Xem Nhiều 2/2023 #️ Chương 17: Ý Thức, Tiềm Thức Và Vô Thức # Top 6 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Chương 17: Ý Thức, Tiềm Thức Và Vô Thức # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Chương 17: Ý Thức, Tiềm Thức Và Vô Thức mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. ĐI TÌM Ý NGHĨA DANH TỪ, DANH TỪ VÀ ĐỊNH NGHĨA

1. Ý thức là gì ?

Dựa vào cách dùng tiếng “ý thức” để hiểu.

Ý thức về nghĩa vụ: Đây chỉ là tác động tinh thần nhận ra nghĩa vụ, quyền lợi. So với cảm giác và tri giác thì ý thức chỉ tác động nhận ra sự kiện vật lý hay ngoại giới. Thí dụ nhờ ý thức biết mình đau khổ, biết ánh sáng… Tâm hồn có thể phân ra ba khu vực: ý thức, tiềm thức và vô thức. Vậy ý thức ở đây là đặc tính của một số sự kiện tâm linh nhờ trực giác tâm lý mà biết. Sự kiện tâm linh ở trong ý thức. Như vậy ý thức ở đây là nơi diễn biến các sự kiện tâm linh gồm ý thức, tiềm thức và vô thức. Chúng ta phải giản lược vào hai ý thức: Ý thức chủ thể (Conscience sujet), và ý thức đối tượng (conscience objet).

2. Ý thức chủ thể

Nhờ nội quan, con người biết mình vui, buồn, đau khỏe… Ý thức soi tới và thấy rõ. Đây là ý thức chủ thể hay chủ động, chính là khả năng hay tác động tinh thần nhận thức hiện tượng nội tâm.

Ý thức tự phát còn lu mờ. Ý thức tư duy (đã suy nghĩ) thì rõ ràng, minh bạch như nơi các nhà trí thức, bác học.

3. Ý thức đối tượng

Đối tượng ở đây hiểu theo ý nghĩa rộng là những gì được biết tới, bàn tới… Tâm hồn được hay có thể nhận ra. Đây chỉ ý thức đối tượng hay chủ động. Tôi biết tôi. Tôi là chủ thể, chủ động là là tôi là đối tượng, thụ động. Chủ thể (tôi) đôi khi khả năng bị hạn chế nên đối tượng (tôi) mật phần bị chôn vùi trong tiềm thức hay vô thức.

II. VÀI QUAN NIỆM VỀ VIỆC PHÂN BẢN NGÃ THÀNH NHIỀU KHU VỰC

Bản ngã theo duy tâm là chính tâm hồn độc quyền, toàn năng.

Bản ngã theo duy thực hay hiện tượng luận là chủ thể duy nhất nơi con người toàn diện, trung tâm quy tụ và phát xuất các sự kiện tâm linh vừa thuần túy vừa hỗn hợp. Đây theo nghĩa duy thực, hiện tượng luận.

1. Quan niệm cổ điển

Quan niệm này có từ lâu, như sau DESCARTES hệ thống hóa lại và được tiếp tục do các thế hệ triết gia duy lý. Theo quan niệm này, không thể phân biệt bản ngã ra từng khu vực: ý thức, tiềm thức, vô thức. Chỉ có khu ý thức mà thôi. Quan niệm trên dựa vào mấy nền tảng sau:

a. Đồng hóa hai ý thức đối tượng và chủ thế

Ý thức là một trực giác, biết trực tiếp, không qua trung gian giữa ý thức và đối tượng của ý thức. Ý thức nhìn vào trong, thấy ngay hiện tượng nội giới, như chính sự sống của mình.

b. Cấp bậc của ý thức theo cường độ mà thôi.

