Xem Nhiều 6/2022 # Chuyên Đề Pp Bàn Tay Nặn Bột Môn Khoa Học Lớp 4, 5 # Top Trend

Xem 15,741

Cập nhật thông tin chi tiết về Chuyên Đề Pp Bàn Tay Nặn Bột Môn Khoa Học Lớp 4, 5 mới nhất ngày 27/06/2022 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 15,741 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp ” Bàn Tay Nặn Bột ” Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Giáo Án Pp Bàn Tay Nặn Bột
  • Giáo Án Bài Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Lớp 5
  • Sinh Hoạt Chuyên Môn Dạy Học Theo Pp Bàn Tay Nặn Bột
  • Giáo Án Bàn Tay Nặn Bột Lớp 2
  • =============================================== NGƯỜI THỰC HIỆN : PHAN TRÍ DŨNG ĐƠN VỊ : TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN MAI . NỘI DUNG

      I. Giới thiệu chung về phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    1. 1 PP BTNB là gì ?

    – PP BTNB là PP chú trọng tới việc hình thành kiến thức cho hs bằng các tiến trình tìm tòi nghiên cứu thông qua tiến hành : Thí nghiệm , quan sát , nghiên cứu tài liệu hay điều tra …để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống

    1.2 Đặc điểm cơ bản của phương pháp

    – Đặc điểm cơ bản của phương pháp Bàn tay nặn bột là phương pháp giảng dạy dựa trên sự tìm tòi – nghiên cứu. Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, học sinh đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy – học, tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức. Giáo viên là người hướng dẫn, cố vấn, giúp đỡ học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức thông qua các hoạt động. Phương pháp này ngoài việc giúp học sinh lĩnh hội kiến thức còn rèn luyện các kĩ năng và phát triển ngôn ngữ( nói và viết) cho học sinh.

    Một số đặc điểm quan trọng để phân biệt Bàn tay nặn bột với các phương pháp dạy học khác :

    – Phương pháp Bàn tay nặn bột chú trọng biểu tượng ban đầu của học sinh trước khi tiếp cận kiến thức mới.

    – Sự tiếp thu kiến thức của học sinh thông qua việc giáo viên giúp học sinh tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã tìm ra chân lí(kiến thức):

    – Đó là: Đặt giả thuyết ( biểu tượng ban đầu), đặt câu hỏi khoa học, đề xuất phương án nghiên cứu và làm thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết, đưa ra kết luận.

    – Phương pháp Bàn tay nặn bột sử dụng vở thí nghiệm như là một phương tiện để rèn luyện ngôn ngữ viết cho học sinh trong quá trình học tập các kiến thức khoa học, tập làm quen với ghi chép một cách khoa học các thông tin thu nhận được trong giờ học.

    – Rèn kỹ năng diễn đạt qua ngôn ngữ nói và viết . Giúp hs phát triển khả năng diễn đạt , ngôn ngữ khoa học

    1. 4 . Khó khăn hạn chế của PP BTNB :

    – Trong quá trình tìm tòi kiến thức , có những vấn đề, tình huống nảy sinh hs cũng có thể có những câu hỏi mà gv chưa thể trả lời ngay

    II. Sử dụng vở ghi chép khoa học của Hs trong PP BTNB :

    1) Vai trò của vở ghi chép .

    -Vở ghi lại những suy nghĩ , khám phá của hs ; thể hiện sự tiến bộ của hs qua một quá trình . Sử dụng vở giúp phát triển tư duy cũng như khả năng ngôn ngữ của hs . Vở giúp hs ghi lại những phân tích , so sánh , suy luận … trong quá trình tìm tòi kiến thức , giúp các em tự đánh giá .

