Xem Nhiều 2/2023 #️ Làng Và Quan Hệ Dòng Họ Của Người Việt Nam Bộ # Top 2 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Làng Và Quan Hệ Dòng Họ Của Người Việt Nam Bộ # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Làng Và Quan Hệ Dòng Họ Của Người Việt Nam Bộ mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giáo sư, Tiến sĩ  NGÔ VĂN LỆ (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG-HCM)

     Theo bước chân mở cõi của Chúa Nguyễn Hoàng thế kỷ XVI, người Việt đã tiến về phương Nam lập làng sinh sống. Lịch sử hình thành khác nhau nên làng Việt Bắc bộ và làng Việt Nam bộ cũng mang những nét đặc trưng riêng biệt. Nghiên cứu Làng và quan hệ dòng họ của người Việt Nam bộ của Gs Ngô Văn Lệ đã chỉ ra và lý giải những đặc trưng này. Trích từ trong Đề tài cấp nhà nước Đặc trưng tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng cư dân Nam Bộ, 6/2011.

1.

     Người Việt là tộc người đa số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam[1]. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, người Việt đã cùng với các tộc người thiểu số sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam viết lên những trang lịch sử hào hùng trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng hòa bình. Do có ưu thế về số lượng dân cư, địa bàn sinh sống và trình độ phát triển kinh tế xã hội, mà văn hóa của người Việt giữ vai trò chủ đạo trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, nhất là trong giai đoạn cận hiện đại. Hàng ngàn năm nay người Việt, một mặt vừa chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, với những kẻ thù xâm lược, mặt khác, đã sáng tạo cho mình những giá trị văn hóa, đồng thời lại tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa ngoại nhập, làm phong phú thêm văn hóa Việt Nam. Tất cả những giá trị văn hóa đó đã tạo nên bản sắc và sức mạnh để Việt Nam tiếp bước trên con đường phát triển, để thực hiện mục đích cao quý: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

     Trong bối cảnh hiện nay, khi mà Việt Nam đang trên con đường hội nhập thì việc nghiên cứu văn hóa người Việt không chỉ giúp cho người đọc thấy đựơc sự kế thứa và sự sáng tạo trong chiều dài lịch sử, mà còn thấy đựơc những giá trị đích thực tạo nên sức mạnh cho sự phát triển hôm nay. Bởi vì trong “công cuộc đổi mới toàn diện, đầy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục đích dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đòi hỏi chúng ta phải xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… Coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội”[2].

     Do tính chất và tầm quan trọng của vấn đề nên làng và quan hệ dòng họ người Việt được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu đã đựơc công bố[3]. Các công trình đó đã trình bày về xã hội nông thôn truyền thống của người Việt thông qua cơ cấu tổ chức, hoạt động kinh tế, thiết chế xã hội. Tuy nhiên, các công trình đã được công bố tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu làng và quan hệ dòng họ người Việt ở Bắc Bộ – cái nôi hình thành những giá trị văn hóa Việt – còn ở Nam Bộ chưa được chú ý. Bài viết của chúng tôi không đề cập đến một làng và quan hệ dòng họ cụ thể nào của người Việt ở Nam Bộ, mà trên cơ sở những vấn đề đã được nghiên cứu về làng và quan hệ dòng họ người Việt ở Bắc Bộ và sự trải nghiệm của bản thân tác giả trong những năm sinh sống ở một làng quê Bắc Bộ và những năm công tác tại các tỉnh phía Nam nêu lên những nguyên nhân về những khác biệt về làng và quan hệ dòng họ người Việt Nam Bộ trong bối cảnh chung của Văn hóa Việt. Tuy nhiên, làng và quan hệ dòng họ người Việt Nam Bộ là một đề tài phức tạp đầy khó khăn, trong một tiểu luận nhỏ này khó lòng bao quát được. Hơn nữa, sự hình thành các làng Việt là một qúa trình, lại bị chi phối bởi những nguyên nhân khác chúng tôi một nghiên cứu thì qúa trình hình thành các làng ở Đồng Nai-Gia Định (bao gồm không chỉ Đồng Nai mà cả vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay) có 4 phương thức lập làng. Còn ở tỉnh Tiền Giang thì tồn tại 4 loại hình cư trú (thực chất là 4 loại hình cộng cư, mà bản chất của vấn đề là các loại hình làng khác nhau) [4]. Còn ở miền Bắc sự hình thành làng cũng diễn ra rất phức tạp. Trong qúa trình lịch sử, những tác động của các nhân tố cũng không giống nhau dẫn đến mỗi làng có một sắc thái văn hóa riêng, mà nhà nghiên cứu Từ Chi gọi là những “ốc đảo”. Chúng tôi hiểu rằng tính đa dạng của điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội sẽ tác động rất lớn đến sự hình thành các làng, cũng như cơ cấu tổ chức và vận hành của các làng Việt, mặc dù thuật ngữ “làng” trong tiếng Việt chỉ một cấp trong tổ chức hành chính trước đây và hàm chứa địa bàn cư trú của một cộng đồng cư dân. Với một tình hình thực tế như vậy, sự đa dạng của làng Việt như là một điều hiển nhiên. Nhưng nếu xét về cơ cấu tổ chức và sự vận hành của làng, thì về cơ bản các làng lại tương đối giống nhau. Mặt khác, chúng tôi cũng bị hạn chế về thời gian, nên không có điều kiện để khảo sát các làng khác, ngoài địa bàn nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Về tài liệu tham khảo, như trên chúng tôi đã trình bày, do tính chất và tầm quan trọng của làng Việt nên đã có nhiều công trình được xuất bản trong những năm qua, nhưng chúng tôi chỉ tiếp cận được một lượng tài liệu khiêm tốn. Do đó những đánh giá, nhận xét về làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ khó có thể nói là toàn diện được. Vì vậy, chúng tôi chỉ giới hạn ở một số vấn đề mà theo chúng tôi là những nét đặc trưng nhất để làm nên sự khác biệt giữa làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ.

2.

     Làng Việt ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam quy mô có thể rất khác nhau, nhưng đều là nơi cư trú của những cộng đồng dân cư Việt có quan hệ huyết tộc hoặc cùng quê có một không gian xác định so với các làng khác. Do tiến trình lịch sử, do sự mở rộng vùng lãnh thổ của quốc gia, do gia tăng dân cư nên sự hình thành các làng Việt diễn ra ở các giai đoạn lịch sử, ở các vùng là rất khác nhau. Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ – cái nôi của văn minh Việt – có những làng có nguồn gốc từ thời nguyên thủy. Bởi vì, sự phát triển của xã hội Việt Nam mà chúng ta có thể quan sát thấy không tạo ra một đột biến phá vỡ hoàn toàn cơ cấu tổ chức làng xã cũ để thành lập lại trên cơ sở xã hội mới. Các làng xã loại này, do vậy vẫn mang nặng những tàn dư nguyên thủy với bộ phận đất công chiếm đa số, do chưa có tư hữu. Tình hình này còn biểu hiện rất rõ ở các tộc người thiểu số ở Trường Sơn – Tây Nguyên trong những thập niên gần đây[5]. Đến thời kỳ xã hội có giai cấp, quá trình hình thành làng theo những con đường khác nhau. “Thường có khi các làng chỉ có một số ruộng hạn chế, nên khi không còn có đủ để nuôi sống cả số dân đã quá đông, nhiều người buộc phải đi tìm đất mới ở những nơi khác. Họ nhân danh chính mình hay nhân danh những kẻ muốn đi theo họ, xin được quyền chiếm dụng các đất đai bỏ hoang, để lập ở đây một làng mới, bằng cách cam đoan đóng thuế điền sau thời kỳ khẩn hoang nhất định.

     Một loại làng có nguồn gốc khác. Đó là những làng do nhà nước chủ trì việc phá hoang lập ấp. Những làng thuộc loại này chủ yếu được hình thành ở các vùng ven biển thuộc Thái Bình và Ninh Bình, đặc biệt diễn ra mạnh mẽ ở vùng Nam Bộ trong quá trình Nam tiến có sự hỗ trợ của chính quyền. Khi nói về cai trị của Nhà nước trong việc lập làng tại Nam Bộ, Địa chí Đồng Nai viết: “Nhà nước chiêu mộ những thành phần lưu tán – trong đó có tù đào binh, tứ cố vô thân – hay phân bổ nhân dân và nhiều loại binh lính đến khai đất đai lập ra làng.Những ruộng đất ngày càng mở rộng và cũng dần dần đi theo khuôn mẫu chung với các hình thức sở hữu được Nhà nước chủ động cung cấp các phương tiện canh tác như tru cày, lúa giống …chính phương thức này có xu hướng phát sinh những loại tài sản tập thể trong các làng xã. Nhà nước tổ chức các làng đồng điền rồi huy động nhân dân, nhất là binh lính đến làm việc theo một kỷ luật rất chặt chẽ để duy trì thường trực đội quân nông dân – ngụ binh ư nông – vừa sản xuất,vừa chiến đấu hay luân phiên làm việc đến việc lia khi hữu sự.Trên nguyên tắc,các đồn điền trực tiếp tạo ra các diện tích công điền, công thổ.” [8]. Tại Thái Bình và Ninh Bình, Nguyễn Công Trứ với tư cách là quan dinh điền sứ đã có công rất lớn trong việc hình thành các làng mới tại hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình)[9]. Quá trình hình thành các làng mới này cũng diễn ra ở thời hiện đại ở các huyện này. Trường hợp lập xã mới: xã Nam Cường (Tiền Hải) trong những năm 60 thế kỷ XX là một thí dụ.

     Người Việt trong quá trình Nam tiến mở rộng biên cương, xác lập chủ quyền, cũng là lúc hình thành những điểm tụ cư và trở thành làng. Làng Việt Nam Bộ cũng mang những nét chung của làng Việt Bắc Bộ. Đó là nơi cư ngụ của những cộng đồng dân cư Việt có quan hệ với nhau dựa trên một địa vực cư trú nhất định, và thêm vào đó là những mối quan hệ huyết tộc hoặc cùng quê. Quá trình hình thành làng Việt Nam Bộ khác với quá trình hình thành làng Việt Bắc Bộ. Khi người Việt bằng nhiều cách và vì nhiều lý do khác nhau đã có mặt ở vùng đất Nam Bộ trước thế kỷ XVII, nhưng vào thời điểm đó chưa có những điều kiện cần và đủ để hình thành làng. Và chỉ có ở giai đoạn sau đó, nhất là sau khi Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử vào thiết lập bộ máy hành chính ở Đồng Nai – Gia Định (1698), việc hình thành làng Việt mới có những điều kiện thuận lợi. Như vậy, sự hình thành làng Việt Nam Bộ, trong bối cảnh xã hội Việt Nam đã tiến một bước dài trên con đường phong kiến hóa nên đã có những khác biệt so với Bắc Bộ. Các làng Việt Nam Bộ được hình thành muộn hơn nhiều so với làng Việt Bắc Bộ nên không có làng nào có nguồn gốc từ thời nguyên thủy như các làng Việt Bắc Bộ. Làng Việt Nam Bộ được hình thành trong quá trình khai phá, có làng vốn là các đồn điền của chúa Nguyễn, nhà Nguyễn[10]. Các làng Việt Nam Bộ không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng. Mặc dù việc thành lập làng vai trò của cá nhân là rất quan trọng. Chính quyền khuyến khích những người có vật lực tuyển mộ khai hoang, “dưới tất cả mọi triều đại đều có một chính sách khẩn hoang và định cư. Những người lập làng mới được khích lệ bằng đủ loại biện pháp[11]. Rất nhiều người có công lập làng[12], nhưng không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng. Điều này cũng dễ hiểu, những người có vật lực chiêu mộ những người lao động ở các địa phương, là những người thuộc các dòng họ khác nhau. Trong môi trường mới, họ lao động để sinh sống mà thành quả của họ là những cánh đồng lúa bạt ngàn, là cơ sở để hình thành các làng mới. Nhưng đây là những làng đã hội đủ các yếu tố theo quy định của Nhà nước phong kiến. Người có công lập làng đã được nhà nước ban thưởng và có lẽ vì vậy không thể lấy tên họ làm tên làng. Trong những ngày đầu khai thác một hay mấy gia đình cùng chung lưng đấu cật để đấu tranh với thiên nhiên, giành lấy sự sống. Trải qua nhiều đời con cháu của những gia đình này sinh sôi nảy nở nhiều, số ruộng đất được khai thác nhiều thêm, thôn xã dần dần hình thành”[13]. Tình hình này là rất khác với quá trình hình thành các làng Việt Bắc Bộ. Dân cư của một làng phát triển từ sự tăng lên các thành viên của một dòng họ. Để ghi nhận sự phát triển của các làng đó, người ta lấy tên họ đặt cho tên làng. Trải qua những biến cố lịch sử tên làng không thay đổi tồn tại cho đến ngày nay.

     Các làng khi đã hình thành để cho việc quản lý được thuận lợi, cần thiết phải đặt tên cho các làng. Cách thức này khiến chúng ta liên tưởng đến việc nhà Nguyễn buộc người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long phải mang một trong 5 họ: Thạch, Sơn, Kim, Danh, Lâm[14] mà bản thân người Khmer cũng chưa hiểu hết bản chất của dòng họ là gì. Các làng Việt Bắc Bộ khi mới hình thành (các làng có nguồn gốc từ thời nguyên thủy) có lẽ có các tên gọi phản ánh những đặc điểm tự nhiên nơi cộng đồng đó cư trú. Những tên làng đó hiện nay vẫn còn tồn tại song song với những tên làng mới. Ở Thái Bình còn nhiều làng như thế: như làng Mét, làng Cọi, làng Đác, làng Lụ. Có lẽ sang thời kỳ độc lập khi hình thành bộ máy quản lý từ trung ương đến các địa phương, và nhất là khi chữ Hán đã có vai trò trong đời sống thì những làng mang tên chữ có yếu tố Hán – Việt ra đời. Mỗi làng mang tên chữ là những từ hoàn toàn có tính chất văn học biểu tượng của điềm lành. Ở vùng quê nào thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đều có tình hình như vậy[15]. Các tên gọi của các làng theo chữ Hán – Việt được dùng trong hành chính, còn trong dân gian các cư dân của các làng xung quanh vẫn gọi tên làng theo cách gọi cũ.