Quan niệm cổ điển cho rằng ý thức không phân biệt với những trạng thái tâm lý. Thí dụ ý thức tự phát theo trạng thái tâm lý, đồng thời, xuất hiện và biến mất cùng một lúc. Ánh sáng ý thức chiếu dọi tùy mức độ, theo cường độ rõ ràng, mờ tối và còn nhiều trạng thái khác.

c. J.P.Sartre cắt nghĩa (triết học hiện sinh)

J.P.Sartre theo lối cắt nghĩa của Descarter “Tâm hồn luôn tư duy”. Nhưng J.P.Sartre theo sát trào lưu hiện tượng luận của Ed Husserl (18559-1938). Sự kiện tâm linh có ý hướng nên ý thức luôn nhằm đối tượng. Vậy không có cấp bậc (độ) ý thức mà có hướng khác nhau thôi. Theo Sartre, tiềm thức và vô thức chỉ là thái độ giả vờ (!), vì con người có tự do tuyệt đối !

2. Quan niệm mới.

Có thể và phải phân chia bản ngã ra nhiều khu vực: ý thức, tiềm thức, vô thức. “Vô thức là vấn đề căn bản của tâm lý học hiện đại” (Jung). “Khám phá ra vô thức là một khám phá lớn của thế kỷ 19” (W.James).

a. Phân biệt ý thức đối tượng và chủ thể

Nhiều người không nhận ý thức chủ thể đối tượng đồng nhất tuyệt đối. Ý thức chủ thể có hạn,không soi chiếu được tất cả đời sống tâm linh của con người (sông sâu còn có kẻ dò…). Cả ý thức của chính mình cũng không thấu hiểu được lòng mình.

Tạm xếp theo bảng sau đây:

b. Hai ý thức ảnh hưởng lẫn nhau

Cả hai ý thức và vô thức thuộc sinh hoạt tâm lý, do định luật chi phối, khác nhau về cường độ, vẫn có liên lạc bình thường. Cả hai khu vực bổ túc lẫn nhau trừ khi có bệnh tâm lý.

III. TIỀM THỨC, VÔ THỨC VÀ SIÊU Ý THỨC

1. Định nghĩa

Có nhiều người cho rằng vô thức và tiềm thức là một. Tuy cả hai thiếu ánh sáng ý thức nhưng có lẽ vẫn có khác biệt.

a. Tiềm thức

Tiềm thức là hậu trường gồm có những sự kiện tâm linh hiện giờ chủ thể không lưu ý tới nhưng khi muốn có thể cho xuất hiện trên sân khấu ý thức. Kiến thức do học hay đọc sách… hay do cuộc sống tồn trữ trong tiềm thức, khi cần có thể sử dụng. Có thể có những cái vào tâm linh mà không biết rõ (cũng thuộc tiềm thức), có dịp nào đó xuất hiện trong ánh sáng trí thức.

b. Vô thức

Những hiện tượng tâm linh bị chôn vùi trong quên lãng, dù có lôi ra cũng không được, chúng ở trong khu vô thức. Nhập vào ý thức mà lâu không được gợi ra, nhớ lại thì bị quên, lý do khu vực ý thức có hạn.

c. Siêu ý thức

Đây không phải thuộc vô thức giới hạn mà ở trên ý thức, vượt lên trí năng hay ý chí. Đây là năng lực lành mạnh. Từ khu siêu ý thức này phát ra nguồn cảm hứng sâu xa, thiên tài, thần đồng.

2. Chứng minh có tiềm thức, vô thức

Đa số nhận có tiềm thức và vô thức. Đây là ít sự kiện chứng minh có tiềm thức và vô thức.

a. Đời sống trí thức

Tiềm thức và vô thức không thuộc phạm vi biểu thị (diễn tả ra…) nhưng có ảnh hưởng đến sinh hoạt tri thức. Thí dụ tri giác tiếng ào ào của biển nổi sóng… lúc đầu nhiều tiếng ào ào nhỏ, vô thức gom lại trở thành ý thức, tôi nghe được. Chiêm bao là cuộc sinh hoạt vô thức của tâm hồn.

b. Đời sống hoạt động và tình cảm

Nơi tâm trí con người chứa biết bao khuynh hướng , bản năng. Năng lực được biết tới qua hành động cử chỉ. Đây là vô thức sơ khai, nơi đen tối nhất. Còn sinh hoạt tình cảm thì cho thấy tri thức khá lớn lao… Không biết tại sao, từ đâu lại có thiện cảm hay ác cảm với người này hay người khác… Tiếng sét ái tình. Hiện tượng ẩn ức hay dồn ép do Freud đem ra ánh sáng từ cõi vô thức.

