Xem Nhiều 11/2022 #️ Lương Y Huỳnh Văn Phích / 2023 # Top 17 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 11/2022 # Lương Y Huỳnh Văn Phích / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lương Y Huỳnh Văn Phích / 2023 mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lương y Huỳnh Văn Phích đang giảng về Diện Chẩn cho học viên

Trước hết chúng tôi xin giới thiệu đôi nét về phương pháp Diện Chẩn. Đây là phương pháp chữa bệnh mới của Việt Nam được ra đời vào năm 1980 do GS. TSKH Bùi Quốc Châu sáng tạo. Từ đó đến nay Diện Chẩn cũng trải qua không ít thăng trầm thế nhưng thành quả của nó trong việc khám chữa bệnh thì có thể nói thành công rực rỡ. Không chỉ chữa trị những bệnh thông thường mà khi áp dụng phương pháp này chúng ta có thể trị được bách bệnh. Chỉ với việc áp dụng câu nói “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” đến nay, chỉ nhờ day ấn hơn 500 huyệt trên khuôn mặt các lương y của phương pháp diện chuẩn đã mang đến sức khỏe niềm hạnh phúc cho hàng triệu người bệnh

Huyệt chữa bệnh theo phương pháp Diện Chuẩn Bùi Quốc Châu

Đầu tiên là cô Huỳnh Thị Mỏng quê ở An Hòa, Chợ Mới, An Giang. Cô được bệnh viên Chợ Rẫy chẩn đoán là ung thư Gan do siêu vi C gây ra và được chuyển đến viện Ung Bướu để điều trị. Khi hay tin về bệnh nhân, Lương y Huỳnh Văn Phích đã vận dụng phương pháp Diện Chẩn để chữa trị, chỉ sau 20 ngày chữa trị bằng pháp đồ điều trị theo phương pháp Diện Chẩn Điều Khiển Liệu Pháp bệnh nhân Huỳnh Thị Mỏng đã không còn khối u và khỏe mạnh bình thường.

Thầy Phích đang giới thệu về các huyệt Diện Chẩn tương ứng cho học viên

Bệnh nhân thứ 2 là một ca Ung thư Cổ Gáy. Bệnh nhân là Trần Văn Đảm sinh năm 1985 ở Cà Mau. Khi Lương y Huỳnh Văn Phích được mời điều trị thì bệnh nhân đã qua 2 lần hóa trị và cổ đã không thể quay được. Bằng phương pháp hơ vùng đối xứng cổ và hơ trực tiếp chỉ sau mấy phút bệnh nhân đã quay được cổ, tiếp đến Lương y Phích bấm huyệt giảm tiết dịch rồi bấm huyệt tiêu u tiêu bướu. Chỉ sau 4 ngày điều trị bệnh nhân đã có thể về nhà và sinh hoạt bình thường.

Đồ dùng cần thiết khi sử dụng phương pháp Diện Chẩn Bùi Quốc Châu

Với sức mạnh thần tốc của phương pháp Diện Chẩn Điều Khiển Liệu Pháp đã giúp cho Lương Y Huỳnh Văn Phích và công ty của mình ngày một phát triển hơn, bệnh nhân tìm đến ông cũng ngày một đông và hầu hết tất cả các bệnh nhân đều rất hài long về phương pháp điều trị này . Không chỉ khâm phục tài chữa trị của ông một số bệnh nhân còn muốn được ông truyền dạy những kiến thức cơ bản về phương pháp mới này. Để đáp ứng nhu cầu của người bệnh cũng như thực hiện mong mỏi của Thầy Giáo Bùi Quốc Châu “mọi người, mọi nhà đều biết sử dụng diện chẩn”ông cùng Công ty TNHH Y học Cổ Truyền Huỳnh Thắng của mình đã tổ chức các lớp giảng dạy về phương pháp điều trị bằng diện chuẩn cho mọi đối tượng .

Hy vọng Lương y Huỳnh Văn Phích và công ty sẽ ngày càng thành công hơn nữa với việc điều trị bằng phương pháp diện chẩn và mong rằng những bài giảng của ông sẽ được mở giảng khắp cả nước để mọi người mọi nhà có thể tiếp cận được và tự làm thầy thuốc cho chính mình. Được như vậy thì ngành Diện Chẩn sẽ ngày càng thành công và sẽ giảm bớt được nghèo khổ và đau đớn cho người bệnh.

(DienChan.Com) Một kinh nghiệm chữa ung thư bằng Diện Chẩn Bùi Quốc Châu

Các video về Diện Chẩn Bùi Quốc Châu do Lương y Huỳnh Văn Phích giảng dạy

Phương pháp chữa bệnh diện chẩn-điều khiển liệu pháp của giáo sư tiến sĩ khoa học Bùi Quốc Châu – do lương y Huỳnh Văn Phích hướng dẫn tại Long Xuyên – An Giang

(Diện Chẩn Việt tổng hợp)

Gia Đình Bác Hồ, Một Gia Đình Lương Y / 2023

Gia đình Bác Hồ, một gia đình lương y

Ông Nguyễn Sinh Sắc cùng hai con là Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm từng cứu chữa nhiều dân nghèo ở Huế. Một trong số những người thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn truyền lại bài thuốc, đến nay vẫn được nhiều người áp dụng…

Ông Nguyễn Sinh Sắc (Nguyễn Sinh Huy, 1867- 1929) là cha của Bác Hồ, cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, đã hai lần đưa gia đình vào kinh đô Huế. Lần đầu tiên, năm 1895 đến 1901. Ông vào kinh dự khoa thi Hội Ất Mùi (1895), cùng đi theo có vợ là bà Hoàng Thị Loan và 2 con trai, Nguyễn Sinh Khiêm (Nguyễn Tất Đạt), Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành – Bác Hồ), nhưng không đỗ, sau đó vào học Quốc Tử Giám. Đầu năm 1901, không may, bà Loan qua đời, cậu trai út, sơ sinh cũng mất, nhưng ông vẫn dự thi Hội và đỗ Phó bảng (khóa 1901). Tình cảnh gia đình quá ngặt nghèo, ông phải đưa con quay về quê cũ. Lần thứ hai, từ năm 1906 đến 1909(1), ông Sắc vào lại Huế, làm quan ở Bộ Học, rồi Bộ Lễ. Đi theo ông có 2 cậu con trai. Còn cô con gái, Nguyễn Thị Thanh, thì sau này, năm 1922 mới đến Huế.

