Xem Nhiều 2/2023 #️ Công An, Bộ Đội Là Cán Bộ Hay Công Chức? # Top 6 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Công An, Bộ Đội Là Cán Bộ Hay Công Chức? # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Công An, Bộ Đội Là Cán Bộ Hay Công Chức? mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cán bộ, công chức là thuật ngữ chỉ các đối tượng làm việc trong cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, để phân biệt ai là cán bộ, ai là công chức không phải quá dễ dàng. Trong đó, khá nhiều người thắc mắc công an, bộ đội là cán bộ hay công chức?

Ai là cán bộ? Ai là công chức?

Cán bộ hiện đang được định nghĩa chi tiết tại khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008:

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

Theo đó, một người được xác định là cán bộ khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

– Là công dân Việt Nam;

– Được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội ở Trung ương, tỉnh, huyện;

– Trong biên chế;

– Hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

Trong khi đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Cán bộ, công chức năm 2019, công chức được xác định là:

– Công dân Việt Nam;

– Trong biên chế;

– Hưởng lương từ ngân sách Nhà nước;

– Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan:

Của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

Đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;

Đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an.

Như vậy, để phân biệt cán bộ, công chức, điều dễ dàng nhận ra nhất sự khác nhau của hai đối tượng này là cách thức để trở thành cán bộ, công chức và nơi làm việc:

– Cán bộ được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong khi đó công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm;

– Công chức ngoài làm việc tại cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội ở Trung ương, tỉnh, huyện như cán bộ thì còn làm trong đơn vị thuộc quân đội, công an nhưng không phải sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng hay hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an.

Công an, bộ đội là cán bộ hay công chức?

Bộ đội có phải là công chức không?

Căn cứ khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 2008, sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được định nghĩa là:

Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (sau đây gọi chung là sĩ quan) là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, được Nhà nước phong quân hàm cấp úy, cấp tá, cấp tướng.

Kết hợp với định nghĩa công chức đã đề cập ở trên, có thể thấy, trong Quân đội Việt Nam, các đối tượng là sĩ quan (những người được phong hàm cấp úy, cấp tá, cấp tướng) là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà không phải công chức.

Công an có phải là công chức không?

Theo Điều 2 Luật Công an nhân dân năm 2018:

Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ là công dân Việt Nam được tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện và hoạt động trong lĩnh vực nghiệp vụ của Công an nhân dân, được phong, thăng cấp bậc hàm cấp tướng, cấp tá, cấp úy, hạ sĩ quan.

Công nhân công an là công dân Việt Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật, được tuyển dụng vào làm việc trong Công an nhân dân mà không thuộc diện được phong cấp bậc hàm sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ.

Đồng thời, theo khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi năm 2019, công chức cấp xã gồm Trưởng Công an (áp dụng với xã, thị trấn chưa tổ chức công an chính quy theo Luật Công an nhân dân năm 2018).

Như vậy, có thể thấy, sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an không phải là công chức. Những đối tượng khác nếu trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, làm việc trong các đơn vị thuộc Công an nhân dân (đáp ứng các điều kiện nêu tại Luật sửa đổi Luật Cán bộ, công chức 2019) và Trưởng Công an xã tại xã chưa có công an chính quy là công chức.

Theo: https://luatvietnam.vn/

Cán Bộ Công Chức Là Gì? Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức

Việc làm Công chức – Viên chức

Cán bộ chính là công dân của Việt Nam, được bầu cử và phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội cấp Trung ương, cấp tỉnh, thành phố. Thị xã, quận, huyện, làm việc trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

Công chức là công dân của Việt Nam, được bổ nhiệm vào các ngạch, chức vụ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội cấp Trung ương, tỉnh, huyện, các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân mà không phải là sĩ quan, các quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quôc phòng,… Làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Còn đối với các công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo và quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Viên chức là công dân của đất nước Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí công việc, họ làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo hợp đồng làm việc, và được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Việc làm Giáo dục – Đào tạo

2.1. Phân biệt qua khái niệm

– Công chức: Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

– Viên chức: Là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

2.2. Phân biệt qua nguồn gốc

– Cán bộ: Được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, trong biên chế

– Công chức: Thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong biên chế

– Viên chức: Tuyển dụng theo vị trí việc làm, ký hợp đồng làm việc

2.3. Thời gian tập sự

– Cán bộ: Không có quy định về thời gian tập sự.