Ý Thức Và Vô Thức

Trong phần dẫn nhập này, tôi không có điều gì mới để nói cả, và tôi cũng khó tránh khỏi việc nhắc lại những gì từng có dịp nói trước đây.

Việc phân chia thế giới tâm trí thành thế giới tâm trí ý thức và vô thức chính là tiền đề căn bản của phân tâm học, không có sự phân chia này phân tâm học hẳn không có khả năng hiểu được các tiến trình bệnh lí, thường hay gặp và thường nghiêm trọng, của đời sống tâm trí, đồng thời cũng không thể đưa chúng vào khuôn khổ của khoa học. Một lần nữa, nói cách khác: phân tâm học từ chối việc coi ý thức là yếu tố tạo nên nền tảng của đời sống tâm trí, mà nhìn nhận ý thức chỉ đơn giản là một thành tố của đời sống tâm trí, có thể cùng tồn tại với các thành tố khác và thậm chí đôi lúc còn có thể bị thiếu.

Nhưng chúng tôi đã thu được thuật ngữ và khái niệm vô thức bằng cách đi theo một con đường khác, và nhất là bằng cách sử dụng những tình huống trong đó có sự can thiệp của tâm trí động. Chúng tôi đã học được, hay nói đúng hơn, chúng tôi đã buộc phải công nhận rằng có tồn tại các quá trình tâm trí mãnh liệt, hoặc các biểu tượng (ở đây chúng tôi chủ yếu tính đến nhân tố định lượng, tức là kinh tế) – có khả năng biểu hiện bằng các hiệu ứng giống như những hiệu ứng do các biểu tượng khác tạo ra, thậm chí bằng những hiệu ứng cũng mang hình thức của biểu tượng – có thể trở thành ý thức chứ không phải bản thân các quá trình tạo ra chúng. Thật vô ích khi nhắc lại chi tiết ở đây những điều đã được đề cập nhiều lần. Chỉ cần nhớ lại rằng chính ở điểm này lý thuyết phân tâm can thiệp vào, nhằm khẳng định rằng nếu như một số biểu tượng không có khả năng trở thành ý thức là do có một sức mạnh đối kháng với nó, và nếu không có sức mạnh ấy, các biểu tượng này có lẽ có thể trở thành ý thức, điều này sẽ giúp chúng ta nhận ra rằng chúng ít khu biệt với các yếu tố tâm trí khác biết nhường nào , những yếu tố được chính thức thừa nhận như là chính nó. Điều làm cho lí thuyết này trở nên không thể bác bỏ, đó là nó đã tìm thấy trong kĩ thuật phân tích tâm lí một phương cách có thể cho phép thắng được cái sức mạnh đối kháng ấy và đưa các biểu tượng vô thức về miền ý thức. Chúng tôi đã đặt tên cho trạng thái mà các biểu tượng nằm trong đó, trước khi chúng được đưa về miền ý thức, là sự dồn nén , còn đối với sức mạnh tạo ra và duy trì sự dồn nén đó, chúng tôi nói rằng trong quá trình phân tích tâm lí, chúng tôi cảm nhận rõ như một sự kháng cự .