Nhà thuốc Đồng Cát được lấy tên từ chữ đầu tiên của hai câu đối do thầy Nghệ Nguyễn Sinh Khiêm tặng. Ảnh:TN

Gia đình Bác Hồ thời ấy, còn lại 4 người: Cha và 3 con, thì có đến 3 người làm thầy thuốc bắc, thuốc nam, gọi là ông lang, thầy lang. Thầy lang chân chính là lương y bây giờ. Đó là ông Sinh Sắc và 2 con là Sinh Khiêm và Nguyễn Thị Thanh, một thời gian dài họ đã làm nghề y tại Thừa Thiên Huế.

Thầy thuốc Nguyễn Sinh Sắc

Sau vụ chống thuế ở Trung kỳ mà Nguyễn Tất Thành có tham gia, ông Sắc bị buộc phải rời khỏi kinh đô. Ngày 01/7/1909, ông vào Bình Định làm Tri huyện Bình Khê, như là một sự đi đày, sau đó thì vào trong Nam.

Trong thời gian ở miền Nam (1911- 1929), ông đi đây, đi đó nhiều nơi, lấy việc hành y làm từ thiện là nghiệp chính của mình. Dân gian thường gọi ông là “thầy thuốc Huế”. Năm 1914, ông làm thầy thuốc ở vùng chợ Long Xuyên, được bà con mến mộ. Năm 1917, hành y ở làng Hòa An, Sa Đéc. Năm 1922, đến làm thuốc ở xóm Cây Dầu, làng Hưng Lợi, tỉnh Kandai (Campuchia). Sau đó, ông trở lại Sài Gòn. Năm 1923, ông làm thuốc ở huyện Tân Châu, Hồng Ngự.

Tại Sài Gòn, khi thì ông bắt mạch tại tiệm thuốc bắc Tam Thiên đường của người Hoa (1926), khi thì ở tiệm thuốc Thiên Phúc đường (1928), rồi về làm thuốc ở Cao Lãnh (1929).

Sở dĩ ông phải đi nhiều nơi, không lưu trú cố định một chỗ dài ngày là để bảo đảm an toàn cho tính mạng và để khỏi phiền hà đến gia chủ, vì bọn mật thám luôn rình rập, theo dõi hoạt động của ông.

Trong gần 20 năm (1911- 1929), người ta thấy hình ảnh một ông già mặc áo quần dài xưa, tay kẹp chiếc dù, vai mang bị đựng thuốc, dấu chân của “ông thầy thuốc Huế” in trên khắp nẻo đường Sài Gòn, vùng miền Đông, vùng Đồng bằng sông Cửu Long(2).

Nguyễn Sinh Sắc là vị Phó bảng, trở thành lương y không phải do gia truyền, cũng chẳng phải được đào tạo qua đường y môn, mà là do kiến thức tổng hợp thông thái của một đệ tử Nho giáo: Nho, y, lí, số; nhất là do cái tâm đức nhân ái của con người ông. Chính vì vậy, trong thời gian ở Huế, ông cũng đã thỉnh thoảng có làm thầy thuốc, chủ yếu là để chữa bệnh cứu giúp bà con của bạn bè và làm từ thiện.

Chiếc mâm gỗ mít, nguyên là của gia đình ông Đồ Ngân (Cao Đình Ngân, 1815-1907), xã Hương Long, Huế. Ông có con trai là Cao Đình Luyện (1890-1957) và cháu nội là Cao Chí Thành (1922-1997). Vợ ông Đồ Ngân bị bệnh nặng, may là ông Ngân có quen biết với thầy cử Nghệ (tức Nguyễn Sinh Sắc), nên mời thầy chữa chạy. Nhờ tài thầy, bệnh của bà thuyên giảm và bình phục. Gia đình ông Ngân mang ơn sâu của ông thầy Nghệ. Từ đó, họ trở thành bạn tâm giao, thường lui tới thăm hỏi. Có lần, gia đình ông Ngân đón tiếp và mời cơm ông cử Nghệ cùng 2 cậu con trai. Chiếc mâm gỗ mít này từng dùng để dọn cơm trong các dịp đó.

Theo đó, nhà ông Đồ Ngân mà thầy Sinh Sắc từng đến, tọa lạc tại xóm Cù Đa, xứ Hậu thôn của thôn Vạn Xuân, nay là tổ 3 phường Kim Long, thành phố Huế. Nhà đã bị sập đổ trong chiến tranh, hiện còn lại khu vườn hoang, nằm sát bờ nam sông Bạch Yến, rộng 1.000m2, cách Ba bến (nơi giáp sông Bạch Yến và sông Kẻ Vạn, ở cửa Chánh tây) gần 1km. Thời gian mà cử Nghệ đến chữa bệnh và dùng cơm ở nhà ông Đồ Ngân, là vào thời Thành Thái. Có khả năng nhất là khoảng giai đoạn đầu khi ông vào Huế, nhưng khó có thể sau 1898. Vì từ 1898, ông đã về ở và dạy học tại nhà ông Nguyễn Sĩ Độ, làng Dương Nỗ, huyện Phú Vang, và cũng không thể sau năm 1900, vì lúc đó cậu Khiêm đã ra Thanh Hóa cùng cha rồi về lại quê nhà.

Điều đáng tiếc là trong lời kể không nói rõ vợ ông Ngân bị bệnh gì, để có thể thấy được tài thuật cụ thể của thầy Nghệ. Chiếc mâm gỗ mít: Mâm tiện hình tròn, màu đen bóng, đường kính 67cm, dày 3cm, có 3 chân, cao 5,5cm. Thông tin về Chiếc mâm này kèm theo ảnh đã được công bố trên báo Nhân Dân, số 8974, ngày 24-5-1986. Ông Nguyễn Sinh Sắc thời ở Huế, người ta thường biết ông làm thầy đồ và làm quan, chứ ít nói đến việc làm thầy thuốc. Chiếc mâm gỗ mít là chứng tích xác minh việc ông Sắc còn là một lương y và sau này lưu lạc vào miền Nam, ông đem sở trường đó ra hành đạo cứu đời. Và chính nghề ấy của ông đã truyền lại cho 2 con là Sinh Khiêm và cô Thanh.