– Công chức:Từ 6 tháng đến 12 tháng tùy vào từng trường hợp tuyển dụng.

– Viên chức: Được quy định theo chức danh nghề nghiệp của từng ngành, từng lĩnh vực

+ Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý; nhân danh quyền lực chính trị, quyền lực công.

+ Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý

+ Thực hiện công vụ thường xuyên

+ Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu

+ Thực hiện các hoạt động thuần túy mang tính nghiệp vụ, chuyên môn

+ Công chức: Hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập đối với những người trong bộ máy lãnh đao, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập

+ Viên chức: Hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập

2.6. Nơi làm việc

– Cán bộ làm tại Cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội

– Công chức làm ở Cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, Quân đội, Công an, Toà án, Viện kiểm sát

+ Viên chức làm ở Đơn vị sự nghiệp công lập

Căn cứ vào nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức được chuyển sang công chức khi đảm bảo được các điều kiện như sau:

– Viên chức này đã làm việc từ đủ 5 năm tại đơn vị sự nghiệp công lập, có trình độ đào tạo, có kinh nghiệm về công tác đáp ứng được những yêu cầu của vị trí làm việc cần tuyển dụng. Khi các cơ quan quản lý có nhu cầu tuyển dụng thì các viên chức này sẽ được xét duyệt vào công chức mà không cần qua thi tuyển – Viên chức khi được tiếp nhận và bổ nhiệm vào các vị trí dược quy định là công chức trong các cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội thì phải được xét chuyển thành công chức mà không cần qua thi tuyển. Các quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm cũng chính là quyết định tuyển dụng. – Viên chức được bổ nhiệm vào các vị trí trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị tổ chức, lãnh đạo và quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập, được quy định là công chức, được bổ nhiệm vào các ngạch công chức tương ứng đối với các vị trí làm việc cần phải hoàn thiện các tiêu chuẩn của ngạch bổ nhiệm, giữ nguyên các chức danh nghề nghiệp đã được bổ nhiệm, được hưởng lương theo cách tính lương cơ bản và các chế độ lương khác như các viên chức của đơn vị sự nghiệp công lập.

Mỗi công việc, mỗi ngành nghề sẽ có những quy định mang tính đặc thù, trong đó có những điều mà người làm trong ngành nghề đó không được thực hiện. Nhất là những người làm việc trong các bộ máy nhà nước, phục vụ nhân dân.

Các cán bộ công chức không được trốn trách những trách nhiệm, không được sử dụng tài sản của Nhà nước trái pháp luật. Các cán bộ công chức càng không được lạm dụng chức quyền để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, không được phân biệt đối xử giữa các dân tộc. tôn giáo, giới tính.

+ Phụ cấp vượt khung: Loại phụ cấp này được áp dụng đối với các đối tượng đã được xét duyệt với bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc là trong chức danh. Mức phụ cấp mà họ nhận được sẽ bằng 5% mức lương của bậc lương cuối cùng.

Tùy vào từng vị trí cụ thể của cán vộ công chức, từ năm thứ 3 trở đi thì mỗi năm các cán bộ công chức sẽ được tính thêm 1% tiền lương.

+ Phụ cấp lưu động: Loại phụ cấp này được áp dụng đối với các cán bộ công chức và viên chức làm việc tại những vùng kinh tế mới, có cơ sở kinh tế và ngoài đảo xa với đất liền, những nơi có điều kiện kinh tế và sinh hoạt khó khăn.

