Xem Nhiều 1/2023 #️ How Does The Hebrew Bible Relate To The Ancient Near Eastern World (Vietnamese) # Top 7 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 1/2023 # How Does The Hebrew Bible Relate To The Ancient Near Eastern World (Vietnamese) # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về How Does The Hebrew Bible Relate To The Ancient Near Eastern World (Vietnamese) mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

How Does the Hebrew Bible Relate to the Ancient Near Eastern World (Vietnamese)

by Alan Lenzi

KINH THÁNH HÊ-BƠ-RƠ LIÊN QUAN VỚI THẾ GIỚI CẬN ĐÔNG CỔ ĐẠI

NHƯ THẾ NÀO?

Tác giả: Alan Lenzi 

Phiên dịch: Bùi Kim Thanh

Có được một số kiến thức về Thời đại Khai sáng thế kỷ 18, về lịch sử thuộc địa Mỹ và về những người nào đã tham dự Hội Nghị Hiến Pháp sẽ giúp cho bạn hiểu nhiều hơn về lịch sử của Hiến pháp Hoa Kỳ.  Tương tự như vậy, có được một số kiến thức về lịch sử và văn hóa Cận Đông cổ đại sẽ giúp bạn thấu hiểu hơn về lịch sử của các tài liệu được dùng để biên soạn Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.

Truyền thống thông giáo: Ai đã viết các bản kinh văn và điều này nói lên cho chúng ta những gì?

Các thầy thông giáo đã biên soạn các bản kinh văn làm thành Kinh Thánh Hê-bơ-rơ. Đây là một trong những vấn đề cơ bản nhất về Kinh Thánh Hê-bơ-rơ. Không có các thầy thông giáo, sẽ không có Kinh Thánh! Rất ít người trong thế giới cổ đại biết chữ để biên soạn các bản văn thời Cận Đông cổ đại mà chúng ta có hiện nay, bao gồm cả Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.  Các thầy thông giáo là một thành phần của giới thượng lưu trí thức, và nhiều người trong số họ phục vụ trong các tổ chức lớn của xã hội, trong cung điện và đền thờ. Mặc dù công việc chính của một số thầy thông giáo là viết các văn kiện thông dụng hàng ngày như thư từ và hợp đồng, những thầy thông giáo có kiến thức cao thường bận rộn với các vấn đề quan trọng hơn, như vũ trụ học, nghi lễ, văn bản cầu nguyện, luật pháp và khải thị.  Các thầy thông giáo này thông thường hiếm khi công bố quyền tác giả của các bản văn của mình, và đôi khi họ quy kết tác phẩm của họ cho các danh nhân cổ xưa.

Tất nhiên, công việc của các thầy thông giáo không chỉ đơn giản bao gồm việc soạn thảo các văn bản mới; họ cũng sao chép những bản văn cũ.  Xem xét nhiều phiên bản của các bản sao chép có cùng bản gốc chúng ta biết được rằng các thầy thông giáo sao chép văn bản một cách rất thoáng đạt. Họ có thể cho thêm vào tài liệu mới, xóa các nội dung mà họ không vừa ý, hoặc sắp xếp lại toàn bộ bản văn. Ngoài ra, các thầy thông giáo cũng vấp lỗi. Bạn hãy thử viết tay sao chép lại một vài trang ấn phẩm và xem bạn mắc phải bao nhiêu lỗi!

Sự hiểu biết về truyền thống thông giáo Cận Đông cổ giải thích rất nhiều điều về Kinh Thánh Hê-bơ-rơ. Chẳng hạn, không phải ngẫu nhiên mà Kinh Thánh tập trung vào các vị vua và thầy tế lễ và xem xét các đề tài như vũ trụ học (Sáng-thế Ký  1, Gióp 38), nghi lễ (Lê-vi Ký, Dân-số Ký), cầu nguyện (Thi-thiên), luật pháp (Xuất Ê-díp-tô Ký 21-23, Phục-truyền Luật-lệ Ký 12-26) và khải thị (Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên).  Những đề tài đó là những mối quan tâm của các thầy thông giáo.  Đúng như dự đoán, nhiều văn bản văn Kinh Thánh không mang tên tác giả (ví dụ, xem Các Quan Xét) hoặc tác quyền được gán cho nhân vật quan trọng trong truyền thống (như Môi-se cho Phục-truyền Luật-lệ Ký và nhiều bài Thi-thiên được cho là do Đa-vít viết). Khi các kinh văn cho chúng ta thấy bằng chứng về sự bổ sung thêm (ví dụ, Ê-sai bắt đầu hai lần, một lần trong Ê-sai 1:1 và một lần nữa trong Ê-sai 2:1), chúng ta không nên ngạc nhiên. Sự hiểu biết về truyền thống thông giáo Cận Đông cổ đại cho chúng ta biết rằng đây là những điều bình thường khi chúng ta tìm thấy các bản văn tương đồng nhưng khác nhau về cách diễn đạt (so sánh Giê-rê-mi 52, Giê-rê-mi 39: 1-10, Giê-rê-mi 40: 7-9 và Giê-rê-mi 41: 1-3 với 2 Các Vua 24: 18-25: 30) hoặc khi chúng ta tìm thấy các lỗi trong các bản kinh văn tiếng Hê-bơ-rơ lâu đời nhất (xem 1 Sa-mu-ên 13: 1 [so sánh các bản dịch tiếng Anh ở đây]).