Thầy thuốc Nguyễn Thị Thanh

Năm 1922, cô Nguyễn Thị Thanh chuyển từ Nhà lao Quảng Ngãi ra Huế. Lúc đầu, ở tại nhà ông quan Phạm Phổ, đường Mạc Đĩnh Chi, trước Trường tiểu học Gia Hội (nay là Trường Tiểu học Phú Cát), sau đến ở nhà ông quan Tiền quân, góc đường Đinh Tiên Hoàng và Tịnh Tâm. Theo tác giả Chu Đức Tính, giai đoạn 1926- 1930, cô Thanh có ở tại ngôi nhà trên đường Đặng Thái Thân (Thành Nội Huế)(3).

Ngay khi nghe tin cô Thanh ra Huế, ông Khiêm tìm gặp chị, rồi 2 chị em đi nhiều nơi, trong đó có lên vùng Sơn Công, Phong Điền, tá túc trong nhà ông Hồ Văn Hiến vừa làm thuốc vừa hoạt động yêu nước. Bị thực dân phát hiện, muốn bắt nhưng chứng cớ chưa xác đáng, từ đó chúng theo dõi và quản lý hai người chặt hơn.

Thời ông Khiêm ở Phú Lễ, cô Thanh ở nhà ông Ấm Hoàng, cùng làng và hai chị em thường khám bệnh ở vùng Phong Điền, Quảng Điền, có khi khám bệnh từ thiện ở đình, chùa làng này.

Thông tin về việc cô Thanh làm thuốc hiện nay chưa sưu tập được nhiều.

Thầy thuốc Nguyễn Sinh Khiêm ở Huế

Năm 1915, vì hoạt động yêu nước, Nguyễn Sinh Khiêm bị bắt và giam tại Ba Ngòi, Nha Trang với tội “kích động dân chúng nổi loạn”. Ngày 17/3/1920, thực dân Pháp chuyển ông về giam tại lao Thừa Phủ, Huế. Sau đó được ra tù và giam lỏng tại Thừa Thiên Huế. Lúc đầu, ông đến ở nhà ông Nguyễn Văn Đề, làng Trạch Phổ, gần Mỹ Chánh (người mà ông Khiêm từng quen biết hồi trước ở Ba Ngòi), mỗi tháng phải vào Huế trình diện mật thám Pháp một lần. Ông có cái xảo thuật trong việc trình diện là chờ đến cuối tháng vào trình diện, rồi quanh quẩn đâu đó đôi ba ngày, đợi sang đầu tháng sau đến trình diện thêm lần nữa và về luôn suốt cả gần 2 tháng.

20 năm sau, được trả tự do, ông trở về quê trên chuyến tàu lửa khởi hành từ ga Huế, lúc 6g 30, ngày 06/02/1940 với lời phê trong giấy tờ là “lạc hồi dân tịch”. Năm 1942, ông còn trở lại Huế.

 Trong thời gian dài, gần 30 năm ở Thừa Thiên Huế, ông đi khắp nơi, nhất là 3 huyện phía bắc Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà vừa tuyên truyền yêu nước, vừa đem sở trường, sở đoản của mình ra hành đạo giúp đời. Vừa làm thầy đồ, thầy địa, vừa viết đơn từ giúp dân khiếu kiện, nhất là hành y cứu độ dân sinh.

Trong cuộc đời làm thầy thuốc, ông đã thể hiện tấm gương sáng “lương y như từ mẫu”.

Thời ở Phong Điền, ông thường đến các nhà thuốc bắc của thầy Ngại, thầy Tuần ở chợ Hôm (gần Mỹ Chánh) rượu trà đàm đạo. Vào An Lỗ, Phú Lễ thì ghé nhà thầy Hẹ, thầy Thâm. Về Sịa, ông thích ghé nhà danh y Đoàn Cảnh. Tại nhà thầy này có lớp dạy nghề thuốc, chừng 6 -7 môn sinh, nên ông muốn gặp gỡ các thầy để trao đổi kinh nghiệm. Có khi ông ở lại đêm. Trong nhà thường gọi ông với cái tên thân mật là chú Cả Đạt. Hiện gia đình còn lưu giữ bộ phản gỗ gõ, nơi mà ông thầy Khiêm thường nằm nghỉ.

Năm 1926, ông Khiêm và bà Thanh lên vùng vùng Sơn Quả, Cổ Bi (huyện Phong Điền), về vùng Nam Dương (Quảng Điền) làm thuốc. Hiện nay, ở các địa phương này, nhiều người còn nhớ và kể lại chuyện thầy Nghệ tận tình cứu chữa cho người thân gia đình họ.

Khoảng năm 1929 trở đi, ông về cư trú huyện Quảng Điền, “Sau khi chữa bệnh cho một người đàn bà trạc độ 33 – 34 tuổi ở làng Phú Lễ” rồi kết nghĩa vợ chồng với bà này. Đó là bà Nguyễn Thị Giáng làm nghề buôn bán hàng xén và hàng xáo (gạo) chợ Phú Lễ, trong ngôi nhà rường, lợp tranh, ba gian, bên bờ sông Bồ”(4) và thường ở lại nhà bà Giáng. Ông thường ngồi bắt mạch chữa bệnh tại đình làng, nhưng vẫn sẵn sàng đến tận nhà bệnh nhân để thăm khám, dù xa xôi, cách đò trở giang, hoặc đêm hôm mưa gió cũng không nề hà gì.

Trong quá trình chữa bệnh, thầy Nghệ đã kết hợp nhiều phương pháp: Châm cứu, chích lễ, thuốc thang. Dùng thuốc thì có thuốc bắc, nhưng cũng rất trọng dụng thuốc nam, cây nhà lá vườn. Ông không bao giờ giấu nghề, mà còn hướng dẫn, chỉ vẽ cho bà con dân quê tự kiếm cây lá để chữa các bệnh thông thường.

Chúng tôi đã nghe bà vợ thầy Hẹ ở An Lỗ kể lại: Thầy Nghệ – Cả Đạt đã từng đến thăm ở đây và có truyền cho một bài thuốc kinh nghiệm, gọi là “Thuốc đắng”, để chữa các chứng trúng phong, trúng hàn, phong thấp tê bại, đau nhức khớp, đau bụng… Theo bà Hẹ, bài thuốc đó có 2 vị chính là Mã tiền chế và Hương phụ (Cỏ cú) tứ chế(5).

Khoảng năm 1936 – 1939, ông thường ghé vào tiệm thuốc bắc thầy Đoàn Ngọc Phách (cháu nội thầy Cảnh, ở Sịa) ở chợ Kệ đàm đạo và cân thuốc.