     Làng Việt Nam Bộ ngay từ khi hình thành đã có vai trò của Nhà nước, lại được hình thành muộn hơn các làng Việt Bắc Bộ[16]. Tên gọi các làng Việt Nam Bộ thường là từ Hán – Việt mang ý nghĩa tốt đẹp như An Bình, An Hòa, Bình Lợi, Phú Hòa. Cũng do quá trình hình thành làng diễn ra nhanh, dân cư bao gồm những người đến từ các vùng khác nhau nên làng Việt Nam Bộ cũng không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng. Quá trình hình thành làng và sự can thiệp của Nhà nước đã làm cho những nét văn hóa truyền thống của làng Việt Bắc Bộ không được thể hiện ở làng Việt Nam Bộ (như không có hương ước, khơng cĩ lng tn Nơm, tổ chức phi quan phương hầu như không có hoặc nếu có thì rất ít, không nhiều như các làng Việt Bắc Bộ).

     Cơ cấu tổ chức và sự vận hành của làng Việt cũng là nét khá độc đáo lôi cuốn sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Một loạt các bài viết đề cập đến những nội dung này đã được tập hợp đăng trong cuốn Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (tập II)[27]. Toan Anh, Nguyễn Văn Huyên trong các công trình của mình cũng dành khá nhiều trang nói về tổ chức làng xã cổ truyền Việt Nam và trong chừng mực nhất định đã nêu lên những khác biệt giữa làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ[28]. Trần Từ vào năm 1984 đã công bố công trình nghiên cứu về “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ“[29]. Đây được coi là công trình hoàn chỉnh (ít ra cho đến thời điểm này) nghiên cứu một cách toàn diện cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền của người Việt ở Bắc Bộ. Các công trình nghiên cứu về cơ cấu làng Việt Bắc Bộ đều khẳng định có sự hiện diện của các tổ chức phi quan phương bên cạnh các tổ chức quan phương[30]. Các tổ chức quan phương (hay bộ máy quản lý làng) do Nhà nước trung ương tập quyền áp đặt lên các làng, theo những quy định chung. Và bộ máy tổ chức này về cơ bản có sự thống nhất của toàn bộ vùng đồng bắng Bắc Bộ xét trên phương diện tổ chức cũng như chức năng nhiệm vụ. Thông qua các tổ chức quan phương Nhà nước thể hiện quyền lực đến các công dân của mình trong việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Tổ chức phi quan phương không nằm trong hệ thống của bộ máy hành chính, nó ẩn tàng trong các làng Việt và vận hành theo những nét rất riêng của từng loại tổ chức. Hoạt động của các tổ chức phi quan phương tạo nên sự kết dính giữa các thành viên trong tổ chức của mình. Đây là một nét rất khác trong cơ cấu tổ chức làng Việt Bắc Bộ so với làng Việt Nam Bộ. Các làng Việt Nam Bộ là các làng khai phá ngay từ khi hình thành đã thể hiện vai trò của mình. Mặt khác các thành viên của các làng Việt Nam Bộ được tập hợp từ các vùng khác nhau, nên mối quan hệ thân tộc không có cơ sở để thể hiện vai trò của mình, các nghiên cứu trước đây cũng như các công trình gần đây không thấy có làng nào có giáp[31]. Và vì những lý do đó các tổ chức phi quan phương không có điều kiện phát triển ở làng Việt Nam Bộ. Các tổ chức phi quan phương ở làng Việt Bắc Bộ trong bối cảnh hiện nay vẫn thể hiện rõ vai trò của mình trong đời sống thường nhật của người nông dân. Trong khi đó các tổ chức phi quan phương tại các làng Việt Nam Bộ vẫn vắng bóng, nếu có cũng thể hiện rất yếu ớt vai trò của mình.

     Trong bối cảnh chung của làng Việt Bắc Bộ với sự tồn tại song hành của các tổ chức quan phương và phi quan phương giữ vai trò quan trọng để điều hòa chung làm cho các làng Việt Bắc Bộ dù phức tạp, vẫn là một tế bào xã hội vận hành như một đơn vị thống nhất là hương ước. Hầu hết các làng Việt Bắc Bộ đều có hương ước. Làng nào có hương ước ấy, tùy truyền thống của từng làng mà hương ước đề cập đến những vấn đề cụ thể. Tuy nhiên, nội dung của hương ước của các làng lại có nội dung tương đối giống nhau. Vì hương ước không phải là bộ luật chung cho các làng, nên hình thức thể hiện những vấn đề cần đề cập tới của từng làng cũng khác nhau. Những nội dung mà hương ước các làng thường đề cập đến bao gồm:

1) Những trường hợp thưởng công (ví như thưởng cho người bắt được trộm cướp)

2) Những trường hợp phạt tội, thường là các tội nhẹ mà pháp lý của Nhà nước quân chủ chính thức không giải quyết (trộm cắp vặt, ẩu đả thông thường, bất kính đối với bề trên)

3) Những trường hợp đền bù cho người vì quyền lợi chung của cả làng chịu hy sinh (ví như bị thương, hay bỏ mình trong khi chống lại quân cướp)

4) Những trường hợp suy tôn người đã bỏ của, bỏ sức để làm việc ích chung cho cả làng (ví như tu bổ chùa làng, xây cầu, đắp cống)

5) Những trường hợp cấm đoán hoặc nhằm bảo vệ đạo lý (ví như cấm cờ bạc, trai gái)[32].

     Và “dù không phải là bộ luật hoàn chỉnh, hương ước với những điều quy định về một số nét sinh hoạt riêng biệt của làng xã, vẫn đóng vai trò một cương lĩnh. Có thể còn khá chung chung, nhưng dù sao vẫn đáng được xem là một cương lĩnh về nếp sống hàng ngày của làng xã, mà mọi cá nhân, mọi tổ chức, trong làng, trong xã phải tuân thủ”[33]. Các hương ước của từng làng tác động trực tiếp đến các thành viên của làng. Các thành viên trong làng dù thuộc tổ chức phi quan phương nào cũng đều có trách nhiệm thực hiện hương ước. Mỗi thành viên trong làng với trách nhiệm của mình đối với làng, đối với một tổ chức nào đó mà họ là một thành viên, vì danh dự của làng, của gia đình và của chính cá nhân mà tuân thủ tự giác, thực hiện những điều đã được ghi trong hương ước.

     Các làng Việt Nam Bộ không có hương ước. Không có các tổ chức phi quan phương, không có hương ước, các làng Việt Nam Bộ ngay từ khi hình thành đã sớm chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước. Nhưng xét trên phương diện quản lý thì sự ràng buộc các thành viên ở các làng Việt Bắc Bộ chặt chẽ hơn so với các làng Việt Nam Bộ. Tại các làng Việt Bắc Bộ đất đai có hạn, các quan hệ dòng họ ràng buộc, những quy định của hương ước đã làm cho người nông dân Việt không năng động, khó có thể vượt qua sự thụ động. Trái lại, thiên nhiên Nam Bộ khá ưu đãi và hào phóng với con người, lại không có tâm lý phân biệt người chính cư và người ngụ cư, nên một khi, ở nơi ở cũ họ cảm thấy không còn sống được nữa thì họ sẵn sàng rời để đến những nơi khác lập nghiệp.

     Cũng cần phải nhấn mạnh thêm do làng Việt Nam Bộ không được thiết lập trên nền tảng ruộng công nên vai trò của làng có phần nào bị hạ thấp so với làng Việt Bắc Bộ. Bởi vì ở đây, làng không phải làm chức năng kiểm soát, phân chia việc khai thác đất đai và đương nhiên cũng không có chức năng điều hòa sử dụng các nguồn nước. Những công việc đó không theo thể chế của làng và thường do những tư nhân trực tiếp canh tác giải quyết. Và có lẽ do cơ chế vận hành của làng Việt Nam Bộ như vậy, nên ở Nam Bộ các làng không có hương ưđc như những làng Việt Bắc Bộ. Trong chế độ sở hữu ruộng đất Nam Bộ có một hiện tượng khá phổ biến, nó khác biệt hoàn toàn so với tình hình ở Bắc Bộ. Đó là hiện tượng ruộng phụ canh[34]. Ruộng phụ canh không chỉ ở làng bên, mà còn ở nhiều làng, nhiều tổng, thậm chí ở tỉnh khác. Cơ chế sở hữu đất canh tác như vậy đã dẫn đến sự giao lưu giữa các vùng, không có những cơ sở kinh tế để tạo thành những “ốc đảo” như những làng Việt Bắc Bộ, làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Bộ không khép kín cũng không đòi hỏi sự thỏa mãn bằng một quy mô dân số nhất định của làng. Cũng cần lưu ý đến sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa cộng đồng người Việt với các cộng đồng người khác ở Nam Bộ. Khi người Việt di dân đến vùng đất mới thì trước đó đã có các tộc người khác đặc biệt là người Khmer sinh sống. Các tộc người này đã góp phần cùng người Việt khai hoang, cải tạo để có được đồng ruộng phì nhiêu, bốn mùa cây trái. Trong quá trình cộng cư, trong quá trình khai hoang và đặc biệt trong giai đoạn lịch sử sau này, trong quá trình chống ngoại xâm để bảo vệ sự sống còn của quốc gia dân tộc, của từng tộc người, đã diễn ra quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người đã hình thành nên những giá trị văn hóa chung cho cả Nam Bộ – văn minh miệt vườn[35]. Ở Nam Bộ đã sớm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất nông sản hàng hóa. Ở làng Việt Nam Bộ do không tồn tại chế độ sở hữu công cộng, nên ngay từ đầu đã xác lập sở hữu tư nhân, tạo nên tính năng động của người tiểu nông. Người nông dân Nam Bộ do những ưu đãi của thiên nhiên, không có phong cách “tích cốc phòng cơ” mà luôn gắn bó với thị trường. Để gia nhập thị trường không thể duy trì nền sản xuất nhỏ theo hướng tự cung tự cấp, mà phải hướng tới việc huy động mọi nguồn lực, vốn liếng để sản xuất cho rẻ, cho nhanh đáp ứng nhu cầu của thị trường. Không phải ngẫu nhiên mà ngay trước những năm 30 của thế kỷ XIX đã thấy có sự tích tụ đất đai rất lớn ở Nam Bộ[36]. Cùng với việc sản xuất hàng hóa là việc hình thành các đô thị, nhưng đô thị ở vùng này không mang đậm nét tàn dư của công xã nông thôn. Đô thị ở đồng bằng sông Cửu Long hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu của một nông thôn sản xuất hàng hóa, mở rộng giao lưu buôn bán với tất cả các vùng. Trở thành đầu mối giao dịch với các nơi. Người nông dân Nam Bộ không kỳ thị đối với buôn bán. Tâm lý đó của người nông dân Nam Bộ được thể hiện rõ qua câu ca dao quen thuộc đã đi vào lòng người bao thế hệ :

Đạo nào vui bằng đạo đi buôn,

Xuống biển lên nguồn gạo chợ nước sông.

     Sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Nam Bộ kích thích giao lưu quốc tế làm cho hoạt động của làng Việt Nam Bộ năng động hơn so với làng Việt Bắc Bộ.

     Làng Việt Nam Bộ sẽ tồn tại và sẽ biến đổi cùng với quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Một thực thể tất yếu có vai trò và vị trí trong sự phát triển chung. Tuy làng (thôn, ấp… ) không phải là cấp trong hệ thống tổ chức Nhà nước, nhưng lại là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư. Đồng thời làng còn là nơi bảo đảm đoàn kết giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và vệ sinh môi trường, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới, giúp nhau trong sản xuất và đời sống. Và cũng chính địa bàn làng là nơi giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp và thuần phong mỹ tục của cộng đồng nhằm xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

3.

     Quan hệ dòng họ – quan hệ huyết thống – xuất hiện rất sớm và ở hầu hết các tộc người trên thế giới. Ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại con người không thể sống cô độc, mà phải dựa vào nhau. Do đó mối quan hệ huyết thống xuất hiện trước khi xuất hiện các mối quan hệ khác. Quan hệ đó là quan hệ giữa người và người dựa trên huyết thống là sản phẩm thừa hưởng từ tự nhiên. Nhưng do các yếu tố khách quan và chủ quan tác động vào tiến trình lịch sử của các tộc người hết sức khác nhau, nên ngày nay quan hệ dòng họ ở các tộc người cũng khác nhau. Ở một số tộc người quan hệ thân tộc được tính theo dòng mẹ (theo mẫu hệ) ở đây vai trò của người phụ nữ trong xã hội, cũng như trong gia đình được đề cao. Người phụ nữ là người chủ động trong hôn nhân, trong việc điều hành gia đình, nuôi con, thừa kế tài sản. Ngay cả khi người chồng qua đời cũng không được chôn cất ở phía bên vợ mà phải đưa về chôn cất tại nghĩa địa của dòng họ mẹ. Ở Việt Nam, chế độ mẫu hệ tồn lại khá đậm nét ở các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Ở một số tộc người, quan hệ dòng họ không thể hiện một cách rõ ràng là theo dòng cha (phụ hệ) hay dòng mẹ (mẫu hệ). Trong dân tộc học, những tộc người này được gọi là những tộc người song hệ ở giai đoạn chuyển tiếp từ mẫu hệ lên phụ hệ.

