Xem Nhiều 2/2023 #️ Mô Hình Var ( Value At Risk) # Top 4 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Mô Hình Var ( Value At Risk) # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Mô Hình Var ( Value At Risk) mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giới Thiệu Độ Đo Rủi Ro VaR và Ứng dụng trên TTCK Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU

Quý nhà đầu tư và bạn đọc thân mến, quản trị rủi ro là một vấn đề không mới khi mà chúng ta đã dần quen thuộc với cụm từ này trong những năm gần đây, dù đây lại là lĩnh vực được quan tâm và triển khai trên thế giới từ lâu. Quản trị rủi ro đang được chú ý hơn đối với lĩnh vực Tài chính Ngân hàng ở nước ta, khi mà các định chế tài chính lớn trong nước đang từng bước nâng cấp hoạt động quản trị rủi ro để tiệm cận gần hơn với tiêu chuẩn chung của Thế giới hiện nay ( Các vấn đề Quản trị rủi ro theo Tiêu chuẩn Basel I, II và III).

Thực sự chúng ta cũng đang từng ngày giải quyết vấn đề quản trị rủi ro theo những cách khác nhau, với mục đích nắm bắt và phần nào kiểm soát được mức độ thiệt hại nếu rủi ro xảy ra. Chúng tôi xin được giới thiệu đến quý nhà đầu tư và bạn đọc một công cụ có thể giúp chúng ta phần nào tính toán được sự thiệt hại ( tổn thất) trong trường hợp có phát sinh rủi ro trong quá trình đầu tư cũng như trong hoạt động cho vay, đó là công cụ tính VaR ( Value at Risk – Giá trị Rủi Ro). Từ kiến thức chung đến Ứng dụng trong từng trường hợp cụ thể, Công cụ tính toán VaR có thể xác định được mức tổn thất tối đa có thể chạm đến trong từng khung thời gian cụ thể và với một mức độ tin cậy nhất định.

Mặc dù còn những hạn chế trong kiến thức về Quản trị rủi ro của 

chúng tôi

, tuy thế người viết vẫn sẽ cố gắng truyền tải phương pháp tính toán này trở thành một công cụ có ích cho Nhà đầu tư và bạn đọc trong hoạt động giao dịch và hoạt động kinh doanh trên Thị trường chứng khoán.

TIẾP CẬN KHÁI NIỆM VaR

Trước khi nói về sự khác biệt, người viết đưa ra một vài ví dụ trực quan lên quan đến biến động P&L (Profit&Loss) của một vài cổ phiếu, biên độ giá, và các giá trị VaR tính toán trên cùng một đồ thị, như sau:

P&L của cổ phiếu GAS

P&L của cổ phiếu VCB

P&L của cổ phiếu VNM

Đối với các cổ phiếu cơ bản ta thấy rất hiếm trường hợp tăng kịch trần hoặc chạm sàn trong phiên, cụ thể khi quan sát 3 cổ phiếu BCs trên, rất hiếm trường hợp P&L chạm đường biên màu xanh lá cây ( Biên trên 7%) và chạm đường màu đỏ ( Biên dưới -7%).

Ngược lại, đối với một số cổ phiếu nóng thì tần suất chạm hai biên này sẽ lớn hơn nhiều.

P&L của cổ phiếu HHS

Nhà đầu tư và bạn đọc thử quan sát lại các đồ thị một lần nữa, chúng ta luôn thấy có những khoảng cách từ hiệu suất thực tế ( đường P&L) với các đường biên độ giá, trường hợp khoảng cách bằng 0 tức là vị trí những điểm chạm của P&L và đường biên độ giá ( khi mà cổ phiếu tăng trần hoặc là giảm sàn trong phiên). Vậy thì giả dụ nếu biết trước rằng, vào ngày mai cổ phiếu của chúng ta sẽ giảm sàn, thì kế hoạch phân bổ tỷ trọng cổ phiếu và tiền đối ứng của chúng ta sẽ là gì? Tất nhiên kế hoạch an toàn là bán toàn bộ cổ phiếu và duy trì tỷ trọng tiền đối ứng 100% (1- Là để tránh mất thành quả, 2- Là sẵn sàng lượng tiền để mua ở mức giá thấp hơn). Ngược lại, nếu chúng ta biết rõ ngày mai cổ phiếu của chúng ta sẽ tăng trần và chúng ta được phép mua bán T+0, phương án khả thi nhất là chúng ta sẽ mua hết  số tiền đang có trong tài khoản (all in – biến 100% lượng tiền mặt thành cổ phiếu).

Như vậy, nếu cổ phiếu giảm càng sâu ta cần một lượng tiền đối ứng càng lớn, ngược lại nếu cổ phiếu tăng càng tốt, thì lượng tiền đối ứng càng nhỏ để nhường chỗ cho sự gia tăng khối lượng cổ phiếu. Khoảng cách giữa P&L và các biên thể hiện một sự đối ứng của tiền đối với khối lượng cổ phiếu đang nắm giữ. Khoảng cách của P&L với biên dưới càng lớn, ta cần một lượng tiền đối ứng càng lớn.

Phần tiền đối ứng cần được duy trì là cách để tránh thiệt hại khi rủi ro xảy ra, nó vừa thể hiện mức độ chịu rủi ro của mỗi cá nhân hoặc tổ chức tham gia thị trường. Động thái sau khi xảy ra rủi ro là bù vào phần đã vay nếu chúng ta đã vay trước đó, hoặc là sẵn sàng tham gia với lượng cổ phiếu lớn hơn nữa ở mức giá thấp hơn để kéo giá mua giảm xuống đối với một đơn vị cổ phiếu. Hay nói cách khác là lượng tiền dự phòng để chúng ta có thể chủ động hơn trong trường hợp rủi ro xảy ra. 