Năm 1943 – 1944, ông có đi lại vùng Kim Long. Theo lời, kể của lương y Lê Hữu Mạch, hiện là Chủ tịch Hội Đông y Huế, thầy Nghệ thường lui tới tiệm thuốc bắc Đồng Cát (của thầy Hườn, Kim Long). Gia đình này quen gọi thầy Nghệ là Cụ Cố Đạt, và còn nhớ một số chuyện kể về ông:

+ Nhìn tiệm thuốc có tên Đồng Cát, ông giải thích cho biết, tên đó lấy từ 2 chữ đầu của câu đối:     

Đồng chí, đồng tình, kiêm đồng đạo

Cát tâm, cát sự, tịnh cát tường.

Mọi người nghe đều phục chuyện chữ nghĩa của thầy Nghệ, còn chủ nhà thì mừng rỡ ghi chép lại và lưu đến ngày nay.

 + Theo lương y Mạch, hiện nay nhà thuốc Đồng Cát (134 Kim Long, Huế) còn giữ một số bài thuốc do Cụ Cố Đạt truyền lại. Tiêu biêu như bài Điều kinh bổ huyết khá hiệu nghiệm.

Mang tiếng là làm thầy thuốc, nhưng không phải là nghề kiếm sống, ông Khiêm làm thầy là để làm việc nghĩa và có điều kiện đi đây đi đó tuyên truyền hoạt động yêu nước cho thỏa chí, dù đang bị giam lỏng.

Ông thường đi khắp các làng mạc chữa bệnh cho dân, hết lòng thương người. Với hạng nghèo khó thì chữa “bố thí”, với hạng giàu sang thì lấy tiền và cả quà biếu, rồi dùng số tiền đó may áo quần, mua quà tặng cho người bần hàn. Khi đi mặc áo lành lặn, khi về mặc áo cũ là chuyện thường đối với ông. Tính cách này thật giống Bác Hồ “Sữa để em thơ, lụa tặng già”.

Ông chưa đắc chí về hoạt động yêu nước, nhưng ông đã đem hết tâm huyết của người thầy thuốc ra cứu người, giúp đời ở xứ Thừa Thiên Huế, chẳng màng phú quí vinh hoa.

Thầy Nghệ, là hình ảnh quen thuộc. Chú Cả Đạt, Cụ Cố Đạt là tiếng xưng hô thân mật của một số gia đình người Huế đối với thầy Nghệ Nguyễn Sinh Khiêm. Đó là một người cao lớn, giọng nói rồ rồ, lúc nào cũng quần áo nâu, đội nón lá, vai mang túi vải, chân đi guốc gỗ, thích cau trầu, trà rượu, bản chất thông minh, khôi hài, sống giản dị, nhân hậu, nhưng rất khí khái với bọn cường hào, thực dân, phong kiến.

– Gia đình Bác Hồ có nhiều người thân làm lương y, không phải mở tiệm thuốc kinh doanh mà để làm từ thiện. Họ đã đi nhiều nơi ở Thừa Thiên Huế để chữa bệnh cứu giúp đời và hoạt động yêu nước. Mảnh đất Thừa Thiên Huế đã gắn bó, bảo bọc họ, nhưng cũng mang ơn họ, nhất là thầy Nghệ Nguyễn Sinh Khiêm với nửa đời sống ở đây.

Việc cha, chị và anh Bác Hồ làm thuốc ở Thừa Thiên Huế, thường không để lại những chứng tích cụ thể, mà hầu hết là lời kể trong dân gian. Những hồi ức đó rất có giá trị, cần phải có một cuộc diều tra, xác minh và nên làm sớm, để tránh mai một thông tin. Qua đó, góp phần bổ sung qui hoạch di tích Bác Hồ và gia đình Bác Hồ ở Thừa Thiên Huế./.

* Phan Tấn Tô: NGƯT, ThS. Phó Chủ tịch Hội Đông y Thừa Thiên Huế.

(1), Có tài liệu nói ông vào Huế lần thứ hai năm 1905.

(2), Tạp chí Xưa Nay, số 428, tháng 8/1997.

(3), Chu Đức Tính, Hệ thống di tích Bác Hồ và gia đình ở Thừa Thiên Huế- Hôm nay và ngày mai, Huế xưa & nay, 1996.

(4), Hà Hữu Thừa, Những điều biết được về cuộc sống và hoạt động cả ông Nguyễn Sinh Khiêm, Huế xưa & nay, số 16, 1996.

(5), Lời kể của bà vợ thầy Hẹ, Phú Ốc. Bà này phụ trách chính việc chế biến thuốc men cho chồng làm thầy, nên nhớ rất rõ bài thuốc và kinh nghiệm chế biến một số vị thuốc mà thầy nghệ truyền cho.

Phan Tấn Tô *

Theo Báo Thừa Thiên Huế

Thanh Huyền (st)

Hướng Dẫn Cách Tính Lương, Làm Bảng Lương Mới Nhất / 2023

I. Một số lưu ý trong hướng dẫn cách tính lương, làm bảng lương mới nhất.

– Hợp đồng lao động.

– Bảng chấm công.

– Phiếu xác nhận sản phẩm, phiếu xác nhận công việc hoàn thành. (nếu tính lương theo sản phẩm, lương khoán).

– Quy chế lương thưởng của DN……..

– Mức lương tối thiểu vùng: Là mức tối thiểu mà người sử dụng lao động phải trả cho NLĐ.

– Tỷ lệ trích các khoản theo lương: để xác định số tiền đóng các khoản bảo hiểm.

– Mức lương đóng các khoản bảo hiểm.

– Tiền lương theo thời gian.

– Tiền lương theo sản phẩm.

– Tiền lương khoán….

Tiền lương ngày được trả cho một ngày làm việc được xác định như thế nào?

(Điều 22 Nghị định 05/2015/NĐ-CP)

Cách tính tiền lương theo thời gian

Cách tính lương theo thời gian được xác định trên cơ sở: Tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng. Theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn, nhưng tối đa không quá 26 ngày.

Theo như quy định trên thì chúng ta sẽ có hai cách tính lương theo thời gian như sau:

Lương tháng = [(Lương + Các khoản phụ cấp) / Số ngày đi làm theo quy định]* Số ngày làm việc thực tế.

Số ngày đi làm theo quy định = Số ngày trong tháng – Số ngày nghỉ.