Trong khi đó ba thuật ngữ của chúng tôi: ý thức, tiền ý thức và vô thức dễ sử dụng và cho chúng ta rất nhiều tự do, với điều kiện là không quên rằng nếu theo quan điểm mô tả, chúng ta có hai dạng vô thức, còn theo quan điểm động học, chúng ta chỉ có một dạng. Trong một số trường hợp, chúng ta có thể thực hiện một bài thuyết trình mà không tính đến sự phân định này, nhưng trong các trường hợp khác, sự phân định này là điều không thể thiếu. Dù sao chăng nữa, chúng tôi đã khá quen với nghĩa kép của vô thức , và chúng tôi chưa bao giờ cảm thấy quá phiên toái vì điều đó. Trong mọi trường hợp, tôi cho rằng đây là điều không thể tránh khỏi. Còn đối với việc phân định giữa ý thức và vô thức, nó chỉ giới hạn ở vấn đề thuần túy về nhận thức, vấn đề chứa đựng câu trả lời là có hay không bởi bản thân hành vi nhận thức không cung cấp cho chúng ta một thông tin nhỏ nhoi nào về lí do vì sao một sự việc được nhận thức hay không. Chúng ta hẳn sẽ sai lầm khi chê trách về việc tâm trí động luôn biểu hiện ở một khía cạnh kép (ý thức và vô thức) 4

Bằng cách thừa nhận rằng lí lẽ có thể đóng một vai trò nào đó trong việc giải cho một vấn đề, cái vấn đề phụ thuộc chặt chẽ vào các thỏa ước hoặc các yếu tố cảm xúc như là vấn đề chúng tôi đang quan tâm hiện nay, chúng tôi nói điều này: kết luận về sự không tồn tại của cái vô thức bằng cách nói rằng ý thức có các mức khác nhau về độ rõ ràng tương đương với việc khẳng định sự không tồn tại của bóng tối, bởi vì ánh sáng thể hiện tất cả mọi cấp độ, từ sáng chói nhất cho đến những tia sáng lờ mờ, gần như không cảm nhận được, hoặc rút ra từ vô vàn các cấp độ của sức sống một luận cứ khẳng định sự không tồn tại của cái chết. Những lập luận này, đến một mức độ nào đó, có thể rất xác đáng nhưng chúng không có chút giá trị thực hành nào, điều mà chúng ta sớm nhận ra ngay muốn rút ra một vài hệ quả, kiểu như: vì bóng tối không tồn tại chúng ta chẳng cần phải bật đèn; vì cái chết không tồn tại, mọi sự vật đều bất tử. Ngoài ra, bằng cách đưa cái không cảm nhận được về miền ý thức, chúng ta đánh mất điều xác thực duy nhất, trực tiếp và tức thì, gắn liền với đời sống tâm trí. Và lại, một cái ý thức mà chúng ta chẳng biết gì về nó, với tôi dường như là một giả thuyết phi lí hơn rất nhiều cái giả thuyết về một đời sống tâm trí vô thức. Cuối cùng, những người tìm cách đồng nhất cái vô thức với cái không thể cảm nhận thấy đã không tính đến những điều kiện động mà ở đó quan niệm phân tâm, ngược lại, gán cho những điều kiện đó một tầm quan trọng hàng đầu. Quả nhiên, các tác giả nói trên không chú ý đến hai điều: thứ nhất, họ quên rằng việc tập trung chú ý đủ đến những gì không cảm nhận được là khó khăn biết nhường nào và cần cố gắng biết bao nhiêu để đạt được điều đó; thứ hai, họ không cần biết rằng ngay cả khi những cố gắng đó được vây quanh bởi thành công thì ý thức cũng không thừa nhận những gì cho đến thời điểm đó đã từng là điều không cảm nhận được đối với nó, và ý thức sẽ chối bỏ điều đó.