    – Vở là công cụ giúp gv liên lạc với gia đình , giúp phụ huynh biết được con em họ đang học gì

    – Vở giúp gv biết được những điểm mạnh cũng như những hạn chế của hs về sự phát triển của hs và có những tác động thích hợp

    2) Cấu trúc nội dung vở ghi chép khoa học của hs :

    – Phần ghi chép cá nhân : Ghi lại những điều mình nghĩ , mình hiểu như những dự đoán , những điều quan sát được , những kết luận

    III. Tiến trình sư phạm của các hoạt động nghiên cứu khoa học theo các bước của PP BTNB :

    Đưa ra tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề .

    Là tình huống do GV chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài. HS tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (hay câu hỏi lớn của bài).

    – Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài. GV dùng câu hỏi mở. Tuyệt đối không dùng câu hỏi đóng (Trả lời có hoặc không).

    2. Bước 2 : Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của hs .

    – Nhiệm vụ của hs : + Đặt ra các câu hỏi

    + Trình bày các ý tưởng của mình , đối chiếu với các bạn khác( hs ghi vào vở biểu tượng ban đầu của mình )

    – Vai trò của gv : + Kiểm soát lời nói , cấu trúc câu hỏi , chính xác hóa từ vựng của hs + Chính xác hóa các ý tưởng của hs , tổ chức đối chiếu các biểu tượng ban đầu của hs .

    3. Bước 3: Đề xuất câu hỏi ( Dự đoán / giả thuyết ) và phương án tìm tòi .

    – Nhiệm vụ của hs : + Bắt đầu những vấn đề khoa học được xác định , nêu câu hỏi

    ( Xây dụng dự đoán / giả thuyết ) – ( hs : sử dụng vở )

    + Hình dung có thể tìm câu trả lời : – Thí nghiệm

    ( Ghi vở ) – Quan sát

    + Kiểm chứng các dự đoán / giả thuyết bằng cách : * Điều tra .

    * Nghiên cứu tài liệu

    – Vai trò của gv : + Giúp hs hình thành các vấn đề khoa học và tiếp theo là đưa ra các dự đoán / giả thuyết khoa học ( chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giữa các ý kiến )

    + Tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian đủ để hs có thể suy nghĩ .

    + Khẳng định lại các ý kiến về phương pháp tìm tòi mà hs đề xuất .

    4. Bước 4 : Thực hiện phương án tìm tòi .

    – Nhiệm vụ của hs : + Tìm tòi câu trả lời , kiểm chứng các dự đoán / giả thuyết bằng một hoặc một số phương pháp đã hình dung ở trên ( thí nghiệm , quan sát , điều tra , nghiên cứu tài liệu )

    + Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày .

    – Vai trò của gv : + Tập hợp các điều kiện về thí nghiệm , tài liệu …nhằm kiểm chứng các ý tưởng được đề xuất .

    + Giúp hs phương pháp trình bày kết quả .

    5 . Bước 5 : Kết luận kiến thức .

    – Nhiệm vụ của hs : Kiểm tra lại tính hợp lý của các giả thuyết :

    + Nếu giả thuyết sai , quay lại bước 2.

    + Nếu giả thuyết đúng : Kết luận và ghi lại chúng .

    – Vai trò của gv : + Động viên hs và yêu cầu bắt đầu lại tiến trình nghiên cứu .

    + Giúp hs hình thành kết luận .

    IV. VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

    A. Giáo viên: – Là người hướng dẫn:

    + Đề ra những tình huống, thách thức.

    + Định hướng các hoạt động.

    + Thu hẹp cái có thể.

    + Chỉ ra thông tin.

    – Là người trung gian: Là nhà trung gian giữa “thế giới” khoa học và HS.

    – Đảm bảo sự đón trước và giải quyết những xung đột nhận thức.

    – Hành động bên cạnh HS cũng như mỗi nhóm, lớp.

    B. Học sinh :Chủ động tìm đến những kiến thức khoa học theo sự định hướng của GV.

    – Độc lập suy nghĩ, phán đoán, lập luận, bảo vệ ý kiến.