Các tài liệu thánh kinh tồn tại lâu đời sau sự sụp đổ của Do Thái cổ đại, hiển nhiên. Trên thực tế, các mối đe dọa sự sống còn của người Do Thái cổ đại là động lực thúc đẩy các thầy thông giáo bảo tồn truyền thống thân yêu mà họ ấp ủ. Các thầy thông giáo Cận Đông cổ đã lưu truyền một số bản văn qua rất nhiều thế kỷ. Nhưng không có bản văn nào khác có được một chuỗi truyền tải không bị gián đoạn cho đến ngày nay như Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.

Các giao ước là gì và việc sử dụng Phục-truyền Luật-lệ Ký có nét đặc biệt như thế nào?

Xuyên suốt lịch sử Cận Đông cổ đại, người ta đã sử dụng các thỏa thuận chính thức để trao quyền cho môi giới và phân công bổn phận giữa hai bên, thường là giữa các vị vua. Học giả gọi các thỏa thuận này hiệp ước; còn học giả trong ngành Thánh Kinh Học gọi đó là giao ước. Thành viên của giao ước đôi khi gồm có các vị vua ngang hàng với nhau, và đôi khi là vua của nước bá chủ và vua của nước chư hầu. Các hiệp ước Cận Đông cổ đại nổi tiếng nhất có nguồn gốc xuất phát từ người Hittites (từ đầu đến giữa thiên niên kỷ thứ hai B.C.E.) và Neo-Assyria (có vương quốc phát triển mạnh từ khoảng đầu thế kỷ thứ chín đến cuối thế kỷ thứ bảy B.C.E.). Các vị vua Neo-Assyrian cũng áp đặt các thỏa thuận giống như hiệp ước đối với toàn bộ dân sự; học giả gọi những thỏa thuận nầy là những tuyên thệ trung thành.

Những văn kiện hiệp ước hoặc tuyên thệ này nhằm giải quyết các vấn đề quan trọng đối với các vị vua. Vì vậy, chúng ta đọc trong các hiệp ước Hittite, ví dụ, hiệp ước về lòng trung thành với nhà vua, thiết lập biên giới và hợp tác quân sự, và những vấn đề khác. Lòng trung thành với Hoàng thái tử và sự bảo vệ việc kế vị Hoàng gia là nội dung chính của Hiệp Ước Kế Vị Esarhaddon (Esarhaddon là một vị vua Assyria cai trị từ năm 680 đến 669 B.C.E.).  Người tuyên thệ thậm chí còn được lệnh phải yêu mến Hoàng thái tử (xem hàng 266 của Hiệp Ước Kế Vị Esarhaddon), điều đó có nghĩa rõ ràng là họ phải trung thành và tuân theo Hoàng thái tử.

Mặc dù hình thức và nội dung của các hiệp ước Cận Đông cổ đại thường giống nhau, nhưng cũng có những hiệp ước chứa đựng các điều khác biệt liên văn hóa và các dạng biến thể địa phương, đặc biệt là khác biệt về nội dung và thứ tự của các tiết mục điển hình. Các hiệp ước Hittite thông thường bắt đầu với phần giới thiệu lịch sử và gồm có một bản liệt kê các phước lành cho sự vâng lời và nguyền rủa cho sự bất tuân. Các hiệp ước Neo-Assyrian không có phần giới thiệu lịch sử, không liệt kê các phước lành, và đặc biệt có phần nguyền rủa rất dài.

Thành viên của các hiệp ước cầu khẩn các quyền lực thiêng liêng để chứng kiến các quy định và tuyên thệ mà đôi bên hứa nguyện tuân theo. Và các tài liệu nầy thường được đem lưu trử trong một ngôi đền thờ, là nơi các hiệp ước này được xem như là lời nhắc nhở các vị thần để thực thi hiệp ước. Các tài liệu người Hittite cũng yêu cầu chư hầu đọc văn bản văn của họ.

Sự hiểu biết về các hiệp ước Cận Đông cổ đại giúp chúng ta thông hiểu nhiều hơn một số phân đoạn Kinh Thánh. Ví dụ nổi bật nhất là sách Phục-truyền Luật-lệ Ký, sách nầy chứa đựng các đặc điểm của các văn bản Hittite và Neo-Assyrian. Giống như các hiệp ước đó, nội dung chính của Phục-truyền Luật-lệ Ký là các quy định (luật lệ) nằm trong chương 12-26.  Phần mở đầu lịch sử đi trước các quy định (Phục-truyền Luật-lệ Ký 1-11) và phần phước lành đi tiếp theo sau đó (Phục-truyền 28:1-14), giống như trong các hiệp ước Hittite. Những lời nguyền rủa, giống như trong các bản văn Neo-Assyrian, rất bao quát (Phục-truyền Luật-lệ Ký 28: 15-68) và trong một số trường hợp rất gần giống y như những lời nguyền rủa trong Hiệp Ước Kế Vị Esarhaddon (so sánh các hàng 419 – 430 với Phục-truyền Luật-lệ Ký 28: 26-35). Nhiều phân đoạn trong Phục-truyền Luật-lệ Ký đòi hỏi sách nầy phải được ký gửi với các thầy tế lễ của Yahweh, và đọc định kỳ cũng như các hiệp ước Hittite (xem Phục-truyền Luật-lệ Ký 31: 9-13, Phục-truyền Luật-lệ Ký 31: 24-26 và Phục-truyền Luật-lệ Ký 17: 18-19). Giống như lời thề trung thành của chư hầu với bá chủ Neo-Assyria, Yahweh thực hiện giao ước với toàn bộ dân sự Israel (xem Phục-truyền Luật-lệ Ký 29: 14-15, bao gồm các thế hệ tương lai). Sau cùng, khi Môi-se khuyến khích dân Y-sơ-ra-ên kính yêu Yahweh bằng cả trái tim, linh hồn, tâm trí và sức mạnh của họ (Phục-truyền Luật-lệ Ký 6: 5), trong lịch sử chúng ta biết giao ước sự kính yêu này là một hành động trung thành và vâng phục hơn là một cảm xúc chủ quan, dịu dàng.