     Ở người Việt, chế độ phụ hệ đã được xác lập từ lâu. Quá trình chuyển hóa từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ ở các tộc người cũng hết sức khác nhau. Đến thời đại đồ đồng, thậm chí đến thời đại đồ sắt, tức là thời kỳ đầu của sự hình thành Nhà nước Văn Lang và Âu Lạc, chế độ mẫu hệ vẫn còn chưa mất hết sức sống. Cho đến hơn một ngàn năm Bắc Thuộc, văn minh Trung Hoa có điều kiện du nhập vào xã hội Việt Nam. Nho giáo xác định được chỗ đứng trong nhân dân Việt. Tuy nhiên, nếu quan sát những quan hệ trong xã hội và gia đình, nhất là trong các hội làng, ta vẫn thấy vai trò khá rõ nét của phụ nữ và những yếu tố của chế độ mẫu hệ. Tuy đề cao nguyên tắc “nam nữ thụ thụ bất thân”, nhưng lại có “có nam, có nữ mới nên xuân”. Ở người Việt trước đây vẫn có tục ở rể. Trong đời sống hàng ngày, người phụ nữ cũng ít bị hạn chế trong sinh hoạt kinh tế xã hội, thậm chí trong sinh hoạt chính trị. Ho không được ra đình để họp, nhưng những lễ vật tế thần lại do một tay người phụ nữ đảm nhận. Trong cuộc sống xã hội, người phụ nữ đảm nhiệm việc cấy, gặt, sàng sẩy, tham gia nhiều nghề thủ công, buôn bán ở các chợ làng, đảm nhiệm việc hậu phương, thậm chí “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Số lượng các nữ thần khá đông. Còn trong cuộc sống gia đình, phụ nữ là người quán xuyến mọi công việc, từ nuôi con, lo cái ăn, cái mặc. Những hình ảnh tảo tần người phụ nữ Việt đã được Tú Xương khắc họa rất sinh động :

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông…”

     Có lẽ không thể phủ nhận được vai trò và vị trí của người phụ nữ trong gia đình, nên mới có câu “lệnh ông không bằng cồng bà”. Một số đất nước mà Nho giáo đã thấm vào từng khía cạnh của đời sống, nhưng trong những điều luật cụ thể cũng nêu lên quyền như nhau của vợ chồng với tài sản cùng làm ra (Luật Hồng Đức). Việc phân chia tài sản cũng được phân định rõ ràng, ngoài phần dành cho hương hỏa, những gì còn lại, không phân biệt con trai hay con gái, đều được nhận phần và các phần được chia đều nhau hoặc có chênh lệch không đáng kể. Về nguyên tắc, ruộng hương hỏa do người trưởng nam nhận để lo hương khói cho người quá cố. Nhưng trong những trường hợp không có con trai thì người con gái trưởng nhận phần hương hỏa.

     Họ của người Việt đã xác lập theo dòng cha, nhưng tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn còn được bảo lưu.

     Sự phát triển ngày càng tăng của dân cư đã dẫn đến tình trạng sống xen kẽ giữa các thành viên của các dòng họ khác nhau trong một địa vực cư trú. Tuy nhiên, trong một khu vực cư trú nhất định, thông thường cũng có một hay hai dòng họ chiếm ưu thế. Quan hệ mới xuất hiện – quan hệ làng xã. Quan hệ làng xã là quan hệ giữa người với người dựa trên mối quan hệ láng giềng. Quan hệ láng giềng xuất hiện muộn hơn so với quan hệ thân tộc, do sự gia tăng tính xen kẽ của cư dân và sự di chuyển địa bàn cư trú. Quan hệ dòng họ mất dần đi cơ sở kinh tế của sự tồn tại. Cấu trúc gia đình, thân tộc do đó cũng có những biến đổi nhất định. Tuy nhiên, những nét chủ yếu của quan hệ thân tộc vẫn được duy trì cho đến ngày nay. Nó thể hiện ở một số khía cạnh sau

     Trước hết, chế độ ngoại hôn luôn được thể hiện rõ rệt trong việc lựa chọn hôn nhân ngoài dòng họ. Làng Việt Bắc Bộ không có nhiều dòng họ, lại cộng cư trong một không gian xác định, nên các thành viên trong làng hiểu rõ những mối quan hệ thân tộc. Nên hầu như không có sự vi phạm những quy định của chế độ ngoại hôn. Ngay cả trong trường hợp hai người cùng tộc danh cũng rất ít trường hợp dẫn đến hôn nhân. Dư luận xã hội lên án gay gắt những trường hợp vi phạm chế độ ngoại hôn. Không chỉ trong suy nghĩ của người có tuổi mà ngay cả trong lòng lớp trẻ, nguyên tắc này cũng rất được coi trọng.

     Thứ ba, theo chế độ tông pháp người con trưởng sẽ làm nhiệm vụ nối nghiệp gia đình bất luận tư chất của người đó như thế nào. Đây là vị thế mặc định kể từ lúc người con trưởng xuất hiện trong gia đình. Theo truyền thống dòng trưởng được kế thừa một số đặc quyền đặc lợi (như ruộng hương hỏa, hoa lợi trong khuôn viên của nhà thờ họ…) để lo chăm sóc từ đường (nơi thờ cúng của một gia đình) hay nhà thờ họ (nơi thờ cúng của một dòng họ). Khi vắng cha thì người anh thế, quyền huynh thế phụ. Ngày nay, khi ruộng hương hỏa không còn thì nguồn kinh phí phục vụ cho việc thờ cúng tại các nhà thờ họ, sẽ do sự đóng góp của những người con trai của dòng họ. Đóng góp nhiều hay ít phụ thuộc vào tính chất của công việc. Để xây dựng, tu sửa nhà thờ họ, người ta tính toán toàn bộ chi phí, sau đó chia đều cho tất cả những người đàn ông, con trai không phân biệt tuổi tác. Những người giàu có có thể đóng góp nhiều hơn những người khác, nhưng tất cả theo nguyên tắc tự nguyện. Những người đàn bà đã đi lấy chồng có thể xin được đóng góp tiền của để xây dựng hoặc tu sửa nhà thờ họ. Nhiều ít hoàn toàn do tự nguyện.

     Trong quan hệ dòng họ, con của dòng đích (tộc trưởng đối với một dòng họ) con của dòng bác (anh của cha trong một gia đình) đều mặc nhiên được những người con của dòng thứ, hay dòng chú (em cha) tôn trọng nhận là anh, chị, dù là những người đó sinh sau đẻ muộn. Nguyên tắc này vẫn còn được duy trì khá chặt chẽ tại các làng Việt Bắc Bộ.Ai vi phạm nguyên tắc này sẽ bị phê phán. Vì vậy, những người vì những lý do khác nhau, sinh sống xa quê, khi trở về đoàn tụ gia đình sẽ được những người lớn tuổi dẫn đi để làm quen với họ hàng, tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra trong ứng xử với những người trong họ.

     Cũng theo chế độ phụ quyền, người phụ nữ khi đi lấy chồng phụ thuộc vào gia đình chồng. Tài sản trong gia đình (dù nhiều hay ít) đều thuộc về người chồng, không là của con cũng là của họ hàng nhà chồng. Người phụ nữ một nắng hai sương làm ra, nhưng một khi li dị hoặc tái giá thường chỉ được phép ra khỏi nhà chồng với hai bàn tay trắng, không được mang theo con và của cải. Ngày nay, nam nữ bình đẳng vấn đề thừa kế tài sản và nuôi dạy con sau ly dị đã được luật pháp Việt Nam qui định[37]. Tuy nhiên cũng không ít những trường hợp tranh chấp.

     Trong tiến trình sinh hoạt văn hóa xã hội ở làng Việt Bắc Bộ những hình thái sinh hoạt cộng đồng của các dòng họ có rất nhiều. Những sinh hoạt văn hóa xã hội này phản ánh cuộc sống đích thực của các làng Việt Bắc Bộ, nơi lưu giữ các giá trị văn hóa. Để cho các sinh hoạt này được duy trì đòi hỏi phải có nguồn kinh phí. Trước đây nguồn kinh phí này là do hoa lợi thu được từ ruộng hương hỏa, mà làng nào cũng có hoặc ít hoặc nhiều tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng dòng họ. Ngoài ra, cần có sự đóng góp của các thành viên khác trong họ, nhất là những người giàu, những người đỗ đạt. Quỹ họ do trưởng tộc giữ, nhưng người sử dụng lại là tập thể của dòng họ.Mọi chi tiêu tiền quỹ họ đều được bàn bạc, công khai. Khi quỹ đất không còn, quỹ họ chủ yếu do sự đóng góp của các thành viên trong dòng họ. Trong những năm chiến tranh ác liệt, nhiều nhà thờ họ bị tàn phá hoặc hư hỏng. Để giáo dục truyền thống về nguồn, nhiều nhà thờ họ được xây dựng mới hoặc tu sửa lại khá khang trang, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa trong dòng họ. Ở một số dòng họ, còn dùng quỹ họ để khuyến khích những thành viên của dòng họ thi đỗ các trường đại học hoặc là những học sinh học giỏi tại các trường phổ thông. Đây là một việc làm rất đáng khuyến khích trong bối cảnh hiện nay khi mà toàn xã hội đang có nhiều quan tâm đến sự nghiệp giáo dục.

     Sinh hoạt văn hóa xã hội của dòng họ là rất nhiều được thể hiện qua các lễ. Chúng tôi nêu lên hai trong nhiều những lễ đó. Sở dĩ chúng tôi có lựa chọn này vì tính chất cũng như quy mô của chúng khác với các lễ khác. Mặt khác, đây là những lễ được tổ chức ở hầu hết các họ, không phân biệt họ lớn hay họ nhỏ. Đó là lễ tảo mộ và lễ tế họ.

     Lễ tảo mộ thường được tiến hành vào dịp thanh minh. Vào dịp thanh minh về nguyên tắc, những thành viên trong dòng họ đến nghĩa địa, nơi chôn cất ông thủy tổ để dọn mới, phát quang mồ mả tổ tiên, đắp cho cao, cho đẹp. Những người lớn tuổi trong họ chỉ cho lớp trẻ vị trí, những đặc điểm nhận biết để lớp trẻ ghi nhớ. Đây là một hình thức biểu thị sự “uống nước nhớ nguồn”, một truyền thống tốt đẹp của người Việt. Tuy là theo nguyên tắc các thành viên trong họ đi tảo mộ, nhưng phần lớn trong các trường hợp chỉ những người lớn tuổi, trưởng các chi phái. Sau khi làm xong công việc ở mộ tổ các chi phái lại tiếp tục tảo mộ ông tổ của các chi. Thông thường các chi phái dòng họ cũng hay tổ chức tế lễ tại nhà thờ họ các chi phái vào dịp này.

     Lễ tế họ thường được tổ chức vào ngày mất của cụ tổ. Vào ngày này người ta sửa sang, thu dọn sao cho nhà thờ họ sạch sẽ hơn, gọn gàng hơn. Kinh phí cho tế lễ họ là nguồn hoa lợi thu được từ ruộng hương hỏa và sự đóng góp của các thành viên trong dòng họ. Khi ruộng hương hỏa không còn, thì mọi chi phí cho tế lễ họ sẽ do các thành viên đóng góp. Trong ngày tế họ người ta phải biện lễ theo truyền thống của từng dòng họ. Những họ nhỏ sẽ là dịp gặp mặt của tất cả thành viên của dòng họ. Còn những họ lớn gồm nhiều chi phái, nhiều người chỉ có những người trưởng các chi phái và những người lớn tuổi trong dòng họ mới có cơ hội có mặt tại nhà thờ họ trong dịp này. Bởi vì, cũng vào thời gian đó tại các nhà thờ của các chi phái cũng sẽ tiến hành lễ tổ.

     Tại buổi lễ, trưởng tộc (chi cả) và trưởng các chi phái khác cũng như những người lớn tuổi trong họ đứng dâng nước, còn các thành phần khác đứng phía sau. Người ta chọn hai người giỏi văn tự đọc gia phả và lời cầu chúc tổ tiên. Sau khi đọc xong gia phả và lời cầu chúc tổ tiên mọi người có mặt đều rất cung kính vái tổ tiên. Lễ tế họ được tổ chức trang nghiêm tại nhà thờ họ với sự kiện của tất cả các thành viên trong dòng họ tạo nên niềm cộng cảm, là sợi dây nối kết mọi người lại để họ hiểu nhau hơn. Cho dù cụ tổ đã mất cách nay vài ba thế kỷ, các thế hệ cháu con đã tăng lên rất nhiều lần, sinh sống ở nhiều làng khác nhau, quan hệ láng giềng đã lấn át quan hệ huyết thống, nhưng niềm cộng cảm chung một cội nguồn đã giúp cho những người tiểu nông gắn bó hơn và có thể bỏ qua cho nhau những mâu thuẫn của đời thường. Quan hệ giữa các thành viên trong một dòng họ tự nó không mang tính giai cấp và ở một chừng mực nào đó quan hệ đó cũng không mang tính đẳng cấp, mặc dù trong thực tế đời sống, vị trí xã hội của các thành viên của một dòng họ cũng không giống nhau, có trường hợp, giữa họ với nhau đã xảy ra sự bóc lột. Về cơ bản, quan hệ dòng họ là quan hệ bình đẳng thương yêu tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạn nạn, khó khăn.