Mức phụ cấp này được tính với 4 mức như sau: Mức 20%, 30%, 60% và 70% so với mức lương các cán bộ công chức đang được hưởng cộng thêm với phụ cấp chức vụ của vị trí lãnh đạo và phụ cấp thêm của tiền vượt khung (nếu như có). Thời gian được hưởng phụ cấp là từ 3 – 5 năm.

+ Phụ cấp độc hại, nguy hiểm: Loại phụ cấp này được áp dụng đói vơi các cán bộ, công chức và viên chức khi họ đảm nhiệm những công việc có tính lao động độc hại và nguy hiểm.

Thẻ căn cước công dân là gì? Các thông tin về thẻ căn cước công dân

Các cán bộ công chức sẽ nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động, tuổi nghỉ hưu của các cán bộ công chức. Theo đó, độ tuổi nghỉ hưu của nam là đủ 60 tuổi, còn độ tuổi nghỉ hưu đối với nữ là đủ 55 tuổi. Một số trường hợp, Nhà nước vẫn cho phép các cán bộ công chức nghỉ hưu trước độ tuổi nghỉ hưu theo quy định.

Nếu các cán bộ công chức có đủ thời gian tham gia bảo hiểm xã hội theo Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, các cán bộ công chức nghỉ hưu non vẫn có thể nhận được lương hưu hàng tháng.

Thủ tục nghỉ hưu của các cán bộ công chức

Theo điều 9 của Nghị định 46/2010/NĐ-CP thì người nghỉ hưu và cơ quan Nhà nước cần:

+ Xác định thời điểm cán bộ công chức nghỉ hưu

Thời điểm nghỉ hưu của cán bộ công chức bắt đầu nghỉ hưu là ngày 01 của tháng liền kề, sau tháng mà cán bộ công chức đủ tuổi nghỉ hưu. Đối với trường hợp hồ sơ của cán bộ công chức không được ghi rõ về ngày tháng của năm thì ngày nghỉ hưu sẽ được tính bắt đầu từ ngày 01/01 của năm liền kề, sau năm mà cán bộ công chức đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định.

Thời điểm nghỉ hưu của cán bộ công chức sẽ được lùi khi có một trong những trường hợp sau: Thứ nhất, không quá một tháng đối với thời điểm nghỉ hưu trùng ngày nghỉ Tết Nguyên đán, công chức có người thân ruột thịt và trong gia đình vị từ trần, hoặc mất tích; không quá 3 tháng đối với trường hợp bị bệnh nặng, hoặc do tai nạn có giấy xác nhận của bệnh viện; không quá 6 tháng đối với các trường hợp đang điều trị bệnh thuộc những bênh điều trị dài ngày do Bộ y tế ban hành, có giấy xác nhận của bệnh viện nơi cán bộ công chức điều trị.

Theo Điều 10 của Nghị định 46/2010/NĐ-CP thì trước 6 tháng tính đến thời điểm nghỉ hưu theo Quy định tại Điều 9, các cơ quan tổ chức, các đơn vị quản lý công chức cần phải đưa ra thông báo cho các cán bộ công chức chuẩn bị nghỉ hưu về thời điểm nghỉ hưu, để các công chức này được biết, Thông báo này cần được ban hành bằng văn bản.

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị Nhà nước cần phải đưa ra quyết định nghỉ hưu đối với các cán bộ công chức trước 3 tháng tính đến thời điểm nghỉ hưu.

Các cơ quan, tổ chức của đơn vị quản lý công chức sẽ cần phối hợp với các tổ chức bảo hiểm xã hội để tiến hành các thủ tục nghỉ hưu theo đúng quy định của Nhà nước, để các cán bộ công chức được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội sau khi nghỉ hưu.

