11,9

88,1

3

Công dân tích cực

3,78

0,41

0

0

22,0

78,0

4

Tận tụy/Tận tâm (với nghề dạy học)

3,97

0,154

0

0

2,4

97,6

5

Hợp tác

3,76

0,43

0

0

23,8

76,2

6

Sáng tạo

3,88

0,32

0

0

11,9

88,1

7

Trách nhiệm

3,87

0,33

0

0

12,5

87,5

Chung

3,82

0,29

0

0,4

12,4

87,2

                            (Nguồn: Kết quả khảo sát của nhiệm vụ tại ĐHSP Đà Nẵng, Hà Nội tháng 9/2017)

2. 

Nội dung nghiên

cứu

       

Nguyên tắc đề xuất biện

pháp

        

Đảm bảo sự thống nhất giữa nhận thức

về

tầm quan trong của giáo dục nhân cách văn hóa và nhận thức

về

cách làm phù hợp đảm bảo hiệu

quả.

Giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm là một vấn đề khá mới đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường và sinh viên sư phạm. Do đó cần phải nâng cao nhận thức cho họ về sự cần thiết, tầm quan trọng của vấn đề đối với sự thành công trong hoạt động nghề nghiệp sau này của sinh viên. Đồng thời, ngay từ đầu rất cần để đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường sư phạm nhận thức được cách làm đúng bản chất của giáo dục giá trị và năng lực thể hiện các giá trị phản ánh nhân cách văn hóa của sinh viên sư phạm theo cơ chế chuyển giá trị khách quan thành giá trị chủ quan của sinh viên sư phạm thông qua các hoạt đông trải nghiệm.

         

Đảm

bảo

giáo

dục

nhân

cách

văn

hóa

được

tiếp

cận

đồng

bộ

trong

các

hoạt

động

đào tạo, hoạt động phong trào của sinh viên sư

phạm.

Hoạt động đào tạo sinh viên sư phạm bao gồm các hoạt động dạy học: các học phần chung; Các học phần đào tạo nghiệp vụ sư phạm; Các học phần đào tạo chuyên ngành, kiến tập, thực tập sư phạm và các hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; của Hội sinh viên… Các nội dung giáo dục nhân cách văn hóa cần được tích hợp, lồng ghép trong toàn bộ các hoạt động đào tạo và hoạt động phong trào sinh viên để nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và củng cố niềm tin, phát triển năng lực thực hành gía trị cho sinh viên qua các hoạt động thực hành, trải nghiệm.

        

Đảm

bảo

sự

quản

nhất

quán

đối

với

quá

trình

giáo

dục

nhân

cách

văn

hóa

cho

sinh viên sư

phạm.

Để đảm bảo quá trình giáo dục nhân cách văn hóa được thực hiện có hiệu quả thì cần phải có sự chỉ đạo, giám sát và hỗ trợ kịp thời từ công tác quản lí: Từ khâu chỉ đạo đưa các yêu cầu về

nhân cách văn hóa của sinh viên sư phạm vào chuẩn đầu ra của từng ngành đào tạo, đến chỉ đạo xây dựng môi trường nhà trường chứa đựng các chất liệu giáo dục nhân cách văn hóa, đến kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục và rèn luyện nhân cách văn hóa của sinh viên sư phạm; cũng như điều chỉnh cải tiến quá trình giáo dục nhân cách văn hóa sao cho ngày càng hiệu quả.

      

Đảm

bảo

sự

thống

nhất

giữa

quá

trình

giáo

dục

nhân

cách

văn

hóa

của

nhà

trường

với

quá trình tự giáo dục,tự rèn luyện của sinh viên sư

phạm

Quá trình giáo dục nhân cách văn hóa của nhà trường chỉ là tác động bên ngoài để tạo động cơ, nhu cầu tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách văn hóa của sinh viên sư phạm thì mới thành công. Tác động giáo dục nhân cách văn hóa của nhà trường phải được chuyển hóa thành nhu cầu tự thân rèn luyện nhân cách văn hóa của từng sinh viên.

       

Biện pháp giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh

viên

        

Biện pháp 1

. Đội ngũ cán bộ trong trường sư phạm cần

thay

đổi nhận thức

về

tầm quan trọng của giáo dục giá trị nghề nghiệp trong việc phát triển năng lực và nhân cách văn hóa cho sinh viên sư

phạm

Như trên đã trình bày giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch từ phía nhà trường, do đó đội ngũ cán bộ trong trường sư phạm phải chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ này. Về vai trò của Giá trị nghề nghiệp GV phải đề cập đến quan điểm của Singapore. Theo định hướng năng lực đào tạo GV thế kỉ XXI của Singapore bao gồm các yếu tố cấu thành: giá trị, kĩ năng và kiến thức, trong đó giá trị là yếu tố lõi, định hướng cho việc tích lũy kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp của GV, thể hiện sự thống nhất hữu cơ giữa giá trị, kiến thức và kĩ năng trong những đặc điểm của nghề GV trong xã hội hiện đại (6). Như vậy giáo dục giá trị nghề nghiệp cho GV ở Singapore là yếu tố cần được quan tâm hàng đầu ngay từ khâu đào tạo ban đầu đến giai đoạn bồi dưỡng phát triển chuyên môn liên tục. Đây là một kinh nghiệm quý đáng học tập để đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng GV ở Việt Nam. Để tạo ra sự thay đổi này, BGH nhà trường, Ban chủ nhiệm các khoa cần chỉ đạo toàn bộ đội ngũ cán bộ nhà trường từ những giảng viên trực tiếp giảng dạy đến đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội sinh viên. . . không chỉ thay đổi nhận thức mà cần thể hiện bằng hành động đưa cách tiếp cận giá trị vào toàn bộ hoạt động đào tạo, tích hợp kế hoạch giáo dục giá trị nghề nghiệp trong kế hoạch đào tạo của khoa và trường, hình thành và phát triển nhân cách văn hóa người sinh viên sư phạm.