Những nghiên cứu của phân tâm học sau này đã chỉ ra rằng sự phân biệt này, bản thân nó cũng là không đủ và không thỏa đáng. Trong số các tình huống mà ở đó vấn đề này xuất hiện dặc biệt rõ nét, chúng tôi sẽ dẫn ra một tình huống mà chúng tôi cho là mang tính quyết định. Chúng tôi hiểu các quá trình tâm trí của một người như là một tổ chức gắn bó chặt chẽ, và chúng tôi nói rằng chính cái tổ chức gắn kết đó đã tạo nên cái Tôi của người đó. Đúng như chúng tôi nghĩ, chính với cái Tôi này mà ý thức gắn kết, chính cái Tôi kiểm tra và giám sát việc tham gia vào năng lực vận động, tức là thể hiện các kích thích ra bên ngoài. Chúng tôi nhìn thấy trong cái Tôi một cấp tâm trí kiểm soát mọi quá trình bán phần này. Ban đêm nó ngủ yên, nhưng trong khi ngủ nó vẫn kiểm soát các giấc mơ. Sự dồn nén cũng xuất phát từ chính cái Tôi này, nhờ có chúng một số xu hướng tâm lí không những bị xóa bỏ khỏi ý thức mà còn bị đặt trong tình trạng không có khả năng biểu lộ. Trong quá trình phân tích, các xu hướng này bị sự dồn nén loại bỏ đứng lên chống lại cái Tôi , và phân tích tâm lí có nhiệm vụ xóa bỏ những lực cản mà cái Tôi dựng lên để chống lại chúng ta khi chúng ta nỗ lực tiếp cận các xu hướng bị dồn nén. Thế nhưng, trong quá trình phân tích, chúng ta nhận thấy rằng bệnh nhân hết sức bối rối khi bị áp đặt một số yêu cầu, và bệnh nhân không thể tạo ra các liên tưởng mỗi khi họ đến những gì bị dồn nén. Trong trường hợp đó, chúng tôi nói với bệnh nhân rằng họ đang chịu sự tác động của lực cản, nhưng bản thân họ không biết gì về lực cản đó; và ngay cả khi cảm giác khó chịu mà họ đang trải qua buộc họ phải thừa nhận rằng họ đang bị thống trị bởi một lực cản, họ cũng không có khả năng nói xem lực cản đó là cái gì và từ đâu đến. Nhưng vì cái lực cản này có cội rễ từ chính cái Tôi của bệnh nhân và là một phần của cái Tôi đó, chúng tôi đứng trước một tình huống bất ngờ. Chúng tôi đã tìm thấy trong bản thân cái Tôi một cái gì đó cũng vô thức như các xu hướng bị dồn nén và hoạt động như các xu hướng đó, tức là sản sinh ra các hiệu ứng rất rõ ràng, nhưng không trở thành ý thức và sẽ chỉ có thể được làm cho trở thành ý thức sau một quá trình làm việc đặc biệt. Vì điều này, trong công việc phân tích tâm lí, chúng tôi vấp phải vô vàn khó khăn và sự mịt mờ khó hiểu, khi muốn tạm bằng lòng với các định nghĩa quen thuộc, ví dụ như khi rút gọn khái niệm nhiều tâm ở một xung đột giữa ý thức và vô thức. Do cách chúng ta nhận thức về cấu trúc tâm lí, chúng ta cần thay thế đối lập này (giữa cái ý thức và cái vô thức) bằng một sự đối lập khác: giữa cái Tôi chặt chẽ và các yếu tố tách ra từ cái Tôi và bị dồn nén.

Nhưng điều mà chúng ta vừa nếu ra vẫn sẽ còn mang lại nhiều hệ quả mới hơn nữa đối với quan niệm về vô thức của chúng tôi. Quan điểm động học từng buộc chúng tôi phải sửa chữa một lần, quan điểm cấu trúc khiến chúng tôi phải sửa chữa một lần nữa. Chúng tôi đã phải thừa nhận rằng vô thức không trùng khớp với các yêu tố bị dồn nén. Vẫn luôn đúng nếu nói rằng tất cả những gì bị dồn nén đều là vô thức, nhưng cũng có những yếu tố là vô thức nhưng không bị dồn nén. Một phần của cái Tôi và trời ơi, phần đó quan trọng biết nhường nào, cũng có thể là vô thức, và không có gì đáng nghi ngờ cả. Và cái phần vô thức của cái Tôi ấy không ẩn tàng như là cái tiền vô thức, bởi nếu như ẩn tàng, nó sẽ có khả năng trở thành ý thức nếu được kích hoạt, và chúng ta sẽ không vấp phải nhiều khó khăn mỗi khi muốn đưa nó về miền ý thức. Như vậy chúng tôi buộc phải chấp nhận sự tồn tại của một cái vô thức thứ ba, không bị dồn nén 5 ; nhưng chúng tôi cũng thú nhận rằng, do tình huống này, bản chất của cái vô thức mất hết nghĩa chính xác của nó đối với chúng tôi. Vô thức trở thành một đặc tính đa nghĩa, và giờ thì những khái quát hóa và diễn dịch nghiêm ngặt mà chúng ta từng sử dụng không còn đủ nữa. Nhưng có lẽ chúng ta sẽ sai lầm nếu như không coi trọng đặc tính này, bởi xét cho cùng, đặc tính “ý thức” hoặc “vô thức” chính là ánh sáng le lói duy nhất có thể dẫn đường cho chúng ta trong bóng tối của chiều sâu tâm lí.