Đối với cổ phiếu : Nếu giá cổ phiếu VCB phiên này chúng ta tính mức điều chỉnh tối đa 1.92% ( tương ứng mức giá 36.88) với độ tin cậy 95%, và 5% còn lại VCB có thể rớt xuống thấp hơn giá 36.88, thì điều này có thể giúp chúng ta nhiều hơn trong việc cân đối tỷ trọng cổ phiếu hơn là một biến cố chắc chắn rằng, VCB điều chỉnh tối đa 7%( giá sàn 35.00) với độ tin cậy 100%. 

Đối với chỉ số thị trường: Chúng ta cũng có thể gượng ép để nói chỉ số VN-index cũng có thể mất tối đa 7% trong một phiên ( người viết cho rằng sự kiện này là thảm họa khủng khiếp nếu tất cả các cổ phiếu trên sàn HSX giảm sàn), điều này đúng 100% nhưng đối với chúng ta có vẻ hơi khó tin! Chính vì vậy, một giá trị tổn thất -0.9%, -1.1%, -1.3% trong phiên thì đáng tin hơn đối với chúng ta, đây cũng là mức VaR95, VaR975, VaR99 tính toán được gần nhất ( phiên thứ Năm 13/10/2016). Chúng ta cũng hoàn toàn nói ngược lại rằng, chỉ 5% xác suất xảy ra kịch bản chỉ số thị trường VN-index giảm hơn mức -0.9% ( Nếu điều này xảy ra, thì người viết kịp nghĩ rằng nó khá hiếm bởi vì chỉ 5% trường hợp rớt sâu hơn mức này, vậy thì liệu có nên tham gia quá trình BẮT ĐÁY nếu nó giảm sâu như vậy không? Có thể là đáy lắm chứ!)

P&L của chỉ số VN-index

Bởi vì Rủi ro cũng chỉ là một khái niệm của xác suất về những điều mơ hồ

Bởi vì Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát  nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Và Bởi vì  Rủi ro chỉ là Trò chơi của những kẻ thống trị

Giới Thiệu Độ Đo Rủi Ro VaR và Ứng dụng trên TTCK Việt Nam

CÁCH TÍNH GIÁ TRỊ VaR

Theo định nghĩa toán học, VaR là mức phân vị thứ 

α (alpha) 

của một hàm phân phối chuẩn hóa. Quả thực định nghĩa này là khó hiểu đối với phần đông chúng ta và cũng không kém mơ hồ. Thế nhưng, người viết vẫn phải nêu ra định nghĩa chuẩn của giá trị VaR vì đây là phần không thể thiếu khi giới thiệu về bất kỳ điều gì mới, cũng giống như các giới thiệu về Một chức danh mới của một yếu nhân nào đó, Một sự kiện mới, Một tính năng mới, Một khái niệm mới, hay đơn giản chỉ là Một vật kỳ quặc mà chúng ta chưa hề biết về nó và lý do vì sao nó tồn tại…

Thế thì xuất phát từ nhu cầu Quản trị rủi ro thực tế, người viết khái quát VaR như một mức ( Giá trị theo đơn vị tiền tệ, Giá trị tương đối theo phần trăm) mà một khoản đầu tư có thể giảm xuống tối đa trong một đơn vị thời gian ( ngày, tuần, tháng) với một độ tin cậy bằng xác suất cho trước ( 95%, 97.5%, 99%). 

Phương pháp Ước lượng VaR sử dụng các ước lượng không chệch

Đối với một cổ phiếu hoặc một chỉ số, P&L chính là sự chênh lệch của giá phiên hôm nay trừ giá phiên trước đó, chia cho giá của phiên trước đó ( [Close(t) – Close(t-1)]/

Close(t-1)).

2. Xác định các giá trị Trung bình mẫu và Phương sai mẫu

Đây là hai đại lượng không thể thiếu khi tính giá trị VaR theo phương pháp này. Các giá trị Trung bình mẫu và Phương sai mẫu được xem là các ước lượng không chệch của giá trị Kỳ vọng (E(P&L)) và Phương sai (Var(P&L)). 

Trung bình mẫu = Tổng n giá trị P&L trong n phiên chia cho n =

                         = [P&L(t-n-1)+..+

P&L(t-1)+

P&L(t)]/n

Phương sai mẫu = Tổng sai lệch bình phương của n P&L trong n phiên và Trung bình mẫu chia cho n -1 = 

=[(P&L(t-n-1)- Trung bình mẫu)^2+..+

(P&L(t-1)- Trung bình mẫu)^2

+

(P&L(t)- Trung bình mẫu)^2

]/(n-1)

Nếu khó hiểu quá thì thực ra 2 giá trị này trông như thế này: 

Để xác định trung bình mẫu ta sử dụng hàm AVERAGE, phương sai mẫu ta dùng hàm VAR trong Excel.

3. Tính VaR

Tính theo giá trị phần trăm

VaR95 = Trung bình mẫu – 1.65*(Phương sai mẫu)^0.5

VaR975 =

Trung bình mẫu – 1.96*(Phương sai mẫu)^0.5

VaR99 = 

Trung bình mẫu – 2.33*(Phương sai mẫu)^0.5

Tính theo giá trị bằng tiền cho chỉ số

VaR95 = (1+Trung bình mẫu – 1.65*(Phương sai mẫu)^0.5)*Chỉ số đóng cửa

VaR975 = (1+Trung bình mẫu – 1.96*(Phương sai mẫu)^0.5)*Chỉ số đóng cửa

VaR99 = (1+Trung bình mẫu – 2.33*(Phương sai mẫu)^0.5)*Chỉ số đóng cửa

Giá GAS, VaR95 và giá sàn dự kiến

Giá HHS, VaR95 và giá sàn dự kiến

Giá VCB, VaR95 và giá sàn dự kiến

Giá VNM, VaR95 và giá sàn dự kiến

Bởi vì Rủi ro cũng chỉ là một khái niệm của xác suất về những điều mơ hồ

Bởi vì Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát  nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Và Bởi vì  Rủi ro chỉ là Trò chơi của những kẻ thống trị

