Xem Nhiều 2/2023 #️ Khái Quát Về Hệ Thống Ngữ Âm Của 3 Vùng Phương Ngữ # Top 5 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Khái Quát Về Hệ Thống Ngữ Âm Của 3 Vùng Phương Ngữ # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Khái Quát Về Hệ Thống Ngữ Âm Của 3 Vùng Phương Ngữ mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hiện nay, chuẩn ngữ âm chưa được chính thức quy định. Nếu ta lấy hệ thống âm vị tiếng Việt được phản ánh qua chính tả làm chuẩn để khảo sát sự khác nhau của 3 phương ngữ nói trên thì có thể nêu lên những đặc trưng ngữ âm chủ yếu như sau:

1. Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Bắc

1.1. Hệ thống thanh điệu

– Số lượng: 6 thanh.

– Khu biệt: đối lập từng đôi một về âm vực và âm điệu.

1.2. Hệ thống phụ âm đầu

– Số lượng: 20 âm vị.

– Trong số 20 âm vị trên, không có những phụ âm ghi trong chính tả là s, r, gi, tr. Tức là không phân biệt giữa: s/x, r/d/gi, tr/ch.

1.3. Hệ thống âm cuối

– Số lượng: Có đủ các âm cuối ghi trong chính tả.

– Có 3 cặp âm cuối nằm trong thế phân bố bổ sung là:

+ [-nh, -ch] đứng sau nguyên âm dòng trước: / i, e, ê/;

+ [-ng, -k] đứng sau nguyên âm dòng giữa (hàng sau không tròn môi – theo cách gọi của GS. Đoàn Thiện Thuật): / ư, ơ, â, a/.

Trong chính tả, đôi phụ âm thứ 3 này không được thể hiện phân biệt với đôi phụ âm thứ 2, mặc dù chúng được phát âm khác nhau (cặp thứ 2 là các âm cuối mở, còn cặp thứ 3 lại là các âm cuối ngậm môi).

1.4. Phương ngữ Bắc lại có thể được chia thành 3 vùng nhỏ hơn:

– Phương ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nước ta.

Phần lớn người Việt ở khu vực này đều mới đến từ các tỉnh đồng bằng có mật độ cao như Thái Bình, Hà Nam Ninh (cũ). Do quá trình cộng cư xảy ra gần đây nên phương ngữ này phát triển theo hướng thống nhất với ngôn ngữ văn học, mang những nét khái quá chung của phương ngữ Bắc, và không chia manh mún thành nhiều thổ ngữ làng xã như phương ngữ Bắc ở các vùng đồng bằng – cái nôi của người Việt cổ.

– Phương ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh xung quanh (Hà Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc, Phú Thọ), Hà Sơn Bình (Hà Tây, Hoà Bình), Hải Hưng (Hải Dương, Hưng Yên), Hải Phòng)

Đây là vùng mang những đặc trưng tiêu biểu của phương ngữ Bắc.

– Phương ngữ miền hạ lưu sông Hồng và ven biển (Thái Bình, Hà Nam Ninh, Quảng Ninh).

Vùng này còn lưu giữ lại cách phát âm khu biệt d với gi,r ; s với x; tr với ch mà các phương ngữ Bắc khác không phân biệt nữa.

2. Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung

2.1. Hệ thống thanh điệu

Gồm 5 thanh điệu, khác với hệ thống thanh điệu phương ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng.

2.2. Hệ thống phụ âm đầu

– Số lượng: 23 phụ âm.

– Trong số 23 phụ âm trên, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi / ş, z, / (chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr). Trong nhiều thổ ngữ có 2 phụ âm bật hơi [ph, kh] (giống như chữ viết đã ghi lại) thay cho 2 phụ âm xát / f, χ/ trong phương ngữ Bắc.