    V. KHÓ KHĂN- BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC: 1.HỌC SINH Khó khăn :

    Trình độ HS chưa đồng đều, Thao tác thực hành (còn chậm).

    HS còn thụ động trong quá trình lĩnh hội kiến thức.

    HS chưa có thói quen sử dụng vở thí nghiệm.

    HS đặt câu hỏi không sát với nội dung bài học

    BP Khắc phục:

    Cần cho các em làm quen dần với PPBTNB.

    Nói cho các em biết rõ hơn về PPDH mới.

    Tạo một thói quen khi học tập với PPBTNB.

    Khuyến khích HS còn hạn chế trình bày các ý kiến cá nhân ở tất cả các môn học.

    Giáo viên phải biết chọn lọc câu hỏi.

    Khó khăn :

    Trang thiết bị chưa đầy đủ phục vụ cho việc thí nghiệm.

    Rất khó tổ chức cho các em đi thám điều tra

    BP Khắc phục:

    GV tận dụng những nguyên vật liệu rẻ tiền có sẵn ở địa phương để phục vụ cho việc giảng dạy.

    Có thể kết hợp với các lực lượng GD khác trong và ngoài nhà trường.

    Khó khăn :

    – Sĩ số ảnh hưởng đến việc tổ chức các hình thức dạy học.

    BP Khắc phục:

    Sắp xếp bàn ghế phù hợp. – Bố trí nhóm từ 4 – 6 người.- Có chỗ dành riêng để vật liệu thí nghiệm.

    4. THỜI LƯỢNG TIẾT HỌC

    Khó khăn :

    Thời lượng cho 1 tiết dạy ở Tiểu học 35 – 40 phút nên GV thường bị ràng buộc về thời gian.

    Làm thí nghiệm có thể thất bại nhiều lần.

    Thời gian dành cho các hoạt động thí nghiệm (mất nhiều thời gian).

    BP Khắc phục: Thời gian không quy định. Tuy nhiên nên hạn chế. Lớp 1,2,3 khoảng 50-60p. Lớp 4,5 khoảng 60- 70. Lưu ý : Cần báo cáo BGH khi dạy PPBTNB.

    Sử dụng phương pháp này thường xuyên để rèn thói quen cho HS.

    Rèn cho HS có kĩ năng diễn đạt rõ ràng, ngắn gọn, mạch lạc

    GV cần có mặt kịp thời nhằm giúp nhóm trình bày ý tưởng, có thể điều chỉnh kịp thời để tránh thất bại nhiều lần.

    Những vấn đề chưa cần thiết giải quyết trong tiết học GV hẹn dịp khác.

    Đề xuất ý kiến lên các cấp quản lí giáo dục.

    Khó khăn : -Hầu hết GV Tiểu học không được đào tạo chuyên sâu về kiến thức khoa học.Chưa đúng bản chất của PP BTNB

    – GV gặp khó khăn trong việc trả lời, lí giải thấu đáo các câu hỏi do học sinh nêu ra về các vấn đề khoa học.

    -Giáo viên chưa có kinh nghiệm sử dụng PP BTNB

    -GV gặp khó khăn khi tìm 1 số thí nghiệm chứng minh cho kiến thức bài học.

    BP Khắc phục:

    – Tập huấn, bồi dưỡng các kiến thức khoa học thường gặp cho GV.

    -Thành lập nhóm các GV yêu thích PP BTNB: nghiên cứu và áp dụng PPDH, giúp đỡ các GV trong trường, chia sẻ kinh nghiệm áp dụng, chia sẻ đồ dùng dạy học ….

    -Xây dựng ngân hàng BTNB: gợi ý tiến trình dạy học, tài liệu hướng dẫn GV, tư liệu phục vụ dạy học (phim, hình ảnh, tài liệu khoa học…),

    VI. Dùng phương pháp Bàn tay nặn bột để dạy kiến thức : Cấu tạo bên trong hạt đậu.Trong bài : Cây con mọc lên từ hạt- Lớp 5

    Đưa ra tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề .

    GV đưa ra một vài hạt đậu (loại đậu hạt lớn nhằm mục đích để cho hs dễ quan sát.)

    – GV đặt câu hỏi nêu vấn đề : Theo em trong hạt đậu có gì? ( Đây là b1 nêu vấn đề )

    Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh.

    – VD : Làm bộc lộ quan điểm ban đầu của hs thì gv giao nhiệm vụ cho hs:

    – Trong hạt đậu có những gì ? Em hãy suy nghĩ và vẽ vào vở thí nghiệm hình vẽ mô tả bên trong hạt đậu, hs phải có nhiệm vụ đó và có thể mô tả bằng hình vẽ,có thể mô tả bằng lời.

    Tức là đối với hs khả năng viết còn hạn chế thì hs có thể nói, có thể vẽ… Trong thời gian hs vẽ các ý kiến của mình vào vở thí nghiệm, giáo viên tranh thủ quan sát nhanh để tìm ra các hình vẽ ( Các biểu tượng ban đầu) khác nhau.

    – Giáo viên chú ý không nhất thiết để ý tới các hình vẽ đúng và cần phải chú trọng đến các hình vẽ chưa đúng, thiếu…

    – Vì đây là biểu tượng ban đầu ngây thơ của các em.

    H1: Trong hạt đậu có nhiều hạt nhỏ.

    H2: Trong hạt đậu có cây con với lá và rễ.

    H3. Trong hạt đậu có cây đậu nở hoa và có nhiều hạt đậu khác.

    H4. Trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ có rễ.

    H5, 7, 9.Trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ.

    H6,8. Trong hạt đậu có một cây đậu nhỏ với đầy đủ thân lá, rễ.

    Đề xuất câu hỏi(dự đoán/ giả thuyết) và phương án tìm tòi. ( Đây là bước hoàn toàn mới ).

    + Nhóm biểu tượng một : Biểu tượng h.vẽ của hs 1,5,7,9 đều cho rằng trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ khác.

    Nhóm biểu tượng hai : Hình vẽ của hs 2,6,8 đều cho rằng: Trong hạt đậu đều có một câu đậu con với đầy đủ các bộ phận bên trong ( Tức là hs biểu hiện bằng hình vẽ đó )

    Nhóm biểu tượng ba : Hình vẽ của hs trong hạt đậu có một cây đậu con có đầy đủ các bộ phận đã nở hoa, ngoài ra còn có nhiều hạt đậu khác( Tức là hs thể hiện trong hình vẽ là như vậy )

    + Nhóm biểu tượng bốn: Hình vẽ của hs cho rằng trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ đang mọc rễ.

    Lưu ý: Các nhóm biểu tượng trên chỉ là một phương án. Có thể hs ghép h.vẽ 4 vào các nhóm hình vẽ 1, 5, 7, 9 hoặc nhóm hình vẽ 3 vào nhóm với các hình 2, 6, 8 đều chấp nhận được.

    • Từ các hiểu biết ban đầu của hs .
    • giáo viên hướng dẫn hs đặt câu hỏi nghi vấn:

    Có phải bên trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ không ?

    – Có phải có cây đậu nhỏ nở hoa bên trong hạt đậu không ?

    – Có phải bên trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ có rễ không ?

    – Đây là vấn đề hoàn toàn hs tự làm chứ cô giáo không có hướng dẫn ở đây. Và khi đặt ra câu hỏi đó thì hs đề xuất phương án thực hiện. – Khi đặt ra câu hỏi rồi, khi đề ra hình vẽ rồi thì bây giờ hs phải đề ra cách thực hiện để kiểm chứng xem giả thuyết,dự đoán,tưởng tượng của mình có đúng không.

    – Nhóm 1,2,3,4 đưa ra giả thuyết như vậy, bây giờ : Phải đề xuất phương án kiểm tra thực hành thí nghiệm xem những phương án nào là phương án đúng.