Giới Thiệu Độ Đo Rủi Ro VaR và Ứng dụng trên TTCK Việt Nam

ỨNG DỤNG VaR TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Cho lượng tiền mặt đối ứng hay việc phân bổ tỷ trọng Tiền mặt/ Cổ phiếu

Tỷ

trọng

Chứng

khoán

/

Danh

mục

= (

bp

-q)/b

Trong

đó

: b

tỷ

lệ

thắng

và mở rộng ra như sau:

Tỷ

trọng

Tiền

/

Danh

mục

 = (

b’p

’-q’)/b’

Trong

đó

: b’ 

tỷ

lệ

thất

bại

Là nhân tố tin cậy cho phép đánh giá lại tỷ lệ cho vay margin đối với các công ty chứng khoán

Thực ra những biến động cổ phiếu là bất thường và biến đổi theo phiên, nếu một tỷ lệ vay được ấn định từ trước đó đối với một số cổ phiếu điều chỉnh sâu trong suốt một quá trình sẽ mang lại rủi ro cho hoạt động vay và cho vay của nhà đầu tư lẫn công ty chứng khoán.Việc thay đổi tỷ lệ cho vay margin theo tuần, tháng sẽ trở nên hiệu quả hơn và cập nhật hơn nếu chúng ta biết rằng, trong tuần tới, tháng tới, giá cổ phiếu hoặc chỉ số có thể giảm sâu nhất về mức nào với một độ tin cậy chấp nhận được (95%, 97.5%, 99%). Như thế đối với mỗi một mã cổ phiếu, chúng ta ấn định một tỷ lệ cho vay hiệu quả hơn là đánh đồng đều đối với toàn bộ cổ phiếu, hay phân loại cổ phiếu theo mệnh giá hay vốn hóa thị trường ( tất nhiên là cổ phiếu của chúng ta vẫn nằm trong danh sách được phép vay).

Chúng ta khai thác 2 điểm của ngưỡng VaR mà người viết cho rằng là có ích. 

Một là, Sự ổn định của cổ phiếu thường gắn với một sự an toàn nhất định, nếu ngưỡng VaR được duy trì càng gần với tổn thất thực tế thì càng cần ít trích lập khoản dự phòng. Ngược lại, dự báo về mức độ có thể thiệt hại của cổ phiếu nằm xa hơn với thiệt hại thực tế thì khoản trích lập cũng phải tăng lên tương ứng. Như vậy, rủi ro tăng lên, trích lập dự phòng càng nhiều thì cũng đồng nghĩa với tỷ lệ cho vay margin không thể cao được . Rủi ro sẽ không còn là rủi ro nếu chúng ta đánh giá gần đúng nhất về mức độ thiệt hại. Ở

 chiều ngược lại,

 trong một ngưỡng chịu đựng rủi ro được xác định từ trước có thể tin cậy được

(95%, 97.5%, 99%)

, ta hoàn toàn có thể nâng tỷ lệ cho vay margin cao lên mà không còn e ngại về rủi ro của sự điều chỉnh giá. 

Hai là, Nếu tổn thất thực tế vượt qua ngưỡng VaR dự báo thì sao? Đây là trường hợp hiếm, nếu đánh giá trên phương diện là nhà đầu tư là cơ hội Mua ở vùng giá thấp hơn vì khả năng P&L sẽ hồi phục trở lại cao hơn ngưỡng VaR đánh giá, nhưng trên phương diện cho vay của công ty chứng khoán thì rủi ro đã sinh ra và có thể gây những tổn thất nhất định cho hoạt động cho vay. Nếu chúng ta dựa vào số lần giá trị tổn thất của mỗi cổ phiếu vượt ngưỡng VaR là tiêu chí để tăng hay giảm tỷ lệ cho vay margin thì người viết cho rằng là điều khá hợp lý. Bởi vì, chúng ta không thể cấp margin cao hơn cho một cổ phiếu liên tục chạm sàn so với một cổ phiếu hiếm khi điều chỉnh giảm sàn.

Một ngưỡng hỗ trợ tin cậy có thể dự báo trước và tham gia thị trường ở vùng giá thấp hơn

Đứng trên phương diện Phân tích kỹ thuật, mức VaR95 có thể xem như mức Hỗ trợ cho vận động giá của cổ phiếu, hoặc chỉ số với độ tin cậy lên đến 95%. Chỉ có 5% trường hợp Giá cổ phiếu hoặc chỉ số có thể rớt ra ngoài khoảng này ( vì 5% cũng là một xác suất thấp) vậy thì sẽ có khả năng cao rằng vận động giá hoặc chỉ số có thể vượt lên trên mức VaR95 ở những phiên kế tiếp ( Tín hiệu BẮT ĐÁY hoặc MUA ở vùng xác suất thấp mà cơ hội hồi phục

cao đối với những cổ phiếu cơ bản chịu những nhịp điều chỉnh ngắn hạn). 

