Xem Nhiều 2/2023 #️ Các Tổn Thương Cơ Chế Duỗi Gối # Top 10 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Các Tổn Thương Cơ Chế Duỗi Gối # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Tổn Thương Cơ Chế Duỗi Gối mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đứt gân tứ đầu đùi

Đứt gân bánh chè

Gãy xương bánh chè

Gãy lồi củ chày

Ở người khỏe mạnh, cần một lực đáng kể để làm tổn thương các cấu trúc này; gân bình thường đủ khỏe để xương bánh chè vỡ đôi ngang trước khi đứt gân. Tuy nhiên, đối tượng trong các tình trạng sau có nguy cơ cao bị đứt gân. Các tình trạng này bao gồm

Trong những người có nguy cơ cao, tổn thương có thể xuất phát từ một chấn thương nhẹ (ví dụ, khi đi xuống cầu thang). Gân cơ tứ đầu đùi thường bị chấn thương nhiều hơn gân bánh chè, đặc biệt ở người cao tuổi.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Vùng bị tổn thương đau và sưng.

Bệnh nhân bị đứt gân hoàn toàn không đứng được, không duỗi thẳng chân khi nằm ngửa, hoặc không duỗi được gối khi ngồi.

Các biến chứng về sau (ví dụ, mất vận động, yếu) là phổ biến.

Chẩn đoán

Thăm khám lâm sàng

Chụp X quang

MRI

Thăm khám khớp gối có thể gợi ý cấu trúc nào bị tổn thương:

Đứt gân cơ tứ đầu đùi: Sờ thấy xương bánh chè lệch xuống dưới.

Đứt gân bánh chè: Xương bánh chè bị lệch lên trên.

Gãy ngang xương bánh chè: Thường sờ thầy khoảng trống giữa 2 mảnh xương gãy.

Tuy nhiên, vùng tổn thương có thể sưng nề nhiều, làm che lấp các dấu hiệu này, do đó tổn thương có thể bị chẩn đoán sai là chấn thương dây chằng khớp gối kèm tụ máu. Nếu bệnh nhân bị sưng đau khớp gối sau một chấn thương, bác sĩ cần yêu cầu bệnh nhân ngồi xuống, cố gắng duỗi thẳng bên gối bị chấn thương để kiểm tra động tác duỗi chủ động của khớp gối hoặc yêu cầu bệnh nhân nằm ngửa, nâng cao chân bị chấn thương và giữ thẳng.

Những điểm chính và sai lầm

Luôn kiểm tra động tác duỗi gối chủ động nếu bệnh nhân có sưng đau khớp gối sau một chấn thương

X-quang khớp gối thường quy cần được thực hiện. Phim X-quang có hình ảnh di lệch hoặc gãy xương bánh chè nhưng cũng có khi cho kết quả bình thường. Chụp MRI để xác định chẩn đoán.

Điều trị

Phẫu thuật

Điều trị các tổn thương cơ chế duỗi gối cần phẫu thuật càng sớm càng tốt.

Mô Tả Các Tổn Thương Da

Dát là những thương tổn da phẳng, không sờ thấy được. Đường kính < 10 mm. Dát biểu hiện là thay đổi sắc tố, không nồi cao hoặc lõm xuống hơn so với bề mặt da. Đám là một dát lớn. Ví dụ như tàn nhang, nốt ruồi phẳng, hình xăm, và bớt rượu vang, và các ban nhiễm trùng rickettsial, rubella, bệnh sởi (cũng có thể có sẩn và mảng ), và một số dị ứng phát ban do dị ứng thuốc.

Sẩn thường là thương tổn thường nổi cao hơn so với mặt da. Đường kính < 10 mm có thể cảm nhận được hoặc sờ thấy. Ví dụ như bớt, hạt cơm, lichen phẳng, côn trùng cắn, dày sừng da dầu, dầy sừng ánh sáng, một số tổn thương trứng cá, và ung thư da. Thuật ngữ dát sẩn thường được sử dụng một cách không phù hợp, thường để mô tả nhiều thương tổn dát đỏ, vì thuật ngữ này không đặc hiệu và dễ bị nhầm lẫn, nên tránh sử dụng

Cục là các sẩn chắc hoặc tổn thương lan rộng vào trung bì hoặc hạ bì. Ví dụ bao gồm u nang, u mỡ, và u xơ.

