Xem Nhiều 2/2023 #️ Lỗi Sử Dụng “Còn” Và “Vẫn” Trong Tiếng Việt Của Người Nước Ngoài # Top 5 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Lỗi Sử Dụng “Còn” Và “Vẫn” Trong Tiếng Việt Của Người Nước Ngoài # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lỗi Sử Dụng “Còn” Và “Vẫn” Trong Tiếng Việt Của Người Nước Ngoài mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PGS. TS. Nguyễn Thiện Nam

Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt

Trường ĐHKHXH & NV ĐHQGHN

I. Mở đầu:

Lỗi trong quá trình học một ngoại ngữ là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong quá trình hình thành ngôn ngữ của người học ngoại ngữ. Lỗi của người học ngoại ngữ giúp người dạy đánh giá được những giai đoạn phát triển trong quá trình khám phá ngôn ngữ đích của người học, lỗi cũng giúp các nhà sư phạm và soạn sách phát hiện được chiến lược học của người học và giúp người nghiên cứu phát hiện thêm những đặc trưng của ngôn ngữ mà thông qua lỗi của người học, chúng mới được thể hiện rõ ràng hơn. Lỗi trong quá trình học và khám phá tiếng Việt của người nước ngoài cũng mang sứ mệnh như vậy.

Trong bài này, chúng tôi đề cập tới lỗi sử dụng hai từ “còn” và “vẫn” ở cương vị phó từ, bổ nghĩa cho động từ hoặc tính từ; ( Đối với trường hợp “vẫn còn”, chúng tôi đánh giá lượng ngữ nghĩa và cách dùng giống như “vẫn”).

Trong khi khảo sát lỗi, chúng tôi sử dụng một số thuật ngữ của lý thuyết phân tích lỗi (Error analysis) [2]  như chiến lược giao tiếp (communication strategy), chuyển di giảng dạy (transfer of training), vượt tuyến (overgeneralization).

II. Một số ý kiến về “còn” và “vẫn”

Đối với “còn” và “vẫn”, nhiều tác giả đã đề cập tới như Trần Trọng Kim [4], Bùi Đức Tịnh [10], Đái Xuân Ninh [6], Nguyễn Anh Quế [8], Hoàng Phê [7], Đỗ Thanh [9]…

Trần Trọng Kim thì không đề cập tới “vẫn” mà chỉ nhắc đến “còn” như sau:

“Khi người ta muốn biểu-diễn cái ý nói về một việc chưa xong hay một thể chưa thay-đổi, hoặc quan-hệ đến một việc khác, thì người ta dùng tiếng trạng tự: còn, hãy còn.

Nó còn ngủ

Bấy giờ nó hãy còn bé, chưa biết gì

Hôm qua lúc tôi đến nó hãy còn ngủ [4, tr.96]

Bùi Đức Tịnh trong “văn phạm Việt Nam thì xếp “còn”, “vẫn” vào nhóm “Trạng-từ biểu-diễn các thời của động-từ và tĩnh-từ”, và ông gọi đây là những trạng-từ đặc biệt (đang, còn, vẫn, hãy còn, đã, rồi, vừa, sắp, sẽ) mà không chỉ ra ngữ nghĩa [10, tr. 106].

Đái Xuân Ninh, trong “Sự hoạt động của từ tiếng Việt” cho rằng:

“Vẫn” biểu thị sự liên tục, kéo dài của động tác mà trước khi nói đã xảy ra. [6, tr.124]

Ví dụ:

Nó vẫn hát

Nó vẫn làm ăn như trước đây

Và cho rằng:

“Còn” là tình thái thời gian xác định động tác của động từ tiếp diễn đến khi nói hoặc đến một lúc nào đó của quá khứ hoặc tương lai.

Ví dụ:

Năm ấy anh ta còn học ở Đại học sư phạm.

