Xem Nhiều 1/2023 #️ Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa, Động Lực Phát Triển Đất Nước # Top 2 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa, Động Lực Phát Triển Đất Nước # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa, Động Lực Phát Triển Đất Nước mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa, động lực phát triển đất nước

Làm chủ là khát vọng có tính bản chất của con người. Trong quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người, khát vọng ấy được hiện thực hóa ở mức độ khác nhau. Con người biết làm chủ trong quan hệ với tự nhiên, biết tận dụng các điều kiện thuận lợi để tồn tại và phát triển.

Khi xã hội loài người hình thành, con người với tư cách là thực thể xã hội, con người biết làm chủ xã hội với những cấp độ: Làm chủ bản thân, làm chủ gia đình, làm chủ cộng đồng và làm chủ xã hội. Làm chủ xã hội trở thành mục tiêu cao nhất trong quá trình vận động và phát triển xã hội loài người. Trong lịch sử, chế độ chính trị tốt đẹp nhất là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), đó là xã hội mà đại đa số người dân được xác định là chủ thể xã hội, nhân dân làm chủ xã hội. Khi nhân dân được làm chủ xã hội, được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra thì trở thành động lực to lớn thúc đẩy xã hội phát triển. Ở Việt Nam, khi Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, chế độ dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc hình thành. Từ đó, chế độ dân chủ trở thành mục tiêu và là động lực phát triển đất nước.

Mục tiêu xây dựng một nền dân chủ được hình thành từ đầu thế kỷ 20 với phong trào dân chủ tư sản do các nhà yêu nước tiền bối: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh khởi xướng. Do sự lựa chọn con đường, phương pháp cách mạng… sai lầm, phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam thất bại. Vượt lên trên tư tưởng tiến bộ của các nhà yêu nước tiền bối, Hồ Chí Minh đã tiếp tục thực hiện mục tiêu: Giải phóng dân tộc, xây dựng nền dân chủ kiểu mới theo con đường cách mạng vô sản.

Từ khi thành lập Đảng đến Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất tâm thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành quyền dân chủ nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng được giành về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: Nước ta là nước dân chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân; chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương do dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên; nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr.698). Từ đó đến nay, tư tưởng dân chủ của Người đã được hiện thực hóa. Nhân dân thực sự trở thành chủ thể đất nước, từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Mục tiêu xây dựng nền dân chủ ngày càng được mở rộng và phát huy cao độ, nhân dân hồ hởi, phấn khởi bước vào các cuộc kháng chiến, kiến quốc, chống thực dân, đế quốc, thống nhất đất nước, tiến hành đổi mới đất nước với tư thế người làm chủ đất nước.

Đảng ta xác định dân chủ là mục tiêu của mọi cuộc cách mạng. Tùy vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu của các cuộc cách mạng mà có những hình thức dân chủ phù hợp. Chế độ dân chủ ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, được luật hóa, phổ biến đến mọi người dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa tiếp tục nhất quán mục tiêu dân chủ: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một chế độ do nhân dân làm chủ, là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.

Khi dân chủ trở thành mục tiêu của phát triển xã hội, nó thôi thúc nhân dân thực hiện công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân trở thành động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt lớn, đưa đất nước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ. Nhân dân ta lại bước vào một giai đoạn mới, đó là đổi mới đất nước toàn diện: Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền dân chủ XHCN, nền văn hóa định hướng XHCN… hàng loạt vấn đề có tính chất mới mẻ, vừa làm, vừa tìm tòi sáng tạo. Quá trình đổi mới cho thấy, chừng nào dân chủ được phát huy, được mở rộng, chừng đó đất nước ta phát triển vượt bậc, bền vững. Bài học “dân là gốc, dân là chủ” ngày càng thấm nhuần trong đời sống xã hội.

Đảng ta xác định: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc” thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay, trước bối cảnh khó khăn của thế giới, dân chủ XHCN ở nước ta đã, đang trở thành động lực thúc đẩy đất nước phát triển./.

TS Triết học Phạm Đào Thịnh, Trường Đại học Sài Gòn

Theo Báo Quân đội nhân dân

Thanh Huyền (st)

Luận Án: So Sánh Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Dân Chủ Tư Sản

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận án tiến sĩ ngành chủ nghĩa xã hội học với đề tài: Những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản. Ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay, cho các bạn tham khảo

1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ THU MAI NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC HÀ NỘI – 2018

2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ THU MAI NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Mã số: 62 22 03 08 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi NGUYỄN ĐỨC BÁCH HÀ NỘI – 2018

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. Tác giả luận án Lê Thị Thu Mai

5. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dân chủ vốn là một giá trị phổ biến xuất phát từ thực tiễn sản xuất và sinh hoạt của nhân loại từ thời nguyên thủy xa xưa – dân chủ nguyên thủy. Sau đó, dân chủ còn là khát vọng và là mục tiêu đấu tranh không ngừng của đại đa số nhân dân trong lịch sử hình thành và phát triển tiếp theo của xã hội loài người. Thực tế cho thấy, vấn đề dân chủ đã và đang được các nhà tư tưởng, các nhà hoạt động chính trị trong mọi thời đại, từ thời cổ đại đến nay, tiếp tục quan tâm và bàn luận. Lịch sử xã hội loài người đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển thực tiễn, lý luận và các chế độ dân chủ khác nhau: dân chủ nguyên thủy (khi chưa có chế độ tư hữu, giai cấp); chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân chủ tư sản và ngày nay, theo quan điểm mácxít, là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa cộng sản là đích đến mà dù sớm hay muộn, tất cả nhân loại sẽ vươn tới; là xã hội tốt đẹp trong đó mọi người đều có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Dân chủ là một trong những giá trị, đặc trưng cơ bản thuộc về bản chất của xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội. Vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, trong di sản lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, tư tưởng về dân chủ và thực hành dân chủ là một trong những nội dung quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, dân chủ có nghĩa “dân là chủ” và “dân làm chủ”; rằng, “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”. Trong thời đại ngày nay, đối với dân tộc Việt Nam, thực hiện tốt dân chủ là một trong những mục tiêu và động lực cơ bản để hội nhập và phát triển theo con đường cách mạng mà Đảng và dân tộc ta đã xác định. Có thể nói, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó không thể không nói đến nền

6. 2 dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho dù vẫn đang trong quá trình từng bước hoàn thiện, cụ thể hoá, thực thi và đã có nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, như Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ, nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế; tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật còn tồn tại ở nhiều nơi; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm; có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội [38, tr.168]… Đã xuất hiện không ít những hoài nghi về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng, rằng: Liệu dân chủ xã hội chủ nghĩa có “dân chủ hơn” dân chủ tư sản hay không? Bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là gì? Và có gì giống, khác với dân chủ tư sản mà các nước phương Tây đang xây dựng? Tại sao có những nước thực hiện dân chủ thành công, trong khi các nước khác lại thất bại? Tại sao việc đánh giá thế nào là dân chủ và không dân chủ lại không giống nhau giữa các nước? Đâu là mô hình dân chủ chung cho các quốc gia khi mà các nước trên thế giới đang ngày càng xích lại gần nhau và Việt Nam học hỏi được kinh nghiệm gì về xây dựng dân chủ ở các quốc gia đó? Nghiên cứu về dân chủ xã hội chủ nghĩa phải vừa xuất phát từ nguồn cội của nó là “dân chủ nguyên thủy” với “nội hàm gốc” là “quyền lực của nhân dân”, vừa phải kế thừa những giá trị của chế độ dân chủ tư sản – một chế độ dân chủ ra đời trước dân chủ xã hội chủ nghĩa hàng thế kỷ, với cả những thành quả, giá trị lẫn những hạn chế của nó – trên cơ sở làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản sẽ có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu những điểm “tương đồng” và những “khác biệt” của dân chủ xã hội chủ nghĩa so với dân chủ tư sản có ý nghĩa cấp thiết vì sẽ khắc phục được cả hai xu hướng lệch lạc hiện nay: Một là, xu hướng bảo thủ với tư duy cũ, thể hiện bệnh ấu trĩ tả khuynh, đối lập và phủ định sạch trơn dân chủ tư sản;

7. 3 Hai là, xu hướng ngày càng mơ hồ, sai lệch, hữu khuynh, “hòa nhập” theo dân chủ tư sản phương Tây – khi mà Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng và toàn diện hơn với thế giới, chủ yếu là với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Việc nghiên cứu này không những góp phần nhận thức đầy đủ, đúng đắn và toàn diện, sâu sắc hơn lý luận về dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là để vận dụng sáng tạo, đối chiếu với thực tiễn, giải đáp những vấn đề thực tiễn đất nước đang đặt ra. Mặt khác, nghiên cứu, so sánh bản chất cũng như thực tiễn nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng với nền dân chủ tư sản ở nhiều quốc gia tư bản trên thế giới hiện nay có thể tìm thấy nhiều lời giải cho việc xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới, góp phần đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng chiêu bài “dân chủ nhân quyền” để chống phá nước ta. Đó thực sự là việc làm cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, trước hết của giới lý luận ở nước ta. Với những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản. Ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về những điểm tương đồng và khác biệt giữa chế độ dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, luận án đề xuất những yêu cầu cơ bản và những giải pháp chủ yếu những giải pháp vận dụng những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản vào xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

10. 6 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1.1. Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước 1.1.1.1. Những công trình nghiên cứu về quan niệm, cách tiếp cận, bản chất của dân chủ, dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa Hoàng Chí Bảo, Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta: quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu [9, tr.7-11]; Nguyễn Đăng Quang, Một cách tiếp cận khái niệm dân chủ [77, tr.12-15]. Hai bài viết này bàn về dân chủ với những phương pháp tiếp cận khác nhau: tiếp cận từ những cơ sở hình thành dân chủ, bao gồm: cơ sở kinh tế của dân chủ và dân chủ trong kinh tế; cơ sở chính trị của dân chủ và dân chủ trong chính trị; cơ sở văn hóa, xã hội và dân chủ trong lĩnh vực văn hóa, xã hội; tiếp cận từ các nội dung cơ bản của dân chủ: theo nội dung chính trị, dân chủ là một hình thái nhà nước; theo nội dung văn minh, dân chủ là sản phẩm của nền văn minh; theo nội dung nhân đạo, dân chủ là phương thức tổ chức xã hội hiện đại. Những tài liệu này là những gợi mở để tác giả luận án có thêm những tiếp cận đa dạng khái niệm, quan niệm về dân chủ trong chương 2 của luận án. Nguyễn Tiến Phồn, Dân chủ và tập trung dân chủ – Lý luận và thực tiễn [73]; Cao Văn Thống, Nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay [110]. Các tài liệu trên được sưu tầm và biên soạn về những vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Theo đó, tập trung dân chủ là cơ chế, nguyên tắc cốt tử trong tổ chức, vận hành của Đảng, Nhà nước và của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

11. 7 Vũ Văn Viên, Nhà nước pháp quyền – công cụ để thực hiện dân chủ [133, tr.35-39]; Lương Đình Hải, Xây dựng Nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hóa xã hội ở nước ta hiện nay [43, tr.5-9] phân tích sự gắn bó mật thiết giữa pháp luật và dân chủ trong quá trình phát triển xã hội. Nhà nước pháp quyền tư sản là hình thức tổ chức quyền lực để thực hiện dân chủ tư sản. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là công cụ quan trọng để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gắn liền với việc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trần Quang Nhiếp, Dân chủ với phát triển cộng đồng [70]. Đây là cuốn sách đã trình bày, phân tích nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ và dân chủ ở cơ sở như: tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ; vai trò của dân chủ đối với phát triển cộng đồng; những thuận lợi, khó khăn, thành tựu, hạn chế trong thực hiện dân chủ cơ sở ở nước ta; vấn đề đặt ra và các giải pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta trong tiến trình đổi mới. Nguyễn Thanh Tuấn, Những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa [114, tr.114]. Cuốn sách này giúp tác giả luận án có thêm cơ sở lý luận khi phân tích những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tác giả cuốn sách, theo tinh thần đổi mới, đã phân tích việc vận dụng những quan điểm đó trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hà Đăng, Mô hình tổ chức nền dân chủ [39]; Phan Xuân Sơn, Những nội dung mới về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa [93]; Trương Minh Tuấn, Dân chủ xã hội chủ nghĩa và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội XI của Đảng [115, tr.3-8]; Vũ Hoàng Công, Vấn đề dân chủ trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng [29]. Đây là các công trình mà các tác giả đã phân tích các quan điểm mới của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa như: mô hình dân chủ; dân chủ là mục tiêu, động lực phát triển; hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa với cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm

12. 8 chủ; nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước… Hội đồng Lý luận Trung ương, Dân chủ, nhân quyền – giá trị toàn cầu và đặc thù quốc gia [48]. Các tác giả của công trình không chỉ nêu lên những vấn đề chung về dân chủ, về nhân quyền đang được các nhà lý luận ở nhiều nước trên thế giới sử dụng mà còn đi sâu phân tích, phê phán những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Lê Minh Quân, Dân chủ và dân chủ hóa từ một số cách tiếp cận cơ bản [84, tr.13-21]; Cao Đức Thái, Dân chủ trong xu thế thời đại và nền dân chủ của chúng ta [97, tr.18-20]; Nguyễn Trọng Chuẩn, Một số vấn đề về dân chủ [26, tr.9-21]. Các tác giả trong các công trình kể trên đã phân tích các vấn đề về dân chủ, dân chủ hóa và khẳng định: dân chủ có nhiều cách tiếp cận: từ góc độ giá trị, góc độ thể chế, góc độ phương pháp, phong cách. Dân chủ hóa là xu thế khách quan của thời đại; nền dân chủ của Việt Nam đã và đang phát triển đúng hướng, phù hợp với xu thế chung của thời đại ngày nay. Đức Vượng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam thời kỳ đổi mới [137]. Công trình này đã trình bày, phân tích quá trình đổi mới, phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Qua đó, nêu lên những nhận thức mới của Đảng về mục tiêu, đặc trưng và các nội dung của dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hồ Sĩ Quý, Một số vấn đề về dân chủ, độc tài và phát triển [85]. Đây là một công trình trình bày, phân tích nhiều nội dung lý luận, thực tiễn về dân chủ, độc tài và phát triển ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Liên Xô thời Stalin. Thông qua việc xử lý một khối lượng tư liệu khổng lồ, Hồ Sĩ Quý đã phân tích, đối chiếu, xem xét nội hàm và mối quan hệ giữa các vấn đề dân chủ, độc tài và phát triển. Đặc biệt, trong Phần II của Chương I cuốn sách, tác giả đã luận bàn rất ngắn gọn, súc tích về khái niệm và một số quan niệm cơ bản về dân chủ từ nhiều phương diện khác nhau. Ngoài quan niệm cơ bản “Dân chủ là một hình thức tổ chức nhà nước mà trong đó, quyền lực