TH 2: Hoặc cách tính lương khác như sau:

Thay vì phải tính xem mỗi tháng có bao nhiêu ngày công tiêu chuẩn để chia thì kế toán có cách tính đơn giản hơn. Đó là chọn một con số ngày công tiêu chuẩn cố định để chia (Thường là 26 ngày).

Với cách tính lương như trên thì có vẻ dễ dàng hơn trong việc tính toán và theo dõi tiền lương. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào đặc thù của từng DN, tuỳ thuộc vào yêu cầu của người quản lý mà kế toán có thể chọn một trong hai cách trên để làm bảng lương.

Cách tính tiền lương theo sản phẩm

Đây là cách tính lương căn cứ vào số lượng và chất lượng hoàn thành. Trả lương theo sản phẩm được áp dụng rộng rãi trong các DN. Đặc biệt là các DN sản xuất, chế tạo sản phẩm. Trả lương theo hình thức này có tác dụng khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động, nâng cao tay nghề, kỹ năng…..

Tiền lương SP = Đơn giá SP * Số lượng SP hoàn thành.

Cách tính lương theo hình thức lương khoán

Tính lương khoán là cách tính lương hưởng trên khối lượng, số lượng và chất lượng công việc hoàn thành. Hình thức trả lương này có thể theo thời gian, hay đơn vị sản phẩm, doanh thu…

Điều chú ý trong phương pháp trả lương khoán là người sử dụng lao động phải xác định một tỷ lệ hay đơn giá khoán phù hợp. Đồng thời đặt ra mức hoàn thành công việc khác nhau ở mỗi mức cao hơn sẽ có tỷ lệ khoán cao hơn. có thể kèm tiền thưởng bổ sung nhằm phát huy tối đa năng lực. Thêm vào đó sẽ khuyến khích người lao động đạt được thành tích cao hơn trong công việc.

Lương khoán được trả căn cứ vào:

+ Hợp đồng giao khoán việc.

+ Biên bản nghiệm thu công việc….

Lương khoán = Mức lương khoán * Tỷ lệ hoàn thành công việc.

– Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.

– Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và được ấn định vào một thời điểm cố định trong tháng.

– Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

– Trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì: không được trả chậm quá 01 tháng.

– Việc người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động do trả lương chậm được quy định như sau:

+ Nếu thời gian t rả lương chậm dưới 15 ngày thì không phải trả thêm.

+ Nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

+ Nếu Ngân hàng Nhà nước không quy định trần lãi suất thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng thương mại. (Ngân hàng nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương).

II. Hướng dẫn cách tính lương, làm bảng lương mới nhất.

Hướng dẫn cách lập bảng lương trên excel mới nhất.

1. : Các bạn điền số thứ tự và tên nhân viên (theo danh sách bảng chấm công).

Cột 3 “Chức vụ”: Các bạn điền chức vụ của từng nhân viên (Có thể lấy thông tin trên hợp đồng hay bảng theo dõi nhân sự nếu các bạn có).

Cột 4 “Lương cơ bản”: Là mức thấp nhất làm cơ sở để DN và người lao động thỏa thuận và trả lương.

BẢNG MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG NĂM 2019.

+ Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất.

+ Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề.

+ Đối với lao động đang trong thời gian thử việc thì mức lương thử việc không được thấp hơn 85% mức lương chính thức (Điều 28 Bộ Luật lao động)

4. Cột 5, 6, 7 “Các khoản phụ cấp không đóng BH”: “ăn ca”, “điện thoại”, “xăng xe”.

– Từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2017: Tiền lương đóng BHXH bắt buộc là mức lương cơ bản và các khoản phụ cấp lương.

Các khoản tính đóng và không tính đóng bảo hiểm xã hội mới nhất:

Những người được hưởng phụ cấp trách nhiệm trong công ty thường là bộ phận lãnh đạo như Ban Giám Đốc, trưởng bộ phận, phòng ban…

6. Cột 9 “Tổng thu nhập” = Cột 4 “Lương cơ bản” + Cột 5,6,7 “Các khoản phụ cấp không đóng BHXH”.

7. Cột 10 “Ngày công”: Các bạn căn cứ vào bảng chấm công để đưa số liệu lên đây, trường hợp trong tháng có các ngày nghỉ lễ tết thì thực hiện theo quy định tại Điều 115 của Bộ Luật lao động 2012.

10. Cột 13, 14, 15,16 “Khoản trích trừ lương NLĐ” = Cột 12 “Lương đóng BHXH” x Tỷ lệ trích theo lương.

+ Bản thân: 9 triệu/tháng.

+ người phụ thuộc: 3,6 triệu/người/tháng.

– Quỹ hưu trí tự nguyện: Quỹ hưu trí tự nguyện, BH hưu trí tự nguyên chỉ được trừ tối đa 1 triệu đồng/tháng.

– Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học.

+ Khoản chi đóng góp vào các tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người khuyết tật, người già không nơi nương tựa.

+ Khoản chi đóng góp vào các quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học được thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 30/2012/NĐ-CP.

12. Cột 21 “Thu nhập chịu thuế TNCN” = Cột 11 “Tổng lương thực tế” – Các khoản phụ cấp không tính thuế TNCN.

– Khoản phụ cấp ăn ca sẽ không bị tính thuế TNCN ở mức tối đa là 730.000 đồng/người/tháng (kể từ tháng 10/2016 theo Thông tư 26/2016/TT-BLĐTBXH).

Ví dụ: Bà Nguyễn Anh với chức vụ Kế toán trưởng ở trong bảng lương trên có mức phụ cấp tiền ăn ca là 1.000.000 đồng thì khi tính số liệu ở cột 21 chúng ta chỉ được trừ 730.000 đồng chứ không được trừ đi 1.000.000 đồng ra khỏi thu nhập chịu thuế TNCN, Bà Nguyễn Anh sẽ bị tính thuế TNCN đối với 300.000 đồng tiền ăn ca vượt định mức.

– Phụ cấp điện thoại, xăng xe: sẽ không bị tính vào thuế TNCN nếu như các khoản phụ cấp này phục vụ cho mục đích công việc, đi công tác…..

– Khoản tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) sau khi trừ đi 15% tổng thu nhập chịu thuế (Chưa bao gồm tiền thuê nhà, điện nước và dịch vụ kèm theo) thì cũng không bị tính thuế TNCN.