Điều nổi bật là đặc biệt đáng chú ý trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ là một vị thần chứ không phải là một vị vua thực hiện một hiệp ước / giao ước với người dân của mình. Sự thích nghi độc đáo này có lẽ mang tính chất đả phá. Nếu, như hầu hết các học giả nghĩ, Phục-truyền Luật-lệ Ký (hoặc một số phiên bản của nó) đã được xuất bản trong thời Neo-Assyrian khi Judah là một chư hầu của người Assyria, thì việc Phục-truyền Luật-lệ Ký nhìn nhận Yahweh là vị chúa tể trị mang định ý từ chối lãnh chúa Assyria.

Khái niệm về thần: Có phải thần của Kinh Thánh Hê-bơ-rơ không giống như các vị thần Cận Đông cổ đại?

Có và không. Kinh thánh nói chung quan niệm về Yahweh theo thuật ngữ nhân học, đó là theo hình dạng con người (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 24: 9-11, Xuất Ê-díp-tô Ký 33: 20-23) và các nhân tính (ví dụ, Ngài có cảm xúc của con người và khả năng nhìn, nghe, ngửi, và đi bộ). Ngoài ra, nhiều phân đoạn Kinh Thánh mô tả Yahweh sống trong một ngôi nhà lớn (một ngôi đền), với những người hầu (thầy tế lễ) để chăm sóc cho nhu cầu của mình (dâng của lễ). Những điều nầy và tất cả phần còn lại rất giống với các thần của Cận Đông cổ đại.

Tuy nhiên, không giống như các dân tộc Cận Đông cổ đại khác, là những người làm ra hình tượng của các thần của họ, Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ thường phỉ báng thần tượng (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 32: 4-6, Ê-sai 44: 9-20) và phản đối mạnh mẽ việc tạo ra thần tượng trong bất kỳ hình thể nào (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 20: 4-6).

Trong tất cả các nền văn hóa, người ta rất giống nhau nhờ có chung nhân tính. Nhưng mỗi nền văn hóa phát triển một số tính năng đặc biệt làm cho nó độc đáo. Do vị thế đương đại của Kinh Thánh, nên người ta có khuynh hướng quá coi trọng tính chất thực sự khác biệt của nó với các tài liệu Cận Đông cổ đại khác. Từ góc độ lịch sử, một cách tiếp cận cân bằng hơn, nhận ra những điểm tương đồng và khác biệt của Kinh Thánh so với các nền văn hóa lân cận là công thức tốt nhất để hiểu Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.

Alan Lenzi, “How Does the Hebrew Bible Relate to the Ancient Near Eastern World (Vietnamese)”, n.p. [cited 6 Aug 2021]. Online: https://www.bibleodyssey.org:443/en/tools/bible-basics/how-does-the-hebrew-bible-relate-to-the-ancient-near-eastern-world-vietnamese

Contributors

Alan Lenzi Associate Professor, University of the Pacific

Alan Lenzi is associate professor of religious and classical studies at University of the Pacific in Stockton, California. He specializes in the study of first-millennium ancient Near Eastern religious traditions, including the Mesopotamian imperial context of the Hebrew Bible. A number of his publications are accessible at the following URL: http://pacific.academia.edu/AlanLenzi.

A West Semitic language, in which most of the Hebrew Bible is written except for parts of Daniel and Ezra. Hebrew is regarded as the spoken language of ancient Israel but is largely replaced by Aramaic in the Persian period.

A region in northern Mesopotamia whose kings ruled most of the ancient Near East in the 8th and 7th centuries B.C.E.

Having the attributes of henotheism, the recognition of the existence of multiple deities while worshipping only one, often a tribal or family deity.

An empire in upper Mesopotamia for much of the first half of the first millennium B.C.E. At the height of their power, they controlled all of the ancient Near East, including Egypt. Their final defeat came in 609 at the battle of Megiddo, where a combined Neo-Babylonian and Medean army defeated the last remnants of the Neo-Assyrians forces.

How Do Biblical Scholars Study The New Testament (Vietnamese)

How Do Biblical Scholars Study the New Testament (Vietnamese)

by Mark Allan Powell

Các Học Giả Kinh Thánh Nghiên Cứu Tân Ước Như Thế nào?

Tác giả: Mark Allan Powell

Dịch sang tiếng Việt: Bùi Kim Thanh, Hội Thần Học Thánh Kinh Việt Nam

Các học giả Kinh Thánh thường nghiên cứu Tân Ước với sự quan tâm đặc biệt đến các mô-típ lịch sử và văn chương của bản văn. Do đó, học giả sử dụng những phương cách khác nhau để đem lại những lợi ích trong việc giải thích kinh văn.  Vì vậy cho nên, lĩnh vực học thuật nghiên cứu Tân Ước đã phát triển thành một chuyên ngành bao gồm nhiều cách tiếp cận và phương pháp giải kinh khác nhau.