Ngày mai chúng ta còn gặp nhau ở đây

“Đang” được thêm vào để nhấn mạnh ý tiếp diễn:

Nó đang còn học

Nó còn đang học. [6, tr.126]

Ta thấy rằng, tác giả đã dùng 2 nhóm từ gần nghĩa để giải thích cho “còn” và “vẫn”: “còn” thì dùng: “tiếp diễn đến khi nói”, “vẫn” thì dùng: sự liên tục, kéo dài của động tác mà trước khi nói xảy ra”. Thực chất tác giả không nêu được sự phân biệt giữa “còn” và “vẫn”.

Đỗ Thanh trong “Từ điển từ công cụ tiếng Việt” cho rằng:

“Còn” dùng để biểu thị sự tiếp diễn của một hành động, trạng thái:

Bố tôi còn làm việc, chưa nghỉ hưu [9, tr.40]

“Vẫn” + biểu thị sự tiếp tục tiếp diễn của một hành động trạng thái tính chất nào đó.

Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân

+ Khi biểu thị ý trái ngược, vẫn ở trong vế nghịch của câu:

Trời mưa, tôi vẫn đi

Chủ nhật và ngày lễ, cửa hàng vẫn mở cửa. [ 9, tr. 230]

Nguyễn Văn Chính [1], trong luận án tiến sĩ ngữ văn có cho rằng “còn” và “vẫn”  khác nhau ở chỗ: “còn” có điểm dừng; “vẫn” tiếp tục mãi (không có điểm dừng), chúng tôi thấy rằng đây cũng là một nhận xét khá độc đáo.

III. Khảo sát lỗi dùng “còn” và “vẫn”

Trong một công trình về lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài [5], chúng tôi có tình hình cụ thể như sau về “còn” và “vẫn”:

Dùng “còn” trong khi lẽ ra dùng “vẫn”: 25 trường hợp

Dùng thiếu “vẫn”: 5 trường hợp

1. Dùng “còn” trong khi lẽ ra dùng “vẫn”

Ví dụ :

Em đã trở về Úc hai tháng rồi. Bố mẹ, anh chị và các cháu của em còn khỏe. (Anh – A)

Câu được chữa (CĐC): ……. Bố mẹ, anh chị và các cháu của em vẫn khỏe.

Trời mưa nhưng em còn đi học. (Khơ me – K)

CĐC: Trời mưa nhưng em vẫn đi học.

Em có xe máy rồi nhưng em còn đi xe đạp vì em sợ tai nạn. (Nhật – N)

CĐC: Em có xe máy rồi nhưng em vẫn đi xe đạp.

Ở 3 ví dụ trên, sau khi thay “còn” bằng “vẫn” như trong các CĐC, câu tự nhiên hơn và đúng với ý muốn diễn đạt của người học hơn. Quả thật, “còn” và “vẫn” là hai từ vừa có chung nét nghĩa vừa có sự khu biệt nét nghĩa mà rất khó nhận biết. Cho tới nay, chưa có từ điển, sách ngữ pháp nào chỉ ra được sự phân biệt nét nghĩa giữa “còn”và “vẫn” một cách hiển minh. Trong khi đó nếu ta tìm từ tương đương trong các thứ tiếng khác để dịch “vẫn”, “còn” thì hầu như (theo những tiếng mà chúng tôi biết) lại chỉ có một từ để biểu thị hai từ này của tiếng Việt.

Ví dụ tiếng Anh : “vẫn”, “còn”: “still”; tiếng Nhật: “mada”, tiếng Trung Quốc là “hái”, tiếng Pháp là “encore”…, chỉ có tiếng Khơ me, là có thể dịch bằng hai từ “nâute” và”nâu”. Trong lĩnh vực dạy học tiếng, khi một từ của ngôn ngữ A được thể hiện bằng nhiều từ của ngôn ngữ B thì sự phân biệt và nắm bắt nét nghĩa để dùng đúng là rất khó. Ở đây sự phân biệt giữa “vẫn” và “còn” là một sự phân biệt khá tinh tế, có thể cảm nhận được nhưng lại khó trình bày một cách hiển ngôn.