Biện pháp 2.

Đội ngũ cán bộ trong trường sư phạm cần hiểu rõ mục tiêu và cơ chế chuyển giá trị khách quan thành giá trị chủ quan của sinh

viên

Trong giáo dục giá trị, sinh viên không chỉ cần “hiểu được những gì là điều tốt” mà còn phải “mong muốn làm điều tốt” (Hill, 2004). “Mong muốn làm điều tốt” được hiểu là sự sẵn sàng hành động theo chuẩn mực khi gặp cơ hội. Mặt cảm xúc hay tình cảm này của nhân cách là “cây cầu nối nối giữa lí trí và hành động” (Lickona, 1993). Vì vậy giáo dục những giá trị là giáo dục sinh viên “biết điều tốt, yêu điều tốt và làm điều tốt”. Tóm lại, giáo dục những giá trị cuối cùng chính là để cải thiện hành vi hay thay đổi hành vi để tốt đẹp hơn. Vì hành vi này là một sự chuyển hóa từ suy nghĩ và cảm xúc về những giá trị quý báu, nên hành vi tốt đẹp là hành vi tự giác và vị tha có lí trí (5). Theo Makiguchi nhiệm vụ của giáo dục là dẫn dắt con người tới đích tiềm tàng khả năng tạo giá trị (7). Vì vậy giáo dục giá trị cho sinh viên không chỉ nhằm cho sinh viên chuyển hóa các giá trị khách quan của xã hội thành niềm tin chủ quan của bản thân, mà còn để sinh viên sư phạm có năng lực tạo giá trị. Để đạt được mục tiêu đó, cần tuân thủ cơ chế hình thành giá trị với các bước cơ bản ở các cấp độ sau:

a. Cấp độ nhận thức: ở cấp độ này, nhận thức thể hiện ở 2 mức độ:

–  Mức độ biết: thể hiện ở mức độ giới hạn về các khái niệm, các sự kiện và thuật ngữ về giá trị cần giáo dục. Nên cần phải chuyển sang mức độ hiểu sâu hơn về bản chất bên trong của các khái niệm, sự kiện cũng như ý nghĩa của việc nắm được các khái niệm, các chuẩn mực, quy tắc. . . thể hiện các giá trị đó.

–  Mức độ hiểu: Mức độ này thể hiện sự hiểu sâu bản chất của giá trị để có thể thể hiện bằng hành vi phù hợp.

Đối với giai đoạn nhận thức, cần cho người học tiếp thu các giá trị và các chuẩn mực giá trị xã hội thông qua phân tích, tổng hợp, khái quát các sự kiện làm sáng tỏ giá trị của nó. Đây là bước chuẩn bị cho sinh viên đánh giá giá trị đúng – sai, tốt – xấu, thiện – ác. . . Theo Phạm Minh Hạc gọi là phương pháp tiếp cận, tiếp thu sâu sắc (3).

c. Cấp độ hành động:

Các giá trị được nội tâm hóa phát huy vai trò định hướng cho hành vi, qua đó giá trị được thể hiện qua hành vi của cá nhân. Đây chính là bước ứng dụng giá trị vào thực tế. ở cấp độ này GV cần khuyến khích người học tự giác chuyển hoá từ nhận thức, thái độ đến hành động theo hệ giá trị hoặc những chuẩn mực.

Các bước như vậy đã giúp chuyển những hiểu biết của con người (qua cấp độ nhận thức) đến Thái độ, giá trị (qua trải nghiệm, đánh giá, lựa chọn giá trị) và định hướng hành động thực tiễn (cần làm gì) chu trình chuyển giá trị xã hội thành giá trị cá nhân. Các cấp độ theo cách tiếp cận giá trị có thể tuân theo logic trên, nhưng cũng có thể thay đổi trật tự và đan xen nhau một cách biện chứng. So với hoạt động nhận thức thì quá trình chuyển hóa các gía trị xã hội thành giá trị cá nhân có điểm khác biệt– mang tính đặc trưng sau: Quá trình nhận thức chỉ qua bước nhận thức và thực hành, vận dụng; còn quá trình chuyển hóa các gía trị xã hội thành giá trị cá nhân đặc biệt cần có bước trải nghiệm, đánh giá, lựa chọn các giá trị để tác động đến cảm xúc hình thành thái độ, tin vào giá trị thì mới có thể chi phối hành vi theo định hướng giá trị (1). Suy nghĩ nếu không chuyển thành những hành động thì những suy nghĩ đó chỉ là những lời nói suông, hành vi không có suy nghĩ thì nó chỉ là sư tuân theo mù quáng. Không có xúc cảm thì cả suy nghĩ và hành động có thể là vô cảm, còn xúc cảm thiếu suy nghĩ và không được thể hiện bằng các hành động thì sẽ không hợp lí (7).

   

Biện pháp 3.

Tổ

chức giáo dục các giá trị nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm thông qua sinh hoạt câu lạc bộ của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, hoặc

Tuần

sinh hoạt công dân đầu khóa

học

Hoạt động 1. Khám phá giá trị;

Hoạt động 2. Tìm hiểu ý nghĩa của giá trị;

Hoạt động 3. Những rào cản thể hiện các giá trị trong cuộc sống;

Hoạt động 4. Các biện pháp rèn luyện và ứng dụng giá trị trong thực tiễn.