Phê bình Văn bản. Các nhà phê bình văn bản phân tích các bản kinh văn của Tân Ước đã được bảo tồn qua nhiều thế kỷ bằng cách so sánh và định tuổi của các bản sao chép; họ sử dụng các kỹ thuật khác nhau để xác định bản sao chép nào là đáng tin cậy nhất. Mục tiêu của họ là tái tạo lại bản văn gốc bằng cách xem xét sự khác biệt của các từ hoặc câu trong một phân đoạn nào đó của một hoặc nhiều bản sao.

Khảo cổ học. Các nhà khảo cổ đào khai các thành phố cổ và các địa điểm quan trọng của thế giới Tân Ước. Họ phát hiện ra rất nhiều bằng chứng với nhiều thông tin để giúp giải thích Kinh Thánh. Ví dụ, việc phát hiện ra một chiếc thuyền đánh cá Ga-li-lê từ thời Chúa Giê-su đã cho chúng ta biết rằng những chiếc thuyền đánh cá thời đó được chế tạo với một công nghệ rất thấp, cho nên những thuyền đó đặc biệt rất dễ bị hư hại khi gặp bão. Họ cũng đã phát hiện ra các tài liệu cổ của thế kỷ thứ nhất, chẳng hạn như Các Cuộn Biển Chết và thư viện Nag Hammadi Gnostic.

Phê bình Khoa học Xã hội. Một số học giả xem xét Tân Ước theo những quan điểm và kỷ thuật của khoa học xã hội. Các học giả được đào tạo về xã hội học xem xét các tác phẩm Tân Ước dưới ánh sáng của các hiện tượng thuộc nhân chủng học như sự di cư của người Do Thái và sự chiếm đóng quân sự của Palestine. Các nhà nhân chủng học văn hóa nghiên cứu các quan hệ và giá trị của các hiện tượng này nhằm so sánh với các nền văn hóa khác để hiểu rõ hơn bối cảnh Tân Ước. 

Phê bình Lịch sử. Một số học giả xem Tân Ước chủ yếu là một tài liệu cổ xưa để tìm hiểu về lịch sử. Họ muốn tìm hiểu về đời sống và niềm tin của những nhân vật quan trong trong Kinh Thánh (như Giê-su và Phao-lô) và tìm hiểu nguồn gốc của Cơ-đốc giáo, một trong những tôn giáo lớn của thế giới. Các học giả này thường xem các bản văn Kinh Thánh với một cấp độ hoài nghi mà họ áp dụng cho các tác phẩm tôn giáo cổ đại khác: họ không xem Tân Ước như một câu chuyện có tính chất chính xác được đảm bảo một cách thần thánh. Thay vào đó, họ áp dụng các tiêu chí phân tích lịch sử vào bản văn Kinh Thánh để xác định những gì có khả năng thực sự đã xảy ra.

Phê bình Hình thức. Các nhà Phê bình Hình thức phân loại các tài liệu trong Tân Ước theo thể loại văn học (ví dụ: ngụ ngôn, chuyện phép lạ, thánh ca, tục ngữ). Họ cũng cố gắng xác định “bối cảnh đời sống” của các bản văn Tân Ước. Mỗi thể loại văn học này sẽ phục vụ các mục đích riêng biệt: một lời cầu nguyện có thể đã được sử dụng trong các dịch vụ thờ phượng chung, trong khi một bảng nhiệm vụ gia đình (Ê-phê-sô 5:1–6:9) có thể đã được dùng trong việc dạy giáo lý cho người mới tin nhận Chúa.

Phê bình Soạn thảo. Được học giả sử dụng chủ yếu trong các nghiên cứu sách Phúc Âm, mục đích của Phê bình Soạn thảo là cố gắng xác định ý định cụ thể của các tác giả Tân Ước bằng cách phân tích cách họ soạn thảo và chỉnh sửa bản văn mà tác giả dùng làm tài liệu gốc của họ. Các học giả dùng Phê bình Soạn thảo để tiếp cận các phân đoạn nào đó trong sách Phúc Âm mà họ cho là đã được tác giả thay đổi và sửa chữa tài liệu gốc mà tác giả đã sử dụng. Họ đặc biệt chú ý đến các phân đoạn mà họ cho rằng đã được tác giả bổ sung, xóa bỏ và sắp xếp tổ chức; các phân đoạn này là những dấu hiệu có thể nói lên điều mà tác giả quan tâm và dành ưu tiên. Do đó, việc Ma-thi-ơ quan tâm đến các môn đồ của Chúa Giê-su vì các môn đồ này có “đức tin nhỏ bé” (Ma-thi-ơ 8:26) thay vì “không có đức tin” (Mác 4:40) có thể phản ánh lòng kính trọng đối với những sứ đồ này vì họ là những người lãnh đạo nền tảng của hội thánh.  Việc tác giả sắp xếp một đoạn văn về kỷ luật hội thánh (Ma-thi-ơ 18:15–17) nằm kế tiếp theo sau câu chuyện ngụ ngôn về sự phục hồi người đã hư mất (Ma-thi-ơ 18:12–14) có thể phản ánh một quan điểm rằng mục tiêu của kỷ luật hội thánh là để thực hiện sự ăn năn chứ không phải để giữ gìn sự trong sạch của cộng đoàn.