Ứng dụng VaR95 BẮT ĐÁY thị trường

Ứng dụng VaR95 BẮT ĐÁY cổ phiếu GAS

Ứng dụng VaR95 BẮT ĐÁY cổ phiếu DXG

Bởi vì Rủi ro cũng chỉ là một khái niệm của xác suất về những điều mơ hồ

Bởi vì Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát  nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Và Bởi vì  Rủi ro chỉ là Trò chơi của những kẻ thống trị

Các Phương Pháp Tính Value At Risk Trong Ngành Ngân Hàng

Các phương pháp tính Value at Risk trong ngành ngân hàng

Lợi nhuận và rủi ro là 2 vấn đề mà ngành tài chính, especially banking quan tâm hàng đầu. Lợi nhuận thì ta có thể xác định rõ ràng. Còn rủi ro là khái niệm mơ hồ về định nghĩa nên càng rất khó để định lượng. Lúc còn sinh viên, mình đi ngang qua khoa Tài Chính FTU, thì nghe giảng viên dạy rằng rủi ro là mức độ dao động quanh giá trị dự kiến. Ví dụ khi bạn mua 1 cổ phiếu VNM giá 140.000 VND, bạn dự kiến ngày hôm sau giá là 150.000 VND, có thể dao động từ 130.000 VND đến 160.000 VND, thì đó là rủi ro. Tăng cao hơn dự kiến hoặc thấp hơn dự kiến đều được xem là rủi ro. Nghe có vẻ ổn, nhưng vẫn thấy không vừa lòng? Giá tăng thì càng tốt, thì làm sao mà xem là rủi ro được????

Mình thấy rằng, nhà đầu tư họ quan tâm đến rủi ro, nghĩa là họ lo sợ downturn risk (lo sợ giảm giá cổ phiếu), nghĩa là tình huống xấu, real return (hoặc loss) sẽ lệch so với Expected Return là bao nhiêu, trong 1 khoảng thời gian xác định. Chứ họ chả sợ là real return quá cao so với Expected Return haha. Khái niệm, khoảng return (hoặc mức thua lổ) trong x% tình huống xấu nhất, trong 1 khoảng thời gian gọi là Value at Risk (VaR).

Nghe qua, thì tính rủi ro theo VaR và tính rủi ro bằng mức độ biến động (Volatility: Standard Deviation) là 2 trường phái khác nhau. Nhưng thực tế là 1 khi ta giả định phân phối của Real Return là phân phối chuẩn, thì 2 cách tiếp cận này là 1. Lý do là vì nếu phân phối của Real Return là phân phối chuẩn, từ Standard Deviation ta có thể tính ra VaR và ngược lại. Tóm lại, trong tình huống lý tưởng, cả 2 cái này là 1, nhưng thực tế thì không lý tưởng.Ví dụ minh họa:Tôi mua cổ phiếu Vinamilk ngày hôm nay giá 140.000 VND. Tôi kỳ vọng giá là 158.000 VND vào năm sau.1. Kỳ vọng 158.000 VND, ở đâu tui ra số này?Kỳ vọng này tính ra bằng cách lấy giá trị tăng trưởng trung bình (average compound growth rate) của Vinamilk trong 10 năm qua. Tôi giả định năm nay sẽ tăng giá gần với tốc độ tăng trung bình trong 10 năm qua. Ví dụ tui tính ra 10 năm qua, trung bình mỗi năm VNM tăng giá 10%/ 1 năm.Expected Value = 140.000 + 140.000 x 10% = 158.000 VND.2. Rủi ro tui thua lỗ là bao nhiêu?Câu hỏi này chính xác là :”Sau một năm, xác xuất giá cổ phiếu thấp hơn 140.000 VND là bao nhiêu?”Ví dụ, tui tính ra Standard Deviation của Vinamilk trong năm qua là 15.000 VND. Giả định 1: Phân phối thực tế của cổ phiếu VNM là phân phối chuẩn. Nghĩa là giá VNM follow theo 1 đồ thị theo hình bên dưới: Các giá trị sẽ tập trung cao nhất quanh giá trị 158.000 VND. Càng về 2 bên (giá cao hơn hoặc thấp hơn 158.000 VND), xác xuất nhỏ dần (2 bên đều nhau).

Trong ví dụ này, ta tra bảng phân phối chuẩn và tính ra được xác xuất giá sau 1 năm thấp hơn 140.000 VND là 0.11507 (11.507%). Đó là VaR. Source.

Đo Risk bằng cách đo Volatility thông qua Standard Deviation cũng tương đương đo Risk bằng VaR, với điều kiện Real Return có phân phối chuẩn (normal distribution) hay còn gọi là Gaussian distribution. Normal Distribution là assumption của việc dùng Standard Deviation để xác định Risk. Nhưng thực tế là giả định này failed.

Đặt điểm của phân phối chuẩn:Tính đối xứng qua trục MeanMean = Mode = DedianĐịnh lý giới hạn trung tâmTính ổn định của phân phối xác suất: Nếu là phân phối chuẩn, thì ta có thể suy luận từ Standard Deviation sang VaR với xác xuất cho trước và ngược lại.

Trong thực tế, phân phối của tỷ suất sinh lợi thực tế sẽ không tuân theo phân phối chuẩn. Phân phối thực tế sẽ bị biến thể theo 2 loại: Skewness và Kurtosis.

Kurtosis là độ nhọn của phân phối. Excess kurtosis là sự chênh lệch giữ kurtosis của phân phối trừ đi kurtosis của phân phối chuẩn. Positive kurtosis (Leptokurtosis) là nguy hiểm, vì nó có xác suất giá trị extreme cao hơn xác xuất giá trị extreme của phân phối chuẩn.