   

Biện pháp 4.

Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm có thể thông qua tích hợp

trong

dạy

học

các

môn

học

trong

chương

trình

đào

tạo

giáo

viên

Trong chương trình đào tạo giáo viên tương lai chắc chắn có những môn học có tiềm năng giáo dục các giá trị “Yêu thương”; “Tin tưởng”; “Công dân tích cực”; “Tận tụy/Tận tâm”; “Hợp tác”; “Sáng tạo “ở các phương diện khác nhau như nhận thức về giá trị, tình cảm đối với giá trị và hành động theo giá trị. Đặc biệt các môn khoa học xã hội như Ngữ Văn, Lịch sử, Giáo dục chính trị, các môn nghiệp vụ sư phạm có ưu thế nhiều hơn trong việc tích hợp nội dung giáo dục các giá trị trên; các môn học khác cũng đều có tiềm năng giáo dục các giá trị “hợp tác”, “sáng tạo”qua việc giảng viên vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực.

   

Biện pháp 5.

Giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm qua rèn luyện nghiệp vụ sư

phạm

Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động quan trọng gắn với đào tạo nghề nghiệp và giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm. Vì đây là một trong những con đường quan trọng để hình thành giá trị nghề nghiệp, bồi dưỡng lòng yêu nghề cho sinh viên sư phạm. Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường được tiến hành dưới dạng các hoạt động như: rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, kiến tập, thực hành sư phạm. Thông qua rèn luyện nghiệp vụ sư phạm sinh viên được thực hành, trải nghiệm ban đầu về những nhiệm vụ, tình huống dạy học và giáo dục của người giáo viên ở nhà trường phổ thông tập làm chủ nhiệm lớp, tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tổ chức quá trình dạy học, thể hiện những yêu cầu đối với người giáo viên về phẩm chất, đạo đức. Họ vừa có cơ hội vận dụng những điều đã học được vào các tình huống thực tiễn gắn với nghề dạy học, qua trải nghiệm sinh viên có cơ hội đánh giá, xác định giá trị quan trọng, củng cố những niềm tin vào những giá trị văn hóa nhân cách sư phạm , bồi dưỡng tình cảm và nhận thức về nghề nghiệp sâu sắc hơn. Khi những giá trị này đã trở thành niềm tin vững chắc thì sinh viên sư phạm sẽ cảm thấy họ cần hành động và sống theo những giá trị này. Để thực hiện biện pháp này cần có sự chỉ đạo của Ban giám hiệu Nhà trường và sự phối hợp thực hiện của đội ngũ giảng viên phụ trách hoạt động nghiệp vụ sư phạm của các Khoa và Nhà trường.

 

Biện pháp 6

. Giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm qua thực tập sư phạm

Thực tập sư phạm là hoạt động thực tiễn đòi hỏi SV sư phạm vận dụng kiến thức, kĩ năng, giá trị đã học được để đóng vai trò của người GV thực thụ, do đó đây là khoảng thời gian và cơ hội quý báu để mỗi sinh viên sư phạm vượt qua mọi thách thức, rào cản để thể hiện nhân cách văn hóa và tạo ra giá trị cho mình. Trong các mối quan hệ với BGH nhà trường, với đội ngũ GV, với HS, PHHS và bạn bè, trong thực tập dạy học và giáo dục… Các em phải thể hiện sự nhạy cảm, thấu hiểu nhu cầu của trẻ, gần gũi, nhân từ với trẻ, bảo vệ lợi ích của trẻ; khoan dung, thân thiện với mọi người xung quanh (biểu hiện của giá trị yêu thương); sự tự tin, lễ phép và tôn trọng người khác; phải trung thực, khách quan, công bằng trong các mối quan hệ; Tự giác, tự chịu trách nhiệm; Kiểm soát bản than ( các biểu hiện của giá trị Tin tưởng/Tin cậy); ham học hỏi, Kỉ luật, coi trọng hiệu quả; Phục vụ cộng đồng (các biểu hiện của giá trị Công dân tích cực); Nhiệt thành, truyền cảm hứng cho trẻ; Tận tình, bền bỉ; kiên trì, kiên nhẫn, linh hoạt, thích ứng với từng đứa trẻ; Chấp nhận thay đổi, dấn thân(các biểu hiện của giá trị Tận tụy/Tận tâm với nghề); Hợp tác với bạn bè, với GV và với HS; Sáng tạo trong xử lí các tình huống và giải quyết các vấn đề gặp phải trong thực tiễn dạy học, giáo dục…

 

Biện

pháp

7.

Xây

dựng

môi

trường

văn

hóa

để

giáo

dục

nhân

cách

văn

hóa

cho

sinh viên sư

phạm

Ngoài môi trường cảnh quan từ lớp học, thư viện, ký túc xá khang trang, sạch đẹp, quan trọng là các trường sư phạm cần xây dựng được môi trường văn hóa chứa đựng các mối quan hệ công việc và quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường: quan hệ giữa cán bộ quản lí nhà trường, các khoa với giảng viên và sinh viên, giữa giảng viên và sinh viên, giữa sinh viên với sinh viên, bầu không khí tâm lí của nhà trường đặc biệt là sự làm gương của giáo viên cần thấm đượm các giá trị “Yêu thương”; “Tin tưởng”;” Công dân tích cực”; “Tận tụy/Tận tâm”; “Hợp tác”; “Sáng tạo “. Các giá trị này cần được thể hiện trong nội quy ứng xử và phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ nhà trường. Đồng thời, sự làm gương của đội ngũ giảng viên và cán bộ trong trường sẽ có tác động giáo dục rất tốt cho sinh viên. Khi sinh viên sư phạm được sống và học tập trong môi trường như vậy sẽ được “tập nhiễm” các hành vi thể hiện nhân cách văn hóa một cách tự nhiên.