Phê bình Chuyện Ký thuật. Cũng được sử dụng chủ yếu cho các sách Phúc Âm (và Công-vụ các Sứ-đồ), Phê bình Chuyện Ký Thuật dựa trên những hiểu biết có được của khoa học nghệ thuật phân tích văn chương hiện đại để xác định những tác động cụ thể mà các câu chuyện Kinh Thánh dự kiến sẽ có ảnh hưởng với độc giả. Các học giả quan tâm đến cách xây dựng cốt truyện của câu chuyện, cách phát triển nhân vật, cách giới thiệu hoặc giải quyết xung đột và các đặc điểm tu từ như biểu tượng và nghịch ý ảnh hưởng đến nhận thức của người đọc về những gì đang xảy ra.

Phê bình Tu từ.  Tu từ là một trong những phương cách được các tác giả Kinh Thánh sử dụng để đạt mục đích cụ thể của họ. Các nhà Phê bình Tu từ không chỉ quan tâm đến vấn đề mà tác giả muốn thực hiện nhưng họ còn muốn tìm hiểu vấn đề đó được thiết lập trên những cơ sở nào (các lập luận hoặc bằng chứng được sử dụng).

Phê bình Độc giả Phản hồi. Cách tiếp cận các bản văn Tân Ước gọi là Phê bình Độc giả Phản hồi tập trung vào cách độc giả hiểu các bản văn theo những phương cách và trong các bối cảnh khác nhau. Ví dụ, họ phân tích các yếu tố của vị trí xã hội (tuổi, giới tính, quốc tịch, tình trạng kinh tế, v.v.) ảnh hưởng đến cách người đọc bản văn và góp phần để xác định ý nghĩa của những văn bản đó.

Giải cấu trúc. Cách tiếp cận các kinh văn được gọi là Giải cấu trúc là một phương thức giải thích phát sinh vào cuối thế kỷ XX và trở nên phổ biến với các học giả chịu ảnh hưởng của triết học hậu hiện đại. Phương pháp này cố gắng chứng minh rằng tất cả các giải thích được đề xuất là các cấu trúc ý thức hệ không có yêu cầu khách quan về tính hợp lệ.

Mặc dù các phương pháp khác nhau được nêu trên có khả năng tạo mâu thuẫn với nhau trong tác vụ diễn giải, nhưng cũng có sự chồng chéo đáng kể trong ứng dụng, và thông thường, các học giả sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau và liên kết các phương pháp này với nhau. Các phương pháp được dùng như các công cụ để tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của Tân Ước; hầu hết các học giả cố gắng tiếp cận các kinh văn bằng cách sử dụng các công cụ có được; lúc nào họ cũng sẵn sàng sử dụng bất kỳ phương pháp nào cần thiết cho tác vụ giải kinh.

Contributors

Mark Allan Powell Professor, Trinity Lutheran Seminary

Mark Allan Powell is professor of New Testament at Trinity Lutheran Seminary (Columbus, Ohio). He is editor of the HarperCollins Bible Dictionary and author of Introducing the New Testament (Baker, 2009) and Jesus as a Figure in History (Westminster John Knox, 2012).

A collection of first-century Jewish and early Christian writings that, along with the Old Testament, makes up the Christian Bible.

Related to a set of beliefs that emphasized the pursuit of “gnosis” (enlightenment) and the divide between the spiritual and the material. Most notably present in Christian traditions that were later deemed heretical.

A city on the Nile in Egypt where papyrus codices written in Coptic and associated with antique Gnosticism were found in 1945.

Another name often used for the area of Israel and Judah, derived from the Latin term for the Roman province of Palaestina; ultimately, the name derives from the name of the Philistine people.

Expecting A Baby? In Vietnamese

Khi mang thai, quý vị sẽ được nhiều người khuyên bảo. Một vấn đề mà ít người nghĩ tới là các dấu hiệu bị trở ngại tiểu tiện và đại tiện trong lúc mang thai và sau khi sinh con.

What do my pelvic floor muscles do?

See the picture of the pelvic floor. The pelvic floor muscles do a number of things. They:

help to close off the bladder, the vagina (front passage) and the rectum (back passage); and

help to hold the bladder, the uterus (womb) and bowel in their proper place.

Các cơ sàn chậu của tôi giữ nhiệm vụ gì?

Hãy xem hình sàn chậu. Các cơ sàn chậu giữ một số nhiệm vụ, chúng:

giúp đóng kín bàng quang, âm đạo (đường tiểu) và trực tràng; và

giúp giữ bàng quang, tử cung (dạ con) và ruột đúng vị trí.

How do i know if i have a problem?

There are a few things that might happen if you have weak pelvic floor muscles. You might:

leak urine when you cough, sneeze, lift, laugh or do exercise;

not be able to control passing wind;

feel an urgent need to empty your bladder or your bowel;

leak bowel motion after you have been to the toilet;

have trouble cleaning yourself after a bowel motion;

find it hard to pass a bowel motion unless you change position or use your fingers to help; or

feel a lump in your vagina or a feeling of dragging like a period, mostly at the end of the day, which could mean that one or more of your pelvic organs might be sagging down into your vagina. This is called pelvic organ prolapse. Prolapse is very common and happens to about one in ten women in Australia.