Các nhóm phương pháp tính VaR – Value at Risk:Nhóm 1: ParametricGiả định của các phương pháp này là Real return sẽ tuân theo 1 quy luật phân phối nhất định, thường là chọn phân phối chuẩn.Variance-covariance VaR or delta-gamma VaRMục đích của việc đẻ ra Value at Risk là thay thế cho cách đo rủi ro bằng volatility. Nhưng phương pháp Parametric về bản chất lại không khác gì volatility, đều dựa trên giả định là phân phối chuẩn. Nên trong thực tế hầu như không có ngân hàng nào sử dụng phương pháp này.Nhóm 2: Non-parametricHistorical simulation VaRPhương pháp này có giả định là toàn bộ kết quả quá khứ sẽ lặp lại. Phương pháp này rất đơn giản, giả sử bạn có 100 kết quả lịch sử. Bạn muốn tìm VaR với confidence là 98%. Bạn xếp các giá trị lịch sử từ thấp đến cao, giá trị thứ 2 (100-98) chính là giá trị cần tìm. VaR = Giá trị trung bình (Mean) – Giá trị thứ 2.Ví dụ khác, giả sử bạn có 160 kết quả lịch sử. Bạn tìm VaR với Confidence là 99%. Số thứ tự bạn tính ra được là (1 – 99%)x160 = 1.6.Lúc này giá trị của số bạn cần tìm: Value = Giá trị số thứ 1 + 0.6x(Giá trị số thứ 2-Giá trị số thứ 1).Monte Carlo method VaRPhương pháp này loại bỏ hạn chế của Parametric Methods và Histrorical. Theo estimate của các bạn The McKinsey, 85% ngân hàng dùng historical simulation VaR và 15% các ngân hàng dùng Monte Carlo method.

Mình đã tính và test thử phương pháp Monte Carlo Simulation. Phân phối của kết quả chạy 20.000 lần là Phân Phối Highly Positive Excess Skewness và Leptokurtosis. Vậy là rõ ràng Monte Carlo đã khắc phục được các nhược điểm của Historical Simulation và các Phương Pháp Parametric truyền thống (Varian-Covarian VaR). Kết quả là các giá trị Var với confidence là 99%; 98%; 90%; 20% rất ổn định, sai biệt giữa các lần reset là dưới 1%.Với số lần lặp là 20.000 lần thì kết quả tuân theo quy luật số lớn mạnh. Giá trị trung bình tiệm cận giá trị kì vọng, sai lệch 0.3% giữa các lần reset.

Từ phương pháp tính Expected Shotfall, mình thấy rằng, với level of confidence càng lớn, thì khi xảy ra biến cố ngoài mong đợi, tổn thất sẽ càng lớn.

Risk On Risk Off Là Gì? Dấu Hiệu Nhận Biết Thị Trường Risk On Risk Off

1. Risk On Risk Off là gì?

Risk On Risk Off là một lý thuyết về tâm lý thị trường ám chỉ hành vi của nhà đầu tư theo cảm nhận về mức độ rủi ro của thị trường tài chính.

Theo thuyết này, khi rủi ro được cảm nhận ở mức thấp, nhà đầu tư có xu hướng đổ tiền vào các tài sản có rủi ro cao, đây gọi là hiện tượng Risk On. Ngược lại, khi rủi ro được cảm nhận ở mức cao, nhà đầu tư sẽ bán tháo các sản phẩm tài chính có mức độ rủi ro cao để chuyển sang các tài sản an toàn hơn hay chỉ giữ tiền mặt.

Tìm hiểu hiện tượng Risk On Risk Off có thể giúp bạn nhận định nhanh tâm lý chung của thị trường, từ đó tìm ra hướng đi chính và yên tâm giao dịch theo đúng xu hướng.

Cách đơn giản nhất để bạn nhận biết hiện tượng Risk On Risk Off trên thị trường tài chính là nhìn vào biểu đồ giá của thị trường chứng khoán. Khi giá chứng khoán tăng, bạn biết tâm lý của các nhà đầu tư đang ưa thích rủi ro, đây là hiện tượng Risk On. Môi trường Risk On cho thấy các nhà đầu tư đang “phấn khích” với tương lai của nền kinh tế, họ sẽ đặt cược nhiều hơn vào triển vọng của thị trường và các sản phẩm có lãi suất cao.

Với Forex, nguồn vốn có thể dịch chuyển sang các đồng tiền như AUD, NZD khi hiện tượng Risk On xảy ra. Đồng thời, các công cụ có lãi suất thấp sẽ có xu hướng tăng ít hơn hoặc có thể bị giảm giá trị. Động thái mua bán theo hình thức này, giới đầu tư tài chính gọi là nghiệp vụ Carry Trade. Bạn nhìn chart sẽ thấy rõ hơn tác động của việc mua bán này khi hiện tượng Risk On Risk Off diễn ra.

Ngoài ra, nếu thị trường xuất hiện hiện tượng Risk Off, dòng vốn cũng sẽ luân chuyển sang các đồng tiền như JPY hay CHF. Vì vậy, các cặp USD/JPY và USD/CHF sẽ giảm điểm.

*Bài viết chỉ mang tính chất cung cấp thông tin và phân tích thị trường, không phải là bài viết khuyến khích đầu tư. Bạn nên tự nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đưa ra bất kỳ quyết định đầu tư nào. Tin tức Biên tập bởi TimeBit/Traderviet Crypto, Forex được cập nhật 24/7 trên các kênh truyền thông xã hội của chúng tôi: Hãy theo dõi chúng tôi tại TimeBit và kênh Timebit-Bitcoinnews

Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Nhật Bản

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẺN MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN

Hệ thống pháp luật Nhật Bản là kết quả học hỏi pháp luật phương Tây về mặt hình thức nhưng vẫn giữ được những nét truyền thống của Nhật Bản. Tùy theo từng thời kỳ, Nhật Bản tiếp nhận pháp luật của Pháp, Đức, Mỹ để sáng tạo ra hệ thống pháp luật của riêng mình. Lịch sử phát triển tố tụng hình sự Nhật bản cho thấy trước khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, luật pháp Nhật Bản thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai thì pháp luật Nhật Bản đã du nhập nhiều chế định về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về tố tụng và cách thức tổ chức Tòa án trong pháp luật của Hoa Kỳ. Lịch sử phát triển tố tụng hình sự của Nhật Bản gắn liền với sự phát triển của hệ thống tư pháp hình sự, có thể chia thành 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn I. Từ thế kỷ 19, Nhật Bản tiến hành chính sách cách tân đất nước, chuyển từ thể chế quân chủ sang thể chế dân chủ. Vào khoảng năm 1868, để đảm bảo duy trì an ninh trật tự sau khi chính quyền Mạc phủ Edo tan rã, Hoàng đế Minh Trị học hỏi mô hình luật hình sự của Trung Quốc. Sau đó, Nhật Bản áp dụng mô hình pháp lý Châu Âu nhằm tạo vị trí bình đẳng của Nhật trong các Hiệp định ký kết với các nước Châu Âu. Vào thời kỳ này, hệ thống common law (luật bất thành văn) của Anh – Mỹ rất xa lạ với Nhật Bản, do đó Nhật Bản tiếp cận và nghiên cứu hệ thống pháp luật Pháp. Năm 1873, Nhật bản mời giáo sư Boissonade từ Trường Đại học Tổng hợp Paris giúp cho việc soạn thảo các bộ luật nội dung và tố tụng cả dân sự và hình sự và kết quả đã ban hành Bộ luật hướng dẫn hình sự vào năm 1880, có hiệu lực vào tháng 01 năm 1882, theo đó chế định Công tố viên theo mô hình của Pháp du nhập vào Nhật Bản. Công tố viên thực hiện truy tố tội phạm, phù hợp với việc phân loại tội phạm theo quy định của pháp luật, với mục đích chứng minh tội phạm và áp dụng hình phạt thích hợp với kẻ phạm tội (Điều 1). Công tổ viên thực hiện các hoạt động điều tra tội phạm, yêu cầu Thẩm phán kiểm tra tội phạm và áp dụng các điều khoản theo quy định cùa pháp luật, chỉ đạo việc thi hành lệnh hay quyết định của Tòa án và bảo vệ lợi ích công của Tòa án. Thẩm phán được trực tiếp thu thập chứng cứ ban đầu (Điều 34). Trong thời gian sau đó, hệ thống tư pháp Nhật Bản bắt đầu bị ảnh hưởng của Đức. Năm 1890, Luật tổ chức Tòa án được ban hành dựa trên dự thảo của người Đức tên là Rudorff, theo đó xác định, Công tổ viên cũng có quyền giám sát hoạt động của Thẩm phán, đại diện cho quyền lợi công trước Tòa án (độc quyền truy tố), và đây là nền móng để phát triển hệ thống công tố Nhật Bản. Vào năm 1893, Nhật Bản xây dựng Hiến pháp mới dựa trên Hiến pháp Đức và ban hành Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) cũng dựa theo mô hình của Đức. Bộ luật này gần như sao chép toàn bộ nội dung của Luật tố tụng hình sự Pháp, tuy nhiên không quy định chế định Bồi thẩm đoàn như ở Pháp vì cho rằng chế định đó không phù hợp với Nhật Bản lúc bấy giờ. Năm 1913, Nhật ban hành Luật về thủ tục rút gọn, theo đó Công tố viên có thể trực tiếp xử phạt bị can mà không cần đưa ra Tòa xét xử nhằm giảm thời gian và chi phí cho quá trình tố tụng.

Đến năm 1922, BLTTHS sửa đổi được ban hành và có hiệu lực năm 1924. BLTTHS này được áp dụng đến Đại chiến thế giới II với mô hình tố tụng hình sự chuyển từ mô hình của Pháp sang mô hình của Đức, theo đó mô hình tranh tụng được chuyển theo mô hình của Đức, quan tòa là người chủ tọa, dẫn dắt cuộc họp, giải quyết tranh luận. Nhưng điểm khác của mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản so với mô hình tố tụng hình sự của Đức là chế định tùy nghi truy tố của Công tố viên Nhật Bản. Theo quy định của BLTTHS này thì Công tố viên có nhiệm vụ điều tra, cảnh sát thực hiện yêu cẩu của Công tố viên; cơ chế xem xét ban đầu trong quá trình tra được giao cho Thẩm phán (đối với một số vụ án cụ thể hoặc một số tội phạm đặc biệt, các biện pháp điều tra đặc biệt do Thẩm phán quyết định). Tuy nhiên, trong thực tiễn, do cơ quan cảnh sát không phải lúc nào cũng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, vi phạm quyền con người và để tránh sự độc quyền của Tòa án, nhiều ý kiến đề nghị cơ quan công tố được giám sát hoạt động điều tra và bác bỏ cơ chế xem xét ban đầu của Thẩm phán.

Giai đoạn II: Từ năm 1945, chiến tranh thế giới thứ II, Nhật chuyển sang chính thể quân chủ nghị viện và chịu ảnh hưởng lớn của Hoa Kỳ. Với sự can thiệp của Hoa Kỳ, một loạt cải cách xã hội được tiến hành, trong đó quan trọng nhất là việc ban hành Hiến pháp mới với những quy định tiến bộ về bảo đảm quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự: Khi bắt giữ, khám xét, thu giữ phải có lệnh; bị can, bị cáo có quyền được mời luật sư, quyền giữ im lặng không khai báo. Hiên pháp mới dẫn đến sự ra đời của BLTTHS mới (Luật số 131 ngày 10/7/1948, có hiệu lực từ năm 1949) và được áp dụng cho đến nay. BLTTHS mới trong quá trình soạn thảo có sự giúp đỡ tích cực từ phía Hoa Kỳ và phản ảnh rõ nét quan điểm pháp luật tố tụng Hoa Kỳ, thể hiện trong các quy định về nguyên tắc tranh tụng, điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ, hạn chế trong việc chấp nhận chứng cứ gián tiếp. BLTTHS của Nhật Bản được soạn thảo theo khuôn mẫu của BLTTHS Mỹ ngoại trừ chế định xét xử có Bồi thẩm đoàn. Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán chỉ đóng vai trò trọng tài, vai trò chính trong quá trình tố tụng được dành cho đại diện của bên buộc tội và bên bào chữa. Tuy vậy, vai trò của Thẩm phán Nhật Bản cũng khác với vai trò Thẩm phán Mỹ. Nhờ không tiếp thu chế định bồi thẩm của Mỹ mà các thẩm quyền của Thẩm phán Nhật Bản rộng hơn thẩm quyền của các Thẩm phán Mỹ. Trong thủ tục tố tụng, có sự thay đổi phương thức thẩm vấn nhân chứng theo kiểu tố tụng đối kháng.