Các cán bộ công chức được nghỉ hưu cần phải có trách nhiệm bàn giao các tài liệu, hồ sơ và những phần việc đang làm cho người kế nhiệm. Các vấn đề này cần được bàn giao trước khi các cán bộ nghỉ hưu.

Nếu bạn đang muốn tìm việc làm công chức- viên chức thì hãy truy cập ngay vào Website chúng tôi một địa chỉ uy tin dành cho bạn khi tìm các thông tin tuyển dụng và tạo CV đẹp và miễn phí trên thị trường hiện nay.

Cán Bộ, Công Chức Và Viên Chức

1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 

(Luật cán bộ, công chức năm 2008, điều 4, khoản 1)

2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.  

(Luật cán bộ, công chức năm 2008, điều 4, khoản 1)

3. Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

(Luật viên chức năm 2010, điều 2)

PHÂN BIỆT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các giải thích khác nhau về các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”. Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước XHCN và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước, các tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị-xã hội. Tuy nhiên, để xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì từ trước tới nay chưa có văn bản nào quy định chính thức. I. PHÂN BIỆT CÁN BỘ VÀ CÔNG CHỨC Theo quy định của Luật cán bộ, công chức thì cán bộ và công chức có những tiêu chí chung là: công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ ngân sách nhà nước (trường hợp công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật); giữ một công vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; được phân định theo cấp hành chính (cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã; công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức cấp xã). Bên cạnh đó, giữa cán bộ và công chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với nguồn gốc hình thành. Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức quy định công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của Việt Nam so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Bên cạnh đó, việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập vừa phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam, thể hiện được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và công bằng xã hội. Hiện nay, khi vai trò của Nhà nước đang được nhấn mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường, nhằm khắc phục ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tác động đến sự ổn định đời sống xã hội thì việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập lại càng có ý nghĩa và thể hiện tầm nhìn sâu rộng của Luật cán bộ, công chức. Tuy nhiên, phạm vi công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập rộng hay hẹp còn tuỳ thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp; vào cấp hành chính có thẩm quyền thành lập và quản lý. Công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang sẽ được quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ, quy định những người là công chức.   II. PHÂN BIỆT CÔNG CHỨC VÀ VIÊN CHỨC Công chức (chi tiết theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP): Được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công vụ thường xuyên, hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; trong các cơ quan, đơn vị QĐND (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; trong các bộ và cơ quan ngang bộ; TAND các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện KSND; tổ chức CT-XH (Mặt trận Tổ quốc VN, Tổng liên đoàn Lao động VN, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên…); trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập… Viên chức (theo Luật Viên chức): Được tuyển dụng theo hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý (trừ các chức vụ quy định là công chức). Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động – thương binh và xã hội, thông tin – truyền thông, tài nguyên môi trường, dịch vụ… như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học… Công chức – Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý. – Hình thức tuyển dụng: thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc biên chế. – Lương: hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo ngạch bậc. – Nơi làm việc: cơ quan nhà nước, tổ chức CT-XH (Liên đoàn Lao đông tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy…). Viên chức – Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện nghiệp vụ. – Hình thức tuyển dụng: xét tuyển, ký hợp đồng làm việc. – Lương: một phần từ ngân sách, còn lại là nguồn thu sự nghiệp. – Nơi làm việc: đơn vị sự nghiệp và đơn vị sự nghiệp của các tổ chức xã hội./.

Cần Phân Biệt Rõ “Cán Bộ”, “Công Chức”, “Viên Chức”