     Mặc dù “làng Việt cổ truyền ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ là một đơn vị dân cư được tập hợp chủ yếu theo quan hệ láng giềng”[38] nhưng quan hệ dòng họ vẫn có vai trò trong đời sống của người nông dân Việt Bắc Bộ. Quan hệ dòng họ của người Việt Nam Bộ đã xuất hiện ngay từ ban đầu, ngay trong từng nhóm di dân đến khai phá vùng đất mới đầy rẫy những khó khăn khắc nghiệt. Quan hệ dòng họ đó vẫn có giữa các thành viên của một dòng họ tại quê hương bản quán của họ ở một vùng nào đó ở miền Bắc hay miền Trung, sau vì một lý do nào đó họ phải rời bỏ quê hương để vào vùng đất mới. Trong môi trường mới, mối quan hệ dòng họ tiếp tục được duy trì.

     Các thành viên trong mỗi dòng họ của các làng Việt Nam Bộ vẫn thể hiện rất rõ nguyên tắc “chung tộc danh về phía bố”, mà trong một công trình nghiên cứu Gerald.C.Hakey đã viết về dòng họ của người Việt Nam Bộ. “Đó là một hệ thống thân tộc theo dòng của người cha trong đó con trai được coi trọng hơn con gái và giữ một vai trò ưu thế dẫu rằng con gái cũng không bị gạt xuống một quy chế thấp kém. Tên của con gái cũng mang họ của người cha và đều là những phần tử của dòng họ nội”[39]. Xác định rạch ròi bên nội, bên ngoại là thể hiện rõ chế độ ngoại hôn. Cho dù đã có những biến động lịch sử, sinh sống xa cái nôi văn minh Việt và ảnh hường của Nho giáo cũng rất nhạt nhòa, nhưng người Việt Nam Bộ vẫn giữ được những nét văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức.

     Theo truyền thống của các gia đình người Việt Bắc Bộ thì người con trai trưởng có trách nhiệm thờ cúng bố mẹ. Ngày tết và những ngày giỗ bố, mẹ, những người con khác trong gia đình sẽ mang lễ vật cũng như đóng góp tiền bạc để người con trai trưởng lo sắm sửa. Vị trí này không ai có thể thay thế, khi người con trai trưởng đó vẫn còn sống, chỉ có thể thay thế vị trí này khi người con trai trưởng chết mà không có con trai.

     Qua quan sát thực tế của chúng tôi ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác ở Nam Bộ thì tộc trưởng của các dòng họ không theo dòng con trưởng. Ở một số dòng họ, tộc trưởng thuộc dòng thứ, ở một số dòng họ khác, tộc trưởng do đại cử tri bầu[42]. Trong công trình nghiên cứu về làng Khánh Hậu, Hickey cũng có một nhận xét tương tự, ông viết: “trách nhiệm cúng giỗ không nhất thiết phải do trưởng tộc đảm nhiệm. Nhiều khi trách nhiệm đó được chia sớt giữa các người thuộc nam phái trong nội tộc để tránh cho một người nào đó phải một mình chịu đựng cái gánh nặng tài chính. Trường hợp này đặc biệt đúng với các gia đình không có hương hỏa và không có nguồn lợi nào khác đặt ra để lo việc cúng giỗ cho nên họ được tự do hơn để kiếm những tiện nghi riêng của họ. Và có một phần tử nào đó trong gia đình giàu có hơn những người khác, thì người đó có thể đảm nhận trách nhiệm cúng giỗ và đãi tiệc, tuy rằng không phải là trưởng tộc”[43].

     Như vậy so với những quan niệm truyền thống đã có những thay đổi. Không theo chế độ tông pháp còn được thể hiện ở chỗ không có sự phân định rõ ràng trong cách xưng hô giữa dòng đích và dòng thứ. Theo chế độ tông pháp, những người con của người con trưởng sẽ được những người con của dòng thứ gọi là anh, chị không phân biệt tuổi tác. Còn ở Nam Bộ, thì phần lớn các trường hợp những người lớn tuổi sẽ được gọi bằng anh, chị dù những người đó ở dòng thứ. Đó có thể do ảnh hưởng của người Hoa, một tộc người hay giữ tục lệ này.

     Các làng Việt Nam Bộ được hình thành trong quá trình khai hoang lập làng ở một vùng đất rất thuận lợi cho việc giao lưu, mà thành phần cư dân khá đa dạng từ nhiều tỉnh, nhiều vùng khác nhau đến khai hoang vùng đất mới tạo dựng những đơn vị cư trú. Những làng Việt Nam Bộ nói chung có tính chất mở nên người dân dễ dàng di chuyển đi nơi khác làm ăn và họ tạo dựng nên những đơn vị cư trú mới. Bởi vậy, cho nên dân cư của các làng không thuần nhất như các làng xã Bắc Bộ. Làng được hình thành trong quá trình khai phá, tập hợp cư dân ở nhiều địa phương khác nhau, nhiều dòng họ khác nhau. Chính vì vậy, trong một làng, số dòng họ khá nhiều[44], không có dòng họ nào chiếm áp đảo dân cư so với các dòng họ khác và cũng không có làng nào lấy lên họ đặt lên cho làng như ở các làng Việt Bắc Bộ. Tuy họ lập thành “dân ấp, dân lân” với nhau, nhưng sự cố kết “họ hàng, làng xã” ở Nam Bộ lỏng lẻo hơn so với các làng Việt Bắc Bộ. Trong bối cảnh cụ thể của Nam Bộ, chính những điều kiện tự nhiên và xã hội đã tác động đến mối quan hệ dòng họ vốn đã ăn sâu vào nếp nghĩ, đời sống của người nông dân Việt, làm cho nó khác so với Bắc Bộ.

     Mặt khác, quá trình khai hoang lập làng hình thành các đơn vị cư trú mới làm cho chế độ sở hữu đất đai ở Nam Bộ hình thành sớm. Ở Bắc Bộ, chế độ công điền công thổ tồn tại khá dai dẳng[45]. Chính công điền, công thổ đã níu kéo các thành viên gắn bó với làng. Dù đi xa cũng cố gắng thực hiện các nghĩa vụ của làng để đến khi phân chia lại công điền, công thổ sẽ được làng dành cho một phần như những thành viên khác đang sinh sống tại làng. Trong tình hình đó, mối quan hệ dòng họ có điều kiện được củng cố thông qua mối liên hệ siêu hình giữa người sống và người chết. Sợi dây liên hệ này chủ yếu là việc thờ cúng tổ tiên. Và mối liên hệ giữa người sống và sợi dây liên hệ này chủ yếu là sở hữu tập thể gồm có đất công và nhà thờ. Hơn thế nữa, vinh hạnh của một người được cả dòng họ đón nhận với tấm lòng trân trọng (một người làm quan cả họ được nhờ). Còn ở Nam Bộ chế độ tư hữu sớm, làng lại không được thiết lập trên nền tảng ruộng công nên vai trò của làng có phần bị hạ so với làng ở Bắc Bộ. Người tiểu nông tuy vẫn mang tình làng nghĩa xóm, nhưng tính cách và vai trò của họ không bị hòa tan trong cộng đồng, tính năng động làm cho họ tùy ý lựa chọn phương thức hoạt động kinh tế của mình. Chính điều đó đã làm cho quan hệ dòng họ có phần lỏng lẻo (bán anh em xa, mua láng giềng gần).

     Và cuối cùng quan hệ dòng họ của người Việt Nam Bộ, có phần khác so với quan hệ dòng họ của người Việt Bắc Bộ, chính là những người di dân khai hoang lập làng là “những người nghèo khó, đấu tranh để sống, nhưng lại thiếu chữ, đủ sức làm dân, làm người mà không thuộc Kinh truyện” (Trần Bạch Đằng). Nho giáo du nhập vào Việt Nam dần dần, xác lập được vị trí của mình, được Nhà nước đề cao, nhưng khi chính trị suy vi, Nho giáo cũng mất dần địa vị độc tôn. Khi vào tới Nam Bộ, Nho giáo đã nhạt dần, lại tồn tại trong bối cảnh cư dân vốn là những người nghèo khó, ít học, “nói lý luận là buồn ngủ” (Sơn Nam), nên không có ảnh hưởng chi phối như ở các làng Bắc Bộ. Nho giáo cũng không có ảnh hưởng sâu sắc đến tế bào xã hội – gia đình, điều đó được thể hiện trong quan niệm sinh con cái, trong hôn nhân gia đình. Trong bối cảnh như thế chế độ tông pháp cũng không có những điều kiện để phát triển, khi quan hệ láng giềng đã thay thế quan hệ dòng họ (tứ hải giai huynh đệ).

     Làng và quan hệ dòng họ của người Việt Nam Bộ đã và sẽ còn tồn tại gắn bó với họ và không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Nhưng làng và quan hệ dòng họ của người Việt Nam Bộ đã có những thay đổi so với làng và quan hệ dòng họ của người Việt Bắc Bộ. Cùng với thời gian làng và quan hệ dòng họ của người Việt Bắc Bộ cũng đã có những đổi thay. Nhưng ở Nam Bộ chính môi trường tự nhiên và xã hội ở vùng đất mới tác động đến mọi mặt của người lưu dân, tạo nên những sắc thái địa phương, hình thành vùng văn hóa Nam Bộ – văn minh miệt vườn, văn minh sông nước. Nhưng sự phát triển đó diễn ra theo quy luật tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa người Việt.

—o0o—-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) Nguyễn Công Bình và các tác giả: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.

2) Nguyễn Công Bình và các tác giả: Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.

3) Nguyễn Công Bình: Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ, Nxb. ĐHQG chúng tôi 2008.

4) Nguyễn Từ Chi: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb.Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 1996.

5) Condominas G.: Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1998.

6) P. Gourou: Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (bản dịch), Nxb. Trẻ, 2003.

8) Diệp Đình Hoa: Tìm hiểu làng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.

9) Diệp Đình Hoa: Làng Nguyễn –Tìm hiểu làng Việt II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.

10) Nguyễn Văn Huyên: Văn minh Việt Nam, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2005.

11) Vũ Khiêu: Gia đình Nho giáo Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.

12) Vũ Tự Lập và các tác giả: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.

13) Ngô Văn Lệ: Vài nét về công xã nông thôn ở Đông Nam Á, trong sách Đông Nam Á: Những vần đề văn hóa – xã hội, Nxb. ĐHQG Tp. HCM, 2000.

14) Ngô Văn Lệ: Công xã Đông Nam Á – thống nhất trong đa dạng, Nxb. ĐHQG chúng tôi 2000.

15) Ngô Văn Lệ: Làng Việt Nam Bộ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. ĐHQG Tp. HCM, 2003, trg.82-96.

16) Ngô Văn Lệ,(2003), Về quan hệ dòng họ của người Việt ở ngoại thành Tp. Hồ Chí Minh, Nxb. ĐHQG chúng tôi 2003, trg.97-109.

17) Leopold Cadiere: Văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt, Nxb. Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 1997.

18) Huỳnh Lứa và các tác giả: Lịch sử khai hoang vùng đất Nam Bộ, chúng tôi 1987.

19) Huỳnh Lứa: Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.

20) Trần Thị Thu Lương: Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb. Tp. HCM, 1994.

22) Sơn Nam: Văn minh miệt vườn, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1992.

22) Philippe Papin – OlivierTessier (Chủ biên): Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ, Trung tâm KHXH&NV Quốc gia, Hà Nội, 2002.

23) Nguyễn Hồng Phong: Xã thôn Việt Nam, Nxb. Sử-Địa, Hà Nội, 1958.

24) Nguyễn Hồng Phong: Văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1998.

25) Nguyễn Hồng Phong: Một số vấn đề về hình thi kinh tế-xã hội, văn hóa và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.

26) Nguyễn Phương Thảo: Văn hóa dân gian Nam Bộ – những phác thảo, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997.

27) Trần Từ: Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền Bắc Bộ, Nxb. Khoa học xã hội, 1984.

28) Viện Sử học: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, tập I, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.

29) Viện Sử học: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.

30) Viện Sử học: Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.

[1] Theo số liệu điều tra dân số năm 1989 người Việt chiếm 86,8% dân số cả nước, 53 tộc người còn lại chiếm 13,2%.

Theo số liệu điều tra dân số năm 1999, người Việt chiếm 86,2% dân số cả nước,53 tộc người còn lại chiêm13,8%. Dẫn theo Đặng Nghiêm Vạn, 2003: Cộng đồng quốc gia các dân tộc Việt Nam, NXB Đại học Quốc chúng tôi trang 213.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện hội nghị lần thứ 5 BCHTW khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, trang 9-10.

[3] Nguyễn Hồng Phong: Xã hội Việt Nam (1958),

Viện Sử học: Nông dân Việt Nam trong lịch sử (2 tập 1977, 1978)

Diệp Đình Hoa, Tìm hiểu làng Việt (1990); Làng Nguyễn, Tìm hiểu làng Việt (1994).

Trần Từ, 1984: Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền Bắc Bộ..

Bùi Xuân Bính: 1985: Lệ làng phép nước.

P. Gourou, 2003: Người Nông dân châu thổ Bắc Kỳ, NXB Trẻ.

[4] Địa chí Đồng Nai (2001), Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, trg.118-120. Địa chí Tiền Giang(2005), trg.801-803.

[5] Viện Dân tộc học, 1984: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam), NXB KHXH

[6] Nguyễn Văn Huyên, 2005: Văn minh Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, trang 117-118.

[7] Dẫn lại, Diệp Đình Hòa, 1994: Làng Nguyễn tìm hiểu làng Việt II, NXB KHXH, trang 13.

[8] Địa chí Đồng Nai, Nxb.Tổng hợp, trg.119.

Toan Anh, 1992: Nếp cũ, Làng xóm Việt Nam, Nxb Tp. HCM, trang 34 – 36.

[9] Nguyễn Văn Huyên, sđđ, trang 121.