Chúng tôi cho rằng ý kiến của các tác giả đi trước như đã giới thiệu ở phần II của bài này có phần đúng nhưng chưa đủ. Chính cái yếu tố “đủ” mà chúng tôi sắp nêu lên ở đây sẽ góp phần giúp người học hiểu được sự khác nhau giữa “vẫn” và “còn”. Đúng là “vẫn” và “còn” đều cùng chỉ một sự tiếp tục, chưa kết thúc của hành động nào đó. Tuy nhiên, sự phân biệt ở đây theo chúng tôi là: “còn” tại thời điểm phát ngôn chỉ biểu thị một sự tiếp tục của hành động, trạng thái, tính chất mà thôi.

Ví dụ:

Anh ấy còn ngủ.

Tôi còn ở Việt Nam 2 năm nữa.

“Vẫn” tại thời điểm phát ngôn, biểu thị một sự tiếp diễn, chưa kết thúc của hành động, trạng thái (sự tình) nhưng khác “còn” ở chỗ: “vẫn” mang nét nghĩa tình thái mạnh hơn (ý chí của chủ thể), điều quan trọng khi dùng “vẫn”, ta thấy hoặc có thể hình dung ra một sự đối lập của sự tình trước “vẫn” và sau “vẫn”.

So sánh:

Tôi còn ở Việt Nam 2 năm nữa (thông báo bình thường về kế hoạch).

Tôi vẫn ở Việt Nam 2 năm nữa (hàm ý có một sự tình “đối lập” nào đó nhưng việc ở Việt Nam 2 năm nữa là không thay đổi). Khi “vẫn” được dùng, câu có thể có nhiều hàm ngôn đối lập, chẳng hạn, hàm ngôn của câu trên có thể là:

(Dù sao) Tôi vẫn ở Việt Nam 2 năm nữa.

(Dù đã sắp hết tiền) Tôi vẫn ở Việt Nam 2 năm nữa.

(Vợ tôi muốn tôi về nước nhưng) Tôi vẫn ở Việt Nam 2 năm nữa.

(Dù đã giỏi tiếng Việt nhưng) Tôi vẫn ở Việt Nam 2 năm nữa.

Trong lúc đó, “còn” không kèm theo những hàm ngôn như vậy. Có thể thấy rằng ý nghĩa của “vẫn” rộng hơn, “còn” hẹp hơn nên chúng ta chỉ thấy sinh viên mắc lỗi về “còn” mà không thấy sinh viên mắc lỗi dùng nhầm “vẫn” thành “còn”. Bởi vì  những trường hợp dùng sau “còn” được thì đều có thể dùng sau “vẫn” mà không sai ngữ pháp, tuy nhiên có thêm ý nhấn mạnh và tạo hàm ngôn mang nghĩa đối lập. Trở lại những câu sai đã dẫn của người nước ngoài, ta thấy ở ví dụ (1) người học viết : “… Bố mẹ, anh chị và các cháu của  em còn khỏe” trong khi cần dùng “vẫn khỏe” vì có một sự đối lập giữa một khoảng thời gian đã trôi đi với trạng thái “khỏe” ở đây là không thay đổi, bất chấp những điều kiện khác. Trong khi nếu dùng “còn” thì chỉ có ý nghĩa là một sự miêu tả khách quan  về một sự việc, không hàm ý nhấn mạnh. Ví dụ (2) làm cho ta thấy rõ hơn sự khác nhau giữa “còn” và “vẫn” khi biểu thị “ý chí” của chủ thể trong một tình huống khó khăn: “trời mưa” chắc chắn phải dùng “vẫn” chứ “còn” thì không thể biểu thị được ý nghĩa này.