2.3. Hệ thống âm cuối

Phụ âm /-ŋ, -k/ có thể kết hợp được với nguyên âm ở cả 3 hàng. Tuy vậy, trong những từ chính trị-xã hội mới xuất hiện gần đây vẫn có các cặp âm cuối [-nh, ch] và [- ngm, kp]

2.4. Phương ngữ Trung cũng có thể chia thành 3 phương ngữ nhỏ hơn

Cơ sở của sự phân chia này là sự khác nhau về thành điệu giữa 3 khu vực.

– Phương ngữ Thanh Hoá

+ Lẫn lộn thanh hỏi với thanh ngã (phát âm không phân biệt).

+ Các thanh còn lại giống với phương ngữ Bắc.

– Phương ngữ vùng Nghệ Tĩnh

+ Không phân biệt thanh ngã với thanh nặng.

+ Cả 5 thanh tạo thành một hệ thống thanh điệu khác với phương ngữ Bắc do có độ trầm lớn hơn.

– Phương ngữ vùng Bình Trị Thiên

+ Không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã.

+ Về mặt điệu tính lại giống với thanh điệu Nghệ Tĩnh. Riêng vùng Thừa Thiên-Huế có hệ thống vần và âm cuối giống phương ngữ Nam. Điều này có nguồn gốc lịch sử -xã hội. Vì vậy, do sự pha trộn phương ngữ Trung và phương ngữ Nam trong pưhơng ngữ Thừa Thiên-Huế, nên nó không tiêu biểu cho cả vùng. Tiêu biểu cho phương ngữ Trung là dải phương ngữ từ Nghệ Tĩnh đến sông Bến Hải.

3. Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Nam

3.1. Hệ thống thanh điệu

– Số lượng: 5 thanh.

– Thanh ngã với thanh hỏi trùng làm một.

– Xét về mặt điệu tính thì đây là một hệ thống khác với phương ngữ Trung và phương ngữ Bắc.

3.2. Hệ thống phụ âm đầu

– Số lượng: 23 phụ âm.

– Có các phụ âm uốn lưỡi / ş, z, / (chữ viết ghi là s, r, tr). Ở Nam Bộ, có thể phát âm rung lưỡi [r]. So với các phương ngữ khác, phương ngữ Nam thiếu phụ âm / v/, nhưng lại có thêm âm [ w] bù lại; không có âm / z/ và được thay thế bằng âm [ j].

3.3. Âm đệm /-w-/ đang biến mất dần trong phương ngữ Nam.

3.4. Phương ngữ Nam cũng mất đi nhiều vần so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung. Và nó cũng thiếu cặp âm cuối /-ŋ, k/. Trong khi đó, cặp âm cuối [- ngm, kp] lại trở thành những âm vị độc lập.

3.5. Phương ngữ Nam có thể chia thành 3 vùng nhỏ hơn

– Vùng phương ngữ Quảng Nam-Quảng Ngãi:

Vùng này khác các nơi khác ở sự biến động đa dạng của âm / a/ và / ă/ trong kết hợp với các âm cuối khác nhau.

– Các phương ngữ Quy Nhơn đến Thuận Hải mang đặc trưng chung nhất của phương ngữ Nam.

– Phương ngữ Nam Bộ đồng nhất các vần:

Vùng này cũng có khuynh hướng lẫn lộn s/x và tr/ch như phương ngữ Bắc. Nhưng trong ngôn ngữ thông tin đại chúng, trong các hoạt động văn hoá giáo dục, sự phân biệt các phụ âm này lại được duy trì rất có ý thức.

Phương Pháp Nghiên Cứu Của Ngữ Âm Học

Do ngữ âm học nghiên cứu cả mặt tự nhiên lẫn mặt xã hội của ngữ âm cho nên nó đã sử dụng hai loại phương pháp nghiên cứu chủ yếu khác nhau: Một loại thích dụng với các khoa học tự nhiên; Một loại thích dụng với các khoa học xã hội.