Mụn nước là thương tổn nhỏ, chứa đầy dịch trong. Đường kính <10 mm. Thương tổn mụn nước đặc trưng của các bệnh như nhiễm virus herpes, viêm da tiếp xúc cấp tính, và một số bệnh da bọng nước tự miễn (ví dụ:, viêm da dạng herpes).

Mụn mủ là các thương tổn mụn nước nhưng chứa mủ. Thương tổn mụn mủ gặp phổ biến trong các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và viêm nang lông và có thể xuất hiện trong một số bệnh da viêm bao gồm bệnh vẩy nến thể mủ.

Mày đay (wheals hoặc hives) được đặc trưng bởi các tổn thương nổi cao do phù nề khu trú. Sẩn phù có biểu hiện ngứa và đỏ. Sẩn phù là một biểu hiện phổ biến gặp trong phản ứng quá mẫn cảm với thuốc, ong đốt hoặc côn trùng đốt, tự miễn dịch , và, ít gặp hơn với các tác động vật lý bao gồm nhiệt độ, áp lực, và ánh sáng mặt trời. Sẩn phù điển hình kéo dài < 24 giờ.

Vảy là sự tích tụ của các tế bào sừng gặp trong các bệnh như bệnh vẩy nến, viêm da dầu, và nhiễm nấm. Bệnh vảy phấn hồng và viêm da mãn tính ở bất kỳ dạng nào cũng có thể hình thành vảy.

Vảy tiết (vảy) bao gồm huyết thanh, máu, hoặc mủ khô. Vảy tiết có ở các bệnh da viêm hoặc da nhiễm trùng (ví dụ, chốc).

Trợt là các vùng da bị tổn thương do mất một phần hoặc toàn bộ lớp thượng bì. Trợt có thể do chấn thương hoặc có thể xảy ra trong các bệnh viêm hoặc nhiễm trùng da khác nhau. Vết xước là một vết trợt thành dải do gãi, chà xát hoặc xé.

Loét hậu quả của mất lớp thượng bì và ít nhất là một phần của lớp trung bì. Các nguyên nhân bao gồm viêm da ứ trệ tĩnh mạch, chấn thương thực tổn có hoặc không có sự tổn thương mạch máu (ví dụ, do loét tỳ đè hoặc bệnh động mạch ngoại vi), nhiễm trùng và viêm mạch.

Các chấm xuất huyết là những điểm xuất huyết ấn kính không mất màu Các nguyên nhân bao gồm các bất thường tiểu cầu (ví dụ như giảm tiểu cầu, rối loạn chức năng tiểu cầu), viêm mạch, và nhiễm trùng (ví dụ, bệnh màng não mô cầu, sốt màng não miền núi, các nhiễm trùng do rickettsia).

Ban xuất huyết là một vùng xuất huyết lớn có thể sờ thấy. Ban xuất huyết có thể sờ thấy được coi là dấu hiệu vàng của viêm mạch máu có mảnh vỡ bạch cầu. Xuất huyết có thể là chỉ điểm một bệnh lý rối loạn đông máu Xuất huyết lớn có thể được gọi là vết bầm máu hoặc vết thâm tím.

Teo da là sự mỏng đi của da, có thể xuất hiện khô và nếp nhăn gần giống như giấy cuốn thuốc lá. Teo da có thể do tiếp xúc với ánh nắng mạn tính, lão hóa, và một số bệnh lý viêm và ung thư da, như ung thư tế bào T tại da và Lupus ban đỏ. Teo da cũng có thể là kết quả của việc bôi corticosteroid lâu dài.

Sẹo là những vùng xơ hóa thay thế da bình thường sau chấn thương. Một số sẹo trở nên phì đại hoặc dày lên. Sẹo lồi là những vết sẹo phì đại phát triển vượt ra ngoài ranh giới vết thương ban đầu.

Giãn mao mạch là giãn các mao mạch nhỏ vĩnh viễn, do ánh nắng mặt trời, trứng cá đỏ, các bệnh hệ thống (đặc biệt là xơ cứng hệ thống), hoặc bệnh di truyền (ví dụ, chứng thất điều giãn mạch, giãn mao mạch xuất huyết di truyền) hoặc sau khi điều trị lâu dài bằng corticosteroid tại chỗ

Loãng Xương Và Các Tổn Thương Xương Dạng Pseudopermeative

Loãng xương là bệnh đặc trưng bởi khối lượng xương giảm, vi cấu trúc xương hư hại dẫn đến tình trạng xương bị yếu và hệ quả tăng nguy cơ gãy xương [1]. Khi so sánh khái niệm loãng xương (osteoporosis) và nhuyễn xương (osteomalacia) người ta quan tâm đến việc giảm khối lượng (quantity) xương trong loãng xương là yếu tố chính, còn nhuyễn xương thì khối lượng xương bình thường nhưng chất lượng (quality) xương bất thường do quá trình khoáng hóa bất thường. Trên phim X quang thường quy không thể phân biệt được loãng xương và nhuyễn xương.