[10] Địa chí Tiền Giang, 2005, trang 300 – 302, 384 – 388.

[11] Nguyễn Văn Huyên, sđđ, trang 119.

[12] Địa chí Tiền Giang, sđđ, trang 375.

[13] Nguyễn Hồng Phong, Xã thôn Việt Nam, NXB Văn – Sử – Địa, 1958, trang 127.

[14] Lê Hương, Người Việt gốc Miên, Sài Gòn, 1969.

[15] Phạm Minh Đức, Những làng văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc ở Thái Bình, NXB Văn hóa – thông tin, 2006.

Nguyễn Văn Huyên, sđđ, trang 124.

[16] Lê Trung Hoa (Chủ biên), Từ điển địa danh Tp Sài Gòn – Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, 2003.

[17] Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 254 – 260.

[18] Nguyễn Văn Huyên, sđđ, trang 254 – 260.

[19] Toan Anh, sđđ, trang 32-34.

[20] Diệp Đình Hoa (Chủ biên), Tìm hiểu làng Việt, NXB KHXH, 1990, trang 20 – 21.

[21] Địa chí Tiền Giang, sđđ, trang 801 – 803.

[22] Viện sử học, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử.

[23] Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người, NXB Văn hóa – Thông tin, 1996, trang 179.

[24] 5 Nguyễn Đổng Chi, Vài nhận xét nhỏ về sở hữu của làng xã ở Việt nam trước CM tháng 8, (trong Nông thôn Việt Nam trong lịch sử), sđđ, trang 55.

[25] Trần Thị Thu Lương, Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX, NXB Tp Hồ Chí Minh, 1994, trang 179 – 181.

[26] Nguyễn Phương Thảo, sđđ, trang 16 – 17.

[27] Viện sử học, Nông thôn việt Nam trong lịch sử, NXB KHXH, 1978.

[28] Nguyễn Văn Huyên , Văn minh Việt Nam, NXB Hội nhà văn, 2005.

Toan Anh, Nếp cũ, Làng xóm Việt Nam, NXB chúng tôi 1992.

[29] Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 169 – 268.

[30] Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 169 – 268.

[31] Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 186 – 253.

[32] Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 234 – 235.

[33] Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 236 – 237.

[34] Trần Thị Thu Lương, sđđ, trang 142 – 176.

[35] Sơn Nam, Văn minh miệt vườn, NXBVăn hóa, 1992

[36] Trần Thị Thu Lương, sđđ, trang 46 – 190

[37] Luật hôn nhân và gia đình, 2000

[38] Nguyễn Từ Chi, sđđ, trang 190

[39] Gerald.C.Hukey, 1960, Nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam, xã hội học.

[40] Gerald.C.Hukey, sđd, trang 77.

[41] Nguyễn Từ Chi, sđd, trang 192

[42] Ngô văn Lệ, 2003, Một số vấn đề về văn hóa tộc người ở nam Bộ và Đông Nam Á, NXB Đại học quốc gia, trang 106.

[43] Gerald. C. Hukey, sđđ, trang 85.

[44] Các làng Việt Nam Bộ thông thường có hàng chục dòng họ. Tài liệu điền dã của chúng tôi tại ấp Danh Coi, xã Đông Hưng B và ấp Phát Đạt xã Vân Khánh Tây (An Minh – Kiên Giang) cho kết quả sau. Ap Danh Coi có 102 hộ có 23 họ, ấp Phát Đạt có 327 hộ có 27 họ. Trong đó làng Mộ trạch họ Vũ chiếm 82,8% dân số, 14 họ còn lại chiếm 17,2% dân số. Philippe Papin Olivier tessier (chủ biên), 2002: Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ, Trung tâm KHXH & NV quốc gia, trang 251.

[45] Nguyễn Từ Chi, sđd, trang 179, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, sđđ, trang 97-126, trang 94-95.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam – Cách tiếp cận nhân học”, Bà Rịa – Vũng Tàu, 12-2007

Ban Tu thư ( chúng tôi )

Đối Sánh Làng Việt Bắc Bộ Và Làng Việt Nam Bộ

1. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, làng luôn đóng vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Làng có vị trí đặc biệt đối với lịch sử đất nước nói chung và đối với mỗi người dân Việt Nam nói riêng. Làng là cơ sở, nền tảng của văn hóa, văn minh Việt. Đó là một đơn vị kinh tế xã hội độc lập nhưng không tách rời môi trường trồng lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa. Làng Việt phát triển phong phú, đa dạng: làng Việt Bắc Bộ, Nam Bộ, Trung Bộ và mỗi vùng lại có những tiểu vùng riêng mà ở đó các làng Việt vừa chứa đựng những đặc điểm giống nhau đồng thời lại ẩn chứa nét riêng.

2. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Do các điều kiện, nhân tố khác nhau nên sự hình thành các làng Việt diễn ra ở các giai đoạn lịch sử, ở các vùng, tiểu vùng là khác nhau. Trong bài nghiên cứu này, tác giả xin đề cập những đặc trưng nổi bật nhất nhằm nhận diện, khu biệt làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ.2.1. Tuổi đời của làngLàng Việt Bắc Bộ có lịch sử tồn tại lâu đời. Cách ngày nay khoảng 4000 năm, trên đất Bắc đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó là công xã nông thôn. Đây chính là quá trình hình thành làng Việt. Mỗi làng bao gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định. Và ở đây, bên cạnh quan hệ địa lý – quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống được bảo tồn và củng cố đã tạo thành kết cấu vừa làng vừa họ rất đặc trưng cho làng của người Việt ở Bắc Bộ. So với làng Việt Bắc Bộ, tuổi đời của làng Việt Nam Bộ ít hơn rất nhiều. Làng Việt ở Nam Bộ mới chỉ khoảng ba trăm tuổi, được tạo lập từ khi người Việt tới khai phá trong quá trình Nam tiến, mở rộng biên cương, xác lập chủ quyền. Người Việt đã có mặt ở vùng đất Nam Bộ trước thế kỷ XVII, nhưng lúc đó chưa đủ điều kiện để hình thành làng. Đến giai đoạn sau, nhất là khi Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử vào thiết lập bộ máy hành chính ở Đồng Nai – Gia Định (1698) thì việc hình thành làng Việt mới có những điều kiện thuận lợi. Làng Việt Nam Bộ ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam đã phong kiến hóa mạnh mẽ, do đó có khác biệt so với làng Bắc Bộ. Ở Nam Bộ, không làng Việt nào có nguồn gốc từ thời nguyên thủy. Làng Việt Nam Bộ được hình thành trong quá trình khai phá nên rất nhiều làng có nguồn gốc là các đồn điền. Có thể thấy làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ ra đời sớm hơn làng Việt Nam Bộ rất nhiều. Một bên là lịch sử tồn tại hàng nghìn năm còn một bên là làng Việt trên mảnh đất mới Nam Bộ mới chỉ tầm 300 năm tuổi.2.2. Nguồn gốc hình thành và cách đặt tên làng Đi liền với tuổi làng là khác biệt về sự hình thành và cách đặt tên làng. Trước hết là làng Việt Bắc Bộ, làng được hình thành theo 3 cách: Thứ nhất, tan rã từ xã hội nguyên thủy; thứ hai hình thành từ việc định cư của một dòng họ, thứ ba là do vai trò của nhà nước. Rât nhiều làng Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có nguồn gốc từ thời nguyên thủy. Các làng này vẫn mang nặng những tàn dư nguyên thủy với bộ phận đất công không nhỏ. Bên cạnh đó là sự hiện diện của các làng Việt từ việc khai khẩn của một hoặc nhiều dòng họ. Dân cư của một làng thường phát triển bởi sự tăng lên của các thành viên trong dòng họ. Theo thống kê ở miền Bắc có tới 192 họ đã được đặt tên cho làng. Trong đó hầu hết các trường hợp lấy tên họ đặt tên làng, mỗi tên một dòng họ thường chỉ dùng đặt tên cho một làng. Riêng họ Nguyễn được dùng để đặt đặt tên cho gần 50 làng. Cũng có những trường hợp tên làng do hai họ kết hợp lại để hình thành… như làng Đoàn – Đào ở Hưng Yên là sự kết hợp của hai dòng họ [1]. Bộ phận làng còn lại, chiếm số lượng khiêm tốn là các làng do nhà nước giữ vai trò chủ chốt trong việc phá hoang lập ấp. Những làng thuộc loại này chủ yếu hình thành ở các vùng ven biển. Tiêu biểu là các làng mới tại hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình). Xét về tên gọi, đa phần các làng Việt Bắc Bộ đều có tên Nôm phản ánh những đặc điểm tự nhiên, xã hội nơi cộng đồng đó cư trú. Những tên làng đó hiện nay vẫn còn tồn tại song song với những tên làng mới – tên chữ Hán – Việt được dùng trong hành chính (trong dân gian cư dân vẫn gọi tên làng theo tên cũ).Ở Nam Bộ, không có sự hiện diện của các làng tan rã từ xã hội nguyên thủy mà làng chủ yếu hình thành theo 2 hướng: Một là do dân tự khai phá; hai là do sự hỗ trợ của chính quyền. Nhà nước tổ chức các làng đồn điền rồi huy động nhân dân, nhất là binh lính đến làm việc theo kỷ luật để duy trì quân đội với chính sách “ngụ binh ư nông”. Dân cư trong làng Việt Nam Bộ được tập hợp từ nhiều nơi khác nhau, từ nhiều dòng họ khác nhau. Do vậy làng Việt Nam Bộ có thể gọi là làng khai phá. Ở Nam Bộ không có sự phân biệt chính cư và ngụ cư như trong làng Việt Bắc Bộ, tính cố kết không chặt chẽ. Những người trong cùng một làng không có quan hệ thân tộc cũng không phải là láng giềng lâu đời, sợi dây gắn bó giữa họ là tình người. Các làng Việt Nam Bộ không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng dù trong việc lập làng vai trò của cá nhân là rất quan trọng. Lí giải điều này có lẽ vì những người cùng nhau lập làng thuộc nhiều dòng họ. Người có công lập làng thì đã được nhà nước ban thưởng và vì thế không lấy tên của họ đặt tên cho làng. Tên gọi các làng Việt Nam Bộ thường là từ Hán – Việt mang ý nghĩa tốt đẹp như: an, bình, lợi, phú, lộc… Làng Việt Nam Bộ chỉ có tên chữ mà không có tên Nôm như làng Bắc Bộ.2.3. Hình thái cư trúLàng Việt Bắc Bộ thường bố trí theo ba hình thái: lối co cụm, từng khối, hoặc dọc theo ven sông hay ở men theo hai bờ sông trong đó tổ chức theo lối co cụm là phổ biến.[2, tr.132] Chính cách tổ chức làng như vậy đã tạo nên những ốc đảo, khu vực không gian cư trú riêng của mỗi làng. Và từ đặc điểm cư trú đó kéo theo hoạt động kinh tế khá khép kín, khác biệt văn hóa làng tại đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Đối với làng Việt Nam Bộ có các hình thái cư trú ven sông rạch, hình thái cư trú dọc kênh đào, hình thái cư trú tập trung nhưng lại cư trú trên diện rộng. Nói một cách khác, làng Nam Bộ được phân bố theo dạng kéo dài, “dọc tia tỏa tuyến”, lấy kênh mương hay đường giao thông làm trục. Làng Nam Bộ kéo dài nên không có lũy tre bao quanh, không thành một quần thể khu biệt với các làng khác như làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ. Và do cư trú trong không gian mở với ưu đãi của thiên nhiên nên làng Việt Nam Bộ dễ biến đổi dân số hơn đồng thời người dân không có thói quen tích trữ, phòng cơ mà luôn gắn bó với thị trường, tạo nên nền kinh tế hàng hóa. Người Nam Bộ yêu thích buôn bán, họ mở rộng giao lưu với tất cả các vùng, trở thành đầu mối giao dịch với các nơi trên thế giới. Sự phát triển kinh tế hàng hóa tạo cho làng Việt Nam Bộ một diện mạo năng động. Đặc trưng này cùng với tính chất không khép kín khiến người nông dân trên đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện vươn ra những chân trời mới, rộng mở mà không bị bó buộc trong lũy tre làng như người dân Bắc Bộ.2.4. Cơ cấu tổ chức làng Trong cơ cấu tổ chức làng Việt Bắc Bộ có nét khác với làng Việt Nam Bộ đó là có sự hiện diện của cả tổ chức quan phương và cả tổ chức phi quan phương. Các tổ chức quan phương do Nhà nước đặt lên các làng, theo những quy định chung và có sự thống nhất của toàn bộ vùng đồng bắng Bắc Bộ theo tổ chức và nhiệm vụ quản lý. Thông qua các tổ chức ở mỗi làng, Nhà nước thể hiện quyền lực đến các công dân của mình. Tổ chức phi quan phương không nằm trong hệ thống của bộ máy hành chính, nó ẩn trong các làng Việt và vận hành theo những nét rất riêng của từng loại tổ chức. Làng Việt Bắc Bộ gồm đầy đủ các kiểu tập hợp theo khu vực như đường dong, ngõ xóm, theo mục tiêu văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng… hay các tập hợp theo mục tiêu kinh tế như: hội cấy, hội cày, hội buôn, phường hội thủ công… Các hội này có mục tiêu và nội dung riêng nhưng trong thực tế đã hòa quyện vào nhau, chồng xếp lên nhau tạo thành những sợi dây chằng chịt, ràng buộc người nông dân trong làng xã. Trong làng, người nông dân không chỉ tồn tại với tư cách công dân của đất nước mà còn đảm nhiệm tư cách là thành viên của một gia đình, một dòng họ, một cộng đồng làng. Ở các làng Việt Nam Bộ, các tổ chức phi quan phương không có điều kiện phát triển, nếu có cũng thể hiện rất yếu ớt. Bởi lẽ đó là các làng khai phá, các thành viên được tập hợp từ các nơi khác nhau nên mối quan hệ thân tộc không có cơ sở thể hiện. Một thực tế là không làng Nam Bộ nào có giáp. Ở làng Nam Bộ ta có thể gặp một tổ chức là họ. Tuy nhiên sự tập hợp người theo huyết thống này không có tính cố kết chặt chẽ như ở đồng bằng sông Hồng. Nếu như ở Bắc Bộ, tổ chức họ được khẳng định bằng việc thờ phụng tổ tiên, có quy ước cho mọi thành viên, có nhà thờ họ thì ở Nam Bộ cũng hình thái thờ phụng lại chủ yếu là hoạt động trong từng gia đình nhỏ. Điều đặc biệt tạo nên sự khác biệt lớn là làng Việt Bắc Bộ là sự vận hành của hương ước. Hầu hết các làng Việt Bắc Bộ đều có hương ước. Hương ước của từng làng tác động trực tiếp đến các thành viên của làng. Còn đối với làng Việt Nam Bộ thì không có hương ước, các làng ngay từ khi hình thành đã chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước. Như vậy, xét trên phương diện quản lý, sự ràng buộc các thành viên ở các làng Việt Bắc Bộ chặt chẽ hơn so với các làng Việt Nam Bộ. Đồng thời làng Việt Bắc Bộ lại nhiều lệ làng, ít cởi mở, năng động so với làng Việt Bắc Bộ.