13. 9 thuộc về nhân dân, phục vụ nhân dân và vì quyền lợi của nhân dân” [85, tr.37], ở những khía cạnh khác, trong các quan hệ khác nhau của đời sống xã hội, tác giả còn nêu ra 11 quan niệm khác nhau về dân chủ. Một số quan niệm đó là: “Dân chủ là một lối sống dựa trên sự tôn trọng quyền cá nhân”; “Dân chủ là quyền bình đẳng của mỗi người trong việc nhận thức và hành động xây dựng xã hội, theo cách mà đa số đều đạt được lợi ích”, “Dân chủ là một tư tưởng chính trị, mà các giá trị cơ bản của nó là tự do, bình đẳng và thừa nhận lẫn nhau” hay “Dân chủ là một sự trao đổi và đối thoại được thực hiện một cách tự do nhất giữa các thành viên xã hội”; hoặc “Dân chủ là một hình thức tổ chức chính quyền, để tất cả mọi người đều có thể, trực tiếp hoặc gián tiếp, tham gia vào các quyết định quan trọng trong phân bổ các giá trị”… [85, tr.37- 38]. Đây là những tư tưởng rất quan trọng mà luận án kế thừa và làm rõ trong chương 2. Cuốn sách còn có nhiều nhận định, đánh giá sâu sắc chứa đựng nhiều gợi mở. Ví dụ: “Dân chủ nếu có khiếm khuyết, nó sẽ được sửa chữa bằng một trình độ dân chủ cao hơn. Tuy nhiên, không phải chính thể nào cũng thừa nhận chân lý này…” [85, tr.39]. 1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu về thực hành dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa Vũ Văn Hiền, Dân chủ cơ sở qua kinh nghiệm của Thụy Điển và Trung Quốc [45]. Công trình đã phân tích việc thực hiện dân chủ cơ sở qua kinh nghiệm của Thụy Điển và Trung Quốc về các vấn đề: Nhà nước phúc lợi xã hội, về hệ thống chính trị; sự tham gia hoạt động quản lý nhà nước một cách dân chủ; dân chủ điện tử – một công cụ chính trị mới; xây dựng chính phủ của nhân dân trong thế kỷ mới. Hay xây dựng dân chủ cơ sở với xã hội khá giả, quan hệ xây dựng dân chủ ở cơ sở với cải cách hệ thống chính trị… Khu dân cư tự quản là thực tiễn mới của việc xây dựng nền dân chủ cơ sở ở đô thị. Những phân tích này là tài liệu quý để tác giả luận án có thêm góc nhìn để so sánh thực tiễn hai chế độ dân chủ ở hai quốc gia đi theo hai con đường phát triển khác nhau là Trung Quốc và Thuỵ Điển.

14. 10 Lê Văn Toan, Nguyễn Viết Thảo, Thể chế chính trị – Một số kinh nghiệm của thế giới [111]. Tác giả đã khái quát những nét chính về thể chế chính trị của các nước trong từng châu lục để có cách nhìn tổng quan hơn, so sánh đậm nét hơn về những nét giống và khác nhau của thể chế chính trị từng châu lục trên toàn thế giới, từ đó chỉ ra kinh nghiệm và những gợi mở đối với việc xây dựng thể chế chính trị Việt Nam. Phạm Văn Đức, Thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền [40]. Cuốn sách này dành hẳn Chương II để phân tích kinh nghiệm thực hành dân chủ của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó, các tác giả đã phân tích nội dung thực hành dân chủ ở Cộng hòa Liên bang Đức, ở Thái Lan, ở Xingapo, ở Đài Loan; từ đó nêu lên một số hạn chế trong quá trình thực hành dân chủ ở những nước này cũng như những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam. Viết về thực hành dân chủ ở Cộng hoà Liên bang Đức và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Phạm Văn Đức cho rằng: Kinh nghiệm thực hành dân chủ ở Đức có thể cung cấp cho chúng ta những bài học bổ ích trong lĩnh vực chính trị và kinh tế. Về chính trị, trước hết cần xây dựng một thể chế dân chủ, với các quyền và tự do cơ bản của công dân được bảo đảm bằng những nguyên tắc hiến định. Nhà nước pháp quyền đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tư tưởng, tôn giáo, hội họp, lập hội (bao gồm thành lập các nghiệp đoàn, đảng phái,…), tự do bầu cử, ứng cử, quyền sở hữu và tự do kinh doanh của công dân. Về kinh tế, tăng cường và mở rộng việc thực hành dân chủ các quyền kinh tế thông qua việc không ngừng phát huy lợi thế của nền kinh tế thị trường nhưng trên nền tảng có sự điều tiết bằng những chiến lược cụ thể [40, tr123-124]. Những nhận định như vậy có ý nghĩa quan trọng để luận án tham khảo trong việc so sánh về thực tiễn hai nền dân chủ mà chúng tôi triển khai ở chương 3.

15. 11 Các công trình trên cũng đã chỉ ra những hạn chế, những “bế tắc” của nền dân chủ phương Tây trước yêu cầu phát triển mới. Đặc biệt, giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiếp tục đấu tranh đòi thực hiện nền dân chủ công bằng hơn, bảo vệ lợi ích cho họ. Từ một số công trình nghiên cứu trên có thể thấy, nền dân chủ tư sản hay “dân chủ phương Tây” không phải là “một mô hình lý tưởng”, một “khuôn mẫu” để các nước học tập hay mô phỏng. Bản thân các học giả phương Tây cũng thừa nhận điều này. Đây cũng là một bài học cho quá trình xây dựng và thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng ta học hỏi, tiếp thu các giá trị tiến bộ, tích cực của dân chủ phương Tây nhưng cũng phải biết loại bỏ những tính chất tiêu cực của nó, đặc biệt đấu tranh phê phán các quan điểm có tính chất áp đặt mô hình dân chủ phương Tây vào nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch. Nguyễn Tiến Phồn, Dân chủ và tập trung dân chủ: Lý luận và thực tiễn [73], là công trình trong đó tập hợp những chuyên luận nghiên cứu của tác giả về dân chủ và tập trung dân chủ, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý nhà nước. Đỗ Nguyên Phương, Trần Ngọc Đường, Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền [74]. Trong công trình này, tác giả luận giải nhiều nội dung về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như: cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng văn hóa pháp luật… Lê Minh Quân, Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay [83]. Đây là một tác phẩm bàn về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; các giải pháp tiếp tục đẩy mạnh dân chủ hóa, xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta như: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng theo

16. 12 hướng dân chủ hóa; xây dựng, phát triển xã hội công dân; xây dựng, phát triển nền văn hóa và con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa… [83, tr.341]. Nguyễn Ngọc Hà, Luyện Thị Hồng Hạnh, Dân chủ và tính đặc thù của việc thực hành dân chủ ở Việt Nam [42, tr.70] cho rằng, tùy theo điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử, văn hóa riêng, mỗi nước đều xác định tiêu chuẩn dân chủ phù hợp với nước mình. Tính đặc thù của dân chủ và thực hành dân chủ ở Việt Nam thể hiện: dân chủ đang xây dựng là dân chủ xã hội chủ nghĩa; dân chủ ở Việt Nam không có đối trọng giữa các đảng; không có tam quyền phân lập; có sự thống nhất giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội; không có quy định nhân dân trực tiếp bầu ra người đứng đầu Nhà nước. Đinh Thế Huynh và các cộng sự, 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam [53]. Trong cuốn sách này, các tác giả đã dành hẳn một chương để phân tích, tổng kết về xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, về đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền qua 30 năm đổi mới ở Việt Nam. Đây là những vấn đề mà luận án sẽ tiếp tục làm rõ. Đỗ Thị Thạch, Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ những vấn đề lý luận xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới đất nước [96]. Trong báo cáo đề tài cấp bộ này, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận, thực tiễn; thực trạng nhận thức, xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới; những vấn đề đặt ra; xu hướng phát triển dân chủ và các giải pháp góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Đây là một công trình quan trọng trong việc nêu lên những giải pháp có tính khả thi trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta – vấn đề mà luận án đặc biệt quan tâm và kế thừa nhiều tư liệu. 1.1.1.3. Những công trình nghiên cứu mang tính so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa Nguyễn Đức Bách, Mấy vấn đề về dân chủ và hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay dưới góc độ quan hệ giữa các lợi ích [3]. Trong bài viết này, tác

17. 13 giả đã phân tích những điểm chung – tương đồng của ba chế độ dân chủ đã có trong lịch sử: Dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản (hay dân chủ xã hội chủ nghĩa). Những điểm chung – tương đồng đó là: 1) Đều là một chế độ chính trị – một hình thức nhà nước khi xã hội còn giai cấp. 2) Đều có bộ máy nhà nước và quan chức do bầu cử. 3) Đều có hệ thống pháp luật nhà nước để buộc mọi người phải tuân thủ… 4) Đều chỉ có một giai cấp lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội… Đặc biệt, tác giả chỉ ra những khác biệt căn bản giữa các chế độ dân chủ khác nhau (dù có kế thừa nhau), suy cho cùng là ở bản chất – mục tiêu và lợi ích của các giai cấp lãnh đạo xã hội… đã chi phối sự khác nhau về ý thức hệ, về nội dung cụ thể của các luật pháp và các mối quan hệ về địa vị, về lợi ích… giữa các giai cấp lãnh đạo xã hội với các giai tầng còn lại trong mỗi chế độ dân chủ đó. Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo, Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa [72]. Trong công trình này, các tác giả đã phân tích những quan điểm, tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ, lịch sử ra đời, phát triển, thực trạng, bản chất, khuyết tật của dân chủ tư sản; bản chất, sự hình thành và những thách thức của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Ở đây, dân chủ xã hội chủ nghĩa được tiếp cận toàn diện, hệ thống với 5 khía cạnh: hình thức tổ chức xã hội, tổ chức nhà nước; giá trị xã hội; điều kiện để hình thành nhân cách trung thực, sáng tạo; cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo, quản lý xã hội (tập trung dân chủ); động lực, bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Công trình này tuy không đặt dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa trong sự so sánh nhưng cách triển khai vấn đề của các tác giả là cơ sở quan trọng để nhìn nhận rõ những khác biệt giữa hai nền dân chủ này, từ tiền đề ra đời, bản chất, vai trò của nó. Luận án sẽ kế thừa và làm rõ hơn vấn đề này. Trần Thành, Vấn đề dân chủ và dân chủ hóa đời sống xã hội – lịch sử và hiện đại [101]. Đây là công trình mà tác giả trình bày lịch sử hình thành phát triển dân chủ từ phương diện lý luận, thực tiễn; phân tích bản chất, thực

18. 14 trạng của dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; vấn đề xây dựng chế độ dân chủ ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp. Nguyễn Văn Quyết, Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin làm sáng tỏ sự tương đồng và khác biệt về dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa [87]. Trong báo cáo đề tài khoa học này, tác giả đã trình bày rõ những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự tương đồng, khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Từ đó, tác giả của đề tài đã nêu những gợi mở cho nhận thức và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Đây là phần cơ sở lý luận rất quan trọng mà luận án sẽ tham khảo để so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở phạm vi và góc độ rộng hơn, bao quát hơn. Lô Quốc Toản, Giáo trình lý luận về dân chủ [112]. Trong công trình này, tác giả đã dành một tiết của Chương IV để so sánh những điểm giống và khác nhau cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa so với dân chủ tư sản. Trong đó, về những điểm giống nhau, tác giả nêu rõ: Một là, cả dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa đều phải thực hành dân chủ thông qua hình thức nhà nước pháp quyền; Hai là, cả dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa đều đề cao nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân; Ba là, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng như chế độ dân chủ tư sản đều bị quy định bởi trình độ phát triển của kinh tế, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, dân trí và thông tin. Về những điểm khác nhau, theo tác giả Lô Quốc Toản, một là, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất làm cơ sở cho sự tồn tại của mình. Còn chế độ dân chủ tư sản lại lấy sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất làm cơ sở cho sự tồn tại của mình; hai là, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ cho nhân dân, trong khi đó, trong nhà nước pháp quyền tư sản, giai cấp tư sản nắm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, vì vậy trên thực tế toàn bộ pháp luật cũng như cơ chế vận hành của xã hội đều thể hiện và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản; ba là, nền dân chủ xã hội

20. 16 chúng ta đã nhận thấy lý do vững chắc để không chấp nhận bất cứ mô hình nào, dù đó là mô hình cổ điển hay hiện đại” [42, tr.438]. O.T.Bogomolov, Dân chủ và tiến bộ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội [94, tr.3-14] là một nghiên cứu trong đó chỉ ra các nguyên tắc nền tảng của dân chủ; cuộc khủng hoảng của dân chủ phương Tây; mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển ở các nước trên thế giới và ở Nga. Tác giả cho rằng, chính ảnh hưởng của Liên Xô và những thành tựu mà Liên Xô đạt được trong lĩnh vực xã hội đã thúc đẩy sự ra đời của mô hình nhà nước phúc lợi. Theo đó, ở Nga hiện nay, việc xây dựng nhà nước phúc lợi theo mô hình Bắc Âu là phù hợp với tâm lý của nhiều người và phù hợp với kinh nghiệm lịch sử của thời kỳ xã hội chủ nghĩa. Hồ Cẩm Đào, Bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 30 năm cải cách mở cửa [71] khẳng định: Nước Trung Quốc là nhà nước xã hội chủ nghĩa chuyên chính dân chủ nhân dân, lấy liên minh công nông làm nền tảng, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Dân chủ nhân dân là sinh mệnh của xã hội chủ nghĩa, nhân dân làm chủ là hạt nhân và bản chất của chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa. Không có dân chủ là không có xã hội chủ nghĩa, cũng là không có hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa [72, tr.299-300]. Viện Quốc tế về dân chủ và hỗ trợ bầu cử, Dân chủ trực tiếp: sổ tay IDEA quốc tế [135]. Đây là công trình tổng quan về việc vận dụng dân chủ trực tiếp, nhất là trưng cầu ý dân, sáng kiến công dân, sáng kiến chương trình nghị sự và bãi miễn được thực hiện ở các vùng trên thế giới. Ở đây, dân chủ được tiếp cận theo nghĩa là chế độ chính trị, hệ thống tổ chức quyền lực và cơ chế, quy trình vận hành hệ thống dân chủ. Theo đó, dân chủ trực tiếp được xem là một cơ chế độc đáo khuyến khích sự tham gia của công dân và tự do ngôn luận để thúc đẩy xây dựng nền dân chủ trong các xã hội đang phát triển.