Ví dụ (3) cũng là một sự đối lập giữa “có xe máy” và “đi bộ”. Cũng chính do lý do đặc trưng “đối lập” này nên “vẫn” thường kết hợp với “nhưng” ở trước thành “nhưng… vẫn…” lý do chủ yếu của những lỗi này  là do chiến lược giao tiếp và chuyển di giảng dạy, tức là người học đã không được chú ý luyện tập về hiện tượng ngữ pháp này…

2. Dùng thiếu “vẫn”:

Trong tất cả các trường hợp dùng thiếu “vẫn” người học đều dùng mẫu câu:

“Mặc dù/ tuy A nhưng B”.

Ví dụ:

Mặc dù anh ấy bị bệnh nhưng anh ấy – đến trường. (K)

Tuy tôi rất bận nhưng tôi – giúp đỡ chị ấy. (Nhật)

Hai ví dụ trên cho ta thấy người học đã viết theo mẫu câu: “Tuy A nhưng B” và người học có cảm tưởng chắc chắn rằng họ đã viết đúng. Tuy nhiên mẫu câu đó chưa được chi tiết hoá hơn với sự xuất hiện của “vẫn”:

“Tuy/ mặc dù A nhưng B vẫn C”. Cho dù hai câu trên đọc lên không “phản ngữ pháp lắm” do cái cảm giác “Tuy A nhưng B” nhưng người Việt lại không nói như vậy mà phải dùng “vẫn” bởi “vẫn” thể hiện được đặc trưng đối lập giữa A và B. Thậm chí ta có thể bỏ “nhưng” mà không thể bỏ được “vẫn”.

Tuy tôi rất bận, tôi vẫn giúp chị ấy.

Ở trường hợp dùng thiếu “vẫn” này, lý do mắc lỗi theo chúng tôi là do 3 nguyên nhân: Chiến lược giao tiếp, vượt tuyến và chuyển di giảng dạy.

Lý do chiến lược giao tiếp ở chỗ vì mục đích giao tiếp nên người học không ngại tạo nên những câu có thể chưa dám chắc đúng.

Lý do vượt tuyến ở chỗ: người học đã học và sử dụng “nhưng” trong nhiều trường hợp nhưng không có “vẫn”, vì vậy, khi dùng mẫu : “Tuy… nhưng…. vẫn…” thì người học đã bị áp lực của những trường hợp dùng “nhưng” không cần dùng “vẫn” “lấn át”.

Lý do chuyển di giảng dạy ở chỗ: người học ít được chú ý về yếu tố “vẫn” trong mẫu “Tuy/ mặc dù A nhưng… vẫn…”. Quả thực là như vậy, khi dạy cho người nước ngoài kết cấu “ tuy/mặc dù A nhưng B’’, các giáo viên cũng như sách giáo khoa tiếng Việt thường không mấy để ý đến chức năng cũng như nghĩa tình thái của “vẫn” trong kết cấu này.

Kết luận

Tiếng Việt cho người nước ngoài quả đúng là “hòn đá thử vàng của một cách miêu tả ngữ pháp tiếng Việt” như GS Cao Xuân Hạo đã nói [3]. Những lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài rõ ràng giúp ta nhìn vào được bản chất của một số hiện tượng ngữ pháp chưa được rõ ràng trong tiếng Việt. Cụ thể ở bài này, từ những lỗi về cách dùng từ “còn” và lỗi dùng thiếu từ “vẫn” của người học, chúng ta đã có thể chỉ ra nét nghĩa giống nhau và khác nhau cơ bản giữa “còn” và “vẫn” và chúng ta có thể hiểu được vì sao người nước ngoài sử dụng sai như vậy để có giải pháp giúp người học khắc phục được lỗi. Đối với sách giáo khoa tiếng Việt cho người nước ngoài, nhất thiết, những sự phân biệt như vậy giữa “còn” và “vẫn”/ “vẫn còn” cần được chú ý và luyện tập qua các loại bài tập chữa câu sai, bài tập lựa chọn, bài tập làm đầy câu…

THAM KHẢO

Nguyễn Văn Chính (2000) Vai trò của hư từ tiếng Việt trong việc hình thành thông báo phát ngôn, Luận án tiến sĩ ngữ văn, ĐHQG Hà Nội

Corder, S.P. (1973) Introducing Applied Linguistics, Penguin.