3. KẾT LUẬN Có thể nói, làng Việt Bắc Bộ hình thành lâu đời, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, ổn định, khép kín, bền vững trên cơ sở liên kết nhiều tổ chức mà mỗi tổ chức đều có ảnh hưởng đến từng thành viên trong làng. Người nông dân sống gắn bó chặt chẽ với xóm giềng, họ tộc, gia đình, làng nước. Còn làng Việt ở Nam Bô là làng khai phá, tuổi đời còn trẻ, định cư kéo dài trên diện rộng nên thiếu chất kết dính đồng thời do sớm tiếp xúc với nền kinh tế hàng hoá nên phóng khoáng và năng động hơn. Đặc điểm của làng Việt Bắc Bộ và Nam Bộ thể hiện cho hai vùng văn hóa lớn ở Việt Nam: vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ vốn chứa đựng những nét văn hóa độc đáo, đa dạng nhưng vẫn nằm trong thể thống nhất là văn hóa Việt Nam. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn…; cả làng Việt Bắc Bộ và Nam Bộ đều biến đổi không ngừng, mau lẹ. Đó là một quy luật tất yếu, phù hợp với sự phát triển, giao lưu, hội nhập của văn hóa Việt, đất nước và con người Việt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ngô Văn Lệ, 2/5/2012, Làng và quan hệ dòng họ người Việt ở Nam Bộ, nguồn: http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/2206-ngo-van-le-lang-va-quan-he-dong-ho-cua-nguoi-viet-nam-bo.html. 2. Lê Ngọc Trà (tập hợp và giới thiệu), 2003, Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 3. Nguyễn Quang Ngọc, 2009, Một số vấn đề làng xã Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 4. GS. TSKH Trần Ngọc Thêm, 30/11/2011, Văn hóa làng Việt Nam hôm qua và hôm nay, nguồn: http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/doi-song-van-hoa/item/13594002-.html.Bài đăng trên Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, số 36 (4/2015), tr 73-78)

Sự Chủ Quan Của Người Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa

Các nhà nghiên cứu lịch sử của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trước đây đã bỏ nhiều công nghiên cứu về các chiến lược, sách lược của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: Vì sao VNCH, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của người Mỹ như vậy, một quân đội mạnh thứ 3 thế giới, lại là bên thua cuộc trong chiến tranh Việt Nam? Nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968), với mong muốn mang đến cho độc giả thêm một góc nhìn về chiến thắng chiến lược mang tầm vóc vĩ đại này, Tạp chí Khám phá trích đăng tài liệu của nhà nghiên cứu Lâm Vĩnh Thế về Tình báo trong chiến tranh Việt Nam.

Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân bắt đầu vào ngày 31.1.1968 (mùng 2 Tết Mậu Thân) trên khắp các thành phố của VNCH là một bất ngờ rất lớn trong cuộc chiến tranh. Việc không tiên đoán được cuộc tấn công với quy mô lớn như vậy của VNDCCH là một thất bại rất lớn về tình báo của cả VNCH và Hoa Kỳ.

Câu hỏi cần phải đặt ra là tại sao VNCH và Hoa Kỳ, với một hệ thống tình báo to lớn, đầy đủ và tinh vi như vậy mà không phát hiện được sự chuẩn bị của VNDCCH cho cuộc tổng tấn công. Ðể có thể trả lời câu hỏi quan trọng này, chúng ta cần phải tìm hiểu những diễn biến trong cuộc chiến từ sau khi Hoa Kỳ đưa quân bộ chiến vào Miền Nam từ tháng 3.1965.

Sau cuộc đổ bộ của 5.000 Thủy Quân Lục Chiến vào Ðà Nẵng ngày 8.3.1965, quân số Mỹ tại Miền Nam đã gia tăng một cách vô cùng nhanh chóng:

– Cuối năm 1965: tổng số quân Mỹ là184.300

– Cuối năm 1966: tổng số quân Mỹ là 385.300

– Cuối năm 1967: tổng số quân Mỹ là 485.600

Trong mùa khô 1966-1967, trong chiến lược “lùng và diệt” (search and destroy) của Tướng Tư Lệnh MACV Westmoreland, quân đội Mỹ đã tổ chức ít nhất là 5 cuộc hành quân lớn (cấp sư đoàn) tấn công vào các mật khu, căn cứ an toàn, và các trung tâm hậu cần của VNDCCH:

1. Hành quân Attleboro: tại Dầu Tiếng (Tây Ninh), từ ngày 14.9 đến ngày 24.11.1966

2. Hành quân Paul Revere IV: tại Thung lũng Plei Trap (phía Tây Pleiku, gần khu vực ba biên giới), từ ngày 20.10 đến ngày 30.12.1966

3. Hành quân Thayer II: tại Bình Ðịnh, từ ngày 25.10.1966 đến ngày 12.2.1967

4. Hành quân Cedar Falls: trong khuTam Giác Sắt (Bến Cát, tỉnh Bình Dương), từ ngày 8 đến 26.1.1967

5. Hành quân Junction City: trong Chiến Khu C (Tây Ninh, nơi đóng tổng hành dinh của Trung Ương Cục Miền Nam), từ ngày 22.2 đến ngày 14.5.1967 (đây là cuộc hành quân trực thăng vận Việt-Mỹ lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam, với tổng số 25.000 quân tham chiến).

Các cuộc hành quân này, cùng với rất nhiều những cuộc hành quân khác của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và các quân đội đồng minh trong thời gian 1966-1967 đã gây thiệt hại rất nặng nề về quân số, tổ chức (mật khu, khu an toàn), và hậu cần (lương thực, vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng) của đối phương.

Tổng hành dinh của Trung Ương Cục Miền Nam trong Chiến Khu C phải dời sang lãnh thổ của Campuchia. Về mặt an ninh lãnh thổ của VNCH, chương trình bình định (Pacification) trong các vùng nông thôn cũng đang tạo được nhiều thành quả đáng kể từ giữa năm 1967 với những số thống kê như sau:

– 67% dân chúng sinh sống trong các vùng do chính phủ VNCH kiểm soát

– 222 quận (trong tổng số 242) được xem là có an ninh

– 8.650 ấp (trong tổng số 12.600) đã được bình định xong

© REUTERS / Jonathan Ernst

Robert W. Komer (1922-2000), đứng đầu Chương trình CORDS (Civil Operations and Revolutionary Development Support) của MACV phụ trách về bình định (gồm cả Chương trình Phượng Hoàng (Phoenix Program) với mục tiêu là tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Mặt Trận Giải Phóng – VCI), đã lạc quan báo cáo về tình hình Chiến tranh Việt Nam cho Tổng Thống Johnson vào ngày 28.2.1967 như sau: “…wastefully, expensively, but nonetheless indisputably, we are winning the war in the South.” (xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “…phí phạm, tốn kém nhưng không thể chối cãi được, chúng ta đang giành chiến thắng tại Miền Nam”).

Cũng trong thời gian này, về phương diện chính trị, VNCH đã vượt qua được thời kỳ hỗn loạn và đã thành công tạo được sự ổn định với Hiến Pháp 1967 đưa đến việc thành lập của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa vào cuối năm 1967.

Tất cả các điều này đã tạo ra cho các cấp lãnh đạo VNCH-Mỹ (kể cả các cấp lãnh đạo về tình báo) một tinh thần lạc quan thái quá, dẫn đến sai lầm trong nhận định và đánh giá về quyết tâm cũng như khả năng của VNDCCH.

Nguồn: Khám Phá, Dân Việt

Tìm Hiểu Nền Giáo Dục Singapore Và Quan Hệ Hợp Tác Giáo Dục Việt Nam Singapore

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN

TÌM HIỂU NỀN GIÁO DỤC SINGAPORE QUAN HỆ HỢP TÁC SINGAPORE – VIỆT NAM

GVHD: PGS. TS. Phạm Lan Hương NHÓM 6: Nguyễn Thành Được

Trần Thái Vương Nguyệt

Võ Trung Kiên,

Lê Xuân Dũng

Trần Thế Tùng,

Hà Thị Diễm

Đoàn Công Lịnh

Phạm Hoàng Dũng

Ao Văn Tường

Phạm Hải Chiến

Nguyễn Thị Bích Nguyên

Trần Văn Việt

Trương Nhật Quỳnh

Lềnh Hấm Sô

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 05, năm 2013 i

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Đề tài được chia làm 3 chương trong đó các chương có nội dung như sau: Chương 1: Tìm hiểu về nền giáo dục Singapore, bàn về những vấn đề sau đây:  Sơ lược lịch sử phát tiển của nền giáo dục Singapore, bao gồm những giai đoạn phát triển và những chính sách kèm theo những giai đoạn đó. Những chính sách giáo dục của Singapore đã dem lại hiệu quả trong việc thúc đẩy sự phát tiển của nền kinh tế nước này, những chính sách đào tạo và thu hút nhân tài mà Việt Nam chưa làm được.  Cấu trúc nền giáo dục Singapore, nêu mô hình chung và phân tích từng cấp học cụ thể trong mô hình, những cấp học trong giáo dục Singapore có khác chút ít so với các cấp học tại Việt Nam. Tiếp theo là các vấn đề chung của giáo dục Singapore như: Mục tiêu, phương pháp, các chính sách áp dụng trong giáo dục Singapore. Tiếp theo là những kinh nghiệm trong quá trình đổi mới giáo dục tại Singapore. Chương 2: Nêu lịch sử phát triển của quan hệ Việt Nam – Singapore, bao gồm cả trong lĩnh vực hợp tác kinh tế và hợp tác giáo dục. Trong quan hệ hợp tác với Singapore, ngoài những cơ hội thì những thánh thức của Việt Nam cũng được phân tích rõ trong chương này. Chương 3: Là phần kết luận đề tài và nêu ra bài học thu được trong việc phân tích những điểm mạnh của nên giáo dục Singapore cũng như những yếu kém tồn tại trong giáo dục Việt Nam để từ đó rút ra được bài học và phát triển giáo dục Việt Nam. Chương 3 cũng nêu ra một số giải pháp để phát triển nền giáo dục Việt Nam.

i

LỜI NÓI ĐẦU Singapore được biết đến như là một đất nước đồng thời cũng là một thành phố với diện tích chỉ 692,7 km2, tuy vậy Singapore lại trở thành quốc gia phát triển nhất khu vực Đông Nam Á. Có nhiều ý kiến cho rằng đóng góp vào sự thành công của Singapore như ngày nay phải kể đến những nguyên nhân như: Vị trí địa lí thuận lợi, khả năng lãnh đạo linh hoạt, bộ máy nhà nước trong sạch, giáo dục được đầu tư và phát triển đồng bộ…. Trong đó chính sách giáo dục góp phần không nhỏ vào sự phát triển của đảo quốc này và trở thành một trong những nguồn nội lực vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của quốc gia này. Ở Việt Nam đã có rất nhiều tạp chí, bài báo đề cập tới giáo dục Singapore và chỉ ra nó là một trong những quyết sách không thể thiếu khi nói tới sự thành công của Singapore. Bên cạnh đó, các phương tiện thông tin đại chúng cũng đang rất quan tâm tới giáo dục Singapore bởi hiện nay du học tại Singapore đang là một lựa chọn của rất nhiều phụ huynh và học sinh. Ngoài ra, rất nhiều sinh viên và nhà nghiên cứu Việt Nam và trên thế giới luôn mong muốn có cơ hội học tập và nghiên cứu tại nước này. Ngày nay Singapore được xếp vào những nước có nền giáo dục tiên tiến nhất trên thế giới (hạng 5 theo bảng xếp hạng toàn cầu mới được công bố bởi công ty giáo dục Pearson) và nhiều trường đại học nằm trong top những trường đại học tốt nhất trên thế giới (trong bảng xếp hạng đại học toàn cầu 2012-2013 của Times Higher Education thì Singapore có NUS hạng 29 và NTU hạng 86). Việt Nam và Singapore có nền quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp lâu đời và ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển không người thì hợp tác song phương giữa hai nước càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trong kinh tế và giáo dục. Qua phân tích những ưu điểm cũng như những nhược điểm mà mô hình giáo dục Singapore đang áp dụng, chúng ta có được cái nhìn tổng quan về hệ thống giáo dục của Singapore, từ đó chúng ta áp dụng một cách chọn lọc những ưu điểm của mô hình giáo dục nước bạn nhằm phát triển hệ thống giáo dục Việt Nam. ii