Có rất nhiều nguyên nhân gây loãng xương, nguyên nhân phổ biến nhất là loãng xương nguyên phát (còn gọi là loãng xương lão hóa). Nguyên nhân này xảy ra ở phần lớn phụ nữ sau mãn kinh và là vấn đề sức khỏe quan trọng do tăng nguy cơ gãy xương thân đốt sống và xương hông (xương đùi).

Loãng xương thứ phát ám chỉ hiện tượng loãng xương do bệnh tật khác chi phối, như nhiễm độc giáp hoặc bệnh thận. Chỉ khoảng 5% các trường hợp loãng xương là thứ phát. Danh sách chẩn đoán phân biệt loãng xương thứ phát khá dài nên không nên nhớ. Mặt khác, trên phim X quang người ta còn không thể phân biệt loãng xương và nhuyễn xương.

Dấu hiệu X quang chính trong loãng xương là mỏng vỏ xương. Mặc dù có thể xảy ra trên bất cứ xương nào, người ta thường chứng minh một cách tin cậy ở giữa thân xương của đốt bàn tay thứ hai (Hình 1). Trong loãng xương, độ dày vỏ xương mỏng đi (Hình 2). Vỏ xương đốt bàn tay (và tất cả vỏ xương) giảm chiều dày theo tuổi và ở phụ nữ thì mỏng hơn nam giới cùng lứa tuổi.

Một loại loãng xương có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào là loãng xương do không cử động. Nguyên nhân do bất động, thường gặp sau điều trị gãy xương. Hình ảnh X quang của loãng xương bất động chi khác với hình ảnh loãng xương nguyên phát ở chỗ nó xảy ra nhanh hơn và tạo hình ảnh mảng lốm đốm (Hình 3). Hiện tượng này do hủy cốt bào tiêu vỏ xương, chúng gây các lỗ nhỏ trong vỏ xương. Nếu tiếp tục bất động, xương vùng này sẽ giống mọi xương trong cơ thể chịu loãng xương nặng với vỏ rất mỏng.

Hình 1. Ngấm khoáng bình thường. Chiều dày vỏ xương (các mũi tên) ở giữa đốt bàn tay thứ hai của một bệnh nhân bình thường. Chiều dày này lớn hơn 1/3 chiều rộng của xương bàn tay ở cùng mức.

Hình 2. Loãng xương. Mỏng nhiều vỏ xương (mũi tên) ở giữa xương bàn tay thứ hai của một bệnh nhân bị loãng xương nặng. Lưu ý các đường, vệt sáng trong vỏ xương, chúng thường xuất hiện ở các trường hợp loãng xương nặng.

Hình 3. Loãng xương do bất động. Hình mảng, lốm đóm ở đầu trên xương đùi của bệnh nhân bị loãng xương mạnh mẽ không sử dụng chi sau cắt cụt. Lưu ý vỏ xương không đều đặn, lốm đốm ở thân xương đùi, đó là các lỗ trong vỏ xương có thể thấy trong những trường hợp loãng xương dữ dội.