Tháng 10/2017 Ông A là công nhân sản xuất linh kiện máy tính làm việc trong có thu nhập chịu thuế là 12.000.000 đồng (chưa bao gồm tiền thuê nhà, điện nước và dịch vụ kèm theo). Công ty hỗ trợ tiền thuê nhà là 5.000.000 đồng.

(Lưu ý: Các khoản phụ cấp này phải được quy định trong hợp đồng, quy chế lương thưởng, tài chính công ty và có định mức cụ thể cho từng khoản trợ cấp cho từng đối tượng).

Thuế TNCN = Thu nhập tính thuế x Thuế suất thuế TNCN.

Lưu ý quan trọng: Nếu tính thuế TNCN đối với lao động là cá nhân cư trú ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên thì căn cứ vào biểu thuế luỹ tiến từng phần ở dạng rút gọn ta có công thức tính thuế TNCN trên excel như sau:

(Với: A là thu nhập tính thuế TNCN).

15. Cột 24 “Tạm ứng”: Là số tiền lương người lao động đã ứng trước trong tháng (Các bạn căn cứ vào giấy đề nghị tạm ứng và phiếu chi tạm ứng để kiểm tra lại).

= Cột 11 “Tổng lương thực tế”- Cột 16 “Các khoản trích trừ vào lương ” – Cột 23 “Thuế TNCN” – Cột 24 “Tạm ứng” .

Chú ý: Sau khi làm bảng lương phải có ký nhận của thủ trưởng đơn vị.

So Sánh Đèn Led Và Đèn Huỳnh Quang / 2023

Bạn đang thắc mắc đèn LED và đèn huỳnh quang cái nào tốt hơn? Vâng bài viết này chúng ra sẽ cùng so sánh về hai giải pháp chiếu sáng này. Bài viết này chúng ta sẽ sử dụng tính chất của đèn LED POTECH, để so sánh với đèn huỳnh quang.

So sánh đèn LED và đèn huỳnh quang

Nhiệt độ màu (CCT)

Đèn huỳnh quang có sẵn trong một loạt các giá trị CCT có thể điều chỉnh bằng cách thay đổi lượng phosphor bên trong bóng đèn. Các giá trị tiêu biểu nằm giữa màu trắng ấm ở 2700K so với ánh sáng ban ngày ở 6500K tùy thuộc vào yêu cầu về ánh sáng.

Độ hoàn màu (CRI)

Độ hoàn màu cho đèn huỳnh quang là từ 62 đến 80. Đây là độ hoàn màu khá tốt nhưng vẫn chưa được tốt lắm khi so sánh với LED.

Khả năng bật tắt

Đèn huỳnh quang có độ trễ ngắn khi bật. Các mô hình huỳnh quang lớn hơn thực sự yêu cầu một giai đoạn khởi động đáng kể trước khi đèn sáng nhưng điều này đã được cải thiện đáng kể với đèn huỳnh quang mới hơn và nhanh hơn. Sự chậm trễ trong quá trình khởi động thường do lỗi của máy biến áp, hoặc chấn lưu. Bóng đèn huỳnh quang cũng có thể nhấp nháy, hiển thị ánh sáng xoáy hoặc hồng, ánh sáng ở các đầu của ống khi được một thời gian sử dụng. Bật tắt cũng làm giảm tuổi thọ của đèn đi một cách nhanh chóng.

Các bóng đèn compact huỳnh quang mới hơn có thể được chỉnh được độ sáng rất hiệu quả (xuống khoảng 15% ánh sáng bình thường) trong khi các bóng đèn huỳnh quang cũ thường không thể chỉnh độ sáng. Nếu muốn giảm độ sáng của một đèn huỳnh quang bạn buộc phải chọn một chấn lưu có thể chức năng đó.

Hướng chiếu sáng

Đèn huỳnh quang là phát ra ánh sáng cho 360 độ, đòi hỏi nơi đặt vật cố hoặc phản xạ để hướng ánh sáng phát ra.

Đèn huỳnh quang tạo ra bức xạ tia cực tím. Chúng tạo ra ánh sáng nhìn thấy vì bóng đèn được phủ một lớp phosphor phát sáng khi tiếp xúc với tia UV. Khoảng 15% lượng khí thải bị mất do sự tiêu hao năng lượng và nhiệt. Mặc dù hầu hết bức xạ tia cực tím nằm trong bóng đèn, nhưng một số khác lại thoát ra ngoài môi trường có khả năng gây nguy hiểm.

Đặc tính hỏng hóc

Đèn LED mờ dần theo thời gian. Chúng được cấu thành từ rất nhiều con LED li ti trong đèn, và chúng thường không hỏng hết một lượt.

Đèn huỳnh quang có thể bị hỏng theo một số cách khác nhau. Nói chung, chúng có một hiện tượng chung là nhấp nháy hoặc hoàn toàn không phát ra ánh sáng.

Phát thải nhiệt

Đèn huỳnh quang phát ra nhiệt hấp thụ bởi chấn lưu và / hoặc mất đi cho môi trường. Khoảng 15% lượng khí thải bị mất do sự tiêu hao năng lượng và tổn thất nhiệt. Trong một số trường hợp, phát thải nhiệt có thể mang lại lợi ích, tuy nhiên, phát ra nhiệt là một hình thức sử dụng năng lượng không hiệu quả. Mục đích cuối cùng của thiết bị là phát ra ánh sáng, và không nóng.

Đèn LED tuổi thọ dài hơn bất kỳ nguồn ánh sáng nào có sẵn trên thị trường. Tuổi thọ đèn LED dao động nhưng các giá trị điển hình dao động từ 25.000 giờ đến 200.000 giờ hoặc nhiều hơn trước khi cần thay thế.

Đèn huỳnh quang có tuổi thọ tốt so với một số bóng đèn nhưng không thể so sánh với đèn LED. Các giá trị tuổi thọ điển hình dao động từ 7.000 giờ đến 15.000 giờ trước khi bóng đèn cần thay thế. Lưu ý: đôi khi đèn huỳnh quang cần phải được thay đổi trước khi hết hạn sử dụng để ngăn chặn các hiệu ứng xuống cấp nghiêm trọng như nhấp nháy hoặc thay đổi màu ánh sáng (chuyển màu hồng).

Chi phí trọn đời

Chiếu sáng LED có chi phí ban đầu tương đối cao nhưng chi phí duy trì thấp. Công nghệ trả mới tiền cho nhà đầu tư theo thời gian (thời gian hoàn vốn). Thu nhập chính chủ yếu từ chi phí bảo trì giảm dần theo thời gian (phụ thuộc vào chi phí lao động) và thứ hai là từ việc cải thiện hiệu suất năng lượng (phụ thuộc vào chi phí điện).