21. 17 Thoma Meyer, Tương lai của nền dân chủ xã hội [108]. Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu lên một cách khá đầy đủ dự án “dân chủ xã hội” và những nhiệm vụ quan trọng nhất trong tương lai trong thế giới toàn cầu hóa. Theo đó, các quyền cơ bản về dân sự và chính trị phải được bổ sung bằng các quyền xã hội và kinh tế nhằm tạo dựng được những điều kiện sống có nhân phẩm cho tất cả mọi người. Trọng tâm mà cuốn sách muốn đề cập là nền dân chủ hiện đại được hợp thức hóa như thế nào, công bằng xã hội có vai trò ra sao đối với nền dân chủ hiện đại, nền dân chủ ấy dựa trên những quyền cơ bản nào và nó có ý nghĩa thế nào đối với sự ổn định và hiệu quả của một xã hội? Trên cơ sở các tiêu chuẩn cơ bản của dân chủ xã hội, cuốn sách giới thiệu một cách khái quát mô hình thể chế dân chủ ở 6 quốc gia khác nhau. Trong đó, Thụy Điển, Hà Lan và Cộng hòa Liên bang Đức là những quốc gia, thông qua con đường riêng của mình, đã xây dựng tương đối thành công những thể chế dân chủ đáp ứng được ở mức độ cao những đòi hỏi đối với một thể chế dân chủ xã hội; Mỹ và Anh là những quốc gia, cũng bằng cách riêng của mình và ở những mức độ khác nhau, đã xây dựng những thể chế dân chủ theo kiểu tân tự do. Nhật Bản là một quốc gia với một nền văn hóa khác hẳn nền văn hóa châu Âu, đã xây dựng được một thể chế dân chủ đáp ứng được phần lớn các tiêu chuẩn của mô hình dân chủ xã hội. Những luận điểm trong cuốn sách cung cấp thêm những cách nhìn đa chiều về mô hình dân chủ tư sản với những ưu điểm và cả những hạn chế của nó. Đây là một vấn đề mà luận án quan tâm làm rõ. Davit Held, Các mô hình quản lý nhà nước [32] trình bày các mô hình tổ chức hoạt động của nhà nước theo các quan niệm dân chủ trong các giai đoạn lịch sử, trong đó, chủ yếu tác giả phân tích, đánh giá về các mô hình cơ bản của dân chủ hiện đại cùng những biến thể của nó trước tác động của toàn cầu hóa. Tác giả viết đại ý rằng, chúng ta không thể hài lòng với những mô hình dân chủ hiện hữu, dù là mô hình cổ điển hay hiện đại; sẽ không có một hình mẫu dân chủ cho mọi quốc gia.

22. 18 Hai là, các công trình nghiên cứu về thực hành dân chủ tư sản, tiêu biểu có thể kể đến như: Lilia Sevtsova, Người Nga bàn về các giá trị phương Tây [61]. Câu hỏi mà tác giả đặt ra là: tại sao những người tự do ở Nga không còn tin tưởng vào giá trị tự do của phương Tây và Mỹ nữa? Qua việc nghiên cứu nền dân chủ phương Tây, tiêu biểu là Mỹ, tác giả đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản là: “Sự thật là bản thân chủ nghĩa tự do phương Tây hiện nay còn rất nhiều vấn đề, nhất là vấn đề xuất khẩu dân chủ”. Sự can thiệp của phương Tây vào các nước kém phát triển trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền bằng bạo lực đã lộ rõ bộ mặt bá quyền thế giới của họ. Trích dẫn các ý kiến của các học giả phương Tây như F.Fukuyama hay W.Galstom, bản thân họ cũng cho rằng: “Chúng ta cần một sự đổi mới cơ bản của tự do truyền thống nước Mỹ”. Còn Z.Brenzinski, cố vấn cao cấp của Tổng thống Mỹ cũng nhận định: “Châu Âu là nơi nghỉ hưu lý tưởng nhất thế giới”. Sự kém năng động của nền kinh tế các nước phương Tây trong những năm vừa qua chính là cơ sở để ông đi đến nhưng kết luận này. Như vậy, tự do, dân chủ phương Tây cũng đang đặt ra những vấn đề đòi hỏi phải được đổi mới, cải cách. Đài Tiếng nói quốc tế nước Nga, Những vấn đề của nền dân chủ Mỹ [35]. Tác giả của bài viết đã chỉ ra tính vô căn cứ trong tham vọng toàn cầu của Mỹ là “mở rộng và bảo vệ tự do nhân quyền trên toàn thế giới” bởi những vấn đề đó của nước Mỹ cũng không tốt đẹp gì. Trích dẫn báo cáo: “Tình hình nhân quyền tại Hoa Kỳ” do Bộ Ngoại giao Nga ban hành năm 2012; theo đó, mức độ tự do ngôn luận tại Mỹ bị các tổ chức nhân quyền quốc tế đánh giá rất thấp, đặc biệt là đối với hành động của chính phủ Mỹ ngăn cấm nhà báo đưa tin phản ánh các cuộc biểu tình “Chiếm Phố Wall”. Đây không phải là lần đầu tiên nước Mỹ vi phạm nhân quyền, trước đó, các hành vi thô bạo của cảnh sát chống người nhập cư, về các vụ xâm phạm quyền tự do ngôn luận, bất bình đẳng về giai cấp ở Mỹ, đối xử bất công với trẻ em nhập cư từ Nga, mở các

26. 22 trọng về mặt khoa học, làm sáng tỏ trên nhiều phương diện lý luận và thực tiễn về dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản: – Các tác giả đã có nhận thức chung về nội hàm của khái niệm dân chủ: từ nghĩa gốc dân chủ là mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân chủ được tiếp cận trên những góc độ, phương pháp khác nhau và được nhận thức như là phạm trù phức tạp có bản chất nhiều thứ bậc với nội hàm rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng cho thấy điểm chung tương đối thống nhất trong quan niệm về nội dung dân chủ. Dân chủ được hiểu là chế độ chính trị, hình thức nhà nước khẳng định chủ quyền nhà nước của nhân dân; là quyền làm chủ của nhân dân, trước hết là của giai cấp thống trị; là thành quả đấu tranh của nhân dân chống lại áp bức, bóc lột; là cơ chế, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của các tổ chức cộng đồng và các tổ chức chính trị – xã hội; là giá trị xã hội, giá trị nhân văn phản ánh trạng thái, mức độ giải phóng con người trong tiến trình phát triển xã hội… Dân chủ không chỉ là phạm trù chính trị mà còn là phạm trù xã hội; không chỉ là thể chế, tổ chức mà còn là cơ chế, giá trị; không chỉ là tư tưởng, quan điểm mà còn là hành vi, phong cách, phương pháp; không chỉ có giá trị nhân loại mà còn có giá trị giai cấp, dân tộc; không chỉ là phạm trù lịch sử mà còn là phạm trù vĩnh viễn; dân chủ là xu thế phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại. – Các công trình trên có nhận thức chung tương đối thống nhất về nền dân chủ: với những cách tiếp cận khác nhau về dân chủ, các nghiên cứu cho thấy có nhiều loại hình dân chủ, chế độ dân chủ, nền dân chủ với những nội dung, đặc trưng khác nhau; ngay cả một loại hình dân chủ cũng có những biến thể khác nhau. Giữa các loại hình dân chủ, giữa các nền dân chủ, kể cả giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa – là những loại hình dân chủ có sự khác nhau về chất, cũng có những nguyên tắc, cơ chế, giá trị chung, phổ biến cả trên phương diện nội dung, hình thức, cả nhận thức và thực tiễn. Theo đó, nền dân chủ, chế độ dân chủ là một chỉnh thể xã

27. 23 hội trong đó các giá trị, chuẩn mực, yêu cầu, các nguyên tắc dân chủ được ghi nhận và thực thi trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội. Trong xã hội có giai cấp, nền dân chủ là một chỉnh thể hiện thực trong đó có chế độ chính trị, nhà nước, pháp luật dân chủ; sự làm chủ của nhân dân và mang bản chất của giai cấp thống trị; sự đấu tranh, vươn lên không ngừng của nhân dân lao động chống lại các biểu hiện phản dân chủ, phi dân chủ; sự tồn tại, hoạt động tự chủ, tự quản của các tổ chức chính trị, xã hội; sự hiện hữu của các nguyên tắc, giá trị, chuẩn mực dân chủ phản ánh trạng thái, mức độ giải phóng con người. – Từ những góc độ, khía cạnh khác nhau, các nhà nghiên cứu đã dành sự quan tâm lớn đối với các nội dung của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Có công trình nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ vô sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ Xôviết. Có công trình nghiên cứu về dân chủ xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc trong sự nghiệp cải cách mở cửa, nghiên cứu về dân chủ nhân dân và dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới ở Lào và ở Việt Nam. Trong đó có nhiều công trình nghiên cứu sâu về nội dung chính trị, thể chế của dân chủ xã hội chủ nghĩa; cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ xã hội chủ nghĩa từ góc độ cơ chế, giá trị xã hội, giá trị văn minh của nó. Đồng thời, cũng đã có công trình quan tâm nghiên cứu nhận thức mới về dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trên một số khía cạnh nội dung qua mỗi đại hội Đảng, qua từng chặng đường đổi mới của đất nước ta (10 năm, 15 năm, 20 năm, 25 năm, 30 năm đổi mới). Tóm lại, xung quanh vấn đề nhận thức về dân chủ, dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ đổi mới đã có rất nhiều công trình đề cập đến các khía cạnh, mức độ khác nhau, tùy theo mục đích và phương pháp tiếp cận. Những kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên là tài liệu tham khảo có giá trị về nhiều mặt để

28. 24 tác giả luận án tham khảo trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ và mục đích đề ra. 1.2.2. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ thêm Kế thừa thành quả trong những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu, làm rõ những vấn đề sau: Thứ nhất, phân tích những nhận thức chung về khái niệm “dân chủ” một cách có hệ thống (từ nội hàm gốc là “quyền lực của nhân dân” cho đến nhiều quan niệm “phái sinh” theo lịch sử…), trên cơ sở đó làm rõ bản chất, quá trình ra đời, phát triển và vai trò của dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản. Thứ hai, so sánh những điểm tương đồng và khác biệt, những giá trị của dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thứ ba, đề xuất những yêu cầu cơ bản và các giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

29. 25 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA DÂN CHỦ TƯ SẢN VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1. QUAN NIỆM VỀ DÂN CHỦ VÀ CÁC CÁCH TIẾP CẬN DÂN CHỦ 2.1.1. Quan niệm về dân chủ 2.1.1.1. Quan niệm chung về dân chủ Dân chủ với tính cách là một phạm trù khoa học, một khái niệm chính trị được nảy sinh và hình thành trong quan hệ với áp bức, chuyên chế, với những hiện tượng độc tài, độc đoán, chuyên quyền. Là khái niệm mang tính lịch sử, nên dân chủ không xuất hiện tức khắc và cũng không tồn tại bất biến. Nó được phát triển trong tiến trình lịch sử nhân loại và trong quá trình đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa các mặt đối lập: giữa tư tưởng tự do và nô lệ, giữa dân chủ và chuyên chế, độc tài. Xét về mặt lịch sử, thuật ngữ “dân chủ” xuất hiện rất sớm, từ thực tiễn “dân chủ nguyên thủy” – khi chưa có chế độ tư hữu và chưa xuất hiện giai cấp. Dân chủ theo nguyên nghĩa từ tiếng Hy Lạp cổ là do hai từ hợp thành: demos – nhân dân và kratos – để phản ánh thực tế đã có là quyền lực thuộc về nhân dân. Sau đó, khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, trong cuộc đấu tranh của phái “chủ nô dân chủ” chống phái “chủ nô quý tộc” trong chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội đầu tiên có sự phân chia thành giai cấp, về thực chất, quyền lực của nhân dân đã bị giai cấp chủ nô “tiếm quyền” (theo cách viết của Ph.Ăngghen). Cũng như các khái niệm khoa học khác, khái niệm dân chủ cũng ngày càng bổ sung và phát triển theo cả bề rộng lẫn chiều sâu. Khái niệm “dân chủ” hiện nay được hiểu rất rộng và theo nhiều chiều cạnh phong phú, đa dạng: dân chủ với tư cách là một giá trị xã hội (tự do, bình đẳng, quan hệ giữa người với

30. 26 người trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như: gia đình, bạn bè, thầy trò…); dân chủ với tư cách là một hình thức nhà nước. Như vậy, dân chủ hiểu theo nghĩa hiện đại có hàm nghĩa rất rộng. Dân chủ, không chỉ là phạm trù chính trị, mà còn là phạm trù xã hội, không chỉ là phạm trù lịch sử, mà còn phạm trù vĩnh viễn. Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội phức tạp gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người. Từ hàng ngàn năm trước Công nguyên, con người đã biết hợp lực để sản xuất, chống thiên tai, thú dữ và đã tổ chức ra những hoạt động chung mang tính xã hội, trong đó có việc cử ra những người đứng đầu để thực thi những quy định, điều hành hoạt động chung. Đồng thời, cộng đồng sẽ phế bỏ những người đó, nếu họ không thực hiện những quy định chung theo lợi ích và ý nguyện của mọi người. Đây là một trong những quyền vốn có đương nhiên của mọi thành viên trong cộng đồng. Quyền lực ấy là ngang nhau đối với mọi thành viên trong thị tộc, bộ lạc. Những nội dung cốt lõi của khái niệm dân chủ được hình thành từ thời cổ đại Hy Lạp về cơ bản vẫn được các nhà lý luận ngày nay kế thừa và phát triển. Điều khác biệt cơ bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại và hiện nay là ở nội hàm của khái niệm nhân dân và tính trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng. Ngày nay, mặc dù hầu hết các nhà lý luận, các nhà chính trị khi bàn đến vấn đề dân chủ thường lấy thuật ngữ “Demokratos” làm điểm tựa xuất phát, nhưng cuộc tranh luận về dân chủ vẫn diễn ra hết sức gay gắt, những lập luận, lý giải về dân chủ rất đa dạng, phong phú và kết quả là vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất. Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì: Một là, ở góc độ nghiên cứu, vấn đề dân chủ có thể được xem xét dưới góc độ của nhiều ngành khoa học khác nhau. Mỗi ngành khoa học cụ thể có một hệ phương pháp tiếp cận khác nhau, một hệ thống các phạm trù, khái