Loại thứ nhất là phương pháp quan sát, miêu tả các hiện tượng ngữ âm. Sự quan sát có thể tiến hành bằng mắt, bằng tai của người nghiên cứu. Ví dụ, khi quan sát một người nào đó phát âm hai tiếng ” tu hú” người nghiên cứu nhìn thấy hai môi người phát âm tròn lại và nhô về phía trước. Đó là sự quan sát trực tiếp. Quan sát còn có thể tiến hành bằng phương pháp gián tiếp, tức là qua máy. Ngữ âm học thực nghiệm đã dùng hàng loạt máy móc hiện đại để quan sát âm thanh lời nói. Chung quy lại có thể phân thành bốn loại phương tiện chính là:

Các phương tiện ghi hình cung cấp những đường ghi trên giấy hay trên phim ảnh. Những đường ghi này không thể chuyển lại thành âm thanh mà chỉ có thể xem bằng mắt.

Các phương tiện ghi âm lên mặt sáp, mặt nhựa, băng từ tính, đĩa quang… để khi cần có thể chuyển các đường ghi thành âm thanh trở lại.

Các phương tiện ghi vị trí của các cơ quan cấu âm (máy ảnh, máy quay phim bằng tia X).

Các phương tiện ghi và phân tích âm thành bằng máy quang phổ, máy hiện sóng…

Phương pháp quan sát bằng máy cho ta những cứ liệu chính xác. Nó giúp người nghiên cứu quan sát được những sắc thái quá nhỏ bé của âm thanh mà thính giác của con người không có khả năng nhận biết, phân biệt. Tuy nhiên, nó không phải là phương pháp duy nhất và không phải trong trường hợp nào cũng có thể thay thế được phương pháp quan sát trực tiếp.

Phương pháp thứ hai vốn thích dụng hơn với các khoa học xã hội là phương pháp suy luận. Ví dụ, từ chỗ người Việt có phân biệt nghĩa của hai từ ” rác” và ” rắc“, nhà nghiên cứu suy ra được rằng trong tiếng Việt trường độ có tác dụng phân biệt nghĩa, có một chức năng xã hội. Phương pháp suy luận dựa trên sự đối chiếu, so sánh các từ để tìm ra cái có ý nghĩa ngôn ngữ học.

Trong hai loại phương pháp nghiên cứu kể trên, phương pháp quan sát, miêu tả thường đi trước và là bước chuẩn bị cho phương pháp suy luận. Song đi trước không có nghĩa là quyết định. Để tìm ra hệ thống nguyên âm, phụ âm của một ngôn ngữ nào đó, người nghiên cứu không thể không tiến hành bước thứ hai: bước suy luận. Với ý nghĩa đó mà nói thì phương pháp suy luận mới là phương pháp chủ yếu của ngữ âm học.

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 73-75.

Đặc Sản Ngôn Ngữ Vùng Miền

Văn là người. Đọc văn có thể biết người. Biết tư tưởng tình cảm của người viết. Biết hoàn cảnh xuất thân. Biết cái yêu cái ghét, thậm chí biết cả sở thích ngôn ngữ và quê quán gốc gác của tác giả.

Như thế này là biết đến cả gốc gác của người viết: nhà văn Tô Hoài kể, có lần ông băn khoăn với chữ “áy” trong câu Kiều: Một vùng cỏ áy bóng tà/Gió hiu hiu thổi một và bông lau. Ông không hiểu chữ áy, nhiều bài viết thì cho rằng đó là tên một loại cỏ, cho đến ngày đi thực tế ở một vùng quê Thái Bình. Dân ở đấy gọi cái gì úa héo là áy, cỏ úa gọi là cỏ áy. Thế mới nhớ ra, quê ngoại Nguyễn Du ở Thái Bình. Quê nội thi hào ở Hà Tĩnh thì đã biết rồi, trong Truyện Kiều cũng có một số từ gốc Nghệ Tĩnh đã được giải mã.

Chữ áy này có nghệ sĩ không hiểu, khi lẩy Kiều, vẫn phát âm chệch sang thành cỏ ái.