Hiện nay, việc sử dụng các khái niệm ” cán bộ“, ” công chức“, ” viên chức” trong các văn bản quy phạm pháp luật còn lúng túng và thiếu thống nhất, thể hiện trên một số điểm sau: Thứ nhất , khái niệm ” cán bộ “, ” công chức ” đã được sử dụng trong Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998. Tuy nhiên, ngay tên gọi của Pháp lệnh này đã không thống nhất với Hiến pháp năm 1992, vì Điều 8 của Hiến pháp năm 1992 sử dụng khái niệm ” cán bộ, viên chức” chứ không sử dụng khái niệm ” công chức “. Khi không sử dụng khái niệm ” viên chức “, có thể hiểu Pháp lệnh cán bộ, công chức chỉ điều chỉnh một phạm vi rất hẹp, bao gồm những nhóm đối tượng được gọi là ” cán bộ ” và ” công chức ” làm việc trong các cơ quan nhà nước và được định nghĩa rõ. Điều 1 của Pháp lệnh này, có 5 nhóm đối tượng được gọi một cách rất chung chung, không phân biệt nhóm nào là ” cán bộ ” và nhóm nào là ” công chức “. Đến Nghị định số 95/1998/NĐ ư CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì nhóm đối tượng ” công chức ” đã được làm rõ. Đó là những người thuộc Khoản 3 và 5, Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Tuy nhiên, tại Nghị định số 117/2003/NĐ ư CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thì khái niệm ” công chức ” lại được sử dụng để gọi chung cho cả cán bộ và công chức.

Thứ hai , khái niệm ” cán bộ, công chức ” được sử dụng trong Pháp lệnh năm 1998 chỉ bao gồm những người trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách. Tuy nhiên, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 mở rộng khái niệm này, bao gồm trong biên chế nhưng không nhất thiết phải hưởng lương từ ngân sách nhà nước, mà có thể hưởng lương và thu nhập khác từ các hoạt động sự nghiệp. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các khái niệm ” cán bộ “, ” công chức ” như đã nêu trên cho thấy khái niệm ” công chức ” đã thay thế cho khái niệm ” viên chức ” trong Hiến pháp năm1992. Tuy nhiên, từ năm 1999 đến nay, có nhiều văn bản không đi theo công thức ” cán bộ, công chức ” như các văn bản trên mà lại sử dụng khái niệm ” cán bộ, viên chức “. Như vậy, khái niệm ” công chức ” đã lại được thay thế bằng khái niệm ” viên chức “. Đáng chú ý là những chủ thể đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có sử dụng khái niệm ” cán bộ, công chức ” nay chính họ lại ban hành văn có sử dụng khái niệm ” cán bộ, viên chức“. Đơn cử như: Quyết định số 198/1999/QĐưTTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/9/1999 về tiền lương của cán bộ, viên chức làm việc tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng; Quyết định số 17/2000/QĐưTTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 3/2/2000 về chế độ tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, viên chức Quỹ hỗ trợ phát triển… Các văn bản này cũng không phân biệt rõ ai là ” cán bộ“, ai là ” viên chức” mà chỉ dẫn chiếu Pháp lệnh cán bộ, công chức. Thứ ba , khái niệm ” viên chức ” cũng bắt đầu xuất hiện trở lại tại Điểm d, Khoản 1, Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, giới hạn phạm vi áp dụng trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, các tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị ư xã hội. Từ đây, khái niệm ” viên chức ” được sử dụng trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, Nghị định số 116/2003/NĐưCP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước lại định nghĩa ” viên chức là cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật“. Như vậy, có sự không thống nhất giữa tên gọi của Nghị định với nội dung của nó, và khái niệm ” viên chức ” đã được sử dụng bao hàm ” cán bộ, công chức“. Thứ tư, khái niệm ” cán bộ ” rất ít được làm rõ, mặc dù nó đã xuất hiện dường như ” xuyên suốt” trong hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật như đã phân tích ở trên. Theo quy định tại Nghị định số 95/1998/NĐưCP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì những người thuộc diện quy định tại Khoản 1, 2 và 4 của Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức có thể được ” ngầm hiểu ” là ” cán bộ ” vì những người thuộc Khoản 3 và 5 của Điều 1 của Pháp lệnh này đã được coi là công chức.

Bạn đang xem bài viết Công An, Bộ Đội Là Cán Bộ Hay Công Chức? trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!