31. 27 niệm biểu đạt đặc thù và có mục tiêu nghiên cứu riêng. Do đó, người ta đã đưa ra những quan niệm khác nhau về dân chủ. Hai là, ở góc độ thực tiễn của các chế độ chính trị, mặc dù các nước đều tự cho mình là dân chủ, song do có sự khác nhau về thể chế chính trị, trình độ phát triển, truyền thống văn hoá nên cũng dẫn đến việc mỗi nước có cách hiểu và lý giải khác nhau về dân chủ. Ba là, ở góc độ thuật ngữ, phạm trù dân chủ là một cơ cấu nhiều tầng bản chất được hiểu với nhiều nghĩa. Do đó, với những nguyên tắc và phương pháp tiếp cận khác nhau, người ta cũng sẽ đưa ra quan điểm khác nhau về dân chủ [dẫn theo 112, tr.9]. 2.1.1.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ ra đời trên cơ sở kế thừa các thành tựu của văn minh nhân loại; một mặt, các ông phát triển những tư tưởng dân chủ đã có, mặt khác bổ sung, phát triển quan điểm mới phù hợp với điều kiện lịch sử đương thời. Quan điểm cơ bản của các nhà kinh điển về dân chủ được biểu hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, trên cơ sở từ “nội hàm gốc” của “dân chủ nguyên thủy” – với nghĩa thật sự là “quyền lực của nhân dân” trong điều kiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, các ông đã tập trung nghiên cứu “vấn đề dân chủ” từ khi xã hội loài người có chế độ tư hữu và phân chia thành giai cấp và xuất hiện các loại nhà nước, dân chủ (chế độ dân chủ hoặc nền dân chủ). Đó là hình thức tổ chức nhà nước dựa trên nguyên tắc nhân dân là chủ thể của quyền lực. Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta, C.Mác chỉ rõ: “từ “dân chủ” nếu chuyển sang tiếng Đức thì có nghĩa là “nhân dân làm chủ””[22, tr.44-45]. Điều đó có nghĩa trong chế độ dân chủ, nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước, nhân dân tạo nên nhà nước, chứ không phải nhà nước tạo nên nhân dân. C.Mác viết: “Chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước thành con

32. 28 người được khách thể hóa. Cũng giống như tôn giáo không tạo ra con người mà con người tạo ra tôn giáo, ở đây cũng vậy: không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra nhà nước” [15, tr.350]. Thứ hai, chủ nghĩa Mác-Lênin sử dụng khái niệm dân chủ trên phương diện quyền lợi của nhân dân, là vấn đề quyền lợi dân chủ được hiểu theo nghĩa rộng. C.Mác cho rằng, nhân dân nên là chủ nhân của nhà nước. Quyền lợi căn bản nhất của nhân dân chính là quyền lực nhà nước phải thuộc sở hữu của nhân dân, sở hữu của xã hội; đồng thời, bộ máy nhà nước phải phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Chỉ khi mọi quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mới có thể căn bản đảm bảo việc nhân dân được hưởng quyền làm chủ, hưởng quyền lợi dân chủ khắp mọi nơi. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin cho rằng dân chủ là việc nhân dân được hưởng quyền tham gia quyết định chế độ nhà nước và quản lý nhà nước. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin khẳng định: Quần chúng phải có quyền được tự mình cử ra những người lãnh đạo có trách nhiệm, có quyền được thay đổi những người lãnh đạo của mình, có quyền được hiểu rõ và kiểm tra mỗi một bước nhỏ nhất trong hoạt động của những người đó. Quần chúng phải có quyền được đề bạt trong nội bộ của họ bất kỳ một công nhân nào lên phụ trách chức vụ lãnh đạo. Nhưng như vậy không mảy may có nghĩa là quá trình lao động tập thể có thể không cần một sự lãnh đạo nào, không cần có sự xác định chính xác chức trách của người lãnh đạo, không cần một trật tự hết sức nghiêm ngặt do ý chí thống nhất của người lãnh đạo lập ra [125, tr.192]. Thứ ba, trên phương diện chế độ chính trị, chủ nghĩa Mác đã lý giải khái niệm dân chủ như một hình thức nhà nước hay một hình thái nhà nước, như là chế độ dân chủ hay chính thể dân chủ. C.Mác, trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel, đã gọi chế độ quân chủ và chế độ dân chủ là chế độ nhà nước [15, tr.350].

34. 30 hình thành và phát triển ở con người ý thức và năng lực làm chủ xã hội. Những thành tựu đạt được của dân chủ trước chủ nghĩa xã hội, mà đỉnh cao là dân chủ tư sản, xét về ý nghĩa khách quan, đều mang những tiến bộ xã hội, vì nó từng bước chuẩn bị tiến tới nền dân chủ đầy đủ, triệt để và hoàn thiện nhất trong chủ nghĩa xã hội. Mặc dù chưa đem lại quyền lực cho đa số người lao động, nhưng nền dân chủ tư sản vẫn cần thiết đối với tiến bộ xã hội. Nó tích lũy và làm chín muồi ý thức dân chủ, tinh thần phản kháng mọi hiện tượng bất công, mất dân chủ, tạo nên sự trưởng thành về chính trị, ý thức giai cấp của quần chúng, cung cấp cho họ kinh nghiệm thực tiễn cần thiết để chuyển từ đấu tranh đòi cải thiện dân sinh dân chủ sang đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, tức là vì dân chủ thực sự, triệt để nhất. V.I. Lênin đã chỉ rõ, chính chủ nghĩa tư bản trong tiến trình phát triển của nó đã dẫn tới các tiền đề cho sự chín muồi đầy đủ của dân chủ và một khi dân chủ đã phát triển đầy đủ thì nó không thể dung nạp được trật tự tư sản. Do vậy, chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn. 2.1.1.3. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa Về nền dân chủ tư sản, nghiên cứu vấn đề dân chủ được đặt ra trong điều kiện phải đấu tranh trực tiếp với những quan điểm tư sản về dân chủ; sự tuyệt đối hóa những giá trị dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản đương thời cũng như nhu cầu thực tiễn phải vượt qua dân chủ tư sản, C.Mác và Ph.Ăngghen trước hết vạch trần bản chất giả dối của dân chủ tư sản. Ph.Ăngghen viết về chế độ dân chủ tư sản như sau: Chế độ dân chủ, giống như bất kỳ chính thể nào khác, cũng là sự dối trá, chẳng qua cũng chỉ là sự giả dối… Tự do chính trị là tự do giả, là chế độ nô lệ tồi nhất; nó chỉ là cái vẻ bề ngoài của tự do, và vì thế, trên thực tế, nó là chế độ nô lệ. Bình đẳng chính trị cũng như vậy, vì thế chế độ dân chủ (tức là dân chủ trong chủ nghĩa tư bản –

36. 32 C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng, việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với bảo đảm các quyền tự do, bình đẳng của công dân. Theo các ông: “… những quyền tự do như tự do báo chí, tự do lập hội và tự do hội họp, quyền đầu phiếu phổ thông, quyền tự trị của địa phương – những quyền mà nếu không có… thì công nhân sẽ không bao giờ có thể giải phóng được mình” [20, tr.98-99]. Trong bối cảnh giữa thế kỷ XIX, khi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới ở giai đoạn phôi thai về mặt lý luận, các ông đã nhận ra cơ sở nền tảng để thực hiện nó: “Mặc dầu quần chúng không phải bao giờ cũng hiểu được rõ ràng cái ý nghĩa duy nhất chính xác đó của dân chủ nhưng đối với họ, cái khái niệm dân chủ đã bao hàm khát vọng, tuy còn mơ hồ, về bình đẳng xã hội” [16, tr.791]. Rất nhiều công trình nghiên cứu sau này đều có nhận định, quyền bình đẳng xã hội của các công dân là tiền đề quan trọng nhất trong thực hiện dân chủ [2, tr.10-21]. Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, từ thực tiễn của cách mạng vô sản Nga, V.I.Lênin đã tiếp tục hoàn thiện, phát triển quan niệm về dân chủ. Trước hết, V.I.Lênin đã đưa ra những đánh giá khách quan, khoa học về nền dân chủ tư sản. Theo ông, tư tưởng dân chủ tư sản là một nấc thang trong tiến trình phát triển của tư tưởng dân chủ của nhân loại. Sự vận hành của chế độ dân chủ tư sản trên thực tế đã tạo ra những thành tựu dân chủ quan trọng. Tuy nhiên, hạn chế lịch sử của nó là “tính ước lệ, hạn hẹp”. Xã hội tư bản chủ nghĩa, xét trong những điều kiện phát triển thuận lợi nhất của nó, đem lại một chế độ dân chủ ít nhiều đầy đủ trong chế độ cộng hoà dân chủ. Những chế độ dân chủ ấy luôn bị bó buộc trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư bản chủ nghĩa. Nó luôn là chế độ dân chủ đối với thiểu số, là chế độ dân chủ của giai cấp có của, giàu có. So sánh nền dân chủ tư sản và nền dân chủ vô sản, trong tác phẩm Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky, V.I.Lênin đã có một luận điểm nổi tiếng khi khẳng định “nền dân chủ vô sản hơn gấp triệu lần nền dân chủ tư sản”. Những luận cứ điển hình mà ông đưa ra để làm sáng

37. 33 tỏ quan điểm của mình là: Sau khi đánh đổ chế độ Nga sa hoàng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính quyền cũ, xây dựng hệ thống chính quyền mới gọi là các “xô viết”, về thực chất, quyền lực của các xô viết này là do giai cấp công nhân và nhân dân lao động quyết định. Cũng tại nước Nga, sau khi cách mạng thành công, các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân như tự do hội họp, tự do đi lại, tự do báo chí… được thực hiện trong thực tế cho hầu hết nhân dân lao động: “quyền tự do xuất bản không còn là một cái gì giả dối nữa, vì các nhà in giấy đã được tước đoạt khỏi tay giai cấp tư sản. Các lâu đài, các dinh thự, các tư thất, các nhà ở tốt nhất… cũng thế. Có thể thấy tư tưởng nổi bật của ông về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ dựa trên và gắn liền với các quyền tự do cơ bản của con người – điều mà nhà triết học Anh John Locke đã đưa ra từ thế kỷ XVII. Các quyền ấy được thực hiện trong thực tế cho hầu hết nhân dân lao động chứ không phải chỉ là những lời tuyên bố suông [96]. Liên hệ với tình hình thực tế cuộc sống của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong những năm đầu thế kỷ XX – khi mà đại bộ phận nhân dân lao động tại các nước Á, Phi, Mỹ Latinh đang chịu cảnh nô lệ; giai cấp công nhân và nhân dân lao động tại các nước tư bản đang bị bóc lột sức lao động một cách nặng nề sẽ thấy rõ, V.I.Lênin đã từ những ví dụ thực tế và sinh động đó mà đi đến kết luận: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần, chính quyền xô viết, so với các cộng hòa tư sản dân chủ nhất, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần” [126, tr.312-313]. 2.1.2. Một số cách tiếp cận xung quanh khái niệm dân chủ hiện nay Từ những nội dung cơ bản ban đầu của khái niệm, trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tùy theo sự vận động, biến đổi phức tạp của thực tiễn dân chủ, khái niệm dân chủ được người ta hiểu và sử dụng với nhiều chiều cạnh, ý nghĩa khác nhau. Trên phương diện học thuật, hiện tượng

39. 35 giành lấy quyền lực nhà nước (giành lấy dân chủ). Nhưng, khi đã có chính quyền, một trong những nhiệm vụ cơ bản về mặt chính trị của chủ nghĩa xã hội là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa mà vẫn tiếp tục thực hành dân chủ theo tinh thần xóa bỏ giai cấp, dân chủ tiêu vong thì sẽ là không phù hợp. Tính giai cấp của dân chủ là một thực tế lịch sử. Chừng nào xã hội còn tồn tại giai cấp và nhà nước thì bản chất giai cấp của dân chủ vẫn còn tồn tại. Trong hoàn cảnh lịch sử đó, bản chất giai cấp của dân chủ đặc biệt nổi bật trong dân chủ chính trị. Nhưng trong điều kiện như thế, nếu tuyệt đối hóa tính giai cấp của dân chủ, đề cao dân chủ về chính trị, xem nhẹ dân chủ trên các lĩnh vực khác thì cũng tai hại không kém việc phủ nhận, lảng tránh bản chất giai cấp của dân chủ [79, tr.28-32]. Thứ hai, cách tiếp cận coi nhân quyền là bộ phận cốt lõi của dân chủ, đồng thời cho rằng nhân quyền cao hơn chủ quyền; và, xem dân chủ là một giá trị phổ biến, có tính toàn nhân loại, thời gian và không gian không có giá trị nhiều trong việc làm nó biến đổi. Ở vế thứ nhất, quan niệm trên có mặt hợp lý nhưng có điểm sai lầm. Đúng ở chỗ: nhân quyền là một bộ phận của dân chủ và đấu tranh cho quyền con người là một bộ phận của cuộc đấu tranh cho dân chủ. Sai lầm ở chỗ, đã nhấn mạnh nhóm quyền dân sự, chính trị và tự do cá nhân, coi đây là “chuẩn mực quốc tế” về dân chủ, nhân quyền; coi “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, nhân quyền không còn là công việc thuộc nội bộ của một nước và cho rằng, cộng đồng quốc tế có quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ của một quốc gia để can thiệp nhân đạo và bảo vệ nhân quyền… Quan điểm trên chỉ là một hình thức biến tướng của chủ nghĩa thực dân mới. Bởi vì trước đây, để mở rộng thuộc địa, các nước đế quốc thường sử dụng phương thức cổ điển là đánh thành và chiếm đất. Còn ngày nay, họ trắng trợn can thiệp vào nội bộ các nước có chủ quyền bằng nhiều âm mưu, thủ