 

Biện pháp 8.

Giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm qua các hoạt

động xã

hội

Hoạt động xã hội gắn với các sự kiện xã hội của đất nước, hoạt động tình nguyện vì cộng đồng như hiến máu nhân đạo, hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chiến dịch mùa hè xanh… do Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hoặc Hội Sinh viên tổ chức. Bản thân việc tham gia các hoạt động xã hội phục vụ cộng đồng đã là một biểu hiện của giá trị công dân tích cực trong nhân cách văn hóa. Quan trọng hơn, tham gia các hoạt động này SVSP có cơ hội thể hiện thái độ và các hành vi, hành động theo định hướng của giá trị đã lựa chọn – biểu hiện các giá trị của nhân cách văn hóa. Trong quá trình hoạt động SV được trải nghiệm những cảm xúc tích cực do thể hiện các giá trị của nhân cách văn hóa, do cảm nhận được ý nghĩa của những việc làm, hành động của mình, những cảm xúc tích cực đó lại giúp củng cố, phát triển giá trị của nhân cách văn hóa.

 

Biện

pháp

9.

Giáo

dục

nhân

cách

văn

hóa

qua

việc

tự

giáo

dục

của

sinh

viên

Việc hình thành nhân cách văn hóa cho SV sư phạm đòi hỏi tính tích cực và chủ động rất cao ở người học trong quá trình tự giáo dục. Tự giáo dục biểu hiện ở tính chủ động, tích cực, sự nỗ lực của sinh viên là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của giáo dục nhân cách văn hóa. Trên cơ sở những tác động giáo dục nhân cách văn hóa từ đội ngũ giảng viên, được nhúng trong môi trường văn hóa của nhà trường. . . SV sư phạm nảy sinh nhu cầu, động cơ tự giáo dục trên cơ sở nhận thấy sự cần thiết, ý nghĩa của nhân cách văn hóa trong cuộc sống cũng như trong hoạt động nghề nghiệp của bản thân sau này. Từ đó SV sư phạm cần phải lập kế hoạch, đặt ra những mục tiêu, yêu cầu, mức độ thực hiện từng nội dung, khía cạnh của nhân cách văn hóa, lường trước những khó khăn, rào cản bản thân thể hiện các giá trị của nhân cách văn hóa để có kế hoạch rèn luyện với lộ trình và các biện pháp khả thi nhằm đạt được những kết quả mong đợi.

 

Biện

pháp

10.

Đánh

giá

kết

quả

rèn

luyện

nhân

cách

văn

hóa

của

sinh

viên

phạm

Tổ chức giáo dục nhân cách văn hóa cho sinh viên cuối cùng cần phải đánh giá kết quả thực hiện.Việc đánh giá hướng tới phân tích tác động của hoạt động giáo dục các giá trị nghề nghiệp và nhân cách văn hóa cho sinh viên sư phạm như thế nào? có đạt được các mục tiêu đề ra không, SV sư phạm đã thể hiện thái độ và hành vi phản ánh các biểu hiện ở các khía cạnh khác nhau của giá trị “Yêu thương”; “Tin tưởng”; “Công dân tích cực”; “Tận tụy/ Tận tâm”; “Hợp tác”; “Sáng tạo” ở mức độ nào? Việc đánh giá này cần được cụ thể hoá bằng các phép đo và công cụ đo, hoặc mô tả được. Do đó, ngay từ khi triển khai kế hoạch giáo dục nhân cách văn hóa, cần phải thiết lập các chỉ số đo hành vi để đo được các kết quả khi các hành vi được biểu thị ra. Ngoài ra, cũng cần khuyến khích SV sư phạm tự đánh giá bản thân. Khi các em tự nhận thức bản thân cũng là cơ hội để họ tự điều chỉnh và làm chủ bản thân.

3. K

ết

luận

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE                                                                                                                            

Social Science, 2018, Vol. 63, Iss. 2A, pp. 3-10

DOI: 10.18173/2354-1075.2018-0022

This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thanh Bình (Chủ biên), 2017. Phát triển năng lực cốt lõi cho học sinh phổ thông dựa trên tiếp cận giá trị và kĩ năng sống. Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

2. Nguyễn Hoàng Hải, 2012. Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm. Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.

3. Phạm Minh Hạc, 2010. Giá trị học. Cơ sở lí luận góp phần đúc kết, xây dựng giá trị chung của người Việt Nam thời nay. Nxb Giáo dục Việt Nam.

4. Trần Thị Cẩm Tú, 2015. “Tích hợp giáo dục giá trị sống và giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên ngành sư phạm”, Hội thảo khoa học quốc tế: Tâm lí học và Giáo dục học trong sự nghiệp phát triển con người Việt Nam. NXB Đại học Sư phạm, tr.811- tr.814.

5.  Abdul Rahman bin Md Aroff, 2014. Values Education and the Malaysia Education Blueprint. Journal of Interdisciplinary Research Education (JIRE) Vol.4. Issue I, trang 59-73.

6. NIE, 2010. A Teacher Education Model for the 21st Century (TE21) – A Report by the National Institute of Education, Singapore.