Cao Xuân Hạo (1995) Tiếng Việt cho người nước ngoài, hòn đá thử vàng của một cách miêu tả ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng Việt như một ngoại ngữ, NXB GD, Tp. HCM.

Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1940), Việt Nam văn phạm, Hà Nội.

Đái Xuân Ninh (1978) Hoạt động của từ tiếng Việt, NXBKHXH, Hà Nội

Hoàng Phê, chủ biên (2003) Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học & NXB Đà Nẵng.

Nguyễn Anh Quế (1988) Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, NXBKHXH, Hà Nội

Đỗ Thanh (2007) Từ điển từ công cụ, NXBGD, Hà Nội.

Bùi Đức Tịnh (1966) Văn phạm Việt Nam, Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục (Sài Gòn)

Share this:

Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài

Hình thức tổ chức lớp học Khoa Việt Nam học sẽ tổ chức nhiều khóa học, lớp học phù hợp với sự lựa chọn của học viên: lớp riêng, lớp nhóm, lớp đoàn,..lớp ban ngày, lớp buổi tối với các trình độ từ sơ cấp đến nâng cao. Các lớp/khóa học được tổ chức linh hoạt tại trường học tại các cơ sở đào tạo của các đối tác, tại va phòng công ty,… Để hỗ trợ cho các thí sinh tham gia kỳ thi Năng lực tiếng Việt, Khoa cũng mở các lớp luyện thi với thời lượng 20 tiết, trong thời gian 2 tuần. 2. Chương trình học Chương trình tiếng Việt (Ngôn ngữ thứ hai) cho người nước ngoài ở khoa Việt Nam học được thiết kế phù hợp cho nhiều đối tượng học, từ sơ cấp đến cao cao cấp. Ở mỗi cấp học, học viên được lĩnh hội những tri thức về tiếng Việt và được rèn luyện những kỹ năng cơ bản trong giao tiếp tiếng Việt nói và viết.

Trình độ Sơ cấp

Chúng tôi có rất nhiều kiểu lớp học với mức học phí khác nhau phù hợp với nguyện vọng cũng như thời gian biểu của bạn:

Học phí thanh toán bằng VND trực tiếp tại văn phòng Khoa Việt Nam học hoặc chuyển khoản.

Học phí lớp nhóm (theo khóa học):

Nếu học viên không thể tham gia học trọn khóa học, hoặc muốn đăng ký học riêng theo nhu cầu cá nhân, chúng tôi cũng có những lớp đặt riêng theo nhóm hoặc lớp học 1-1 (một thầy- một trò).

Học phí dành cho lớp đặt riêng:

Chế độ giảm học phí:

Khoa có chế độ giảm 05% học phí cho những học viên thanh toán toàn bộ học phí trước khi khóa học bắt đầu 03 ngày (trừ thứ bảy, chủ nhật và ngày lễ).

Ví dụ: Nếu khóa học bắt đầu vào ngày 20 của tháng, bạn sẽ được giảm 05% nếu bạn thanh toán học phí vào ngày 17 hoặc trước đó (trừ thứ bảy, chủ nhật và ngày lễ).

Thời gian tổ chức các khóa học

Tại khoa Việt Nam học, các khóa học tiếng Việt được tổ chức thường xuyên. Trung bình 2 tuần, chúng tôi khai giảng một khóa, ngày khai giảng cụ thể được thông báo trên website của khoa ngay từ đầu năm học.

Khóa thường: Thời gian học là 2 tháng, thời lượng 80 tiết, mỗi ngày 02 tiết (50 phút/tiết).

Khóa cấp tốc: Thời gian học là 1 tháng, thời lượng 80 tiết, mỗi ngày 04 tiết.