40. 36 đoạn và hình thức khác nhau, không hẳn vì mục đích xâm chiếm lãnh thổ mà vì muốn áp đặt quan niệm “nhân quyền” của mình đối với quốc gia, dân tộc khác. Cần phải nói ngay rằng, những người đưa ra và cổ súy cho luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, hay “nhân quyền toàn cầu”, “nhân quyền không biên giới”, ngay từ đầu họ đã cố tình hoặc lảng tránh một lẽ đơn giản là, trên thế giới không thể có một con người nào sống ngoài cộng đồng quốc gia, dân tộc; càng không có cái thế giới tồn tại mà không cần rạch ròi biên giới giữa các quốc gia. Họ cũng bỏ qua một sự thật hiển nhiên là, thời đại mà chúng ta đang sống có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, hàng nghìn dân tộc khác nhau, theo những tôn giáo khác nhau và có truyền thống văn hóa khác nhau. Trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đó, con người thuộc các chế độ chính trị – xã hội khác nhau, cùng một lúc chịu sự tác động của hai mối quan hệ: quan hệ về nhân quyền và quan hệ về chủ quyền quốc gia. Quan hệ nhân quyền là quan hệ về cá nhân, còn quan hệ chủ quyền quốc gia là quan hệ cộng đồng các cá nhân trong quốc gia đó. Hai mối quan hệ cơ bản của con người là nhân quyền và chủ quyền quốc gia không cùng một bậc, không cùng một tuyến tiếp cận, và do đó, không thể đem so sánh cái này cao hoặc thấp hơn cái kia. Việc quy chủ quyền quốc gia về cùng một bậc với nhân quyền, rồi coi “nhân quyền” cao hơn “chủ quyền” là một việc làm khiên cưỡng, không lôgíc, phản khoa học và thiếu tính thuyết phục. Thực tế lịch sử cho thấy, đối với một dân tộc còn đang bị đế quốc đô hộ thì yêu cầu quan trọng nhất là quyền được sống trong một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Không có độc lập dân tộc, không có chủ quyền quốc gia thì không thể có quyền công dân, quyền con người theo đúng nghĩa của các từ đó. Truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông cho chúng ta bài học về quyền dân chủ, quyền con người. Nước mất thì nhà tan, dân khổ; nước thịnh thì nhà yên, dân cường. Giành được chủ quyền là điều kiện để có nhân quyền. Bảo đảm độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là một bộ phận cốt lõi, là điều

41. 37 kiện khởi đầu trong cuộc đấu tranh cho quyền công dân, quyền con người. Nhân quyền trước hết là quyền của mỗi người, mỗi dân tộc được tự quyết, được sống trong độc lập, tự do và được phát triển về mọi mặt; các quyền dân sự, chính trị phải gắn liền với các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; tự do cá nhân phải gắn với lợi ích chung của dân tộc và trách nhiệm, nghĩa vụ với cộng đồng. Bảo đảm và thực hiện quyền con người trước hết là trách nhiệm quốc gia, không thể có sự áp đặt, can thiệp từ bên ngoài. Vế thứ hai của quan niệm trên xem dân chủ là một giá trị phổ biến, có tính toàn nhân loại, phi giai cấp, phi lịch sử. Sai lầm của quan niệm này là đã tuyệt đối hóa cái chung, cái phổ biến của dân chủ, xem chúng tồn tại độc lập không phụ thuộc vào cái riêng. Những nước nào không thực hiện theo những cái chung này thì không được họ xem là dân chủ. Trên thực tế, quan niệm này tuyệt đối hóa các giá trị dân chủ, nhân quyền đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, nhất là ở phương Tây, đặc biệt là dân chủ, nhân quyền kiểu Mỹ. Họ xem nhân quyền phương Tây, dân chủ kiểu Mỹ là “khuôn vàng, thước ngọc” buộc mọi nước phải khuôn theo. Theo đó, dân chủ đồng nghĩa với Mỹ, với phương Tây. Họ xem nhân quyền phương Tây, dân chủ kiểu Mỹ là chuẩn mực quốc tế mà các nước tất yếu phải tuân thủ trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Chúng ta không phủ nhận, giữa các loại hình dân chủ, nhân quyền khác nhau đều có những giá trị chung, mang tính phổ biến. Nhưng thực tế lịch sử chứng minh rằng, những cái chung, phổ biến ấy bao giờ cũng biểu hiện sự tồn tại của nó bằng nhiều sắc thái, mức độ phong phú khác nhau thông qua những nền dân chủ cụ thể. Các giá trị dân chủ, nhân quyền đó được thể hiện dưới những hình thức khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử và văn hóa. Mô hình dân chủ của phương Tây và Mỹ chỉ là một trong những kiểu phát triển, một trong những phương án phát triển dân chủ của chủ nghĩa tư bản. Mặc dù nó tạo ra không ít giá trị dân chủ có tính phổ biến nhưng thực chất đó chỉ là dân chủ của giai cấp tư sản, dân chủ của một số ít người trong

Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Nền Lập Hiến Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

1. Hiến pháp năm 1946 Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh (10 ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ) bản Hiến pháp năm 1946 không được chính thức công bố, nhưng dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần của các quy định trong Hiến pháp năm 1946 đã được thực hiện trên thực tế căn cứ vào tình hình cụ thể. 2. Hiến pháp năm 1959 3. Hiến pháp năm 1980 4. Hiến pháp năm 1992 5. Hiến pháp năm 2013 Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đến nay, tình hình trong nước, khu vực và quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạp hơn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để bảo đảm đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, từ năm 2011 đến năm 2013, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã tổ chức tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại 3 kỳ họp. Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã quyết định tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Việc lấy ý kiến Nhân dân đã được các cấp, các ngành triển khai, thu hút sự tham gia sâu rộng, nghiêm túc, tích cực, tâm huyết của đông đảo các tầng lớp nhân dân và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý dân chủ, sâu rộng trong cả hệ thống chính trị. Ngày 28/11/2013 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Là bản Hiến pháp được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, chắt lọc, tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp xây dựng của Nhân dân, của các vị đại biểu Quốc hội, các chuyên gia, nhà khoa học, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, đảm bảo chính trị, pháp lý vững chắc cho dân tộc ta, Nhân dân ta và Nhà nước ta vượt qua những thách thức, khó khăn, vững bước tiến lên trong thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế. Đây cũng là bản Hiến pháp vừa kế thừa được các giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992, vừa thể chế hóa các quan điểm, phương hướng, nội dung phát triển đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Với bố cục 11 chương, 120 điều, giảm 01 chương và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thể hiện sâu sắc, toàn diện sự đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo./.          

Hiệp Định Tương Trợ Tư Pháp Và Pháp Lý Về Dân Sự Và Hình Sự Giữa Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Tiệp Khắc

HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VÀ PHÁP LÝ

Về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc.

Với lòng mong muốn phát triển hơn nữa những quan hệ anh em giữa hai Nhà nước và nhân dân hai nước, trên tinh thần hữu nghị và hợp tác, và để tạo thuận lợi cho các quan hệ pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa hai nước.

Trên cơ sở Hiệp ước hữu nghị và hợp tác ký kết giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc, ngày 14 tháng 2 năm 1980.

Đã quyết định ký Hiệp định này.

Hai bên đã chỉ định đại diện toàn quyền của mình:

Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cử:

Phan Hiền, Bộ trưởng Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc cử:

Antonin Kaspar, Bộ trưởng Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Séc.

Phần 1

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Bảo hộ pháp lý

1. Công dân nước ký kết này được hưởng trên lãnh thổ nước ký kết kia, đối với nhân thân và sở hữu của mình, cùng những quyền và cùng sự bảo hộ pháp lý như công dân nước ký kết kia.

2. Phù hợp với quy định của khoản 1 điều nay, công dân nước ký kết này được tự do liên hệ với các tòa án và các cơ quan khác có thẩm quyền về dân sự và hình sự của nước ký kết kia và quyền đưa đơn kiện trước các cơ quan đó để bảo vệ các quyền nhân thân và quyền tài sản của mình.

3. Các việc dân sự nói trong Hiệp định này cũng bao gồm các việc về gia đình và lao động.

4. Những quy định của Hiệp định này đối với công dân cũng áp dụng đối với pháp nhân của hai nước ký kết.

Điều 2. Tương trợ tư pháp

1. Các Tòa án, các Viện kiểm sát và các cơ quan khác của hai nước ký kết, có thẩm quyền về dân sự và hình sự (sau đây gọi chung là cơ quan tư pháp) tương trợ nhau về mặt tư pháp theo những điều kiện quy định trong Hiệp định này.

2. Các cơ quan tư pháp tương trợ nhau trong việc thực hiện các hành vi tố tụng, nhất là trong việc lấy lời khai của người làm chứng, của đương sự, của bị can hoặc của người khác, trong việc tiến hành giám định, trong việc lập chuyển và tống đạt giấy tờ.

Điều 3. Cách thức liên hệ

1. Các cơ quan tư pháp của các nước ký kết liên hệ với nhau qua cơ quan trung ương của mình trừ trường hợp Hiệp định này quy định khác.

a) Về phía Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

– Viện kiểm sát nhân dân tối cao

– Bộ Tư pháp

b) Về phía Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc

– Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc

– Bộ Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Séc

– Bộ Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Slovac.

Điều 4. Tiếng nói

Để thi hành Hiệp định này, khi liên hệ với nhau, các cơ quan của hai nước ký kết dùng tiếng nói chính thức của nước mình hoặc tiếng Nga, trừ phi Hiệp định này quy định khác.

Điều 5. Ủy thác tư pháp

1. Nếu Hiệp định này không có quy định khác, tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở bản ủy thác tư pháp phù hợp với pháp luật của nước được ủy thác.

2. Bên ủy thác tư pháp và các văn bản phụ đính phải được Nhà chức trách có thẩm quyền ký tên và đóng dấu chính thức. Nếu cần kèm theo bản dịch thì bản dịch phải do người phiên dịch được ủy nhiệm cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự của một nước ký kết chứng nhận là dịch đúng.

3. Trong việc tương trợ tư pháp, cơ quan của mỗi nước ký kết có thể dùng giấy tờ in sẵn của mình.

4. Bản ủy thác tư pháp cần nêu rõ:

a) Tên cơ quan tư pháp ủy thác;

b) Tên cơ quan tư pháp được ủy thác;

c) Vụ kiện chính xác đòi hỏi việc tương trợ tư pháp, mục đích yêu cầu của việc ủy thác và những tài liệu cần thiết để thực hiện việc ủy thác;

d) Họ, tên, quốc tịch, nơi thường trú hoặc tạm trú, nghề nghiệp của mỗi đương sự, bị can, bị cáo, người bị kết án, người làm chứng, và của người bị thiệt hại nếu có;

e) Họ, tên và địa chỉ của những người đại diện hợp pháp trong trường hợp những người này đã được chỉ định.

6. Nếu là ủy thác lấy lời khai thì còn phải ghi rõ những câu hỏi cần đặt.

7. Trong những vụ án hình sự, giấy ủy thác còn phải nêu rõ tội danh và mô tả hành vi phạm tội, và trong chừng mực có thể, nêu rõ ngày sinh của các bị can và họ tên của bố mẹ họ.

Điều 6. Thực hiện ủy thác tư pháp

1. Để thực hiện ủy thác tư pháp thì áp dụng Điều 5 khoản 1 của Hiệp định này. Theo yêu cầu của bên ủy thác có thể thực hiện việc ủy thác tư pháp theo cách thức nói trong giấy ủy thác nếu làm như vậy không trái với pháp luật của nước được ủy thác.

2. Khi được yêu cầu cơ quan tư pháp được ủy thác sẽ kịp thời thông báo cho cơ quan tư pháp ủy thác về nơi và ngày thực hiện việc ủy thác.

3. Trong trường hợp cơ quan được ủy thác không phải là cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc ủy thác, thì cơ quan đó phải chuyển ngay giấy ủy thác cho cơ quan có thẩm quyền.

4. Nếu không thể thực hiện việc ủy thác, cơ quan được ủy thác trả lại giấy tờ cho cơ quan ủy thác và nói rõ lý do.

Điều 7. Chuyển giao giấy tờ

1. Những giấy tờ về dân sự cần tống đạt cho người thường trú trên lãnh thổ nước ký kết kia phải kèm hai bản vào giấy yêu cầu tống đạt.

2. Đối với giấy cần tống đạt mà không viết bằng tiếng của nước ký kết được ủy thác hoặc không kèm theo bản dịch ra tiếng nước này, thì nước được ủy thác chỉ tống đạt khi đương sự đồng ý nhận.

3. Về chứng minh việc tống đạt giấy tờ thì tuân theo pháp luật của nước đã nhận ủy thác. Giấy biên nhận về tống đạt phải ghi rõ nơi, ngày và cách thức tống đạt.

4. Nếu không thể tống đạt giấy tờ ở địa chỉ đã ghi, cơ quan nhận ủy thác sẽ tiến hành những biện pháp cần thiết để xác định địa chỉ đúng của người nhận. Trong trường hợp không có khả năng xác định địa chỉ này, cơ quan nhận ủy thác thông báo cho cơ quan ủy thác và đồng thời trả lại giấy tờ.

5. Theo yêu cầu của cơ quan ủy thác, cơ quan được ủy thác trong khuôn khổ pháp luật hiện hành của nước mình, sẽ tìm mọi cách để tống đạt giấy tờ cho đích thân người nhận.

Điều 8. Tống đạt giấy tờ cho công dân nước mình

Các nước ký kết có thể tống đạt giấy tờ cho công dân của mình qua cơ quan ngoại giao cũng như cơ quan lãnh sự. Trong trường hợp này, không được sử dụng các biện pháp cưỡng chế.

Điều 9. Bảo hộ người làm chứng và người giám định

1. Một người làm chứng hoặc một người giám định thường trú trên lãnh thổ nước ký kết này không buộc phải trình diện khi có giấy gọi của một cơ quan nước ký kết kia vì vậy giấy gọi không được có khoản đe dọa dùng biện pháp cưỡng chế nếu không trình diện.

3. Người làm chứng hoặc người giám định sẽ không được hưởng sự bảo hộ nói ở khoản 2 điều này nếu họ không rời khỏi lãnh thổ nước ký kết đã gọi họ, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được báo là sự có mặt của họ không còn cần thiết nữa, không tính vào thời hạn này những ngày người làm chứng, người giám định buộc phải ở lại vì những lý do ngoài ý muốn của họ.

4. Những người bị gọi có quyền được thanh toán tiền tàu xe và phí tổn lưu trú, cũng như được hưởng một khoản phụ cấp, ngoài ra người giám định còn được hưởng thù lao giám định. Trong giấy gọi sẽ ghi rõ các khoản phụ cấp được hưởng, nếu yêu cầu, người bị gọi được ứng trước một phần các phụ cấp.