Chống va đập

Đèn LED là đèn trạng thái rắn (SSL) rất khó hỏng hóc khi va đập.

Bóng đèn huỳnh quang đặc biệt mỏng manh – đặc biệt là các ống T5, T8, và T12. Có lẽ quan trọng hơn là các bóng đèn huỳnh quang bị phá vỡ cần được xử lý và thải bỏ đặc biệt do các hóa chất nguy hiểm như thủy ngân trong đèn.

Đèn LED có thể cực nhỏ (dưới 2mm trong một số trường hợp) và chúng có thể điều chỉnh lại thành kích thước lớn hơn. Điều này khiến cho đèn LED có khả năng ứng dụng rất đa dạng.

Đèn huỳnh quang compact (CFL) được thiết kế nhỏ (để chúng có thể thay thế đèn gia đình nóng sáng). Các ống huỳnh quang tiêu chuẩn vừa cồng kềnh, vừa mỏng manh. Không so sánh với kích thước nhỏ và xây dựng mạnh mẽ của một đèn trạng thái rắn như đèn LED.

Khả năng chịu lạnh

Đèn LED chịu được đến -40 độ Celsius (mà chúng có khả năng bật ngay lập tức).

Các đèn huỳnh quang với chấn lưu từ thường xuyên (như ống T12) thường không được đề nghị ở nhiệt độ dưới 10 độ Celsius. Đối với thời tiết lạnh hơn, hãy chọn một đèn huỳnh quang với chấn lưu điện tử như ống T8.

Chống chịu thời tiết

Đèn LED sản sinh nhiệt ít hơn nhiều so với truyền thống. Với độ bền tốt, chúng hoàn toàn có khả năng chống chịu với các loại thời tiết nào.

Bóng đèn huỳnh quang thường không được đề nghị cho chiếu sáng ngoài trời. CFL sẽ hoạt động nhưng khi nhiệt độ giảm thì chất lượng ánh sáng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.

Thông tin thêm về đèn huỳnh quang

Đèn huỳnh quang là gì?

Đèn huỳnh quang hay gọi đơn giản là đèn tuýp gồm điện cực (vonfram) vỏ đèn và lớp bột huỳnh quang. Ngoài ra, người ta còn bơm vào đèn một ít hơi thủy ngân và khí trơ (neon, argon…) để làm tăng độ bền của điện cực và tạo ánh sáng màu. Khi đóng điện, hiện tượng phóng điện giữa hai điện cực làm phát ra tia tử ngoại (tia cực tím). Tia tử ngoại tác dụng vào lớp bột huỳnh quang làm đèn phát sáng. Ngoài ra, để giúp cho hiện tượng phóng điện xảy ra, người ta phải lắp thêm chấn lưu (tăng phô) và tắc te (chuột bàn) Do ít tỏa nhiệt ra môi trường nên đèn huỳnh quang sẽ cho hiệu suất phát sáng cao hơn nhiều so với đèn sợi đốt và lại có tuổi thọ cao hơn. Bình quân, dùng đèn huỳnh quang tiết kiệm hơn đèn sợi đốt 8 đến 10 lần. Hiện nay, ngoài thị trường xuất hiện đèn huỳnh quang thu nhỏ (còn gọi là compact). Nó cũng rất giống với đèn huỳnh quang nhưng hiệu suất phát quang cao hơn và tiết kiệm điện năng hữu hiệu hơn.

Ưu điểm của đèn huỳnh quang là gì?

Công nghệ huỳnh quang đã được sử dụng trong khoảng hơn 100 năm và nó từng là giải pháp trong việc sử dụng năng lượng với hiệu quả cao. Công nghệ này mang đến nhiều ánh sáng hơn và tiết kiệm hơn so với đèn sợi đốt, tuy nhiên, chúng không thể sánh bằng với công nghệ đèn LED hiện tại.

Yếu điểm của đèn huỳnh quang là gì?

Những thiếu xót chủ yếu của đèn huỳnh quang có thể kể đến như sau:

Đèn huỳnh quang chứa thủy ngân độc hại. Thủy ngân cũng như phosphor bên trong các bóng đèn là các vật liệu độc hại phải xử lý chất thải khi kết thúc vòng đời của đèn. Khi bóng đèn bị phá vỡ giải phóng một lượng nhỏ thủy ngân độc hại vào khí, và phần còn lại tồn đọng tại thủy lớp vỏ thủy tinh của đèn.

Đèn huỳnh quang sẽ giảm tuổi thọ đáng kể nếu chúng thường xuyên bật và tắt. Tuổi thọ đèn điển hình cho Compact Huỳnh Quang (CFL) khoảng 10.000 giờ nhưng điều này có thể làm suy giảm do hậu quả của việc chuyển mạch thường xuyên (bật và tắt). Bạn nên suy nghĩ về trường hợp bạn đang sử dụng đèn CFL kết hợp với bộ cảm biến chuyển động thường xuyên hoạt động và thời gian nghỉ.

Đèn huỳnh quang phát ra ánh sáng đa hướng 360 độ. Đây là việc hoạt động không hiệu quả vì đến hơn phân nửa ánh sáng cần được phản xạ và chuyển hướng đến khu vực mong muốn đang được chiếu sáng. Việc phản xạ và chuyển hướng của ánh sáng được coi là không hiệu quả tổn thất hơn ánh sáng sẽ không giữ được nguyên chất lượng ban đầu. Đồng thời sử dụng nhiều phụ kiện phản xạ do đó tăng chi phí đèn.

Ngoài ra còn một vài thiếu sót nhỏ trong đèn huỳnh quang như sau:

Đèn huỳnh quang phát ra một lượng nhỏ bức xạ UV (cực tím). Ánh sáng tia cực tím được biết có thể làm bay màu nhuộm của sản phẩm may mặc hoặc các bức tranh nằm dưới ánh sáng của chúng.

Đèn huỳnh quang yêu cầu một chấn lưu để ổn định ánh sáng. Trong trường hợp có một lỗ hở nhỏ trong chấn lưu, ánh sáng có thể tạo ra tiếng ồn hoặc tiếng vo vo.

Đèn huỳnh quang thường được sử dụng ở đâu?