Các ca học được bố trí như sau:

Ca 1: 8:00 – 9:50;

Ca 2: 10:00 – 11:50

Ca 3: 13:10 – 15:00;

Ca 4: 15:10 – 17:00

Ca 5: 17:05 – 18:55;

Ca 6: 19:00 – 20:45

Đăng ký học tiếng Việt như thế nào?

Bạn có thể đến văn phòng Khoa Việt Nam học để được tư vấn trực tiếp và đăng ký học hoặc nếu ở xa, bạn có thể đăng ký và nộp đơn qua email. Nhân viên chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn cách gửi hồ sơ và chuyển khoản học phí.

Hạn chót đăng ký: trước 3 ngày làm việc kể từ ngày khoá học bắt đầu

Hồ sơ đăng ký học tiếng Việt gồm có:

– Đơn xin học

– Bản photocopy hộ chiếu

Khoa sẽ hỗ trợ visa cho học viên đăng ký học tiếng Việt tại Khoa. Học viên có thể đăng kí visa sinh viên thời hạn 3 tháng hoặc 6 tháng. Sinh viên cần trả học phí theo thời gian xin visa (ví dụ: xin visa 6 tháng thì phải trả học phí 6 tháng) + lệ phí visa (840.000VND) + lệ phí hành chánh (300.000VND).

Bạn có thể kiên hệ để tìm hiểu và đăng ký các khóa học tiếng Việt qua các hình thức sau:

Liên hệ trực tiếptại văn phòng Khoa Việt Nam học

Địa chỉ: Phòng A019-C002 , số 10-12 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, TP.HCM.

Cách Sử Dụng Của Just Và Only Trong Tiếng Anh

Cách sử dụng của Just và Only trong tiếng Anh – Phân biệt sự khác nhau Just and Only

I. Just có thể được dùng với các nghĩa 1. Vừa mới Ex: I have just talked to my mom about the new pet (Tớ vừa mới nói chuyện với mẹ tớ về vụ con thú cưng mới)

I just broke a vase, I’m sorry (Tôi vừa mới đánh vỡ bình hoa, tôi xin lỗi)

She has just slapped my face. I feel very bad (Cô ấy vừa mới tát vào mặt tôi. Tôi cảm thấy rất tệ)

2. Duy nhất, chỉ một Ex: I have just one older-sister (Tôi chỉ có một người chị duy nhất)

Just I take care of my father when he gets being sick (Chỉ mình tôi chăm sóc cho bố khi ông ấy bị bệnh)

There is just a donut. What will we do? (Ở đây có một cái bánh vòng thôi. Chúng ta sẽ làm gì đây?)

3. Chính xác (exactly) nhưng trường hợp này khá hiếm Ex: That is just what I wanted to tell you = That is exactly what I wanted to tell you (Đó chính xác là những gì mà tôi muốn nói cho cậu)

Chú ý: – Những vị trí khác nhau của từ Just trong câu có thể gây ra những nghĩa khác nhau Ex: I have eaten just a donut

I have just eaten a donut

– Tùy thuộc vào những ngữ cảnh khác nhau mà Just có thể được hiểu theo nghĩa khác nhau Ex: Did you do English homework? (Cậu đã làm bài tập tiếng Anh chưa?) No, I just did Math homework (Chưa, tớ mới chỉ làm bài tập toán thôi) Did you do Math homework last night? (Cậu làm bài tập Toán hồi tối hôm qua hả?) No, I just did Math homework (Không, tớ vừa mới làm bài tập toán thôi)

II. Cách sử dụng Only a. Only được dùng như Trạng từ (Adverb) Ex: She was only two when her parents divorced (Cô ấy mới chỉ hai tuổi khi mà bố mẹ ly dị)

She is an only candidate (Cô ấy là ứng cử viên duy nhất)