5. Nếu một người được gọi để làm chứng lại đang bị bắt giam trên lãnh thổ của nước ký kết được yêu cầu, các cơ quan của nước này nói trong khoản 2 Điều 3 của Hiệp định sẽ thi hành những biện pháp cần thiết để chuyển người đó sang lãnh thổ của nước ký kết yêu cầu, với điều kiện là người đó tiếp tục bị giam ở nước này và được chuyển hóa lại ngay sau khi đã khai.

Điều 10. Chi phí trong việc tương trợ tư pháp

1. Mỗi nước ký kết gánh chịu những chi phí về tương trợ tư pháp trên lãnh thổ của mình.

2. Khi được yêu cầu, cơ quan nhận ủy thác thông báo cho cơ quan ủy thác số tiền chi phí, số tiền này nếu thu được, sẽ thuộc quyền của nước ủy thác.

Điều 11. Xác định địa chỉ

Các cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết sẽ giúp nhau tìm địa chỉ của những người đang trên lãnh thổ nước mình, khi việc này cần thiết để công dân nước kia đòi thực hiện quyền lợi.

Điều 12. Thông tin pháp luật

Các cơ quan trung ương của hai nước ký kết khi được yêu cầu, sẽ thông báo cho nhau về pháp luật tư pháp đang có hiệu lực hoặc trước đây đã có hiệu lực trên lãnh thổ nước mình, kể cả gửi văn bản và thông tin về các vấn đề pháp lý và về án lệ.

Điều 13. Giá trị các giấy tờ

1. Giấy tờ do các cơ quan có thẩm quyền lập ra hoặc chứng nhận ở nước ký kết này theo đúng thể thức quy định được miễn chứng thực khi đem sử dụng ở nước ký kết kia. Quy định này cũng áp dụng đối với các giấy tờ có chữ ký đã được chứng thực theo đúng thể thức của một nước ký kết.

2. Quy định ở khoản 1 điều này cũng áp dụng đối với các bản sao, và các bản dịch được một cơ quan có thẩm quyền chứng thực.

3. Giấy tờ được coi là chính thức ở nước ký kết này cũng có giá trị là giấy tờ chính thức ở nước ký kết kia.

Điều 14. Từ chối tương trợ tư pháp

Có thể từ chối việc tương trợ tư pháp nói trong Hiệp định này nếu nước ký kết được yêu cầu cho rằng việc tương trợ tư pháp sẽ xâm phạm đến chủ quyền, hoặc đến an ninh hoặc đến các nguyên tắc pháp luật cơ bản của mình.

Phần II

CÁC VẤN ĐỀ DÂN SỰ

Chương I

NHỮNG VẤN ĐỀ THUỘC QUY CHẾ NHÂN THÂN

Điều 15. Năng lực sử dụng quyền và năng lực hành vi

1. Năng lực sử dụng quyền và năng lực hành vi của công dân mỗi nước ký kết do pháp luật của nước mà người đó là công dân quy định.

2. Năng lực pháp lý của một pháp nhân do pháp luật của nước ký kết đã thành lập pháp nhân quy định.

Điều 16. Mất và hạn chế năng lực hành vi

1. Trừ phi Hiệp định này quy định khác, cơ quan tư pháp của nước ký kết mà một người là công dân là cơ quan có thẩm quyền để tước hoặc hạn chế năng lực hành vi của người đó.

2. Nếu thấy có lý do để tước hoặc hạn chế năng lực hành vi của công dân nước ký kết kia thường trú ở nước mình, cơ quan tư pháp của nước ký kết này sẽ thông báo cho cơ quan tư pháp có thẩm quyền của nước ký kết kia biết. Cũng có thể quyết định những biện pháp tạm thời cần thiết để bảo vệ nhân thân và tài sản của người công dân nước ký kết kia.

3. Nếu trong thời hạn ba tháng kể từ ngày được thông báo về những sự việc nêu ở khoản 2 điều nay, có quan tư pháp của nước ký kết có công dân kia không tự mình tiến hành thủ tục cần thiết hoặc không bày tỏ thái độ thì cơ quan tư pháp của nước ký kết này sẽ tiến hành thủ tục tước hoặc hạn chế năng lực hành vi. Quyết định về việc này sẽ chuyển cho cơ quan tư pháp có thẩm quyền của nước ký kết có công dân.

5. Cũng áp dụng những quy định của điều này trong trường hợp phục hồi hoặc thay đổi năng lực hành vi.

Điều 17. Tuyên bố chết

1. Việc tuyên bố một người chết thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp nước ký kết mà theo những tin tức cuối cùng, người đó là công dân trước khi chết.

2. Cơ quan tư pháp của nước ký kết này có thể tuyên bố chết cũng như xác định ngày chết đối với công dân nước ký kết kia, theo yêu cầu của những người sống trên lãnh thổ nước ký kết kia, khi họ chứng minh là có quyền lợi theo pháp luật của nước ký kết này.

3. Trong những trường hợp nói ở khoản 1 và khoản 2 điều nay, các cơ quan tư pháp áp dụng pháp luật của nước mình.

4. Những quyết định đã ra căn cứ vào khoản 2 điều này chỉ có hiệu lực pháp lý trên lãnh thổ nước ký kết có cơ quan tư pháp đã ra quyết định.

Chương II

NHỮNG VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH

Điều 18. Kết hôn

1. Những điều kiện cho phép kết hôn giữa công dân nước ký kết này và công dân nước ký kết kia tùy thuộc pháp luật của nước mà họ là công dân. Về những trường hợp ngăn cấm tuyệt đối việc kết hôn, ngoài việc tuân theo pháp luật nước mình, công dân còn phải tuân theo pháp luật của nơi tiến hành kết hôn.

2. Về hình thức kết hôn thì tuân theo pháp luật của nơi kết hôn.

3. Về hình thức kết hôn trước đại diện cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự thì tuân theo pháp luật của nước ký kết có cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự.

4. Việc kết hôn giữa công dân hai nước ký kết với nhau, nhất thiết phải theo hình thức Nhà nước mới có giá trị.

Điều 19. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ chồng

1. Nếu hai vợ chồng cùng là công dân nước ký kết này và cùng thường trú ở nước ký kết kia, thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa họ sẽ tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân.

2. Nếu hai vợ chồng cùng là công dân một nước ký kết, nhưng người thường trú ở nước ký kết này, người thường trú ở nước ký kết kia thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ sẽ tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân.

3. Nếu hai vợ chồng, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ sẽ tuân theo pháp luật của nước ký kết nơi họ đang hoặc đã cùng thường trú.

4. Nếu hai vợ chồng nói ở khoản 3 đã không có nơi thường trú chung ở nước ký kết nào, thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ sẽ giải quyết theo pháp luật của nước ký kết có tòa án nhận đơn kiện.

5. Cơ quan tư pháp của nước ký kết mà hai vợ chồng là công dân có thẩm quyền để giải quyết về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ. Nếu khi mở đầu vụ kiện, khi vợ chồng cùng thường trú ở nước ký kết kia thì cơ quan tư pháp của nước ký kết kia cũng có thẩm quyền.

6. Trong trường hợp hai vợ chồng, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi họ đang hoặc đã cùng thường trú có thẩm quyền để giải quyết quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của họ. Nếu họ đã không có nơi thường trú chung thì cơ quan tư pháp của cả hai nước ký kết đều có thẩm quyền.

Điều 20. Ly hôn

1. Việc ly hôn sẽ tuân theo pháp luật của nước ký kết mà hai vợ chồng là công dân khi đưa đơn ly hôn.

2. Nếu hai vợ chồng, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì cơ quan tư pháp tiến hành tố tụng ly hôn sẽ xét xử theo pháp luật của nước mình.

3. Đối với những vụ ly hôn nói ở khoản 1 điều này, thẩm quyền thuộc cơ quan tư pháp của nước ký kết mà hai vợ chồng là công dân khi đưa đơn ly hôn. Nếu khi đưa đơn ly hôn, hai vợ chồng thường trú ở nước ký kết kia thì cơ quan tư pháp của nước ký kết kia cũng có thẩm quyền.

4. Đối với những vụ ly hôn nói ở khoản 2 điều này, thẩm quyền thuộc cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi hai vợ chồng đang hoặc đã cùng thường trú. Nếu người thường trú ở nước ký kết này, người thường trú ở nước ký kết kia thì thẩm quyền thuộc cơ quan tư pháp của cả hai nước.

Điều 21. Kết hôn vô hiệu

1. Việc xác định có kết hôn hay không có kết hôn và việc tuyên bố tiêu hủy kết hôn sẽ tuân theo pháp luật của nước ký kết nào đã được áp dụng khi kết hôn theo Điều 12 Hiệp định này.

2. Về thẩm quyền của cơ quan tư pháp thì tuân theo quy định của Điều 20 Hiệp định này.

Điều 22. Quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con cái

1. Việc truy nhận, phủ nhận hoặc xác nhận quan hệ cha con thì tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người con là công dân khi sinh ra.

2. Về hình thức truy nhận quan hệ cha con, chỉ cần tuân theo pháp luật của nước ký kết nơi truy nhận.

3. Quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con cái do pháp luật của nước ký kết mà người con là công dân điều chỉnh.

4. Cơ quan tư pháp của nước ký kết mà người con là công dân cũng như cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi người con thường trú đều có thẩm quyền để giải quyết các quan hệ nói trong các khoản của điều này.

NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG

Điều 23.

1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con cái thì tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đòi cấp dưỡng là công dân.

2. Cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi người đòi cấp dưỡng thường trú, có thẩm quyền để giải quyết các vụ kiện ở khoản 1 điều này.

Điều 24.

Hai nước ký kết sẽ tiến hành mọi biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng và việc thi hành bản án hoặc quyết định khác của cơ quan tư pháp về cấp dưỡng. Hai nước ký kết sẽ có những biện pháp làm cho việc chuyển tiền cấp dưỡng cho trẻ em chưa thành niên được ưu tiên tiến hành và không hạn chế.

Điều 25.

Trong trường hợp cơ quan tư pháp của nước ký kết này xét đơn đòi cấp dưỡng đối với một người cư trú ở nước ký kết kia, cơ quan tư pháp của nước ký kết kia khi được yêu cầu sẽ giúp xác định nguồn và số thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

NUÔI CON NUÔI

Điều 26.

1. Về nhận con nuôi và hủy bỏ việc nuôi thì tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đứng nuôi là công dân khi mở đầu thủ tục. Trong trường hợp nói ở khoản 2 Điều 27 Hiệp đình này, hai vợ chồng, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì phải tuân thep pháp luật của cả hai nước.

2. Về sự cần thiết phải được sự thỏa thuận của đứa bé hoặc những người khác và của các cơ quan thì tuân theo pháp luật cả nước ký kết mà đứa trẻ là công dân.

Điều 27.

1. Thẩm quyền giải quyết việc nhận con nuôi và việc hủy bỏ việc nuôi thuộc cơ quan của nước ký kết mà người đứng nuôi là công dân khi mở đầu thủ tục.

2. Nếu hai vợ chồng cùng đứng nuôi, người là công dân nước ký kết này, người là công dân nước ký kết kia, thì thẩm quyền giải quyết việc nhận nuôi và việc hủy bỏ việc nuôi, thuộc cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi họ đang hoặc đã cùng thường trú.

GIÁM HỘ

Điều 28.

1. Về mở đầu và chấm dứt việc giám hộ thì phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người được giám hộ là công dân.

2. Về quan hệ pháp lý giữa người giám hộ và người được giám hộ, thì tuân theo pháp luật của nước ký kết có cơ quan đã chỉ định người giám hộ.

3. Về nghĩa vụ nhận và thực hiện nghĩa vụ giám hộ tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người giám hộ là công dân.

4. Trừ phi Hiệp định này quy định khác, cơ quan của nước ký kết mà người được giám hộ là công dân có thẩm quyền để quyết định về mở đầu và chấm dứt giám hộ.

5. Những quyết định về mở đầu và chấm dứt việc giám hộ của cơ quan nước ký kết này đối với công dân nước mình cũng có hiệu lực ở nước ký kết kia.

Điều 29.

1. Nếu thấy cần thiết đặt một người giám hộ để bảo vệ quyền lợi của công dân nước ký kết kia thường trú hoặc tạm trú, hoặc có tài sản ở nước ký kết này, thì cơ quan tư pháp của nước ký kết này, báo ngay cho cơ quan ngoại giao hay cơ quan lãnh sự của nước ký kết kia.

2. Trong những trường hợp khẩn cấp, cơ quan tư pháp có thẩm quyền của nước ký kết này sẽ tiến hành những biện pháp tạm thời cần thiết, thep pháp luật của nước mình và thông báo ngay cho cơ quan ngoại giao hay cơ quan lãnh sự của nước ký kết kia biết như nói ở khoản 1 điều này. Những biện pháp tạm thời này, có hiệu lực chừng nào mà cơ quan tư pháp của nước ký kết kia chưa quyết định biện pháp nào khác, hoặc có quyết định nhưng chưa thông báo cho cơ quan đã quyết định biện pháp tạm thời biết.

Điều 30.

1. Cơ quan tư pháp có thẩm quyền theo khoản 4 Điều 28 Hiệp định này có thể chuyển giao việc giám hộ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết kia nếu người được giám hộ thường trú ở nước ký kết kia. Việc chuyển giao có hiệu lực kể từ khi cơ quan của nước ký kết kia đảm nhiệm việc giám hộ. Cơ quan này, khi đảm nhiệm việc giám hộ, phải thông báo ngay cho cơ quan đã chuyển giao.

2. Cơ quan có thẩm quyền đã đảm nhiệm việc giám hộ theo khoản 1 điều này, sẽ áp dụng pháp luật của nước mình. Cơ quan đó không có quyền quyết định về những vấn đề thuộc nhân thân người được giám hộ.

Điều 31. Hậu quả của việc bắt đầu thủ tục tố tụng

Nếu thủ tục tố tụng về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của vợ chồng, về ly hôn cũng như về quan hệ cha mẹ, con cái đã bắt đầu tiến hành trước cơ quan tư pháp của nước ký kết này thì không được tiến hành thủ tục tố tụng trước cơ quan tư pháp của nước ký kết kia để xét về cùng vụ kiện giữa cùng các bên đương sự. Cơ quan tư pháp nhận được đơn kiện sau phải tự động tuyên bố không có thẩm quyền.