MỤC LỤC Tóm tắt đề tài …………………………………………………………………………………………………….. i Lời nói đầu ……………………………………………………………………………………………………….. ii MỤC LỤC ………………………………………………………………………………………………………. iii 1. Tìm hiểu nền giáo dục Singapore ……………………………………………………………………..1 1.1. Sơ lược lịch sử phát triển nền giáo dục Singapore ……………………………………..1 1.1.1. Các giai đoạn cải cách giáo dục ở Singapore … ……………………………….1 1.1.2. Giáo dục để tồn tại (1959-1978) …………………………………………………….1 1.1.3. Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực (1979-1996)……………………………..2 1.1.4. Giáo dục lấy năng lực làm động lực (1997-2005). ……………………………2 1.1.5. Giáo dục lấy đổi mới làm động lực (từ 2006) …………………………………..2 1.2. Cấu trúc hệ thống giáo dục ở Singapore ……………………………………………………3 1.2.1. Giáo dục lấy năng lực làm động lực (1997-2005). ……………………………2 1.2.2. Giáo dục trung học cơ sở (Secondary Education)……………………………..6 1.2.3. Dự bị đại học (Pre- University Education) ………………………………………7 1.2.4.1. Đại học (Universities). …………………………………………………….9 1.2.4.2. Học viện công lập Singapore ( Polytechinics) ……………………10 1.3. Các vấn đề chung của giáo dục Singapore ………………………………………………11

iii

1.3.1. Mục tiêu giáo dục. ………………………………………………………………………11 1.3.2. Phương pháp giáo dục …………………………………………………………………12 1.3.3. Chính sách giáo dục ……………………………………………………………………13 1.3.4. Chính sách giáo viên …………………………………………………………………..14 1.3.5. Chính sách thu hút nhân tài ………………………………………………………….15 1.3.6. Chính sách song ngữ …………………………………………………………………..18 1.3.6.1. Chính sách song ngữ nhằm duy trì hòa bình sắc tộc ……………19 1.3.6.2. Tiếng Anh – ngôn ngữ quốc tế …………………………………………20 1.3.6.3. Sự phản đối của người Hoa ……………………………………………..21 1.3.7. Thực trạng học sinh-sinh viên ………………………………………………………22 1.4. Kinh nghiệm đổi mới và hội nhập giáo dục ở Singapore …………………………..22 1.5. Kết luận chương 1 ………………………………………………………………………………..25 2. Quan hệ Việt Nam-Singapore và cơ hội hợp tác ……………………………………………….27 2.1. Lịch sử phát triển quan hệ Singapore – Việt Nam …………………………………….27 2.1.1. Chính trị …………………………………………………………………………………..27 2.1.2. Quan hệ kinh tế … ……………………………………………………………………..28 2.1.2.1. Chính sách thương mại đầu tư của Singapore đối với Việt Nam ……………………………………………………………………………..30 2.1.2.2. Chính sách thương mại đầu tư của Việt Nam đối với Singapore ………………………………………………………………………30 2.1.3. Quan hệ giáo dục và văn hóa … …………………………………………………..15

iv

2.2. Hợp tác song phương trong giáo dục giữa hai nước ………………………………….35 2.2.1. Thành lập Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore …………….36 2.2.2. Khai trương Trung tâm đào tạo chất lượng cao Việt Nam – Singapore ……… ……………………………………………………………………………………..36 2.2.3. Liên kết đào tạo Việt Nam – Singapore ……… ……………………………..37 2.3. Cơ hội và thách thức của Việt Nam trong hợp tác giáo dục với Singapore ….39 2.3.1. Cơ hội … …………………………………………………………………………………..39 2.3.2. Thách thức … …………………………………………………………………………….42 2.4. Kết luận chương 2 ……………………………………………………………………………….46 3. Kết luận và bài học thu được ………………………………………………………………………….47 3.1. Kết luận ………………………………………………………………………………………………47 3.2. Bài học thu được ………………………………………………………………………………….47 3.2.1. Tăng cường việc dạy và học tiếng Anh………………………………………….48 3.2.2. Chú trọng đầu tư chất lượng giáo viên bằng các biện pháp thực tế ……48 3.2.3. Việt Nam nên có những ngành nghề đào tạo kĩ thuật, đào tạo những công nhân lành nghề đang còn rất thiếu trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa………………………………………………………………………..49 3.2.4. Phát triển và thu hút nhân tài………………………………………………………..40 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………………………….52

v

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

Chương 1 TÌM HIỂU NỀN GIÁO DỤC SINGAPORE

1.1. Sơ lược lịch sử phát triển nền giáo dục Singapore Nước Cộng hòa Singapore là quốc gia nhỏ nhất Đông Nam Á với diện tích chỉ khoảng 710 km2 và dân số khoảng trên 4,8 triệu người (theo số liệu 2008). Vốn là một làng chài cá ở phía nam quần đảo Mã Lai, Singapore trở thành thuộc địa của Anh từ thế kỷ 19, giành quyền tự trị vào năm 1959 và trở thành quốc gia độc lập thuộc Khối thịnh vượng chung từ năm 1965. Chính vì vậy tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến ở đảo quốc này. Quá trình phát triển giáo dục Singapore tính từ 1959 đến nay được chia ra làm nhiều giai đoạn với những phương châm cải cách giáo dục riêng.

1.1.1 Các giai đoạn cải cách giáo dục ở Singapore Các giai đoạn cải cách giáo dục ở Singapore có thể được chia thành 4 giai đoạn như sau:  Giáo dục để tồn tại (1959-1978).  Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực (1979-1996).  Giáo dục lấy năng lực làm động lực (1997-2005).  Giáo dục lấy đổi mới làm động lực (từ 2006). Những giai đoạn khác nhau không tách rời mà tạo thành một chuỗi liên tục, thời điểm chỉ có ý nghĩa đánh dấu cho thuận tiện.

1.1.2. Giáo dục để tồn tại (1959-1978) Từ năm 1959 đến năm 1978, chính phủ non trẻ phải xây dựng một nền giáo dục đại chúng để đáp ứng nhu cầu cấp bách là gắn kết quốc gia và phát triển kinh tế. Đây chính là giai đoạn nền giáo dục được gọi là Giáo dục để tồn tại. Tiếp theo nền tự trị vào năm 1959, Chính phủ đã kế thừa một hệ thống giáo dục đa dạng trong đó các trường sử dụng các ngôn ngữ khác nhau (tiếng Anh, tiếng Mã lai, tiếng Trung và tiếng Ta-min) làm chuyên ngữ để giảng dạy nội dung chương trình rất khác nhau. Để thống GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

nhất chuẩn và là một phần của công cuộc xây dựng đất nước, Bộ Giáo dục đã đưa nhà trường vào một hệ thống quốc gia với chương trình học tập chung, trong khi vẫn cho phép các trường giữ các ngôn ngữ khác nhau làm phương tiện giảng dạy. Trong những năm 1960 và 1970, một loạt các cải cách giáo dục được tiến hành để đảm bảo chuẩn và sự bình đẳng tương đối giữa tất cả trường theo dòng tiếng Anh và 3 dòng trường không phải tiếng Anh (tiếng Mã-lai, tiếng Trung và Ta-min).

1.1.3. Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực (1979-1996) Năm 1979 chứng kiến một biến động lớn tiếp theo trong lịch sử giáo dục Singapore. Một ủy ban do TS. Goh Keng Swee, lúc này là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đứng đầu, tiến hành rà soát kỹ nền giáo dục Singapore. Việc rà soát của TS. Goh khởi đầu cho một phong trào làm cho hệ thống giáo dục có hiệu quả bằng nhiều cách, trong đó có giảm lãng phí trong giáo dục. Những thay đổi về phân luồng và chương trình học tập được đưa vào để phục vụ các nhóm học sinh có năng lực khác nhau đồng thời đề cao các giá trị giáo dục để khuyến khích sự gắn kết xã hội qua học tập. Việc này đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực. Phương châm này đã thúc đẩy sự phân quyền phân cấp trong giáo dục, thay đổi về việc cấp bằng và chứng chỉ, mở rộng giáo dục kỹ thuật và dạy nghề, cải tiến giáo dục đại học để đáp ứng và phù hợp hơn với yêu cầu của nền kinh tế đang biến đổi nhanh chóng.

1.1.4. Giáo dục lấy năng lực làm động lực (1997-2005) Từ giữa những năm 1990, thế giới có những biến đổi lớn với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và xu hướng toàn cầu hóa. Tầm nhìn cho học sinh ra trường là trở thành những người không những biết đọc, biết viết và biết tính toán mà còn có năng lực về công nghệ thông tin và kỹ năng giải quyết các vấn đề phức tạp của cuộc sống. Triết lý giáo dục của Singapore đã chuyển sang một hướng mới là giáo dục lấy năng lực làm động lực.

GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

1.1.5. Giáo dục lấy đổi mới làm động lực (từ 2006) Từ 2006, Singapore đã tiến hành những thay đổi ở tất cả các bậc học trong bối cảnh nền kinh tế tri thức với phương châm hướng đến chất lượng cao trong giáo dục. Những thay đổi này đã khởi đầu cho giai đoạn giáo dục lấy đổi mới làm động lực.

1.2. Cấu trúc hệ thống giáo dục ở Singapore Mục đích của nền giáo dục chính thống ở Singapore là trang bị cho thanh thiếu niên những kỹ năng kiếm sống, có giá trị đạo đức lành mạnh, và khi trưởng thành trở thành những con người có trách nhiệm và những công dân trung thành. Quá trình học tập nhằm nuôi dưỡng những tố chất tốt nhất của mỗi trẻ, giúp cho từng em phát huy tối đa tiềm năng của mình. Hiện nay, hệ thống học tập chủ yếu là tập trung giám sát khoảng 165 trường tiểu học (trường công và trường được chính phủ hỗ trợ), 156 trường trung học, 12 trường hỗn hợp đào tạo, 7 trường độc lập, 13 trường cao đẳng và 1 trường dự bị đại học tập trung. Giáo dục tiểu học là bắt buộc, với tất cả trẻ em từ 6 tuổi. Các em được hưởng 10 năm giáo dục miễn phí: 6 năm ở bậc tiểu học và 4 năm ở bậc trung học. Giáo dục sau trung học chuyên về học thuật được đưa vào các trường cao đẳng và một trường dự bị đại học tập trung, trong khi đào tạo trực tiếp chuẩn bị cho thế giới việc làm được giao cho các cơ sở và các trường đào tạo thuộc Viện Giáo dục Kỹ thuật và 5 trường kỹ thuật bách nghệ. Hiện nay ở Singapore có 4 trường đại học. Hệ thống trường học ở Singapore được xây dựng nhằm khuyến khích học sinh hoàn chỉnh ít nhất 10 năm giáo dục cơ sở trước khi bước vào thế giới việc làm. Mô hình giáo dục Singapore được tóm tắt trong sơ đồ sau trong đó phân biệt các cấp học, và đặc thù của mỗi cấp học tương ứng.

GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

Hình 1.1: Mô hình giáo dục Singapore.

GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

1.2.1. Giáo dục tiểu học Giáo dục tiểu học bao gồm 06 năm: 04 cơ bản (từ P1 đến P4) và 02 năm định hướng (P5 và P6). Giáo dục tiểu học là một giai đoạn trong việc giáo dục trẻ em. Nó đặt nền tảng cho việc học và phát triển cuộc sống sau này của trẻ. Học sinh tiểu hoc sẽ được học nhiều môn học và kỹ năng khác nhau. Nhìn chung, mục đích của giáo dục tiểu học là nắm được kiến thức về Tiếng Anh, Tiếng mẹ đẻ và môn Toán.  Các môn học: Ngôn ngữ, Toán, Khoa học, Xã hội, Nghệ thuật, Thủ công và Nhạc.  Kỹ năng: Phát triển kỹ năng tư duy, kỹ năng xử lý và kỹ năng giao tiếp.  Phát triển tính cách: Thông qua các hoạt động ngoại khóa, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất… Khi hoàn thành xong 6 năm học, học sinh sẽ thi tốt nghiệp tiểu học PSLE (Primary School Leaving Examination). Học sinh quốc tế cũng có thể tham gia kỳ thi tôt nghiệp tiểu học quốc tế do cục khảo thí Singapore tổ chức ở các nước (iPSLE – International Primary School Leaving Examination). Bộ giáo dục Singapore sẽ căn cứ vào kết quả của bài thi tốt nghiệp tiểu học để xếp học sinh vào các trường trung học phù hợp. Khai giảng năm học mới vào tháng 1 hằng năm.

Hình 1.2: Học sinh cấp tiểu học Singapore. GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

1.2.2. Giáo dục trung học cơ sở (Secondary Education) Căn cứ vào kết quả kỳ thi tốt nghiệp tiểu học (PSLE), bộ giáo dục Singapore sẽ xếp học sinh vào các trường trung học cơ sở phù hợp: Integrated Programme, Special, Express, Normal (Academic) hoặc Normal (Technical). Kết thúc khóa học, học sinh sẽ thi lấy chứng chỉ “O” level (Ngoại trừ Integrated Programme). Chứng chỉ “O” level được sử dụng để xét và các trường dự bị đại học (Junior Colleges), học viện công lập (Polytechnics), viện đào tạo (Institutes), trường dạy nghề (Vocational).