You may also have sexual problems. Just after your baby is born, you will be very tired and busy with your baby. Vaginal birth can cause weakness around the vagina or a lack of feeling. Vaginal tears and trauma can cause pain for many months. While breast feeding, oestrogen levels may be low and so the vagina may be dry, which can cause more problems. It may be helpful for you and your partner to talk about these issues with a health professional.

Làm sao tôi biết mình có vấn đề?

Nếu cơ sàn chậu của quý vị yếu, một vài điều có thể xảy ra. Có thể quý vị:

són tiểu ra khi quý vị ho, hắt hơi, nâng, cười hoặc tập thể dục;

không thể nín thả trung tiện;

cảm thấy phải hối hả đi tiểu hoặc đi đại tiện;

rỉ phân ra sau khi quý vị đã đi đại tiện;

khó chùi sạch sau khi đi đại tiện;

thấy khó đi đại tiện trừ khi quý vị đổi tư thế hoặc dùng ngón tay giúp đẩy ra; hoặc

cảm thấy có khối gì đó trong âm đạo hoặc có cảm giác bị chằng như có kinh, đa số xảy ra vào cuối ngày, điều đó có thể có nghĩa là một hay nhiều bộ phận vùng chậu có thể bị sa xuống âm đạo. Sa bộ phận vùng chậu là chuyện rất thường xảy ra và cứ mười phụ nữ ở Úc thì có một người bị vấn đề này.

How can i tell if i might get bladder and bowel problems?

Some women seem more likely to have bladder and bowel problems, even if they have had quite easy birth. We can’t yet tell who these women might be.

Women who already have bladder or bowel symptoms, such as irritable bowel syndrome or an urgent need to pass urine (also called overactive bladder) will be more likely to have this problem worsen or to gain new problems. Constipation, coughing and obesity can also make problems worse.

Certain things about the birth can make a woman more likely to have bladder and bowel problems:

having your first baby;

having a large baby;

having a long labour, chiefly the second stage of labour; or

a difficult vaginal delivery, when you have stitches after being cut or having a big tear just outside or in your vagina when the baby is helped out by the vacuum cap or the doctor uses forceps.

Làm sao tôi có thể biết nếu mình bị chứng mất chủ động tiểu tiện và đại tiện?

Một số phụ nữ dường như dễ bị chứng mất chủ động tiểu tiện và đại tiện hơn dù họ sinh nở khá dễ dàng. Chúng ta chưa thể xác định được những phụ nữ nào có thể thuộc diện này.

Phụ nữ vốn đã có những triệu chứng về bàng quang hoặc ruột, chẳng hạn hội chứng kích thích đại tràng hoặc cần phải đi tiểu gấp (cũng được gọi là bàng quang hoạt động mạnh) sẽ dễ bị nặng hơn hoặc bị thêm những vấn đề khác. Táo bón, ho và mập phì cũng có thể làm cho các vấn đề chuyển nặng.

Một số điều về sinh nở có thể làm cho phụ nữ dễ bị chứng mất chủ động tiểu tiện và đại tiện:

sinh con so;

sinh em bé lớn;

chuyển dạ sinh con lâu, chủ yếu ở giai đoạn thứ nhì khi sanh; hoặc

trường hợp sinh con ngả âm đạo bị khó khăn, khi quý vị được khâu lại sau khi bị cắt hoặc bị rách lớn ngay mép ngoài hoặc bên trong âm đạo khi bác sĩ phải hút em bé ra hoặc dùng kẹp kéo em bé ra.

What if i have a caesarean birth?

Choosing a caesarean birth might seem like a way to avoid these problems, but it is not that simple. A caesarean birth might reduce the risk of severe bladder control problems from 10% to 5% for a first baby, but after the third caesarean there may be no benefit at all. And caesarean births carry their own risks. Babies born this way are more likely to have breathing problems at birth. It can be more risky for the mother and scarring from caesarean births can make pelvic surgery more difficult in the future. So you may be trading one problem for another.

In many cases, a vaginal birth runs just as planned and is a lovely event for parents, so this type of birth is best when possible. But problems can still happen. Research is now looking at how we can better know about and stop harm to the pelvic floor during birth. For now, pregnancy and birth involves making a choice between different kinds of risk. You and your partner need to think about these risks and discuss them with your pregnancy care professional. No one can promise you and your baby a perfect outcome.

Nếu tôi sinh mổ thì sao?

Chọn sinh mổ có thể là cách để tránh bị những vấn đề này, nhưng chuyện không đơn giản như vậy. Sinh mổ có thể giảm rủi ro bị mất chủ động tiểu tiện nặng trong khoảng từ 10% đến 5% đối với con so, nhưng sau lần sinh mổ thứ ba, có thể quý vị chẳng được lợi ích chi hết. Và sinh mổ cũng có rủi ro của nó. Em bé sinh ra kiểu này dễ bị trở ngại hô hấp lúc chào đời. Sinh mổ có thể có nhiều rủi ro hơn cho người mẹ và những vết thẹo do sinh mổ có thể làm cho phẫu thuật vùng chậu thêm khó khăn trong tương lai. Do đó, có thể quý vị bị rơi vào trường hợp tránh cái vấn đề này lại bị vấn đề khác thôi.

What can i do about weak pelvic floor muscles?