Bộ sách Phân tâm học căn bản hiện đã có trên Hang Cáo.

Sự Khác Biệt Giữa Tiềm Thức Và Vô Thức Là Gì?

Sự khác biệt giữa tiềm thức và vô thức là gì?

Câu trả lời 1:

Một cái gì đó giống như hoạt động của tuyến tụy của tôi không thể hiểu được đối với tôi một cách có ý thức hoặc tiềm thức, nhưng có thể có một ảnh hưởng vô thức đến tâm trí có ý thức của tôi.

Thực tế của tâm lý phức tạp hơn nhiều so với việc chỉ có ý thức đủ điều kiện theo cách này sẽ khiến chúng ta tin tưởng. Tôi nghĩ rằng có thể nói rằng chúng tôi tích hợp một nhóm nhiều người phụ, mỗi người có năng lực và quan điểm riêng của họ nhưng cũng có các giác quan và động cơ chồng chéo. Là nhận thức meta cấp cao nhất, bất cứ điều gì chúng tôi không chủ động tập trung để trở thành nền tảng và tự động hóa từ nhận thức (cấp cao nhất) của chúng tôi. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ‘ý thức’ của chúng ta cũng không chủ động nhận thức và tham gia vào các cấp độ khác này.

Câu trả lời 2:

Sự khác biệt giữa hai từ này là phụ thuộc vào ngữ cảnh.

Hãy để tôi thêm một câu trả lời về cách chúng ta sử dụng những từ này trong cuộc sống hàng ngày của chúng tôi.

Vô thức: Khi chúng ta mất ý thức. Nếu ai đó đã ngất đi thì họ bất tỉnh.

Tiềm thức: Khi chúng ta làm mọi việc mà không có nỗ lực có ý thức. Giống như khi bạn đến nhà, bàn tay của bạn vươn ra túi của bạn để lấy chìa khóa trong tiềm thức.

Trong tâm lý học, tâm trí của chúng ta có thể được chia thành hai phần.

Một tâm trí có ý thức mà chúng ta nhận thức được và đòi hỏi nỗ lực tinh thần. Nó cũng được gọi là hệ thống 2.

Một tâm trí vô thức là tự động và không đòi hỏi nỗ lực tinh thần. Nó cũng được gọi là hệ thống 1.

[Nguồn hình ảnh]

Câu trả lời 3:

Google “đưa ra quyết định chậm trễ bảy giây” và “95% hoạt động của não nằm ngoài nhận thức có ý thức”. Cả hai đều là nghiên cứu MRI, trong đó gợi ý mạnh mẽ, rằng tiềm thức tạo ra tất cả những suy nghĩ, ý tưởng, quyết định và mọi thứ từng tưởng tượng. Ý nghĩ phát triển để cải thiện giao tiếp bằng lời nói. Không có bằng chứng, rằng họ có bất kỳ ảnh hưởng nào trong quá trình suy nghĩ / ra quyết định. Dữ liệu quan trọng được truyền từ tiềm thức và sau đó được tăng cường đến nhận thức có ý thức (những suy nghĩ có ý thức sử dụng nhiều năng lượng hơn). Không có tâm trí có ý thức. Chúng tôi là tiềm thức; phần có nhận thức. Có rất nhiều dữ liệu cao siêu, một phần của tiềm thức không có quyền truy cập. Thông tin này thiếu mã trình tự, ngăn không cho nó trở thành bộ nhớ dài hạn. Điều đó rất quan trọng đối với sự sống còn của chúng ta, để có thể nhớ chuỗi sự kiện (nguyên nhân và kết quả). Chúng tôi nhận được dữ liệu cao siêu (như ngôn ngữ cơ thể) thông qua “cảm xúc”, bản năng ruột hoặc ấn tượng, sau đó nhận được mã trình tự.

Câu trả lời 4:

Google “đưa ra quyết định chậm trễ bảy giây” và “95% hoạt động của não nằm ngoài nhận thức có ý thức”. Cả hai đều là nghiên cứu MRI, trong đó gợi ý mạnh mẽ, rằng tiềm thức tạo ra tất cả những suy nghĩ, ý tưởng, quyết định và mọi thứ từng tưởng tượng. Ý nghĩ phát triển để cải thiện giao tiếp bằng lời nói. Không có bằng chứng, rằng họ có bất kỳ ảnh hưởng nào trong quá trình suy nghĩ / ra quyết định. Dữ liệu quan trọng được truyền từ tiềm thức và sau đó được tăng cường đến nhận thức có ý thức (những suy nghĩ có ý thức sử dụng nhiều năng lượng hơn). Không có tâm trí có ý thức. Chúng tôi là tiềm thức; phần có nhận thức. Có rất nhiều dữ liệu cao siêu, một phần của tiềm thức không có quyền truy cập. Thông tin này thiếu mã trình tự, ngăn không cho nó trở thành bộ nhớ dài hạn. Điều đó rất quan trọng đối với sự sống còn của chúng ta, để có thể nhớ chuỗi sự kiện (nguyên nhân và kết quả). Chúng tôi nhận được dữ liệu cao siêu (như ngôn ngữ cơ thể) thông qua “cảm xúc”, bản năng ruột hoặc ấn tượng, sau đó nhận được mã trình tự.

svcministry.org © 2021

Học Tiếng Anh Bằng Tiềm Thức

Phương pháp học tiếng Anh bằng tiềm thức là một phần bổ trợ đáng kể giúp bạn tiết kiệm thời gian và công sức mà hiệu quả đạt được lại rất cao.Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là bạn gần như có thể học mọi lúc mọi nơi, tận dụng được quỹ thời gian eo hẹp trong ngày.

Học tiếng Anh thông minh và hiệu quả bằng tiềm thức

Bạn có biết, 80% hành động của chúng ta bị tiềm thức chi phối?

Ngôn ngữ cũng vậy, chúng ta học ngoại ngữ cũng chỉ để tiếp thu từ vựng, ngữ pháp vào tiềm thức và sử dụng chúng như tiếng mẹ đẻ.

Vậy làm thế nào để hiệu quả bằng tiềm thức?

Bật chương trình học Anh văn lúc rảnh rỗi và… làm chuyện khác

Nếu bạn có anh chị ở nhà, hẳn lúc nhỏ bạn đã từng nghe anh chị ra rả học thuộc lòng một bài thơ nào đó đến mức bạn củng thuộc theo (ít nhất cũng 50%). Bây giờ bạn có thể áp dụng lại cách ấy cho bản thân, hãy chọn những bài học ngắn và bật trong lúc bạn làm chuyện gì khác, thông tin sẽ được ghi vào bộ nhớ của bạn sau vài lần nghe lặp đi lặp lại. Thuộc lòng được thì tốt, không thì khi ôn lại bạn chỉ mất khoảng một phần năm thời gian so với người chỉ mới tiếp xúc lần đầu.