Chữ áy của Thái Bình thời xưa cho thấy rằng quê hương bản quán của nhà văn có khi in dấu trong chữ nghĩa. Nhà văn nào có ngôn ngữ ấy, nhà văn vùng nào có ngôn ngữ vùng ấy, tất nhiên là nên dùng đủ độ. Cũng như nhân vật nào có ngôn ngữ ấy, tùy thuộc vào thế hệ, tuổi tác, quê quán, học vấn, hoàn cảnh xuất thân… Không thể trong một tiểu thuyết mà già trẻ trai gái trí thức dân cày đều nói cùng một ngôn ngữ.

2. Khó có khả năng một thi hào như Nguyễn Du dùng chữ áy một cách vô tình. Rất có thể ông cài chữ áy vào đấy như một tín hiệu với người đọc cùng thời, và gửi thông điệp cho đời sau. Toàn văn tác phẩm ông dùng giọng chuẩn, nhưng vẫn muốn hé lộ cho người đọc biết rằng quê nội ông ở Hà Tĩnh và quê ngoại Thái Bình. Đôi ba chữ cài cắm như vô tình vậy thôi, cũng là tạo không khí văn chương xứ bắc và xứ Nghệ, chứ quyết không đặc sệt thổ ngữ mô tê răng rứa. Phương ngữ khi bị sử dụng quá mức độ thì chỉ gây mệt mỏi chán ngán.

Nói vậy thì thấy thời bây giờ rất khó giải mã xuất xứ của các tác giả. Một tác giả gốc miền Trung ra sinh sống ở Hà Nội. Một tác giả sinh ở Hà Nội nhưng theo cha mẹ vào làm việc ở Vũng Tàu. Khi trở thành tác giả, phải có ý thức lắm thì họ mới có thể giữ cho ngôn ngữ của mình không bị “lai”. Hầu như ngôn ngữ của họ là một thứ con lai không được miền nào thừa nhận. Khi biên tập tác phẩm của bạn văn, tôi thường không thoải mái gặp phải những câu như thế này: “Đi đến ngã tư Giảng Võ, anh quẹo phải”. Đúng ra một người Hà Nội, một người Bắc, lại đang đi trên đường phố Hà Nội, thì không có chữ “quẹo phải”, mà phải viết là “rẽ phải”. Nhân vật trong truyện cũng không phải người Nam để tác giả có thể tạo không khí bằng chữ quẹo. Tôi hỏi, tác giả ngụy biện: Thấy cái chữ thích thì dùng thôi.

Nhà văn không phải cứ thấy thích là dùng. Mặc dù ngồi trước trang giấy thì không còn quy phạm và anh có quyền tự do sáng tác.

Cũng trong cuốn sách của tác giả người Bắc này, tôi nhặt ra vô số phương ngữ Nam Bộ mà tôi phải chú giải, gợi ý để bạn ấy chọn cách dùng cho thuần Bắc:

Càm ràm: cằn nhằn, càu nhàu, kèo nhèo.

Ròm: còm, còm nhom, gầy còm.

Gạo cội: cứng cựa, già giơ, có đẳng cấp.

Lãng xẹt: nhạt nhẽo, loãng toẹt.

Bắt mắt: đẹp mắt, được mắt, vừa mắt.

Mãn nhãn: no mắt, ngon mắt, đẹp mắt, ưa nhìn.

Te tua: tơi tả, rách tướp, tan tác, tan tành.

Bự chảng: to tướng, to đùng.

Tầm mười tám: khoảng mười tám, độ mười tám.

Tiệp với: hợp với, hài hòa với, phù hợp.

Ngược chiều với các tác giả Bắc, nhiều tác giả quê Nam mà trong tác phẩm họ lại dùng ngôn ngữ theo kiểu: hay nhỉ, thế đấy, cánh phụ nữ chúng tôi, có phải không ạ?…

Thấy rõ ràng là phần lớn người viết văn viết báo hiện nay không biết gốc gác của từ ngữ mình sử dụng, không biết từ này gốc Nam từ kia gốc Bắc. Thích thì dùng. Tức là dùng mà không ý thức được, dùng một cách bản năng, tiện thì dùng, nghe ngồ ngộ lạ tai lạ mắt thì dùng.