Các ứng dụng phổ biến của đèn huỳnh quang bao gồm các kho hàng, trường học hoặc các tòa nhà thương mại. CFL cũng được sử dụng như là một sự thay thế cho đèn sợi đốt trong nhiều ứng dụng nhà ở.

Thông tin thêm về đèn LED

Đèn LED là gì?

LED viết tắt của Light Emitting Diode. Diode là một thiết bị điện hay thành phần có hai điện cực (một cực dương và cực âm) qua đó dòng điện – đặc trưng chỉ ở một hướng (từ cực dương và đi qua cực âm). Điốt thường được làm từ vật liệu bán dẫn như chất silic hoặc selen – chất rắn dẫn điện trong một số trường hợp chứ không phải ở các điện cực khác (ví dụ ở điện áp nhất định, mức hiện tại, hoặc cường độ ánh sáng). Khi dòng điện đi qua vật liệu bán dẫn, thiết bị phát ra ánh sáng khả kiến. Nó rất giống với một tế bào quang điện (một thiết bị chuyển ánh sáng nhìn thấy thành dòng điện).

Ưu điểm của đèn LED là gì?

Có bốn ưu điểm chính của đèn LED:

Đèn LED có tuổi thọ rất dài so với bất kì một công nghệ chiếu sáng khác (bao gồm cả đèn huỳnh quang). LED mới có thể kéo dài từ 50.000 đến 100.000 giờ hoặc nhiều hơn thế nữa. Nếu lấy đèn huỳnh quang so sánh với đèn LED thì tuổi thọ chúng chỉ bằng 10% – 25% đèn LED.

Đèn LED có hiệu suất năng lượng rất cao tương đối so với mọi công nghệ chiếu sáng thương mại khác. Có một số lý do cho điều này bao gồm thực tế là chúng gần như không phát ra bức xạ hồng ngoại như các loại đèn khác (bao gồm cả đèn huỳnh quang) và chúng phát ra ánh sáng hướng (trên dưới 180 độ so với 360 độ nghĩa là có ít tổn thất nhiều hơn từ sự cần thiết phải chuyển hướng hoặc phản ánh ánh sáng).

Chất lượng ánh sáng rất cao.

Chi phí bảo trì rất thấp.

Yếu điểm của đèn LED là gì?

Đèn LED tương đối đắt. Giá của đèn LED thường lớn hơn hầu hết các loại đèn truyền thống. Đây là nhược điểm lớn nhất cần được xem xét. Nhưng giá của đèn LED đang giảm nhanh chóng và khi chúng tiếp tục được ứng dụng rộng rãi thì giá sẽ tiếp tục giảm.

LED thường được sử dụng ở đâu?

Đèn LED đầu tiên được ứng dụng vào bảng mạch máy tính. Kể từ đó họ đã từng bước mở rộng ứng dụng của họ để bao gồm đèn giao thông, bảng hiệu, và gần đây nhất là chiếu sáng trong nhà và ngoài trời. Giống như đèn huỳnh quang, đèn LED hiện đại là một giải pháp tuyệt vời cho các phòng tập thể dục, nhà kho, nhà xưởng, trường học và các tòa nhà thương mại. Chúng cũng thích hợp cho các khu vực công cộng rộng (đòi hỏi đèn chiếu mạnh mẽ, hiệu quả trên một diện tích lớn), chiếu sáng đường bộ (có lợi thế màu sắc vượt trội so với đèn thấp áp và cao áp natri) và bãi đỗ xe.

Tổng kết so sánh giữa đèn LED và đèn huỳnh quang

Sự khác biệt giữa đèn huỳnh quang và đèn LED là gì?

Hai công nghệ khác nhau có các phương pháp tạo ra ánh sáng hoàn toàn khác nhau. Bóng đèn huỳnh quang chứa khí trơ trong vỏ thủy tinh trong khi đèn LED là một công nghệ trạng thái rắn. Đèn huỳnh quang tạo ra bức xạ tia cực tím và sau đó biến nó thành ánh sáng nhìn thấy thông qua việc sử dụng lớp phủ phosphor trong bóng đèn. Đèn LED phát ra bức xạ điện từ qua một phần nhỏ của phổ ánh sáng khả kiến ​​và không lãng phí năng lượng bằng cách tạo ra nhiệt thải hoặc bức xạ điện từ không nhìn thấy được (như UV). Có một số loại đèn LED đặc biệt được thiết kế để phát ra chỉ tia hồng ngoại.

Tại sao đèn LED sẽ thay thế hoàn toàn đèn huỳnh quang?

Trong vài năm qua, hiệu suất của LED đã vượt trội hơn so với đèn huỳnh quang và tốc độ phát triển của nó cũng nhanh hơn nhiều. Hơn nữa, đèn huỳnh quang yêu cầu sử dụng một chấn lưu để ổn định dòng nội tại tạo ra ánh sáng. Khi chấn lưu bị lỗi nhỏ hoặc hư hỏng, ánh sáng có thể gây ra tiếng ồn. Những thiếu sót khác bao gồm:

Đèn huỳnh quang có thể đưa ra các vấn đề xử lý chất thải do sự phụ thuộc vào thuỷ ngân.

Đèn huỳnh quang không hướng, nghĩa là chúng phát ra ánh sáng tới 360 độ. Như bạn có thể mong đợi, phần lớn ánh sáng này sẽ bị lãng phí (ví dụ như phần được hướng vào trần nhà).

Tại sao LED sẽ đưa đèn huỳnh quang compact (CFL) ra khỏi kinh doanh?

Hiệu quả của đèn huỳnh quang đã trở nên tốt hơn, LED sẽ tốt hơn (và tiếp tục cải thiện với tốc độ nhanh hơn). Tuổi thọ của đèn LED kéo dài lâu hơn. Hơn nữa, đèn huỳnh quang yêu cầu sử dụng một chấn lưu để ổn định dòng nội tại tạo ra ánh sáng. Khi chấn lưu bị lỗi hoặc bị hư hỏng, ánh sáng có thể gây ra tiếng ồn. Những thiếu sót khác bao gồm các vấn đề xử lý chất thải (do sự phụ thuộc CFL vào thủy ngân), và sự phát điện không định hướng không. Ánh sáng không hướng là một bất lợi lớn. Ví dụ, ánh sáng chiếu lên cả trần nhà, chứ không chỉ không gian căn phòng.

Mua đèn LED ở đâu?

chúng tôi

Bạn đang xem bài viết Lương Y Huỳnh Văn Phích / 2023 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!