Chú ý: Khi Only được dùng như Trạng từ, nó có thể được thay thế bởi Just mà không thay đổi ý nghĩa (Cô ấy chỉ mới hai tuổi khi mà bố mẹ ly dị)

b. Only được dùng như Tính từ (Adjective): hàm ý chỉ có một loại duy nhất Ex: Only you can make me smile (Chỉ có anh mới có thể làm em cười)

This is the only present I have from my birthday. Thank you so much. (Đây là món quà duy nhất mà tớ có trong sinh nhật. Cảm ơn cậu nhiều lắm)

c. Only được dùng như Từ nối (Conjunction): có thể dùng thay thế cho từ nối “but” Ex: We fall in love with each other only I admit it (Chúng tôi yêu nhau nhưng chỉ có mình tôi dám thừa nhận điều đó)

He’s an interesting man only he be with his girlfriend (Anh ấy là một người thú vị chỉ khi nào được ở gần bạn gái của mình)

Nói tóm lại: Only và Just có thể thay thế cho nhau chỉ khi nào ý nghĩa được dùng là “Duy nhất, chỉ một”, còn lại các ý nghĩa khác thì Just và Only không được dùng thay thế Ex: I have just one older-sister I have only older-sister (Tôi chỉ có một người chị duy nhất)

Only 3 students in my class got a good mark Just 3 students in my class got a good mark (Chỉ có 3 học sinh trong lớp tôi đạt điểm tốt)

Thông Báo Tuyển Sinh Lớp “Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”

1.Đối tượng tuyển sinh:

Người Việt Nam và người nước ngoài có đủ năng lực, có nhu cầu được đào tạo và được cấp chứng chỉ Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.

2. Hồ sơ đăng ký xét tuyển:

– Phiếu đăng ký tham gia khóa học (theo mẫu tại cơ sở đào tạo)

– Bản sao bằng cử nhân hoặc sau đại học (nếu có)

– Bản sao chứng minh thư nhân dân (hoặc hộ chiếu)

– Bản sao thẻ sinh viên (nếu có)

– 2 ảnh chân dung cỡ 4 x 6 chụp trong vòng 3 tháng trở lại đây (mặt sau ảnh ghi rõ họ tên, ngày sinh, nơi sinh).

Ghi chú: Các loại văn bằng, thẻ sinh viên, chứng minh thư nhân dân (hoặc hộ chiếu) không bắt buộc bản sao có công chứng. Khi nộp hồ sơ, ứng viên mang theo bản gốc để đối chiếu.

3. Thời hạn nộp hồ sơ: Trước ngày 12/09/2019 4. Nơi nhận hồ sơ:

Khoa Việt Nam học và tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (phòng 24 hoặc phòng 27, B7 Bis phố Trần Đại Nghĩa, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng. Hà Nội)

5. Thời gian học: 3 tuần, 5 buổi/tuần: vào tối thứ 6, sáng và chiều thứ 7 và Chủ nhật và 02 buổi dự giờ thực tế trong giờ hành chính.

6. Nhập học (dự kiến): 8h00, ngày 14/09/2019 tại hội trường A, Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, B7 Bis phố Trần Đại Nghĩa, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

7. Học phí:

– Ưu tiên các đối tượng sau:

+ Giảng viên, nhân viên và sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cộng tác viên đang làm việc tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt học phí là: 3.500.000đ/khóa học ( Ba triệu năm trăm nghìn đồng ).

+ Sinh viên các trường Đại học khác học phí là 4.000.000đ/khóa học (Bốn triệu đồng).

8. Tư vấn tuyển sinh:

– Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (B7 Bis, Trần Đại Nghĩa, Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội). – ĐT: (024) 38694323. Email: vsl@ussh.edu.vn

– Thường trực tuyển sinh: TS. Nguyễn Thị Huyền Vân: 0977.899.981 hoặc ThS. Nguyễn Minh Hạnh: 0904.361.011.

Bạn đang xem bài viết Lỗi Sử Dụng “Còn” Và “Vẫn” Trong Tiếng Việt Của Người Nước Ngoài trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!