Đôi khi, loãng xương dữ dội do bất động có thể giả một tổn thương dạng thấm (permeative)*, như Ewing sarcoma hoặc đa u tủy xương, bởi vì nhiều lỗ ở vỏ xương chồng lên khoang tủy xương, do đó hình ảnh trên phim X quang giống quá trình tiêu xương dạng thấm ở tủy xương (Hình 4). Cách để phân biệt quá trình tiêu xương dạng thấm trong tủy xương với tiến triển tiêu xương ở trong vỏ như trường hợp của loãng xương là phải quan sát vỏ xương, xem vỏ xương đặc hoặc có hình các ổ tiêu xương nhỏ lỗ chỗ (Hình 5) không. Nếu vỏ xương đặc, người ta có thể cho rằng quá trình tiêu xương dạng thấm bắt nguồn từ khoang tủy xương (Hình 6); nếu vỏ xương có nhiều lỗ nhỏ, người ta có thể cho rằng tiêu xương dạng thấm này từ vỏ xương. Tiêu xương dạng thấm tạo lỗ ở vỏ xương được gọi là “giả thấm”(pseudopermeative) phân biệt với tiêu xương dạng thấm thực sự xảy ra từ tủy xương [2]. Những nguyên nhân khác gây tiêu xương “giả thấm” gồm có u mạch máu (hiện nay gọi là dị dạng mạch máu, nhất là dị dạng tĩnh mạch) và xạ trị. U mạch máu (hemangioma) có thể tạo nên các lỗ nhỏ ở vỏ xương theo hai cách: do sung huyết cục bộ gây loãng xương khu trú, hoặc các mạch máu tạo thành đường hầm xuyên qua vỏ xương (Hình 7). Xạ trị có thể gây nên các lỗ trong vỏ xương giả tổn thương dạng thấm do các tế bào tạo xương ở vỏ bị chết, các lỗ to trong vỏ xương (Hình 8). Các lỗ trong vỏ xương do xạ trị thường to nên khó nhầm với các tiến triển thấm thực sự, nhưng chúng cũng có thể nhỏ và rất giống tiến triển tiêu xương dữ dội dạng thấm.

Hình 4. Loãng xương dữ dội. Nhiều lỗ nhỏ ở vỏ xương và chồng lên khoang tủy có thể được nhận ra ở đầu trên xương cánh tay bệnh nhân bị đột quỵ não. Nó là biểu hiện của loãng xương dữ dội do bất động chi và giả tiến triển tiêu xương mạnh mẽ dạng thấm (permeative). Tuy nhiên những lỗ đó hầu như chỉ nằm bên trong vỏ xương.

Hình 6. U tủy (myeloma) tạo ra quá trình thấm (permeative process). Quá trình tiêu xương dạng thấm lan tỏa khắp xương đùi của bệnh nhân bị u tủy này. Lưu ý vỏ xương đặc, mặc dù mặt trong vỏ xương bị bào mòn nhiều chỗ. Đây là quá trình thấm thực sự.

Hình 7. Tiến triển giả thấm (pseudopermeative) do u mạch máu. Tổn thương dạng thấm ở đầu dưới xương chày của bệnh nhân biểu hiện đau và sưng cẳng chân này. Tổn thương được cho là Ewing sarcoma và sinh thiết được tiến hành, hậu quả là mất máu nặng. Kết quả sinh thiết là u mạch máu (hemangioma). Đánh giá kỹ lưỡng vỏ xương thấy rằng mặt trong xương chày có nhiều lỗ trong vỏ xương, so với mặt ngoài nguyên vẹn. Mặt trong bản xương ở phía ngoài cũng còn nguyên vẹn, khiến cho suy luận quá trình tiêu xương từ tủy xương không hợp lý. U mạch máu, xạ trị và loãng xương có thể tạo nên quá trình tiêu xương giả thấm. Mặc dù trong thí dụ này loãng xương là khu trú, nhưng về cơ bản loãng xương và xạ trị khác nhau về phạm vi tổn thương (khu trú so với lan tỏa).

Hình 8. Tiến triển giả thấm (pseudopermeative) do xạ trị. Bệnh nhân này có fibrosarcoma đã điều trị bằng cách cắt đầu xương đùi và sau đó xạ trị. Phim X quang theo dõi cho thấy tổn thương dạng thấm lan tỏa khắp đầu trên xương đùi. Do vỏ xương có lỗ chỗ các lỗ, nên tổn thương được cho là do xạ trị hơn là tái phát u. Đây là trường hợp tiến triển giả thấm sau xạ trị.

Nếu phát hiện một tổn thương dạng thấm thực sự, chẩn đoán phân biệt thường là một quá trình tiến triển dữ dội như Ewing sarcoma, nhiễm khuẩn hoặc hạt ái toan ở bệnh nhân trẻ (< 30 tuổi), hoặc đa u tủy xương, ung thư biểu mô di căn, u lymphoma nguyên phát của xương ở những bệnh nhân lớn tuổi hơn. Tuy nhiên, nếu một tổn thương thấm do các lỗ ở vỏ (còn gọi là dạng giả thấm) thì danh sách chẩn đoán phân biệt ít nguy hiểm hơn: loãng xương tiến triển dữ dội, u mạch máu, thay đổi xương sau xạ trị. Danh sách chẩn đoán phân biệt ít khi được áp dụng, nhưng nó rất hữu ích trong những trường hợp có bệnh cảnh phù hợp và phân tích tổn thương tỉ mỉ (xem Bảng).