Không loại trừ khả năng có một số rất ít thách thức người đọc: tôi dứt khoát không tiết lộ tôi là người vùng nào, tôi xóa mờ gốc gác, tôi thách độc giả nhận ra giọng tôi. Họ chủ ý đánh lạc hướng của độc giả.

3. Bao lâu băn khoăn về ngôn ngữ vùng miền như vậy, rồi bất chợt gặp được những trăn trở của nghệ sĩ Thành Lộc trong bài đối thoại 61 & 91 ngồi “đếm” Sài Gòn:

“Người Việt mình rất phong phú về lời ăn tiếng nói; mỗi vùng miền đều có cái đặc sắc của ngôn ngữ địa phương, cái đó mình phải giữ và phát huy… Các em diễn viên trẻ bây giờ nói chuyện, từ ngữ và cả giọng điệu bị lai miền Bắc rất nhiều. Có nhiều vở chuyện kịch diễn ra tại Sài Gòn từ trước 1975 nhưng các diễn viên lại dùng từ ngữ và văn phong của Sài Gòn sau ’75, có khi dùng cả từ địa phương miền Bắc rất nhiều nên nó bị “nhiễu” về văn hóa. Ðây thuộc về kiến thức của đội ngũ biên kịch và các em diễn viên trẻ ngày nay không chuyên cần đào sâu một tác phẩm về mọi phương diện. Người dẫn chương trình giải trí trên truyền hình ở Sài Gòn mà cứ “vâng ạ!”, “có được không ạ?” nghe mất hẳn bản sắc vùng miền vốn không hề dở thì thật là uổng, uổng lắm! Trong các vở kịch mà anh làm, bao giờ anh cũng chú ý uốn nắn phương diện này, uốn nắn rất nghiêm chỉnh cho các diễn viên của mình” (báo Phụ Nữ chúng tôi xuân Canh Tý).

Lắng nghe ý kiến của Thành Lộc, mới thấy băn khoăn về ngôn ngữ lai tạp không chỉ là chuyện của người viết văn viết báo. Đấy là mối quan tâm chung của những nghệ sĩ ưu tư và có ý thức về nghề. Nữa, trước cuộc tạo sinh ra thứ ngôn ngữ con lai thì Sài Gòn cởi mở lẫn Hà Nội thâm trầm đều bối rối tìm cách chống đỡ.

4. Nhưng tôi cũng cho rằng nỗi ưu tư của Thành Lộc lẫn của chính mình rốt cuộc chỉ là giữ cho bản thân mình và giữ gìn cho vòng ảnh hưởng của mình mà thôi. Trong rất nhiều quyền con người mà ta đang phấn đấu thực hiện, có quyền tự do đi lại và quyền tự do cư trú. Cuộc di dân thường xuyên giữa các quốc gia giữa các vùng miền có tác động lớn đến ngôn ngữ. Nỗi ưu tư dường như đã dẫn đến một nhận thức rằng đang hưng thịnh một thứ ngôn ngữ không phân biệt vùng miền. Ngôn ngữ của báo chí phương Nam có ảnh hưởng mạnh đến ngôn ngữ miền Bắc. Ngôn ngữ thuyết minh phim trên truyền hình phía Bắc có tác động đến lời ăn tiếng nói phương Nam. Người Nam sẽ quen và sẽ dùng thế đấy, vâng ạ… Người Bắc sẽ thấy thuận tai những từ như mãn nhãn, bắt mắt… Người ta sẽ không thể dùng ngôn ngữ làm phương tiện để giải mã được gốc gác quê quán của nghệ sĩ. Mà hình như nhiều nghệ sĩ cũng muốn xóa nhòa những thứ đó.

Sẽ chỉ còn lại rất ít nhà văn mà đọc ngôn ngữ của họ, người ta biết được tác giả sinh ra ở vùng miền này, hoặc trưởng thành ở xứ sở nọ. Rất ít, nhưng độc giả tinh tế sẽ tìm đến họ như một thứ của hiếm.