Chương III

Điều 32. Hình thức các giấy tờ pháp lý

1. Hình thức các giấy tờ pháp lý phải tuân theo pháp luật hiện hành đối với mỗi loại giấy tờ. Tuy nhiên chỉ cần thỏa mãn những điều kiện quy định trong pháp luật của nơi giấy tờ được xuất trình.

2. Hình thức các giấy tờ pháp là bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước ký kết nơi có bất động sản.

Điều 33. Trách nhiệm về thiệt hại gây ra

Chương IV

VẤN ĐỀ THỪA KẾ

Điều 34. Nguyên tắc bình đẳng

1. Công dân nước ký kết này, do thừa kế theo pháp luật hay thừa kế theo di chúc, có thể được hưởng tài sản và quyền lợi khác ở nước ký kết kia theo cùng điều kiện và cùng mức độ như công dân của chính nước ký kết kia.

2. Công dân nước ký kết này có thể định đoạt bằng chúc thư về tài sản mà họ có ở nước ký kết kia.

Điều 35.

1. Pháp luật điều chỉnh quyền thừa kế động sản là pháp luật của nước ký kết mà người quá cố là công dân khi chết.

2. Pháp luật điều chỉnh quyền thừa kế bất động sản là pháp luật của nước ký kết nơi có bất động sản.

3. Việc phân biệt tài sản thừa kế là động sản hay bất động sản sẽ theo pháp luật của nước mà ở đó có tài sản thừa kế.

Điều 36.

1. Năng lực để lập hoặc bãi bỏ chúc thư cũng như thủ tục, phản đối việc lập hoặc bãi bỏ chúc thư vì lý do ý chí của người để lại chúc thư không bình thường hoặc vì việc bày tỏ ý chí ấy không được tự do, được xác định theo pháp luật của nước ký kết mà người để lại chúc thư là công dân khi lập hoặc bãi bỏ chúc thư.

2. Về hình thức lập hoặc bãi bỏ chúc thư thì tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người quá cố là công dân khi lập hoặc bãi bỏ chúc thư. Hình thức lập hoặc bãi bỏ chúc thư cũng có giá trị nếu tuân theo pháp luật của nước ký kết nơi lập hoặc bãi bỏ chúc thư.

Điều 37. Không có người thừa kế

Nếu không có người thừa kế theo pháp luật của nước ký kết có thẩm quyền về quan hệ thừa kế, thì động sản thuộc nước ký kết mà người quá cố là công dân khi chết; bất động sản thuộc nước ký kết nơi có bất động sản.

Điều 38.

1. Trừ đối với trường hợp nói ở khoản 2 Điều này, thẩm quyền giải quyết về thừa kế động sản thuộc về cơ quan tư pháp của nước ký kết mà người quá cố là công dân khi chết.

2. Trong trường hợp toàn bộ động sản thừa kế của công dân nước ký kết này lại để ở nước ký kết kia, thì cơ quan của nước ký kết kia có thể quyết định về khối động sản ấy khi được một người thừa kế nào đó yêu cầu và với điều kiện là tất cả những người thừa kế khác đều được biết và thỏa thuận.

3. Thẩm quyền giải quyết về thừa kế bất động sản bao giờ cũng thuộc cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi có bất động sản.

4. Quy định ở các khoản 1 và 3 Điều này cũng áp dụng để giải quyết các vụ kiện về thừa kế.

Điều 39. Bảo quản tài sản thừa kế

1. Nếu tài sản thừa kế của công dân nước ký kết kia lại để ở nước ký kết này, thì cơ quan của nước ký kết này sẽ tiến hành những biện pháp cần thiết phù hợp với pháp luật của nước mình để bảo quan và để quản lý tài sản thừa kế ấy. Cũng tiến hành những biện pháp này cả trong trường hợp tài sản thừa kế có thể sẽ được chuyển cho công dân của nước ký kết kia hưởng.

Điều 40. Công bố chúc thư

Cơ quan tư pháp nước ký kết nơi giữ chúc thư có thẩm quyền để mở ra công bố chúc thư, để xác định tình trạng và nội dung chúc thư cũng như để tiến hành tố tụng về giá trị của chúc thư. Trong trường hợp người quá cố là công dân của nước ký kết kia khi chết, thì gửi cho cơ quan tư pháp của nước ký kết kia một bản sao chúc thư được chứng thực, cũng như văn bản về tình trạng và nội dung chúc thư. Nếu được yêu cầu thì gửi bản gốc chúc thư.

Điều 41. Chuyển giao tài sản thừa kế

1. Nếu động sản thừa kế của một người khi chết là công dân nước ký kết kia, lại để ở nước ký kết này, thì tài sản đó sẽ được chuyển cho cơ quan tư pháp, cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự nước ký kết kia để giải quyết, với điều kiện là quy định nói ở điểm b, khoản 4 điều này được tuân theo.

2. Thuế về thừa kế bất động sản do nước ký kết nơi có bất động sản thu. Trừ phi Hiệp định này quy định khác, thuế về thừa kế động sản do nước ký kết mà người quá cố là công dân khi chết thu.

3. Trong trường hợp theo quyết định giải quyết việc thừa kế, tài sản thừa kế thuộc về những người thường trú ở nước ký kết kia, nhưng không có khả năng chuyển giao cho những người đã được xác định này, hoặc cho người thay mặt họ, thì chuyển giao tài sản thừa kế cho cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của nước ký kết kia.

4. Tài sản thừa kế được chuyển giao với những điều kiện sau đây:

a) Mọi khoản thuế và phụ thu về thừa kế đã được nộp đủ hoặc bảo đảm sẽ được nộp đủ.

b) Cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy phép cần thiết cho việc chuyển đồ vật hoặc tiền thừa kế ra nước ngoài.

c) Tất cả các món nợ của người quá cố, được khai báo trong thời gian quy định trong pháp luật của nước ký kết nơi để tài sản thừa kế, đã được thanh toán hoặc bảo đảm sẽ được thanh toán.

Chương V

ÁN PHÍ

Điều 42. Miễn cước án phí

1. Đối với công dân nước ký kết này tham gia tố tụng ở nước ký kết kia mà thường trú ở một trong hai nước thì không được bắt nộp bất cứ khoản án phí nào.

Cơ quan tư pháp nước ký kết này có thể yêu cầu công dân nước ký kết kia ứng trước một phần chi phí về xác định chứng cứ trong cùng điều kiện và cũng mức độ như đối với công dân nước mình

MIỄN ÁN PHÍ, LỆ PHÍ

Điều 43.

Công dân nước ký kết này được hưởng ở nước ký kết kia việc miễn án phí, miễn lệ phí công chứng và quyền được thay mặt không mất tiền theo cùng những điều kiện đối với công dân nước ký kết kia.

Điều 44.

1. Đơn xin miễn các khoản nói ở Điều 43 Hiệp đình này cũng có thể gửi đến cơ quan tư pháp nước ký kết mà người xin là công dân. Cùng với đơn xin miễn phí, có thể gửi đơn khởi kiện về vụ án trong đó xin miễn phí.

2. Đơn xin miễn phí theo khoản 1 điều này và đơn khởi kiện nếu có, sẽ được chuyển cho cơ quan tư pháp của nước ký kết kia theo cách thức nói ở Điều 3 Hiệp định này.

Điều 45.

1. Đơn xin miễn phí nói ở Điều 43 Hiệp định này phải kèm theo giấy chứng nhận về tình hình nhân thân, gia đình và tài sản của người xin giấy chứng nhận này do cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết nơi người xin thường trú cấp.

2. Trong trường hợp người xin không thường trú ở nước ký kết nào, giấy chứng nhận có thể do cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của nước ký kết mà người xin là công dân cấp.

3. Cơ quan tư pháp giải quyết việc xin miễn phí có thể yêu cầu cơ quan cấp giấy chứng nhận cho biết thêm tình hình hoặc giải thích các điểm cần thiết.

Chương VI

CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH

Điều 46.

b) Các quyết định về bồi thường thiệt hại trong các bản án hình sự.

2. Các nước ký kết công nhận và thi hành trên lãnh thổ nước mình theo quy định của Hiệp định này, các quyết định của trọng tài.

a) Nếu quyết định được căn cứ vào một hợp đồng viết xác định thẩm quyền của cơ quan trọng tài và quyết định ấy đã được cơ quan trọng tài ra trong phạm vi quyền hạn thỏa thuận;

b) Và nếu hợp đồng xác định thẩm quyền của cơ quan trọng tài có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đương sự đã lựa chọn, hoặc trong trường hợp không có pháp luật được lựa chọn thì nó phải có giá trị theo pháp luật của nước ký kết nơi công nhận và thi hành quyết định.

Điều 47.

1. Các quyết định nói ở Điều 46 Hiệp định này sẽ được công nhận và thi hành nếu đủ những điều kiện dưới này:

a) Quyết định đã có hiệu lực pháp luật và hiệu lực thi hành theo pháp luật của nước ký kết nơi đã có quyết định;

b) Cơ quan đã ra quyết định là cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Hiệp định này hoặc theo pháp luật của nước ký kết được yêu cầu công nhận hoặc thi hành quyết định;

c) Trước đây chưa có một quyết định có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ kiện giữa cùng một vụ kiện giữa cùng các bên đương sự của cơ quan tư pháp nước ký kết được yêu cầu thi hành quyết định, hoặc trước đây nước ký kết này chưa công nhạn một quyết định có hiệu lực pháp luật của nước thứ ba;

d) Quyết định đã được ra căn cứ vào pháp luật nói trong Hiệp định này;

e) Bên thua kiện đã không bị tước khả năng tham gia tố tụng và nếu thuộc trường hợp không có năng lực hành vi thì người ấy đã được thay mặt một cách hợp pháp; giấy gọi đến tòa án hoặc đơn khởi kiện đã được tống đạt cho đích thân người ấy;

f) Nước ký kết được yêu cầu thấy rằng việc công nhận và thi hành quyết định không phương hại đến chủ quyền hoặc an ninh hoặc không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình.

2. Những quyết định tạm thời và quyết định ứng trước trong lĩnh vực cấp dưỡng có thể thi hành ở nước ký kết được yêu cầu mặc dù có thể bị khiếu nại lên cơ quan tư pháp cấp trên.

Điều 48.

1. Những quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tư pháp nước ký kết này về hộ tịch của công dân nước ký kết kia sẽ được công nhận ở nước ký kết kia theo điều kiện nói trong Điều 47 Hiệp định này.

2. Bất cứ người nào có lợi ích cũng có thể yêu cầu tiến hành việc công nhận nói ở khoản 1 điều này.

Điều 49.

Những quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tư pháp một nước ký kết về hộ tịch của công dân nước mình đều có giá trị ở nước ký kết kia, không cần phải kiểm tra lại.

Điều 50.

Cơ quan có thẩm quyền để công nhận và ra lệnh thi hành các quyết định là cơ quan tư pháp của nước ký kết nơi quyết định phải được công nhận hoặc được thi hành.

Điều 51.

1. Đơn xin công nhận hoặc xin thi hành một quyết định có thể gửi thẳng cho cơ quan tư pháp có thẩm quyền của nước ký kết nơi công nhận hoặc thi hành quyết định, hoặc gửi cho cơ quan đã xử sơ thẩm. Ở trường hợp sau, đơn sẽ được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền của nơi công nhận hoặc thi hành quyết định, theo quy định của Điều 3 Hiệp định này.

2. Đơn xin công nhận và thi hành quyết định phải kèm theo:

a) Bản sao có thị thực của quyết định cùng văn bản xác nhận rằng quyết định đã có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành hoặc hiệu lực thi hành tạm thời, trừ phi bản thân quyết định đã thể hiện những điều này;

b) Giấy chứng nhận hoặc chứng thực là người thua kiện vắng mặt khi ở phiên tòa đã được gọi đúng thể thức trong thời hạn quy định và nếu là thuộc trường hợp không có năng lực hành vi, thì người đó được thay mặt một cách hợp pháp;

Điều 52.

1. Cơ quan quyết định về việc công nhận và việc cho thi hành quyết định chỉ kiểm tra xem đã đủ các điều kiện nói ở các Điều 47 và 51 Hiệp định này chưa. Nếu đủ thì cơ quan ấy công nhận và ra lệnh thi hành quyết định.

2. Trừ phi Hiệp định này quy định khác cơ quan tư pháp có thẩm quyền sẽ công nhận và cho thi hành các quyết định theo pháp luật của nước mình.

Điều 53.

1. Nếu một đương sự được miễn cược án phí theo Điều 42 Hiệp định này lại bị một quyết định có hiệu lực pháp luật buộc phải chịu án phí, cơ quan tư pháp của nước ký kết kia, theo yêu cầu của bên được hưởng, sẽ cho thi hành quyết định đó mà không thu một khoản tiền nào.

3. Cơ quan có thẩm quyền để ra lệnh thi hành quyết định về án phí theo khoản 1 Điều này chỉ cần kiểm tra xem quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật và hiệu lực thi hành chưa.

Điều 54.

Cơ quan của nước ký kết nơi nhà nước đã ứng trước các án phí sẽ yêu cầu cơ quan tư pháp của nước ký kết kia thu lại các khoản đó. Tiền thu được sẽ nộp cho cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của nước ký kết yêu cầu.

Điều 55.

Quy định của Hiệp định này về việc thi hành các quyết định không phương hại đến các quy định của các nước ký kết về việc chuyển ra nước ngoài tiền và đồ vật do thi hành các quyết định mà có.

Chương VII

CHUYỂN GIẤY HỘ TỊCH

Điều 56.

1. Nước ký kết này sẽ chuyển cho nước ký kết kia các trích lục hộ tịch của công dân nước ký kết kia. Việc chuyển tiến hành qua cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự và không lấy tiền.

2. Các nước ký kết khi được yêu cầu, gửi cho nhau và không lấy tiền theo cách thức nói ở khoản 1 điều này, các trích lục hộ tịch để các cơ quan có thẩm quyền sử dụng trong công tác.

3. Công dân nước ký kết này có thể trực tiếp gửi đến cho cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết kia để xin cấp trích lục hộ tịch hoặc tài liệu khác về hộ tịch. Các tài liệu sẽ gửi cho người xin qua cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của bên cấp, cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự khi giao tài liệu sẽ thu các lệ phí đã quy định.

Điều 57.

2. Nước ký kết này sẽ gửi cho nước ký kết kia bản sao những quyết định đã có hiệu lực pháp luật về hộ tịch của công dân nước ký kết kia.