7. Tsunesaburo Makiguchi, 1994. Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo. Nxb Trẻ, Trường Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.

Nhân Cách Và Giáo Dục Văn Hóa Nhân Cách / 2023

Vấn đề nhân cách và giáo dục văn hoá nhân cách phải được nhìn nhận là điểm cốt lõi nhất, là chỗ sâu sắc và tinh tế nhất của triết lý giáo dục.

1. Một con người đạt tới sự trưởng thành xã hội phải là một con người có nhân cách.

Nhân cách là nhân cách của từng người, trong tính cá thể sinh động của nó, trong sự tự biểu hiện và tự khẳng định chặt lượng phát triển người của nó với tư cách một cá nhân, một chủ thể mang nhân cách. Đây là sự phát triển đặc trưng của cái riêng, của từng cái riêng một trong mối liên hệ mật thiết về bản chất với cái chung. Mỗi cái riêng đó là một con người cá thể, cá nhân mà nhân cách của nó phản ánh nhân cách xã hội, là sản phẩm của sự phát triển xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định. Mỗi một cái Tôi nhân cách đều mang dấu ấn của nhân cách xã hội, chịu ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống, truyền thống lịch sử, văn hoá cũng như trình độ và tính chất phát triển của xã hội đương thời. Cái chung của nhân cách xã hội chi phối nhân cách cá nhân thông qua hệ giá trị và chuẩn mực của nó, biểu hiện thành thế giới quan và nhân sinh quan, thành tư tưởng và đạo đức, tình cảm và niềm tin, thành hành vi trong hoạt động và ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội. Do đó, mỗi cá nhân mang cái tôi nhân cách như một hình ảnh thu nhỏ của nhân cách xã hội. Đời sống hiện thực, hàng ngày của nó diễn ra trong môi trường xã hội, giữa những người khác, trong công việc, trong giao tiếp và ứng xử. Môi trường xã hội, hoạt động của con người và những quan hệ xã hội của nó là những nhân tố trực tiếp nhất tham gia vào sự hình thành và thực hiện nhân cách của mỗi cá nhân. Tính hiện thực này của nhân cách xác định hình thức biểu hiện của nhân cách ở lẽ sống, lối sống và nếp sống. Lẽ sống biểu đạt một quan niệm sống, một thái độ lựa chọn và định hướng giá trị cuộc sống của bản thân, chứa đựng trong đó cả mục đích, động cơ, nhu cầu và lý tưởng xã hội mà cá nhân hướng tới. Nó đo lường trình độ trưởng thành xã hội của cá nhân về mặt nhận thức, lý trí, tình cảm… ý thức và tự ý thức về mình – cải tạo thành bản ngã, hay ý thức về cái tôi cá thể và chủ thể, trước hết được định hình ở lẽ sống. Nó như một triết lý về con người và cuộc sống.

Hồ Chí Minh khái quát triết lý ấy trên hai phương diện của cùng một vấn đề: Sống ở đời và Làm người. Làm người và sống ở đời thì phải chính tâm và thân dân. Với những con người trẻ tuổi mới bước vào đời, lập thân và lập nghiệp, lẽ sống là cả một vấn đề hệ trọng của cuộc đời. Xã hội, trước hết là gia đình, nhà trường, các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục và những thế hệ đi trước phải giúp đỡ thế hệ trẻ tự mình tìm thấy câu trả lời đúng và tôi, tôi và đẹp về lẽ sống. Đây thực sự là một định hướng mang ý nghĩa sâu xa về văn hoá, về văn hoá nhân cách.

Xác định đúng đắn về lẽ sống đối với một con người là điểm tựa tinh thần đầu tiên để con người phát triển thành một nhân cách với nghĩa là biết sống lương thiện, tử tế, có trách nhiệm với chính mình và xã hội.

2. Một năm khởi đầu từ mùa xuân.

Cuộc đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Giáo dục lẽ sống phải bắt đầu từ những năm tháng còn trẻ, còn rất trẻ của cuộc đời. Khoảng thời gian đó là cơ hội thuận lợi nhất đối với nhà giáo dục để giáo dục lẽ sống đối với các công dân tương lai khi mà những va đập của cuộc đời chưa làm cho họ tập nhiễm phải những cái xấu, cái ác, khi mà sự trong sáng của tâm hồn và tình cảm của họ làm cho họ dễ tiếp thụ những giá trị đạo đức, dễ nảy nở nhưng khát vọng trở nên tôn đẹp thông qua những phương thức giáo dục biểu cảm, truyền cảm bởi văn hoá nghệ thuật và những tấm gương sống động về người thực, việc thực ở đời. Có lẽ sống đúng, có lý tưởng sống cao thượng, con người được đặt vào một xu hướng phát triển tích cực về nhân cách, tức là một khả năng nảy nở và hoàn thiện nhân tính, cái mà nhà giáo dục lỗi lạc xô viết trước đây, Xukhômlinxki gọi là “Khả năng dễ giáo dục”.

Cũng vì vậy, sự sai lệch chuẩn mực xã hội về lẽ sống, tức là những lệch lạc về quan niệm sống ở những người trẻ tuổi là một trở ngại căn bản để hình thành nhân cách của họ, đặt họ trước nguy cơ hư hỏng, có khi hỏng cả một cuộc đời. Trong trường hợp này, giáo dục vấp phải không ít những nhọc nhằn, nan giải, mà nếu nhà giáo dục không đủ tài năng, bản lĩnh, cao hơn nữa là không đủ sức mạnh của lòng nhân ái, của tấm lòng và trái tim nhân hậu thì thất bại trong giáo dục nhân cách đối với tuổi trẻ là khó tránh khỏi.