Hồ Anh Thái

Ngôn Ngữ Thứ 3 Của Người Việt Nam

Tự học tiếng Hàn Quốc cơ bản cho người mới

Ngôn ngữ Hàn Quốc hay mọi người thường gọi là tiếng Hàn, được sử dụng làm ngôn ngữ chính thống tại xứ sở Kim Chi xinh đẹp. Tiếng Hàn được đánh giá là một trong những hệ thống chữ viết độc đáo và hiếm có xuất hiện trên thế giới, đồng thời nó còn đứng thứ 10 trong bảng xếp hạng ngôn ngữ về số lượng người sử dụng trên thế giới.

Giới thiệu tổng quát về tiếng Hàn 

Nguồn gốc hình thành nên tiếng Hàn

Vào thời cổ đại, người Hàn Quốc sử dụng tiếng Hán trong các sáng tác văn chương và khoa cử. Tuy nhiên đối với nhiều người dân thì tiếng Hán quá khó để sử dụng hàng ngày nên học đã mượn âm và nghĩa từ tiếng Hán và sáng tạo ra Idu. Idu dễ học những lại không phải ngôn ngữ riêng của Hàn, đồng thời cũng bất tiện vì không thể diễn tả hết được điều muốn nói. Chính vì thế, hoàng đế SeJong đã cùng các học giả miệt mài nghiên cứu và phát minh một loại chữ viết riêng cho dân tộc mình vào năm 1443. Đó là chữ tiếng Hàn hay còn gọi là Hangeul, được đưa vào sử dụng từ năm 1446. Chữ cái tiếng Hàn được tạo ra rất độc đáo và không chịu ảnh hưởng từ bất kỳ chữ viết của ngôn ngữ nào khác. Trải qua mấy trăm năm lịch sử thay đổi và phát triển, đã có nhiều sự biến đổi về từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp trong tiếng Hàn. Ngoài ra, trong quá trình hội nhập, ngôn ngữ tiếng Hàn cũng đã tiếp nhận những điều mới mẻ, tích cực từ ngôn ngữ và văn hóa của các nước khác. Điều này cũng góp phần làm rạng rỡ hơn nét đẹp, tinh hoa ngôn ngữ và văn hóa của Hàn Quốc. Bảng chữ cái tiếng Hàn hiện nay gồm 21 nguyên âm và phụ âm. Các nguyên âm và phụ âm kết hợp với nhau tạo nên những âm tiết trong tiếng Hàn và chúng được viết theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.

Đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ tiếng Hàn

– Sự đối âm trong tiếng Hàn khá độc đáo được hình thành bởi các âm bằng, âm bật hơi, âm căng,… mà không ngôn ngữ của quốc gia nào có được. Nếu trong tiếng Việt khó ở thanh sắc thì với ngôn ngữ Hàn, cách phát âm những âm căng và bật hơi có thể nói là khó nhất. – Các âm tiết được tạo nên khi có thêm phụ âm vào nguyên âm. Và một âm tiết trong tiếng Hàn Quốc thì bắt buộc phải có nguyên âm. – Từ vựng trong ngôn ngữ Hàn khá phong phú và đa dạng với gốc từ thuần Hàn, từ ngoại lai, từ gốc Hán. – Một trong những đặc điểm nổi bật của tiếng Hàn chính là sử dụng kính ngữ. Nó là cách nói thể hiện sự tôn trọng, lịch sự dành cho những người bề trên, lớn tuổi và người có vị thế cao hơn.