3. Các tài liệu nói ở khoản 1 và 2 điều này được gửi theo như quy định ở khoản 1 Điều 56 Hiệp định này, và không lấy tiền.

Phần II

NHỮNG VẤN ĐỀ HÌNH SỰ

Chương I

Điều 58. Tương trợ tư pháp

Trừ phi phần này quy định khác, việc tương trợ tư pháp về hình sự sẽ theo các quy định của phần 1 Hiệp định này.

Điều 59. Tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Khi được nước ký kết kia yêu cầu, nước ký kết này theo pháp luật của mình, sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự của công dân mình đã có hành vi phạm tội ở nước ký kết kia.

2. Phạm vi cam kết tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự bao gồm cả những hành vi, theo pháp luật của nước ký kết yêu cầu thì là tội phạm, nhưng theo pháp luật của nước ký kết được yêu cầu, thì không phải là tội phạm và thuộc các cơ quan không phải là toà án xử lý.

3. Quyền được bồi thường của những người bị thiệt hại mà quá trình tiến hành tố tụng tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự phát hiện ra sẽ được xem xét trong quá trình này, các cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết đã tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự, theo pháp luật của nước mình, sẽ có những biện pháp cần thiết để những yêu cầu về bồi thường thiệt hại được giải quyết trong quá trình tố tụng hình sự.

Điều 60. Nội dung yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự

a) Những điểm về hộ tịch kể cả về quốc tịch,

b) Miêu tả sự việc xảy ra,

c) Những chứng cứ,

d) Bản sao các biên bản điều tra, xét hỏi nếu cần thiết, hoặc một số kết quả việc điều tra,

e) Điều luật áp dụng theo pháp luật của nơi đã xảy ra hành vi phạm tội, kể cả điều luật về thời hiệu,

f) Yêu cầu về bồi thường thiệt hại.

2. Khi nước ký kết được yêu cầu đặt vấn đề, nước ký kết yêu cầu sẽ cung cấp những chứng cứ bổ sung.

3. Nếu sau khi văn bản yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự được gửi di mà bị can bị tù hoặc bị tạm giam thì phải ra lệnh chuyển giao bị can cho nước ký kết được yêu cầu.

4. Nước ký kết được yêu cầu thông báo cho nước ký kết yêu cầu quyết định cuối cùng. Nếu có đòi hỏi, sẽ gửi cho nước ký kết yêu cầu bản sao toàn văn quyết định.

Chương II

DẪN ĐỘ

Điều 61. Nghĩa vụ dẫn độ

Khi được yêu cầu, các nước ký kết, theo quy định của Hiệp định này sẽ chuyển giao cho nhau những người đang ở trên lãnh thổ mình để nước ký kết kia truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bắt thi hành hình phạt.

Điều 62. Điều kiện dẫn độ

1. Chỉ dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự những người đã có hành vi mà theo pháp luật của cả hai nước ký kết, có thể bị phạt từ trên một năm.

2. Chỉ dẫn độ để bắt thi hành hình phạt những người phạm tội mà theo pháp luật của cả hai nước ký kết bị phạt tù trên một năm.

Điều 63. Từ chối dẫn độ

1. Sẽ không dẫn độ trong những trường hợp sau đây:

a) Đối tượng dẫn độ là công dân của nước ký kết được yêu cầu dẫn độ.

b) Tội phạm đã xảy ra trên lãnh thổ nước ký kết được yêu cầu dẫn độ.

c) Theo pháp luật của nước ký kết được yêu cầu dẫn độ không thể tiến hành tố tụng hoặc bắt chấp hành án vì lý do thời hiệu hoặc vì những lý do khác quy định trong pháp luật.

d) Theo pháp luật của một trong hai nước ký kết không thể chấp nhận việc dẫn độ.

e) Đối với đối tượng dẫn độ, về cùng hành vi phạm tội, đã có một bản án có hiệu lực pháp luật hoặc một quyết định miễn tố của nước ký kết yêu cầu dẫn độ.

2. Nếu từ chối dẫn độ, nước ký kết được yêu cầu sẽ thông báo cho nước ký kết yêu cầu biết và nêu rõ lý do.

Điều 64. Yêu cầu dẫn độ

1. Công văn yêu cầu dẫn độ để tiến hành tố tụng hình sự phải kèm theo lệnh bắt, bản mô tả hành vi phạm tội, bản nêu lên những chứng cứ dẫn đến nhận định là có hành vi phạm tội cũng như điều văn của pháp luật áp dụng đối với hành vi phạm tội và điều văn của pháp luật về thời hiệu. Nếu hành vi phạm tội đã gây thiệt hại thì nêu mức độ và số lượng thiệt hại.

2. Công văn yêu cầu dẫn độ để thi hành hình phạt phải kèm theo bản sao bản án đã có hiệu lực pháp luật cũng như điều văn của pháp luật áp dụng. Nếu người bị kết án đã thi hành một phần hình phạt thì nói rõ thời gian này.

3. Công văn yêu cầu dẫn độ, trong phạm vi có thể sẽ được kèm theo bản tả nhận dạng đối tượng dẫn độ, tài liệu về hoàn cảnh người đó, một bức ảnh cũng như những điều cần biết về quốc tịch và nơi cư trú, trừ phi những điều này đã được nói trong lệnh bắt hoặc trong bản án.

Điều 65. Bổ sung tài liệu về dẫn độ

Nếu công văn yêu cầu dẫn độ chưa đủ những tài liệu cần thiết, nước ký kết được yêu cầu có thể đòi bổ sung và định một thời hạn hai tháng cho việc bổ sung. Chiểu theo đề nghị của nước ký kết yêu cầu, thời hạn này có thể kéo dài nhưng tối đa không quá hai tháng nữa.

Điều 66. Bắt giữ để dẫn độ

Sau khi nhận được công văn yêu cầu dẫn độ, nước ký kết được yêu cầu sẽ tiến hành ngay những biện pháp cần thiết để bắt giữ người bị dẫn độ. Không cần thiết tiến hành những biện pháp này nếu rõ ràng là, theo hiệp định này, không thể dẫn độ.

Điều 67. Bắt giữ tạm thời

1. Thể theo yêu cầu của nước ký kết kia, nước ký kết này có thể bắt giữ cả trước khi nhận được công văn yêu cầu dẫn độ, nếu cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết viện dẫn một lệnh bắt hoặc một bản án đã có hiệu lực pháp luật sau này sẽ cùng gửi với công văn yêu cầu dẫn độ, yêu cầu giữ trước có thể chuyển bằng bưu chính, tê-lếch, rađio, điện thoại hoặc phương tiện khác tương tự.

2. Mặc dù không có yêu cầu theo khoản 1 điều nay, cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết này có thể bắt giữ một người đang có mặt ở nước mình nếu người đó đã phạm ở nước ký kết kia một tội đưa đến dẫn độ theo Hiệp định này.

3, Việc bắt giữ theo các khoản 1 và 2 điều này phải được thông báo ngay cho nước ký kết kia.

Điều 68.

1. Nước ký kết được yêu cầu có thể trả tự do cho người bị bắt giữ nếu không nhận được tài liệu bổ sung theo thời hạn định trong Điều 65 Hiệp định này.

2. Người bị bắt giữ theo Điều 67 Hiệp định này sẽ được trả tự do nếu nước ký kết đã bắt giữ không nhận được yêu cầu dẫn độ trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nước ký kết kia đã được thông báo về việc bắt giữ tạm thời.

Điều 69. Hoãn dẫn độ

Nếu người bị dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải thi hành hình phạt về một tội khác đã phạm ở nước ký kết được yêu cầu, có thể hoàn việc dẫn độ đến khi kết thúc tố tụng hình sự hoặc khi thi hành xong hình phạt.

Điều 70. Dẫn độ tạm thời

1. Nếu hoãn dẫn độ sẽ đưa đến thời hiệu hoặc gây trở ngại nghiêm trọng cho việc điều tra vụ án, thì theo yêu cầu có nói rõ lý do của nước ký kết kia, nước ký kết được yêu cầu có thể cho dẫn độ tạm thời để nước ký kết kia tiến hành một số hành vi tố tụng.

Điều 71. Nhiều nước cùng yêu cầu dẫn độ

Nếu nhiều nước yêu cầu dẫn độ cùng một người thì nước ký kết được yêu cầu sẽ quyết định nên thoả mãn nước nào. Sẽ tính đến quốc tịch của người bị dẫn độ, nơi đã phạm tội và mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Điều 72. Giới hạn của việc truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Không có thoả thuận của nước ký kết được yêu cầu thì không được truy tố người bị dẫn độ cũng như không được bắt người đó thi hành hình phạt về những tội đã phạm trước khi bị dẫn độ và không phải là căn cứ để yêu cầu dẫn độ. Cũng không được giao người đó cho nước thứ ba.

a) Người bị dẫn độ tuy không phải là công dân nước ký kết yêu cầu dẫn độ, và mặc dù có điều kiện người đó đã không rời khỏi nước dù trong thời hạn một tháng kể từ ngày kết thúc tố tụng hình sự hoặc thi hành xong hình phạt.

Không tính vào thời hạn này, những ngày người bị dẫn độ không thể rời khỏi nước yêu cầu dẫn độ, về những lý do ngoài ý muốn của người đó.

b) Sau khi rời khỏi nước ký kết yêu cầu dẫn độ, người bị dẫn độ, người bị dẫn độ đã tự mình trở lại nước này.

Điều 73. Thông tin về kết quả tố tụng hình sự

Các nước ký kết sẽ thông báo cho nhau kết quả tố tụng hình sự đã tiến hành đối với những người bị dẫn độ. Nếu đã tuyên xử một bản án có hiệu lực pháp luật đối với những người đó, thì gửi một bản sao án cho nước ký kết kia.

Điều 74. Thực hiện việc dẫn độ

Nước ký kết được yêu cầu sẽ thông báo cho nước ký kết yêu cầu về địa điểm và ngày dẫn độ. Nếu nước ký kết đã yêu cầu dẫn độ không tiếp nhận người bị dẫn độ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ấn định để dẫn độ, thì người bị dẫn độ có thể được trả tự do. Theo thoả thuận của nước ký kết, thời hạn này có thể kéo dài nhưng tối da không quá 15 ngày nữa.

Điều 75. Dẫn độ lại

Nếu người bị dẫn độ đó tiến hành tố tụng hình sự hoặc để thi hành hình phạt trốn tránh việc tiến hành tố tụng hoặc việc thi hành hình phạt bằng bất cứ cách nào và quay trở lại hoặc có mặt ở nước ký kết đã dẫn độ, người đó sẽ bị dẫn độ lại, thể theo yêu cầu của nước ký kết kia. Yêu cầu dẫn độ lại không phải kèm theo những tài liệu nói ở Điều 64 Hiệp định này.

Điều 76. Quá cảnh

1. Thể theo yêu cầu của nước ký kết kia, nước ký kết này sẽ cho chuyển qua lãnh thổ của mình những người mà một nước thứ ba dẫn độ cho nước ký kết kia. Có thể từ chối, không cho quá cảnh nếu thuộc trường hợp không thể dẫn độ theo quy định của Hiệp định này.

2. Việc xin quá cảnh phải làm và gửi theo đúng cách thức đối với việc xin dẫn độ.

3. Các cơ quan của nước ký kết cho quá cảnh tiến hành việc quá cảnh theo cách thức thích hợp nhất đối với họ.

Điều 77. Chi phí cho dẫn độ và quá cảnh

1. Chi phí về dẫn độ trên lãnh thổ nước ký kết nào do nước ký kết nào do nước ký kết ấy chịu trừ chi phí về vận chuyển thì do nước ký kết yêu cầu dẫn độ chịu.

2. Chi phí về quá cảnh do nước ký kết yêu cầu cho quá cảnh chịu.

Điều 78. Chuyển giao đồ vật

1. Những vật dùng để phạm tội – tội dẫn đến việc dẫn độ theo hiệp định này cũng như những vật do phạm tội mà chiếm được hoặc trị giá của nó, và bất cứ đồ vật gì của kẻ phạm tội mà có thể dùng làm chứng cứ trong tố tụng hình sự, đều sẽ phải chuyển giao cho nước ký kết yêu cầu. Cũng chuyển giao các đồ vật này cả trong trường hợp không thực hiện việc dẫn độ vì lý do người bị dẫn độ chết hoặc vì lý do khác.

2. Nước ký kết được yêu cầu có thể tạm thời hoãn việc chuyển giao đồ vật nếu cần sử dụng những đồ vật ấy trong một vụ án khác.

3. Quyền lợi của những người thứ ba đối với các đồ vật chuyển giao không bị phương hại. Sau khi kết thúc tố tụng hình sự, nước ký kết yêu cầu sẽ chuyển lại các đồ vật này cho nước ký kết được yêu cầu để trả cho những người có quyền lợi. Trong trường hợp những người có quyền lợi lại ở nước ký kết yêu cầu thì với sự thoả thuận của nước ký kết được yêu cầu, sẽ trao trả thẳng cho những người đó.

Điều 79. Thông báo các bản án

1. Hàng năm, hai nước ký kết sẽ thông báo cho nhau những bản án hình sự có hiệu lực pháp luật đã tuyên xử đối với công dân của nước ký kết kia.

2. Khi được yêu cầu, các cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết sẽ gửi cho các cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết kia và không lấy tiền, các trích lục lý lịch tư pháp.

Phần IV

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 80.

Việc trao đổi thư phê chuẩn sẽ tiến hành ở Hà Nội

Điều 81.

Hiệp định này có hiệu lực kể từ ngày thứ ba mươi sau ngày trao đổi thư phê chuẩn và có hiệu lực trong 5 (năm) năm.

Hiệp định này được gia hạn từng năm năm một trừ phi một nước ký kết yêu cầu bãi bỏ bằng văn bản trong thời hạn 6 tháng trước khi kết thúc kỳ hạn năm năm hiện hành.

Làm tại Praha ngày 12 tháng 10 năm 1982, thành hai bản gốc, một bản bằng tiếng Việt, một bản bằng tiếng Tiệp Khắc, hai văn bản đều có giá trị như nhau./.

ĐẠI DIỆN TOÀN QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

(Đã ký)

Phan Hiền

ĐẠI DIỆN TOÀN QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TIỆP KHẮC

(Đã ký)

Antonin Kaspar

  

Bạn đang xem bài viết Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa, Động Lực Phát Triển Đất Nước trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!