The birth of a baby might have stretched your pelvic floor muscles. Any ‘pushing down’ action in the first weeks after the baby’s birth might stretch the pelvic floor again. You can help to protect your pelvic floor muscles by not pushing down on your pelvic floor. Here are a few ideas to help you.

Try to squeeze, lift and hold your pelvic floor muscles before you sneeze, cough, blow your nose or lift.

Cross your legs and squeeze them tightly together before each cough or sneeze.

Don’t do bouncing exercises.

Do pelvic floor muscle training to strengthen your pelvic floor muscles (See the leaflet “Pelvic Floor Muscle Training for Women”).

Keep good bladder and bowel habits:

eat fruit and vegetables;

drink 1.5 – 2 litres of fluid per day;

do not go to the toilet ‘just in case’ as this might cut down how much your bladder can hold; and

Try not to get constipated.

Don’t strain when opening your bowels. A good way to sit on the toilet is to put your forearms onto your thighs and, with your feet close to the toilet, raise your heels. Relax your pelvic floor muscles and gently push.

Keep your weight within the right range for your height and age, and try not to gain too much during pregnancy.

Continue to exercise.

For more information, see the leaflet “Good Bladder Habits for Everyone.”

Tôi có thể làm gì khi các cơ sàn chậu bị yếu?

Cố gắng nhíu, kéo lên và giữ nguyên cơ sàn chậu trước khi quý vị hắt hơi, ho, hỉ mũi hoặc nâng vật gì nặng.

Bắt chéo chân và nhíu chặt chúng lại với nhau trước mỗi lần ho hoặc hắt hơi.

Nhờ người khác giúp nâng vật nặng.

Đừng tập động tác thể dục nhún nhảy.

Tập luyện để làm cho cơ sàn chậu được mạnh hơn (xem tờ thông tin “Tập Luyện Cơ Sàn Chậu dành cho Phụ Nữ”).

Duy trì thói quen đi tiểu và đi đại tiện tốt:

ăn trái cây và rau quả;

hãy uống từ 1,5 – 2 lít chất lỏng mỗi ngày.

đừng đi tiểu ‘phỏng hờ’ vì làm vậy có thể làm cho bàng quang không chứa được nhiều nước tiểu; và

Cố gắng đừng để bị táo bón.

Đừng rặn khi đi đại tiện. Tư thế tốt để ngồi trên bàn cầu là đặt tay lên đùi, hai chân đặt sát bàn cầu, nhón gót lên. Thả lỏng cơ sàn chậu và đẩy nhẹ.

Giữ thể trọng trong khoảng thích hợp với chiều cao và tuổi tác của quý vị và cố gắng không để bị lên cân quá nhiều trong lúc mang thai.

Tiếp tục tập thể dục.

Hỏi ý kiến về các trường hợp nhiễm trùng bàng quang.

Muốn biết thêm thông tin, xin xem tờ thông tin “Thói Quen Tiểu Tiện Tốt dành cho Mọi Người.”

Will things get better?

Do not lose heart. Even very poor bladder or bowel control just after giving birth can get better without help in the first six months, as the pelvic floor tissues, muscles and nerves mend.

Don’t forget to look after yourself at a time when it is easy to neglect your own needs.

Liệu mọi việc có sẽ đỡ hơn hay không?

Đừng vội nản lòng. Ngay cả chứng mất chủ động tiểu tiện hay đại tiện rất nặng ngay sau khi sinh nở cũng có thể sẽ đỡ hơn mà không cần phải làm gì hết trong sáu tháng đầu nhờ các mô, các cơ và dây thần kinh sàn chậu phục hồi.

Thường xuyên tập luyện cơ sàn chậu trong thời gian dài cũng như được hướng dẫn đúng đắn sẽ có ích.

Đừng quên chăm sóc cho bản thân vào lúc quý vị dễ bỏ qua nhu cầu của riêng mình.

Nếu mọi việc không đỡ hơn sau sáu tháng, hãy nói chuyện với bác sĩ, chuyên viên vật lý trị liệu, hoặc y tá cố vấn chứng mất chủ động đại tiểu tiện.

Seek help

Qualified nurses are available if you call the National Continence Helpline on 1800 33 00 66* (Monday to Friday, between 8.00am to 8.00pm Australian Eastern Standard Time) for free:

Information;

Advice; and

Leaflets.

* Calls from mobile telephones are charged at applicable rates.

Nhờ giúp đỡ

Thông tin;

Hướng dẫn; và

Tờ thông tin.

Nếu không nói hay không hiểu được tiếng Anh một cách thành thạo, quý vị có thể tiếp cận Đường dây Trợ giúp này qua Dịch vụ Thông dịch viên qua Điện thoại miễn phí ở số 13 14 50. Cuộc gọi này sẽ được trả lời bằng tiếng Anh, vì vậy, xin hãy cho biết ngôn ngữ quý vị nói và chờ trên đường dây điện thoại. Quý vị sẽ được kết nối với một thông dịch viên nói ngôn ngữ của quý vị. Hãy cho người thông dịch viên này biết là quý vị muốn gọi đến Đường dây Trợ giúp trên Toàn quốc về chứng Mất Chủ động Đại, Tiểu tiện (National Continence Helpline) ở số 1800 33 00 66. Hãy chờ trên đường dây điện thoại để được kết nối, rồi thông dịch viên này sẽ giúp quý vị nói chuyện với cố vấn viên là y tá về chứng mất chủ động đại, tiểu tiện. Tất cả các cuộc gọi đều được giữ kín.