Ngôn ngữ địa phương tại Hàn Quốc

Cũng như Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới, tiếng Hàn cũng có những ngôn ngữ địa phương theo vùng miền. Ở Hàn Quốc, tiếng địa phương được chia làm 6 vùng chủ yếu, bao gồm: – Khu vực vùng Đông Bắc: tỉnh Nam Hamgyeong, Bắc Hamgyeong và Yanggang tại Bắc Triều Tiên. – Khu vực vùng Tây Bắc: tỉnh Jagang, tỉnh Nam Pyeongan, tỉnh Bắc Pyeongan và phía Bắc tỉnh Hwanghae của Bắc Triều Tiên. – Khu vực vùng Đông Nam: tỉnh Nam Gyeongsang, Bắc Gyeongsang và vùng xung quanh – Khu vực vùng Tây Nam: tỉnh Nam Jeolla, Bắc Jeolla – Khu vực vùng Jeju: đảo Jeju và các đảo phụ thuộc. – Khu vực vùng Trung bộ: tỉnh Nam Chungcheong, Bắc Chungcheong, tỉnh Gangwon, tỉnh Gyeonggi và phần lớn của tỉnh Hwanghae.

Học tiếng Hàn Quốc mất bao lâu

Việc học một ngôn ngữ bất kỳ nào cũng đều là khái niệm rất tương đối, nghĩa là đối với một số bạn thì nó có thể vô cùng nhanh và dễ dàng, với một số khác thì lại khá chậm. Chính vì thế, để học tiếng Hàn hiệu quả thì không thể vội và tùy theo khả năng của mỗi người. Một người muốn có thể thật sự hiểu và giao tiếp tại Hàn Quốc hay với người Hàn thì nên cần dành thời gian ít nhất 1 năm chăm chỉ học hành và luyện tập tiếng Hàn mỗi ngày. Nhìn chung, với khoảng thời gian này dù học ít hay nhiều cũng sẽ có hiệu quả đối với người học tiếng Hàn. Tuy nhiên, với các cách học tập riêng và khả năng tiếp thu khác nhau của mỗi người, khó có thể nói chính xác được học thế nào là vừa đúng vừa tốt nhất và trong bao lâu thì hiệu quả nhất. Nhưng có một điều chắc chắn các bạn cần phải nhớ là tuyệt đối đừng vội vàng, chăm chỉ và nỗ lực hết sức để sớm đạt được kết quả như mong muốn.

Hướng dẫn các phương pháp học tiếng Hàn Quốc

Bắt đầu học từ bảng chữ cái tiếng Hàn

Trước tiên, bạn hãy học thuộc cách phát âm và cách viết của các nguyên âm đơn và phụ âm đơn. Tiếp theo, tập ghép chúng lại với nhau và học sang nguyên âm kép, phụ âm kép. Trong quá trình học tiếng Hàn, học cách phát âm là phần cực kỳ quan trọng bởi nó quyết định đến việc nghe và giao tiếp sau này.

Cách học từ vựng trong tiếng Hàn

Ở nhà, luyện tập viết một từ nhiều lần, vừa viết vừa nhẩm lại nghĩa. Với phương pháp này sẽ giúp các bạn học thuộc mặt chữ và nhớ luôn được nghĩa. Đặt mục tiêu trong một ngày cần học thuộc bao nhiêu từ và ôn đi ôn lại từ vựng đã học, cả từ mới lẫn từ cũ. Ngoài ra, bạn cũng có thể dùng giấy nhớ hay sticker để viết và dán tên những đồ vật trong nhà bằng tiếng Hàn để khi nhìn thấy chúng hàng ngày là nhớ được luôn tên tiếng Hàn.

Cách học ngữ pháp trong tiếng Hàn

Bạn nên thống kê những loại ngữ pháp đã học trong tiếng Hàn thành từng nhóm, so sánh xem giữa chúng có đặc điểm gì giống và khác nhau, học thuộc các trường hợp sử dụng của từng loại này.

Cách luyện nghe và nói trong tiếng Hàn

Mục đích chính của bất kỳ ai học tiếng Hàn cũng hướng tới là việc giao tiếp hàng ngày với người Hàn. Vì thế, các bạn phải mạnh dạn nói, thể hiện tiếng Hàn tại bất cứ địa điểm, thời gian nào có thể. Lúc đầu, khi chưa quen, cứ suy nghĩ những điều muốn nói bằng tiếng Việt rồi sắp xếp câu theo đúng ngữ pháp tiếng Hàn. Luyện tập nói những câu đơn giản trước rồi dần đẫn dùng các câu dài và phức tạp hơn. Bên cạnh đó, cũng cần nghe càng nhiều càng tốt để luyện kỹ năng nghe. Trước khi vào học một bài mới nào đấy, cứ tập nghe trên đĩa trước chứ đừng vội mở sách . Trong quá trình luyện nghe, nghe được từ nào thì nhớ phải ghi chú  lại xem từ nào đã học, từ nào chư. Sau đó hãy mở sách ra kiểm tra mình nghe được bao nhiêu.