Nếu lẽ sống là tiếng nói lý trí của nhân cách con người thì lối sống là bước chuyển hoá cực kỳ quan trọng từ ý thức lựa chọn mẫu nhân cách của cá nhân, của nhóm và tập thể đến thực hành nhân cách trong đời sống hàng ngày, trong cuộc đời của họ. Trong một lối sống đã hình thành, đã định hình, những cái ổn định và có xu hướng trở nên bền vững thuộc về ý thức, tâm lý, thói quen và nhu cầu, lý trí và tình cảm, nhận thức hành động… như những thuộc tính và phẩm chất cá nhân được bộc lộ ra. Tính hiện thực của nhân cách được thể hiện trong lối sống. Nó như một tập hợp các giá trị, được khảo nghiệm và chứng thực trong hoạt động và hành vi của con người, trong các mối quan hệ con người với nhau, trong những ảnh hưởng qua lại giữa nhân cách này với nhân cách khác. Xây dựng lối sống và đời sống văn hoá tinh thần là tạo ra môi trường văn hoá theo các chuẩn mực giá trị về đạo đức, khoa học, thẩm mỹ để hình thành văn hoá nhân cách của cá nhân cũng như tập thể. Lối sống vừa phản ánh nhân cách vừa đánh giá nhân cách của cá nhân mỗi người.

Văn hoá nhân cách của cá nhân biểu hiện trình độ phát triển nhân cách của cá nhân đó ở mức độ điển hình, trong đó những thuộc tính giá trị của nhân cách đã trở nên ổn định, bền vững. Ý thức về cái đúng (chân), cái tốt (thiện), cái đẹp (mỹ) đã gắn liền với năng lực thực hành lối sống theo những giá trị đó. Nó trở thành xu hướng chủ đạo dẫn dắt cá nhân tới những hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo, tới những hành vi giao tiếp và ứng xử với những người xung quanh một cách có văn hoá, đặc biệt là văn hoá đạo đức. Đó là những nét đẹp thuộc về tư tưởng, tâm hồn, tính cách như sự trung thực, lòng chân thành, tính vị tha, bao dung, sự ân cần chu đáo với con người, thái độ tôn trọng nhân cách con người và coi trọng đạo lý làm người.

Tóm lại, văn hoá nhân cách biểu hiện trình độ phát triển nhân cách thông qua lối sống có văn hoá, là cái đã trở thành lối sống văn hoá, thành chất lượng văn hoá lối sống của cá nhân. Đây là mục tiêu cần đạt tới của giáo dục văn hoá nhân cách đối với con người, nhất là đối với thế hệ trẻ. Người đạt đến văn hoá lối sống và văn hoá nhân cách là người không chỉ đạt đến trình độ phát triển của năng lực, của đạo đức và các giá trị, các chuẩn mực xã hội khác của nhân cách, mà còn đạt tới sự phát triển về nhu cầu – những nhu cầu bên

trong thuộc về đời sống văn hoá tinh thần của mình, tự khẳng định mình về tư tưởng, đạo đức, lối sống theo các chuẩn mực giá trị Chân – Thiện – Mỹ.

Người có văn hoá lối sống và văn hoá nhân cách là người có sự phát triển bền vững của văn hoá đạo đức. Văn hoá đạo đức là nền tảng và giá trị cốt lõi nhất tạo nên đặc trưng điển hình và bao trùm cho một nhân cách đã chín muồi.

3. Trong khi nhấn mạnh cả hai mặt đức và tài của nhân cách, Hồ Chí Minh vẫn coi đức là gốc, là quyết định, là hàng đầu chính là vì vậy.

Theo quan niệm đó, người được coi là có nhân cách, trước hết là người có đạo đức, được đánh giá về đạo đức bởi những người khác, bởi dư luận xã hội. Sự đánh giá này tập trung vào lối sống của con người, trong quan hệ với công việc, với những người xung quanh, với cả bản thân mình từ thái độ đến hành vi, ứng xử. Tính ích kỷ, sự vụ lợi mà rộng hơn là cá nhân chủ nghĩa xa lạ với những gì thuộc về nhân cách con người cả trên bình diện đạo đức lẫn bình diện văn hoá. Sống đúng, sống tốt và sống đẹp giữa mọi người, không phải vì mình mà vì người khác, coi lối sống, cách sống đó như một nhu cầu, một sự thoả mãn đạo đức và văn hoá làm người – đó là thước đo giá trị nhân cách trong lối sống. Người mang lối sống ấy sẽ biểu hiện nhân cách của mình bằng cách làm việc hết mình, tận tuy thực hiện bổn phận, nghĩa vụ, nhất quán giữa lời nói là việc làm – những cái mà ta thường nói, sống có tâm, có tình, có nghĩa. Với cái tâm đó, người ta mới biết đem cái tài ra để giúp ích cho đời, cho người. Vị tha là nét cao quý, đáng nể trọng của đạo làm người. Không nhân ái thì không thể vị tha được. Cũng như vậy, không có lòng vị tha thì không thể khiêm nhường, thành thật, bao dung, độ lượng với người và nghiêm khắc với mình được. Phải có những phẩm chất ấy, con người ta mới có thể đem vào trong nếp sống hàng ngày của mình những biểu hiện của sự quan tâm, ân cần, chu đáo với người khác, tính cẩn thận, nề nếp, tận tâm, tận lực trong mọi công việc lớn, nhỏ vì người khác. Đó là sự hy sinh, sự quên mình, chỉ với một tình cảm thiết tha được sống vì người khác, được góp phần nhỏ bé của mình vào sự lớn rộng thêm những niềm vui và hạnh phúc cho người khác, làm vợi đi những khó khăn, vất vả làm dịu đi những nỗi buồn, những đau khổ của người khác, cũng như làm được ngày một nhiều hơn những điều, những việc hữu ích cho cuộc đời.