Bảng: Chẩn đoán phân biệt của tổn thương tiêu xương “giả thấm” (pseudopermeative pattern)

Loãng xương tiến triển nhanh, dữ dội

U mạch máu ở sâu (ngày nay gọi là dị dạng mạch máu, nhất là dị dạng tĩnh mạch)

Xạ trị

Ghi chú:

– permeative pattern* (tạm dịch là tổn thương dạng thấm): là một trong 3 dạng phá hủy xương do Lodwich phân loại vào những năm 1960 [3]. Nó là dạng phá hủy xương có hoạt động sinh học dữ dội nhất, xảy ra đối với các khối u phát triển nhanh nhất và nhiễm khuẩn xương. Phim X quang thường cho thấy vô số chấm sáng nhỏ li ti, đường kính thường dưới 1 mm. Vào thời điểm tổn thương có thể thấy rõ, vỏ xương thường đã bị xuyên thủng và có thể thấy một khối ngoài xương. Các phim X quang bộc lộ kích thước tổn thương nhỏ hơn thực. Hình ảnh tương tự có thể thấy trong [bệnh] loãng xương tiến triển nhanh và dữ dội, hội chứng loạn dưỡng phản xạ thần kinh giao cảm (reflex sympathetic dystrophy, RDS) và không sử dụng hay bất động chi.

Tham khảo và dịch

1. Consensus development conference: Diagnosis, prophylaxis and treatment of osteoporosis. Am J Med 1993, 94:646-50.

2. Helms C, Munk P. Pseudopermeative skeletal lesions. Br J Radiol 1990;63:461-467.

3. Sinchun Hwang, David M. Panicek. The Evolution of Musculoskeletal Tumor Imaging. Radiol Clin N Am 47 (2009) 435–453.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Tổng Quan Về Bong Gân Và Các Tổn Thương Phần Mềm Khác

Các bác sĩ cũng nên hỏi về việc sử dụng các thuốc (ví dụ, fluoroquinolones, corticosteroid) làm tăng nguy cơ bị tổn thương gân.

Cơ chế (ví dụ, hướng và cường độ của lực) có thể gợi ý kiểu chấn thương Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân không nhớ hoặc không thể mô tả chính xác cơ chế.

Nếu bệnh nhân cho biết có biến dạng đã được xử trí trước khi được thăm khám y khoa, biến dạng đó được nhận định là biến dạng thực sự đã thuyên giảm tự nhiên.

Tiếng kêu tại khớp tại thời điểm bị thương có thể là dấu hiệu của tổn thương dây chằng hoặc gân (hoặc gãy xương). Tổn thương dây chằng nặng thường gây đau ngay lập tức; đau xuất hiện sau vài giờ cho đến vài ngày sau chấn thương gợi ý tổn thương nhẹ.

Nếu co cơ và đau làm hạn chế thăm khám thực thể (đặc biệt là các nghiệm pháp thăm khám), thăm khám sẽ dễ dàng hơn sau khi bệnh nhân được dùng thuốc giảm đau toàn thân hoặc gây tê tại chỗ. Hoặc vùng tổn thương có thể được bất động cho đến khi bớt co cơ và giảm đau, thường là sau vài ngày, và sau đó bệnh nhân được kiểm tra lại.

Biến dạng gợi ý đến trật khớp, bán trật (di lệch một phần trong số các xương tạo lên khớp), hoặc gãy xương.

Sưng thường cho thấy có tổn thương cơ xương khớp đáng kể nhưng cần một vài giờ để thấy rõ. Nếu sưng không xuất hiện trong thời gian này, không nghĩ đến có đứt dây chằng.

Ấn đau đi kèm với gần như tất cả các tổn thương, và đối với nhiều bệnh nhân, chạm vào bất cứ nơi nào xung quanh vùng tổn thương đều gây khó chịu. Tuy nhiên, sự gia tăng đáng kể mức độ ấn đau ở một vùng khu trú (điểm đau) gợi ý đến bong gân (hoặc gãy xương). Ấn đau tại chỗ bám dây chằng và cảm giác đau khi khớp bị ảnh hưởng cho thấy có tổn thương. Với rách gân hoặc cơ hoàn toàn, một vùng khuyết có thể sờ thấy rõ nơi cấu trúc bị ảnh hưởng.

Mất vững khớp nhiều gợi ý đến đứt dây chằng rất nặng (hoặc trật khớp, cái có thể tự thuyên giảm).