Hình 1.3 Học sinh trung học cơ sở Singapore  Integrated Programme (IP). Những học sinh đạt kết quả xuất sắc, tốt sẽ có cơ hội được học hệ thống trường liên thông từ trung học cơ sở cho đến dự bị đại học. Thời gian học là 06 năm: 04 năm trung học cơ sở và 02 năm dự bị đại học. Học sinh theo học dòng trường này sẽ không phải thi “O” level. Nghĩa là học sinh sẽ học liên tục cho tới khi thi chứng chỉ “A” level khi đã kết thúc chương trình học 06 năm.  Special/ Express schools.

GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

1.2.3. Dự bị đại học (Pre- University Education) Hệ thống giáo dục sau trung học và đại học của Singapore gồm các trường cao đẳng, các học viện tập trung, các viện giáo dục kỹ thuật, các trường kỹ thuật bách nghệ và các trường đại học. Chương trình dự bị đại học tạo Singapore cũng tương đương với chương trình trung học phổ thông tại Việt Nam. Dự bị đại học chuẩn bị cho học sinh thi lấy chứng chỉ GCE “A” level (The Advanced Level General Certificate of Education). Sau khi học sinh hoàn thành 02 năm Junior College hoặc là 03 năm Centralized institute course. Học sinh có chứng chỉ GCE “A” level sẽ được sử dụng kết quả này để nộp hồ sơ vào các trường đại học công lập ở Singapore (NUS, NTU, SMU, SUTD), hoặc các trường đại học ở các nước khác như Anh, Mỹ, Úc, Thủy Điển,… hoặc các trường học viện cộng lập,…

GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

Hình 1.4: Học sinh trung học phổ thông Singapore.

1.2.4. Giáo dục sau trung học (Post -Secondary Education) Giáo dục sau trung ở Singapore tương đương với các bậc giáo dục đại học, cao đẳng hay trung cấp nghề tại Việt Nam. Viện Giáo dục kỹ thuật (ITE) là một trường sau bậc trung học nằm trong hệ thống các trường cao đẳng nhằm trang bị cho học sinh tốt nghiệp trung học và người lớn các kỹ năng và kiến thức kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho các ngành. ITE cung cấp nhiều chương trình đào tạo: đào tạo cơ bản toàn phần, các chương trình thực tập cho học sinh tốt nghiệp trung học, giáo dục và đào tạo thường xuyên cho công nhân. Các trường kỹ thuật bách nghệ có xu hướng đào tạo kỹ năng thực hành với các ngành học như cơ khí, kinh doanh, kế toán, hàng hải, chăm sóc sức khỏe, công nghệ sinh học, thiết kế phương tiện kỹ thuật số, khoa học ứng dụng, thiết kế sản phẩm và truyền thông. Ngoài ra có các trường đại học tổng hợp có xu hướng đào tạo nghiên GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

cứu. Riêng việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên cũng như cung cấp các chương trình giáo dục khác được thực hiện tại Học viện giáo dục quốc gia thuộc Đại học Công nghệ Nanyang. Sau khi có được bằng hoặc Chứng chỉ tại các trường này sinh viên mới có thể học lên các bậc sau đại học. 1.2.4.1 Đại học (Universities) Hiện nay Singapore có 04 trường đại học công lập:  Đại học quốc gia Singapore (NUS – National University of Singapore).  Đại học công nghệ Nanyang (NTU – Nanyang Technological University).  Đại học quản lý Singapore (SMU – Singapore Management University).  Đại học công nghệ và thiết kế Singapore (SUTD – Singapore University of Technology and Design). Đại học quốc gia Singapore và Đại học công nghệ Nanyang là những trường tiên phong trong việc đào tạo các chương trình đổi mới bao gồm chương trình đào tạo cử nhân, cử nhân kép, cao học, tiến sỹ,… Đại học quản lý Singapore cung cấp chương trình đào tạo kinh doanh dựa trên phương pháp và nội dung giảng dạy của khoa Wharton thuộc đại học Pennsylvania – Mỹ. Đại học công nghệ và thiết kế Singapore là đại học mới nhất của Singapore. Trường được thành lập năm 2008 với mục tiêu nuôi dưỡng, phát triển và đổi mới xã hội.

GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

Hình 1.5 Quy mô các trường đại học công lập Singapore 1.2.4.2. Học viện công lập Singapore ( Polytechinics). Học viện công lập, Singapore, cung cấp các chương trình đào tạo 03 năm. Các trường này chấp nhận học sinh dựa trên kết quả GCE “O” level, GCE “A” level or Institute of Technical Education (ITE).  Hiện nay Singapore có 05 trường học viện công lập:  Học viện công lập Singapore (SP – Singapore Polytechnic).  Học viện công lập Ngee Ann ( NP – Ngee Ann Polytechnic).  Học viện công lập Temasek (TP – Temasek Polytechnic).  Học viện công lập Nanyang (NYP – Nanyang Polytechnic).  Học viện công lập Republic (RP – Republic Polytechnic).

GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

Hình 1.6 Học viện công lập Singapore. Các trường học viện công lập ở Singapore đào tạo rất nhiều các ngành nghề trong những lĩnh vực khác nhau như: kỹ thuật, kinh doanh, khoa học, truyền thông, công nghệ thông tin, chăm sóc khách hàng… Sau khi tốt nghiệp các trường học viện công lập, sinh viên có thể tiếp tục theo học tại các trường đại học Singapore, các trường đại học nước ngoài (Anh, Mỹ, Úc, Thụy Điển,…) hoặc học sinh có thể đi làm luôn với mức lương khởi điểm 1,800-2200 SGD/tháng trở lên.

1.3. Các vấn đề chung của giáo dục Singapore Các vấn đề chung của giáo dục Singapore được đầ cập trong đề tài bao gồm những vấn đề mục tiêu, phương pháp, cũng như những chính sách mà giáo dục Singapore đang thực hiện.

GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

1.3.1. Mục tiêu giáo dục Mục đích của nền giáo dục chính thống ở Singapore là trang bị cho thanh thiếu niên những kỹ năng kiếm sống, có giá trị đạo đức lành mạnh, và khi trưởng thành trở thành những con người có trách nhiệm và những công dân trung thành. Quá trình học tập nhằm nuôi dưỡng những tố chất tốt nhất của mỗi trẻ, giúp cho từng em phát huy tối đa tiềm năng của mình. Chính quyền Singapore luôn luôn coi dân số trong nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên duy nhất của họ và mô tả nền giáo dục như là sự phát triển nguồn lực của đất nước. Mục tiêu của hệ thống giáo dục là phát triển tài năng của từng cá nhân, sao cho mỗi ngườị đều có thể đóng góp vào sự nghiệp kinh tế và vào cuộc đấu tranh liên tục nhằm biến Singapore thành một thị trường quốc tế giàu năng suất và mạnh tính cạnh tranh. Kết quả của họ là một hệ thống giáo dục trong đó người ta có thể đánh giá, phát hiện và phân loại học sinh theo từng chương trình tương ứng. Những người làm công tác giáo dục đã thẳng thắn xác định những học sinh mà họ cho là ‘sáng giá’ hơn những bạn đồng môn khác.

1.3.2. Phương pháp giáo dục Kể từ cuối những năm 1970, các trường học tại Singapore đã phân loại học sinh theo trình độ, giúp họ theo học những chương trình phù hợp với khả năng tiếp thu của mình. học sinh không cần phải học và giỏi đều tất cả các môn, mà được quyền lựa chọn môn học theo sở thích và thế mạnh của mình. Học tập tại Singapore, học sinh luôn được hướng đến những mục tiêu và thành tích đỉnh cao không chỉ trong khuôn khổ nhà trường mà còn vươn cao và xa hơn nữa. Bộ Giáo dục Singapore đưa ra chương trình Giáo dục về Quốc gia trong các trường nhằm bồi dưỡng nhận thức và tình cảm của các em học sinh về di sản và vận mệnh chung của đất nước. Trong khuôn khổ chương trình học tập, Giáo dục về Quốc gia được kết hợp vào với các môn như Xã hội học, Sử học và Địa lý. Chương trình còn được hỗ trợ thêm bởi các chương trình và hoạt động ngoại khoá mà các em tham gia. Các em học sinh kỷ niệm các ngày lễ như Ngày lễ Quốc phòng toàn dân, Ngày Hữu GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

nghị Quốc tế, ngày Hoà hợp giữa các sắc tộc và ngày Quốc khánh. Các em còn tham gia vào các hoạt động như đi tham quan học tập đến những cơ sở giáo dục quan trọng trong nước. Trong Chương trình Tham gia vào Cộng đồng, các em học sinh tham gia được trực tiếp thực hiện các dự án phục vụ cho cộng đồng. Thông qua những hoạt động này, các em học được sự tôn trọng và sự đoàn kết hợp tác giữa người Singapore không phân biệt sắc tộc hay tôn giáo, có được sự hiểu biết sâu rộng và đánh giá đúng mức những thử thách, khó khăn và các điểm yếu mà Singapore đang phải đối mặt hôm nay và trong tương lai. Hệ thống giáo dục Singapore đang tiếp tục hòan thiện mình để trở nên đa dạng và uyển chuyển hơn, tạo cho người học khả năng tối đa phát huy những thế mạnh của cá nhân. Với triết lý lấy người học làm trung tâm, giáo dục Singapore được xây dựng theo tiêu chí để người học chủ động lựa chọn ngành học, thiết kế chương trình học, linh động về thời gian, và chủ động tìm đến những nguồn tri thức mới, tiếp xúc với những thành tựu từ đa ngành, đa quốc gia, đa văn hóa. Bên cạnh kiến thức chuyên ngành, người học còn rèn luyện cả về thể thao lẫn các môn nghệ thuật. Học sinh được khuyến khích để không chỉ học tập chuyên ngành mà còn rèn luyện thể thao tùy theo năng khiếu của mình với những chương trình và điều kiện cơ sở vật chất hiện đại. Sau khi xếp sách lại sau giờ học, một thế giới thể thao, giải trí cùng với những cảnh sắc và âm thanh ngoạn mục sẳn sàng giúp bạn thư giãn và đáp ứng cho các giác quan của bạn.

1.3.3. Chính sách giáo dục Trong những thập niên 1960 và 1970, với sự bùng nổ số lượng trẻ em do tỉ lệ sinh sản cao trong thập niên trước, và với ảnh hưởng của lối sống trong thời kỳ thuộc Anh trước đó, chỉ có một số ít tốt nghiệp đại học với chất lượng cao. Số đông còn lại trong lớp trẻ đã được tách ra từ số học sinh đang theo học trung học, theo sự loại trừ của những chuẩn mực khất khe. Những công dân trẻ tuổi này đã tham gia vào lực lượng lao động của xã hội khi trong tay không có một kỹ năng chuyên môn cụ thể nào. Với cuộc cải cách lớn vào năm 1979, người ta đã theo dõi chặt chẽ quá trình học tập của học sinh để giảm thiểu tỉ lệ bỏ học và để đảm bảo số học sinh ít năng khiếu học GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Chương 1

Tìm hiểu nền giáo dục Singapore

chữ vẫn có được những kỹ năng nghề nghiệp hữu ích cho xã hội. Trong thập niên 1980, thêm nhiều biện pháp được áp dụng cho việc giáo dục hướng nghiệp cũng như cho nỗ lực làm cho những ‘sản phẩm’ của hệ thống giáo dục đáp ứng đúng nhu cầu về lao động trong công nghiệp và thương mại. Năm 1987, khoảng 4% tổng sản phẩm quốc dân (GDP) đã được dành cho giáo dục. Sau đó tỉ lệ này được tiếp tục nâng dần lên bằng với những quốc gia phát triển mạnh như Nhật Bản hoặc Hoa Kỳ. Giáo dục ở đây không cưỡng chế, nhưng hầu như tất cả mọi người đều đi học. Học sinh cấp tiểu học được miễn phí ở nhà trường, và riêng học sinh người gốc Malaya được miễn phí đến đại học. Có những quỹ đặc biệt để đảm bảo không có học sinh nào phải bỏ học vì khó khăn vê tài chính. Học phí cấp đại học được thu ở mức sòng phẳng với mục đích để những gia đình khá giả phải chia sẻ chi phí đào tạo mà kết quả của nó sẽ giúp sinh viên ra trường sẽ có việc làm với đồng lương cao. Tuy nhiên, đối với những sinh viên có thành tích cao trong học tập sẽ được cho vay, được trợ cấp hoặc được hưởng học bổng, từ đó không có sinh viên giỏi nào phải bỏ dở việc học vì thiếu khả năng chi trả học phí. Từ năm học 2003-2004, chế độ cưỡng bức giáo dục đã được đưa vào chính sách giáo dục của Singapore.

1.3.4. Chính sách giáo viên Kênh dạy học nhằm xây dựng trình độ dạy học ưu việt trong khuôn khổ Dịch vụ giáo dục và tạo các cơ hội phát triển, thăng tiến cho các cán bộ giáo dục, những người mong muốn tập trung chủ yếu vào nghề dạy học của mình. Trong kênh này, cần tạo thêm các cơ hội thăng tiến cho các giáo viên xứng đáng khi bổ nhiệm chức hiệu trưởng và hầu hết các vị trí giáo viên cao cấp. Với cách đó, những giáo viên xứng đáng sẽ được thưởng và được công nhận đối với những gì họ đã làm được. Công đoàn giáo viên Singapore (STU) tạo các cơ hội học tập và phát triển cho giáo viên thông qua các hội thảo, các khóa học bồi dưỡng chuyên môn do các chuyên gia của các học viên trong nước và nước ngoài thực hiện. Những nét nổi bật trong chính sách giảng viên như:  Tuyển dụng. GVHD: chúng tôi Phạm Lan Hương

Bạn đang xem bài viết Làng Và Quan Hệ Dòng Họ Của Người Việt Nam Bộ trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!