Là sự cụ thể hoá lối sống, củng cố sự bền vững những giá trị và chuẩn mực của văn hoá lối sống, nếp sống thường ngày của mỗi cá nhân như những chỉ báo xác thực để đo lường mức độ trưởng thành cũng như xu hướng phát triển nhân cách của cá nhân đó. Với những biểu hiện của nếp sống, con người tự bộc lộ mình là người như thế nào, là một nhân cách như thế nào. Qua nếp sống của một con người cụ thể, có thể đánh giá được người ấy đã tự giáo dục mình đến đâu, đã chuyển hoá học vấn thành văn hoá nhân cách của mình đến mức nào.

4. Con người mang một bản chất xã hội nhất định; bản chất ấy có cơ sở vật chất – sinh học của nó, bởi con người trước hết là một thực thể sinh vật. Nhân cách của nó không tách rời mà trái lại gắn liền với những cội rễ của di truyền sinh vật mà nó thừa hưởng từ những thế hệ trước để lại. Song, trong sự hình thành bản chất xã hội của từng cá thể, cá nhân thì tính ưu trội và vai trò quyết định lại thuộc về cơ sở xã hội – lịch sử và văn hoá, thuộc về thực thể xã hội. Con người mang bản chất xã hội và hình thành nhân cách của mình tư sự tổng hoà các quan hệ xã hội, từ hoàn cảnh xã hội mà trong đó nó tồn tại, nó thực hiện hoạt động sống của mình. Mác đã vạch ra những luận đề nổi tiếng về những đặc trưng xã hội và qui luật xã hội tác động tới sự hình thành bản chất người, nhân cách người. Đó là:

Nếu con người là sản phẩm của hoàn cảnh thì vấn đề là ở chỗ, phải tạo ra hoàn cảnh có tính người. Đó là nhân tính, là những sức mạnh (lực lượng) bản chất người của con người. Đó là con đường phát triển theo xu hướng nhân đạo hoá hoàn cảnh để hình thành nên nhân cách người.

Hoàn cảnh tạo ra con người trong chừng mực mà con người tác động cải biến trở lại đối với hoàn cảnh. Con vật là một tồn tại bản năng trong khi con người là một thực thể xã hội có hoạt động sống sáng tạo dựa trên tiền đề tồn tại.

Sự phong phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ, những quan hệ xã hội của nó. Con người trở thành thực thể và chủ thể xã hội bằng hoạt động của nó từ cá thể đến loài, từ bản chất loài, tộc loại tiến đến bản chất xã hội. Đó là cả lịch sử của nó – lịch sử sáng tạo ra một tự nhiên thứ hai như là sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật của chính mình. Con người sáng tạo ra xã hội con người theo qui luật của cái đẹp. Đó là cái đẹp của văn hoá, của nhân tính.

Điều đó chứng tỏ rằng, con người sáng tạo ra văn hoá và văn hoá sáng tạo ra con người ở phương diện làm cho con người hoàn thiện, con người mang nhân cách văn hoá mà trong hình thái lý tưởng của nó là sự hài hoà Chân – Thiện – Mỹ. Đây là một tổng hoà các giá trị Nhân bản (thuộc phạm trù khoa học), Nhân đạo (thuộc phạm trù đạo đức) và Nhân văn (thuộc phạm trù văn hoá). Văn hoá thống nhất trong bản thân nó khoa học và đạo đức.. Nhân văn bao hàm trong nó những giá trị nhân bản và nhân đạo. Đạt đến trình độ phát triển nhân văn là đạt đến văn hoá, đạt đến nhưng thành quả sáng tạo của con người và loài người nhằm thoát mỹ hoá hiện thực.

5. Nhân cách là toàn bộ các giá trị mà con người đạt được trong sự trưởng thành xã hội của nó. Những giá trị đó gắn liền với những chức năng và vị thế của con người trong các quan hệ xã hội mà nó biểu hiện ra bằng hoạt động, với tất cả sự phong phú và toàn vẹn của đời sống cá nhân trong môi trường xã hội, trong sự phát triển của cá nhân và xã hội.

Đạo đức cũng như năng lực là những thành phần chủ yếu của cấu trúc nhân cách, nhưng chỉ riêng đạo đức hay năng lực không đủ để xác định một nhân cách. Nói đạo đức là yếu tố quan trọng hàng đầu là gốc, là cái quyết định của nhân cách không có nghĩa là đồng nhất đạo đức với nhân cách, coi nhân cách chỉ là đạo đức. Cần phải khắc phục một quan niệm đơn giản khi lược quy nhân cách vào mặt duy nhất là đạo đức, cũng như đồng nhất học vấn với văn hoá như vẫn thường thấy khi đánh giá sự phát triển của cá nhân về mặt học vấn, học thức. Mặt khác, nếu tách rời đạo đức với năng lực, tuyệt đối hoá đạo đức mà xem nhẹ năng lực, hoặc cho rằng dường như những hạn chế, yếu kém, thiết hụt về năng lực có thể được bù trừ, châm chước bằng phẩm chất đạo đức, thì đó sẽ là một quan niệm không đúng về nhân cách. Ngược lại, đề cao năng lực đến mức coi năng lực là tất cả, chỉ cần rèn luyện năng lực để làm việc, còn đạo đức không có vai trò quyết định… thì quan niệm đó càng sai lệch nhiều hơn. Đó là những biểu hiện khác nhau của cách hiểu phiến diện, siêu hình về nhân cách.