Một số chia sẻ kinh nghiệm khi học tiếng Hàn

– Hãy học cách từ từ và cẩn thận, không nên học quá nhiều trong một lúc mà học đi học lại nhiều lần. – Dành nhiều thời gian để ôn luyện từ vựng, ngữ pháp và luyện khả năng nghe tiếng Hàn mỗi ngày. – Luôn tranh thủ tìm những cơ hội để tập nói tiếng Hàn thường xuyên. – Kết bạn với nhiều người Hàn hoặc với những ai nói tiếng Hàn Quốc và nhờ họ giúp đỡ bạn trong quá trình học tiếng. Đừng ngần ngại điều này bởi người Hàn rất coi trọng văn hóa và tích cực trong việc giúp người khác học tiếng bản xứ của họ. Nếu có cơ hội giao tiếp nhiều với người Hàn thì bạn sẽ dần tiếp thu cách phát âm tiếng Hàn đúng và sửa được những từ mình bị phát âm sai. Từ đó, khả năng giao tiếp sẽ nhanh chóng được nâng cao hơn.

Một số mẹo học tốt ngôn ngữ Hàn Quốc

– Ngoài sách vở, bạn cũng có thể kết hợp học theo phần mềm hay viết từ ra những mảnh giấy note để học trước khi đi ngủ. – Gửi tin nhắn, email bằng tiếng Hàn cũng là một hình thức tốt để học. – Bên cạnh đó, bạn hãy tranh thủ luyện tập tiếng Hàn qua những bài hát, qua đĩa CD hay qua các bộ phim của Hàn Quốc. Những lúc rảnh rỗi hoặc đi ra ngoài, bạn đều có thể bật lên xem và luyện nghe. Khi nghe nhiều ngôn ngữ Hàn Quốc sẽ giúp cho khả năng nhận thức cũng như phản xạ tiếng Hàn của bạn thân được tăng lên. Với cách học này thật sự hữu ích và dễ dàng để bạn thực hành. – Học tiếng Hàn thường xuyên, chăm chỉ, duy trì, kiên nhẫn để vượt qua những chỗ khó. Dù học được bao nhiêu thời gian, ở trình độ nào cũng đừng bao giờ nghĩ mình đã biết nhiều và dừng việc luyện tập. Và nếu như vậy bạn sẽ nhanh chóng quên tiếng Hàn đấy. Có thể nói, ngôn ngữ tiếng Hàn vô cùng độc đáo, mang nét đặc trưng riêng về văn hóa của xứ sở Kim Chi xinh đẹp. Học tiếng Hàn không hề khó nhưng cũng không đơn giản. Muốn giỏi ngôn ngữ Hàn Quốc, bạn cần phải có sự đầu tư về thời gian, công sức và tiền bạc. Hiện nay, với sự đẩy mạnh đầu tư, phát triển về kinh tế giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, bạn sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn khi có thể giao tiếp bằng tiếng Hàn, đồng thời cũng dễ dàng, thuận tiện hơn khi muốn sang Hàn du học.

DU HỌC NETVIET

Trang chủ

Đặc quyền đăng ký du học tại NETVIET EDU : Không cần đặt cọc tiền đầu vào khi nộp hồ sơ ghi danh du học – Liên kết với hơn 500 trường – Tối ưu chi phí du học ở mức thấp nhất – Uy tín – Chuyên nghiệp – Hiệu quả

Bạn đang xem bài viết Khái Quát Về Hệ Thống Ngữ Âm Của 3 Vùng Phương Ngữ trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!