Test áp lực (stress) được thực hiện để đánh giá độ vững của một khớp bị tổn thương; tuy nhiên, nếu nghi ngờ có gãy xương thì nghiệm pháp này không được thực hiện cho đến khi X-quang loại trừ được gãy xương. Test áp lực cạnh giường bao gồm việc vận động thụ động khớp theo hướng vuông góc với vận động bình thường. Bởi vì cơ co trong những chấn thương đau cấp tính có thể che lấp sự mất vững khớp, cần giãn các cơ xung quanh càng nhiều càng tốt, và việc thăm khám nên bắt đầu nhẹ nhàng, sau đó lặp đi lặp lại, với lực tăng dần qua mỗi lần. Các kết quả được so sánh với bên đối diện bình thường nhưng có thể bị giới hạn bởi bản chất chủ quan.

Các kết quả có thể giúp phân biệt đứt dây chằng độ 2 và độ 3:

Đứt dây chằng độ 2: Đau khi tiến hành nghiệm pháp, và vận động của khớp bị giới hạn.

Đứt dây chằng độ 3: Ít đau đớn hơn khi tiến hành nghiệm pháp bởi vì dây chằng đã bị rách hoàn toàn và không còn được kéo căng, tầm vận động khớp tăng rõ rệt.

Nếu cơ còn co nhiều dù đã sử dụng thuốc giảm đau hoặc thuốc gây tê, nên khám lại vài ngày sau đó, khi bớt co cơ.

Một số trường hợp đứt gân bán phần ban đầu khó phát hiện trên lâm sàng vì chức năng không thay đổi. Bất kỳ dấu hiệu nào sau đây đều gợi ý đến đứt gân bán phần:

Đứt gân bán phần có thể tiến triển thành đứt gân hoàn toàn nếu bệnh nhân tiếp tục vận động vùng bị thương. Nếu cơ chế chấn thương hoặc thăm khám cho thấy tổn thương gân bán phần hoặc nếu thăm khám không xác định được thì cần dùng nẹp để bất động và không gây tổn thương thêm. Bước đánh giá tiếp, đôi khi cần chụp MRI, để đánh giá phạm vi, mức độ tổn thương.

Nếu khám thực thể bình thường tại khớp mà bệnh nhân kêu đau, nguyên nhân có thể chỉ do cảm giác đau của bệnh nhân. Chẳng hạn, những bệnh nhân bị chấn thương khớp ức đòn có thể cảm thấy đau ở vai. Vì vậy, các bác sĩ lâm sàng nên luôn luôn khám các khớp ở trên và dưới nơi tổn thương.

Không phải tất cả các tổn thương chi đều cần đến chẩn đoán hình ảnh. Nhiều trường hợp tổn thương dây chằng mắt cá không đòi hỏi phải X-quang trong quá trình đánh giá ban đầu bởi vì xác suất tìm ra một đường vỡ xương mà cần thay đổi phương pháp điều trị thấp; đối với bong gân mắt cá chân, tiêu chuẩn chỉ định chụp X-quang được chấp nhận rộng rãi ( Quy luật mắt cá chân Ottawa) giúp hạn chế tia X cho những bệnh nhân có nhiều khả năng bị gãy cần điều trị đặc biệt. Nếu cần chẩn đoán hình ảnh, chụp X-quang thường được ưu tiên thực hiện.

Chụp X-quang thường quy, thấy được chủ yếu là xương (và gián tiếp thấy tràn dịch khớp do chảy máu hoặc có vỡ xương nhưng bị khuất), được thực hiện để kiểm tra trật khớp và gãy xương; Chụp X-quang thường không thấy được các bằng chứng trực tiếp của đứt dây chằng nhưng có thể thấy các tương quan giải phẫu bất thường gợi ý đến đứt dây chằng hoặc tổn thương phần mềm khác. Chụp X-quang nên gồm ít nhất 2 hướng được chụp ở hai mặt phẳng khác nhau (thường là hướng trước sau và hướng bên).

Các hướng nhìn khác (ví dụ, nghiêng) có thể được thực hiện khi

Khi chụp ngón tay nhìn từ phía bên, ngón cần đánh giá nên được tách riêng biệt với các ngón khác.

MRI có thể được thực hiện để xác định tổn thương phần mềm, bao gồm dây chằng, gân, sụn và các tổn thương cơ. MRI hoặc CT cũng có thể được thực hiện để kiểm tra các đường vỡ khó phát hiện.

Bạn đang xem bài viết Các Tổn Thương Cơ Chế Duỗi Gối trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!