Trên thực tế, đạo đức chi phối và quyết định năng lực, đồng thời đạo đức phải biểu hiện qua năng lực, ở tác dụng và hiệu quả của năng lực trong hoạt động.

Đạo đức và năng lực phải được hình dung cụ thể trong công việc và trong các quan hệ mà con người phải giải quyết và ứng xử hàng ngày, tức là trong những tình huống khác nhau của cuộc sống. Thông qua những công việc và quan hệ đó, con người tỏ rõ mình đã làm được những gì, đã sống như thế nào giữa những người khác, nhờ đó mà nhân cách cá nhân của nó được định bơm và cũng có thể tự đánh giá. Phải thông qua những đánh giá xã hội thì nhân cách cá nhân mới có tính hiện thực. Tính hiện thực đó biểu hiện ở ảnh hưởng và uy tín mà người này có được ở người khác, trong những người khác và ngược lại.

Mỗi cá nhân là một chủ thể mang nhân cách của mình, đồng thời là đối tượng; khách thể được đánh giá về nhân cách bởi một chả thể khác, bởi cộng đồng xã hội.

6. Nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, trong các quan hệ liên nhân cách. Điều đó được thể hiện trước tiên trong giao tiếp văn hoá.

Giao tiếp văn hoá để học cách sống, cách ứng xử văn hoá, tập luyện hành vi, thói quen tốt cho từng cá nhân theo những chuẩn mực và giá trị của văn hoá giao tiếp, văn hoá đối thoại, tranh luận, văn hoá ứng xử. Làm cho từng cá nhân nảy nở và phát triển nhu cầu văn hoá trên những phương diện đó chính là con đường giáo dục văn hoá nhân cách cho họ.

Cảm nhận một cách tinh tế yêu cầu lý, Nêru, nhà hoạt động văn hoá lỗi lạc Ấn Độ nhấn mạnh rằng, “Văn hoá chính là khả năng hiểu biết người khác và làm cho người khác hiểu mình”. Còn viện sĩ Lik- hachốp coi “Văn hoá là biết lắng nghe” và Xukhômlinxki, nhà giáo dục xô viết nổi tiếng, người đã dồn hết tâm huyết và tinh lực cả đời mình cho công việc giáo dục thế hệ trẻ, với tác phẩm vĩ đại “Giáo dục con người chân chính như thế nào?” lại đặc biệt chú ý tới phẩm chất làm người thông qua giáo dục văn hoá nhân cách. Ông quan niệm “Văn hoá chính là khả năng biết nhìn thấy người bên cạnh”.

Biết lắng nghe, ấy là sự khiêm nhường, là sự tôn trọng con người. Biết nhìn thấy người khác, ấy là sự ân cần, chu đáo, sự thông cảm, chia xẻ với những số phận con người – một biểu hiện cao quí của nhân tính. Mác đã từng nói: chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi thống khổ của đồng tính. Mác đã từng nói: chỉ nói có súc vật mới quay lưng lại với nỗi thống khổ của đồng loại.

Tập luyện, gieo trồng, vun trồng nhân tính là gốc rễ bền bỉ nhất của văn hoá. Nhân tính đó, chính là chiều sâu của sự hiểu biết, sự đồng cảm của con người với con người. Đó cũng là nhu cầu văn hoá đạo đức của mỗi cá nhân trong lao động, hoạt động, trong gian tiếp, ứng xử với những người khác.

Những thuộc tính giá trị cộng đồng và cộng cảm ấy của văn hoá làm người, văn hoá nhân cách tỏ rõ rằng, nhân cách con người không bao giờ độc lập, biệt lập trong cái trạng thái cô đơn, ốc đảo khép kín ở một cá thế. Nó là sự giao hoà giữa nhân cách của nó với những nhân cách ngoài nó, của những con người, những cuộc đời và của cả cộng đồng xã hội nói chung. Nhân cách là một quan hệ liên nhân cách chính là vì thế.

Sự phối hợp đồng bộ các lực lượng giáo dục cũng như sự thống nhất giữa mục tiêu và phương pháp giáo dục trở nên hết sức cần thiết. Nó tạo ra những tác động tích cực cùng chiều tới sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ. Muốn vậy, phải khai thác tối đa sức mạnh của giáo đục truyền, thống lịch sử dân tộc, truyền thống cách mạng; kết hợp giáo dục khoa học để rèn luyện phương pháp tư duy sáng tạo và phát triển trí tuệ với giáo dục đạo đức và trau dồi sự tinh tế trong cảm thụ nghệ thuật, nâng cao khiếu thẩm mỹ để làm phong phú thế giới tinh thần của họ. Đó là những lực đẩy cần thiết giúp con người phát triển và hoàn thiện nhân cách. Nó còn cần thiết để thức tỉnh những người đã bị lệch lạc về nhân cách, thậm chí đánh mất nhân cách của mình mà trong hoàn cảnh và ở thời điểm nào đó, họ có thể hoàn lương và hướng thiện.

Vấn đề nhân cách và giáo dục văn hoá nhân cách phải được nhìn nhận là điểm cốt lõi nhất, là chỗ sâu sắc và tinh tế nhất của triết lý giáo dục.

T.L.H

Bạn đang xem bài viết Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa… / 2023 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!