Tiềm thức của chúng ta họat động ngay cả khi chúng ta đang ngủ. Trung bình một ngày mỗi chúng ta ngủ khoảng 7 đến 8 tiếng/ngày và nếu bạn có thể tận dụng khoảng thời gian đó cho việc học thì thật là tuyệt vời. Khi bạn ngủ, não bộ của bạn làm việc rất mạnh, đặc biệt là tiềm thức, đó là lúc các thông tin được ghi nhận ban ngày sắp xếp với nhau để làm dày thêm tiềm thức của bạn.

Luyện nghe nói tiếng Anh trong tiềm thức

Phản xạ tiềm thức & phản xạ ý thức trong nghe nói tiếng anh

Phản xạ nghe nói tiếng anh bằng ý thức là khi ta vừa nói, vừa phải giữ trong đầu ý nghĩ về việc nhấn trọng âm chỗ này, trọng từ chỗ kia, từ này phải nối âm với từ khác… Điều đó cản trở việc nói, làm cho việc phản xạ nói không được tự nhiên, hay bị vấp váp… Phản xạ nghe nói tiếng anh bằng tiềm thức là khi chúng ta nói và chỉ cần quan tâm đến cái “ruột” nội dung, còn cái “vỏ ngôn ngữ” như trên sẽ được tự động được bật ra, do tiềm thức chi phối. Khi đó, chúng ta sẽ nói rất trôi chảy, tự nhiên.

Cần lưu ý rằng: phần lớn các hoạt động căn bản nhất của chúng ta được chi phối bởi tiềm thức, chứ không phải ý thức. Ví dụ: như khi tay người chạm vào một vật rất nóng, thì bàn tay sẽ tự động rụt lại, mà không cần trong đầu ta phải suy nghĩ rằng “ah, vật này nóng, nếu ta không rụt tay lại thì sẽ bị bỏng…”. Nếu hành động đó do ý thức (những suy nghĩ trong đầu như ở trên) thì e rằng … tay sẽ không còn nguyên vẹn. Hàng loạt các phản xạ khác của chúng ta cũng đều như vậy: việc tự cân bằng khi đi xe đạp, phản xạ nhẩy sang bên khi thấy có xe đâm tới, việc hít thở, việc nghe, nói tiếng Việt…

Mục tiêu của chúng ta là làm sao để tác động vào tiềm thức, để chúng ta có tiềm thức về trong việc nghe nói tiếng anh. Tiềm thức là tầng phản xạ của não rất khó bị tác động trực tiếp. Nó không như ý thức, ý nghĩ, chúng ta có thể dễ dàng điều khiển được ý nghĩ. Với tiềm thức thì việc thực thực hiện nó là hoàn toàn tự động, và việc tác động vào nó không thể làm trực tiếp. Theo khoa học nghiên cứu về não, thì thời điểm dễ tác động vào tiềm thức nhất là khi não ở trạng thái giữa thức và ngủ, khi đó não không còn bị chi phối bởi quá nhiều ý nghĩ, và nó ở trạng thái “mở” nhất để thu nhận các thông tin bên ngoài vào. Đó là cơ sở khoa học về não cho việc thực hiện việc nghe trước khi đi ngủ.

Chúng ta nằm ngủ, cắm tai nghe vào, và không cần quan tâm đến nội dung, không cần cố hiểu những từ được nói. Hãy để đầu óc thoải mái, thư giãn để dần dần ngấm những ngữ điệu, cách nói tự nhiên. Cách tác động vào tiềm thức cũng như việc học nói Tiếng Anh không thể làm trong một sớm một chiều, mà đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ để thực sự có một khả năng nghe nói tiếng Anh trôi chảy.

Đăng bởi Uyên Vũ

Tags: học tiếng Anh, học tiếng anh bằng tiềm thức, học tiêng Anh hiệu quả, não bộ, nghe tiếng Anh, phương pháp học tiếng anh, tiềm thức, tiếng Anh

Bạn đang xem bài viết Chương 17: Ý Thức, Tiềm Thức Và Vô Thức trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!