* Các cuộc gọi từ máy điện thoại di động sẽ bị tính phí ở các mức biểu được áp dụng.

0

Us Oil Production Nears Previous Peak

The EIA’s Monthly Energy Review came out a couple of days ago. The data is in thousand barrels per day and the last data point is July 2015.

US consumption of total liquids, or as the EIA calls it, petroleum products supplied, reached 20,000,000 barrels per day for the first time since February of 2008.

Something I never noticed before, consumption started to drop in January 2008, seven months before the price, along with world production, started to drop in August 2008. This had to be a price driven decline. Could the current June and July increase in consumption be price driven also?

US Production was down 96,000 barrels per day in July to 9,503,000 bpd. That is 190,000 bpd below the March level of 9,693,000 bpd.

Here is what the last 50 years of US production looks like. The peak was in 1970 or 1971, depending on what you call the peak.

In March 2015 we were still 351,000 barrels per day below the peak month of 10,044,000 bpd in November of 1970. But right now we are headed in the wrong way to break that record. In July we were 541,000 bpd from that record. Right now the 2015 average, January through July, is 9,534,000 bpd. That is 103,000 barrels per day below the 1970 average. But the 2015 average is likely to get smaller as the year plays out.

I have another chapter from Peter Goodchild’s Tumbling Tide: Population, Petroleum, and Systemic Collapse. I really like this book. The author comes closest to matching my sentiments than anyone I have read to date.

Tumbling Tide Chapter 10

The Pollyanna Principle

The problem of explaining peak oil does not hinge on the issue of peak oil as such, but rather on that of “alternative energy.” Most people now have some idea of the concept of peak oil, but it tends to be brushed aside in conversation because of the common incantation: “It doesn’t matter if oil runs out, because by then everything will be converted to [whatever] power.” Humanity’s faith in what might be called the Pollyanna Principle-the belief that everything will work out right in the end-is eternal.

The critical missing information in such a dialogue is that alternative energy will do little to solve the peak oil problem, although very few people are aware of the fact. The Pollyanna Principle, after all, is what gets us through the day. Unfortunately, a quick glance through any standard textbook on world history would show that the principle does not apply to many civilizations that lie buried in the mud. But to point at oil-production charts is to mistake psychological problem for an engineering one; most people do not like to be pushed very far in the direction of the logical.

The main stumbling block, as noted above, is not the fact of the decline in world oil production, but the related fact of the impracticality of alternative energy. Alternative sources of energy do have certain uses, and they always have had, especially in pre-industrial societies. However, it is not possible to use non-hydrocarbon sources of energy to produce the required amount of energy, and in a form that can be (1) stored conveniently, (2) pumped into cars, trucks, ships, and airplanes for the purpose of long-distance transportation of goods and people, (3) converted into a thousand everyday products, from asphalt to pharmaceuticals, and (4) used to run factories-and which costs so little that it can be purchased in large quantities on a daily basis by billions of people.

There is also the question of time. The entire conversion of world industry would have to be done virtually overnight. The peak of world oil production was probably around 2010. The more-important date of peak oil production per capita was 1979.There are approximately 1 billion automobiles and over 7 billion people. Throughout the twentieth century, food production only barely met global needs, and in the last few years it has not even reached that level. In terms of the amount of time available, the switch from hydrocarbon energy to an alternative form of energy would stretch the bounds of even the most fanciful work of science fiction.

But we don’t even know the name of such an “alternative energy.” Every month, the mainstream news media tell us of “the miracle of x power,” but in the following month the x has been replaced by another provider of miracles. And even if that x were named, there would be the immense task of setting such a program in motion on a planet-wide scale-half a century too late do any good.

In actuality, the world of the future will not be crowded. Survival for a few will be possible; survival for a population of billions will not be possible. But very few people have asked the ugly question of exactly how rapid and dramatic reduction of population is going to take place. Voluntarily?

There are two further problems with trying to educate people on these matters. The first is that any discussion of either peak oil or alternative energy requires a scientific frame of mind: an understanding of empirical research and an ability to follow statistics without being misled. A grasp of basic science is essential in order to get balanced perspective on the data and in order to judge between the practical and impractical. The so-called civilized world is still largely the domain of astrology and other forms of superstition. Yet empirical research does not mean “I once saw something-or-other,” and statistics are meaningless unless one understands exactly what is meant by “statistically significant.”

The second of those further problems is that the concepts of peak oil and alternative energy extremely complicated. Although it is possible to reduce those two topics to five hundred words or so, the problem with such a single page explanation is that much of the vital information would be left out. If the document failed to mention every “an/but/or,” the message would almost certainly be lost. If, on the other hand, the document were to be expanded to cover every minute particular, the writer would probably lose track of the average reader, since the text might exceed the latter’s attention span.

There has been little data or other news to report lately. And I have been quite busy with little time to devote to the blog. I am in the process of a move to Gulf Breeze Fl. That is on a narrow peninsula between Pensacola and Pensacola Beach Fl. And I still have another week or two before I can get back to my leisurely schedule again. So don’t look for another post for another five to seven days. Well that is unless someone has a guest post they would like to give us.

Bạn đang xem bài viết How Does The Hebrew Bible Relate To The Ancient Near Eastern World (Vietnamese) trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!