    Học sinh đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu :

    + Phương án thứ nhất : là bổ hạt đậu đó ra ( Ở đây chúng ta chú ý là tách hạt đậu ra để tránh cái thay đổi cấu tạo bên trong hạt đậu. Tức là tách hạt đậu ra để quan sát bên trong)

    + Phương án thứ hai : Là xem hình vẽ trong sách giáo khoa.

    + Phương án thứ ba : Là xem tranh vẽ khoa học chụp hình cấu tạo bên trong hạt đậu.

    + Phương án thứ tư : Đi điều tra phỏng vấn .

    Tóm lại là tất cả các phương án này là hs phải nêu ra và hs sẽ chọn phương án nào nó tối ưu nhất trong các phương án nói trên.

    Trong các phương án đưa ra thì chúng ta thấy là phương án tách hạt đậu ra là phương án tối ưu nhất.

    – Giáo viên phải khéo léo nhận xét các phương án trên đều có lí nhưng tất cả phải thực hiện theo phương án tách hạt đậu ra để quan sát cấu tạo bên trong hạt đậu.

    Giáo viên đưa ra hình ảnh chính xác nhất để cho học sinh so sánh với ý kiến của mình. Sau đó hs tự điểu chỉnh các thuật ngữ khoa học cần ghi chú thích trong hình vẽ mà các em đã làm chưa đúng. (Tức là giáo viên đưa ra một kiến thức chuẩn để học sinh tự điều chỉnh )

    Bước 5 : Kết luận kiến thức.

    – Sau khi học sinh đã tự đưa ra kiến thức, giáo viên đưa ra kiến thức chuẩn thì bước 5 là bước kết luận và hợp thức hóa kiến thức.

    – Giáo viên giới thiệu cấu tạo bên trong hạt đậu với hình vẽ khoa học có sẵn hoặc hình vẽ tự vẽ, nếu trường hợp không có tranh vẽ in sẵn giáo viên lưu ý hs về một số thuật ngữ khoa học về những nhầm lẫn mà các em chưa gọi đúng tên khoa học trong quá trình quan sát hình vẽ.

    – Sau khi quan sát rồi thì giáo viên yêu cầu hs vẽ lại hình vẽ đã quan sát và ghi chú thích các bộ phận bên trong của hạt đậu.

    – Nếu hs chưa chú thích đúng hình vẽ quan sát thì giáo viên đừng vội chỉnh sửa ngôn ngữ. Học sinh quan sát gì,chú thích gì thì đó là quyền của học sinh, giáo viên không chỉnh sửa .

    – Qua việc quan sát thì hs tự làm việc đó.

    – Sau khi cả lớp thực hiện xong quan sát hình vẽ, chú thích xong hình vẽ thì giáo viên cho hs quan sát thêm một bức tranh phóng to cấu tạo bên trong của hạt đậu có chú thích và phóng lên màn hình máy chiếu chúng tôi hoặc cho hs quan sát hình vẽ trong sách giáo khoa.

    .Môn khoa học lớp 5

    Sự biến đổi hóa học

    Định nghĩa về sự biến đổi hóa học

    Phân biệt sự biến đổi hóa học và sự biến đổi lý học

    Vai trò của nhiệt trong sự biến đổi hóa học

    Phan Trí Dũng @ 14:00 08/10/2017

    Số lượt xem: 13608

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Môn Tnxh Lớp 3
  • Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học Bàn Tay Nặn Bột Trong Môn Tnxh Lớp 2
  • Chúng Ta Hiểu Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Là Như Thế Nào?
  • Phương Pháp Thiết Kế Phiếu Phỏng Vấn ( An
  • Cách Tạo Nick Facebook Mới & Nuôi Acc Fb An Toàn Để Không Bị Khóa Checkpoint
  • Bạn đang xem bài viết Chuyên Đề Pp Bàn Tay Nặn Bột Môn Khoa Học Lớp 4, 5 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×