Kết cấu của Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản cho thấy tố tụng hình sự Nhật Bản theo mô hình tố tụng tranh tụng có nguồn gốc sâu xa từ nguyên tắc tranh tụng của pháp luật Hoa Kỳ, thể hiện rõ qua việc chuyển từ nguyên tắc thẩm quyền sang áp dụng nguyên tắc đương sự, việc thay đổi quan hệ giữa tư pháp và kiểm sát trong vận dụng tư pháp hình sự bằng các quy định: Đảm bảo tính độc lập của Tòa án – Tòa án không được xem tài liệu của cơ quan điều tra. Hoạt động điều tra do cơ quan công tố và cảnh sát tiến hành, việc xem xét quyết định trong quá trình điều tra giao cho Thẩm phán. Vai trò tích cực trong tố tụng thuộc về Thẩm phán trước đây được trao cho Công tố viên và Luật sư bào chữa. Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ tranh luận với luật sư trước Tòa. Luật sư có quyền bình đẳng trong việc đề xuất tài liệu và tranh luận với Công tố viên tại phiên tòa. Hạn chế vai trò của Tòa án, cơ chế xem xét ban đầu của Thẩm phán bị xóa bỏ và quyền này được trao cho cơ quan điều tra. Tòa án đóng vai trò vị trí trung lập, lắng nghe tranh luận và đưa ra kết luận về các chứng cứ rồi tuyên án. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt lớn nhất giữa tổ tụng hình sự Nhật Bản với tố tụng hình sự Hoa Kỳ là BLTTHS Nhật Bản không quy định về chế định bồi thẩm. Ở Mỹ, Bồi thẩm đoàn quyết định bị cáo có tội hay không có tội, còn tội danh và hình phạt thuộc thẩm quyền quyết định của Thẩm phán. Tuy nhiên, Bồi thẩm đoàn chỉ tham gia luận tội khi bị cáo chối tội, nếu bị cáo nhận tội thì áp dụng thủ tục rút gọn, Thẩm phán sẽ quyết định hình phạt.

Trong khi đó, theo BLTTHS Nhật Bản thì cho dù bị cáo nhận tội, phiên tòa vẫn diễn ra bình thường theo nguyên tắc tranh tụng và sau đó Thẩm phán quyết định hình phạt. Trước khi xét xử, Công tố viên chỉ chuyển cho Tòa án bản cáo trạng, không chuyển hồ sơ vụ án. Hồ sơ vụ án chỉ chuyển cho Thẩm phán khi bắt đầu phiên tòa. Trong thực tiễn, các bên tranh tụng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ rất cẩn thận trước khi đưa ra tòa. Việc xem xét và tranh luận về các chứng cứ, tài liệu một cách công khai trong phiên tòa tạo điều kiện cho Thẩm phán xét xử công bằng và khách quan.

Quan hệ giữa cơ quan tư pháp cảnh sát – công tố – Tòa án đã có sự thay đổi. Theo quy định cũ thì cảnh sát giúp việc cho cơ quan công tố, cơ quan công tố chịu trách nhiệm điều tra. Quan hệ này là quan hệ trên – dưới.

Vai trò Công tố viên được cường theo nguyên tắc tranh tụng. Cơ quan công tố có trách nhiệm lập cáo trạng, đưa ra chứng cứ để chứng minh sự buộc tội. Tòa án chỉ xét xử, không điều tra như trước đây. Công tố viên tiến hành điều tra, giám sát hoạt động và quyền truy tố hoặc không truy tố.

Giai đoạn III. Từ đầu những năm 2000 cho đến nay, Nhật Bản đã có những nỗ lực để cải cách tư pháp về tố tụng hình sự. Chủ trương cải cách tư pháp của Nhật Bản xuất phát từ hiệu quả xét xử trên thực tế kông cao, thời gian nhiều phiên tòa xét xử còn kéo dài do không ít vụ án phức tạp, nghiêm trọng đã không chuẩn bị lập luận được đầy đủ; nội dung xét xử cũng khó hiểu đối với người dân, làm mất niềm tin của người dân đối với tư pháp. Năm 1999, Hội đồng tư vấn cải cách chế độ tư pháp đặt dưới chính phủ được thành lập đã kiến nghị kiện toàn và tăng tốc việc xét xử hình sự và hoàn thiện chế độ người dân tham gia vào thủ tục phiên tòa hình sự (hội thẩm nhân dân), thực hiện xét xử với trọng tâm là lập luận. Năm 2004 ban hành Luật sửa đổi phần 1 Luật tố tụng hình sự và hiện nay đang tiếp tục nghiên cứu sửa đổi BLTTHS với mục đích hoàn thiện các thủ tục tố tụng trước phiên tòa và kiện toàn việc công khai chứng cứ tại phiên tòa trên cơ sở quan điểm cải cách tư pháp và giải quyết các yêu cầu thực tiễn.

II. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA MÔ HÌNH TỔ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN

1. Mục tiêu và phương pháp của tố tụng hình sự

Điều 1 BLTTHS Nhật Bản quy định: “mục đích của Bộ luật là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng đối với vụ án hình sự trong khi vẫn xem xét đầy đủ đến việc duy trì phúc lợi công và đảm bảo nhân quyền đối với từng cá nhân”. Như vậy, mục tiêu tố tụng hình sự Nhật Bản yêu cầu xác định sự thật khách quan, bảo đảm công lý (mục tiêu và phương pháp luận mà hệ tố tụng thẩm vấn hướng tới) đồng thời bảo đảm quyền con người, duy trì phúc lợi công (mục tiêu và phương pháp luận mà hệ tố tụng tranh tụng hướng tới). Từ đó, tố tụng hình sự Nhật Bản sử dụng phương pháp của cả hai hệ thống tố tụng tranh tụng và thẩm vấn, vừa áp dụng nguyên tắc tranh tụng, đồng thời chú trọng phương pháp điều tra, thẩm vấn. Nghiên cứu tố tụng hình sự Nhật Bản cho thấy rõ tính chất tranh tụng qua hàng loạt quy định về yêu cầu và xác định chứng cứ chứng minh, kiểm tra nhân chứng, vị trí bình đẳng như nhau của các bên tranh tụng, nguyên tắc chỉ gửi bản cáo trạng nhằm loại bỏ thành kiến của Tòa án khi xét xử, giới hạn xét xử của Tòa án chỉ trong phạm vi buộc tội mà Công tố viên đưa ra và việc tranh tụng của các bên, vị trí độc lập của Tòa án đối với các bên… Bên cạnh đó, một số nguyên tắc của tố tụng thẩm vấn cũng được sử dụng như việc đương nhiên xác minh chứng cứ của Tòa án, xét xử không có Bồi thẩm đoàn, Tòa án có thể điều hành việc kiểm tra bằng chứng theo thẩm quyền của mình khi xét thấy cần thiết. Trong quá trình xét xử, nếu xét thấy hợp lý Tòa án có thể bổ sung hoặc thay đổi lý do, thay đổi điều khoản áp dụng hình phạt.

2. Vai trò của các chủ thể tham gia tố tụng

Vấn đề xác định mô hình tố tụng hình sự phải trên cơ sở xem xét toàn diện không chỉ ở mục tiêu, phương pháp tố tụng mà còn về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn các chủ thể tham gia tố tụng và mối quan hệ của các chủ thể này trong cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Luật tố tụng hình sự Nhật Bản phân chia quá trình tố tụng hình sự thành 4 giai đoạn: Giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử, giai đoạn truy tố và giai đoạn thi hành án, trong mỗi giai đoạn đều xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể tham gia tố tụng. Giai đoạn điều tra có sự tham gia của ba cơ quan là cơ quan cảnh sát, Viện công tố và Tòa án. Cơ quan Cảnh sát và Viện công tố tiến hành điều tra phát hiện tội phạm, Tòa án ban hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam theo đề nghị của cơ quan điều tra, Viện công tố. Giai đoạn truy tố gắn liền chỉ với vai trò cơ quan công tố và Công tố viên với quyền tùy nghi truy tố. Giai đoạn xét xử được thực hiện theo nguyên tắc tranh tụng, có sự tham gia của Thẩm phán, Công tố viên, luật sư bào chữa. Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để trình bày trước Tòa, tranh luận với luật sư và luật sư cũng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tranh luận với Công tố viên. Những hoạt động tố tụng tại phiên tòa do Thẩm phán điều khiển. Sau khi nghe các bên tranh luận, Thẩm phán tự mình đánh giá chứng cứ và rút ra kết luận rồi tuyên án. Giai đoạn thi hành án được bắt đầu khi bản án có hiệu lực (sau 2 tuần kế từ khi tuyên án). Cơ quan công tố có quyền ra quyết định thi hành án và giám sát việc thi hành án. Các trại cải tạo chịu trách tổ chức lao động cải tạo và quản lý phạm nhân.

Như vậy, trong năm chủ thể gia tố tụng thì cảnh sát, luật sư, thi hành án đóng vai trò quan trọng  trong một giai đoạn tố tụng, Tòa án đóng vai trò quan trọng không chỉ ở giai đoạn xét xử mà cả giai đoạn điều tra, chỉ có Viện công tố là cơ quan duy nhất có vai trò quan trọng suốt cả quá trình tố tụng: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Công tố viên không chỉ có “độc quyền truy tố” mà có thẩm quyền điều tra tội phạm, giám sát việc thi hành các quyết định của Tòa án, yêu cầu Tòa án áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án hình sự và thực hiện những công việc theo quy định của pháp luật với tư cách là người đại diện cho lợi ích công.

3. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của cơ quan tư pháp trong giai đoạn điều tra

Theo quy định của BLTTH, cơ quan có thẩm quyền điều tra chính ở Nhật gồm Cơ quan điều tra của cảnh sát (Cảnh sát tư pháp) và Viện công tố.

3.1. Cảnh sát tư pháp

Cảnh sát tư pháp có nhiệm vụ tiến hành điều tra và thu thập chứng cứ khi có tội phạm xảy ra (Điều 189, Điều 190 BLTTHS). Thẩm quyền điều tra của cảnh sát được phân thành hai loại: Điều tra chung và điều tra đặc biệt. Điều tra chung do lực lượng cảnh sát cấp khu vực tiến hành đối với các loại tội phạm hình sự thông thường như giết người, cướp, trộm cắp tải sản. Điều tra đặc biệt do cơ quan điều tra thuộc các Bộ, ngành tiến hành đối với những vụ án xảy ra trên các lĩnh vực chuyên ngành đó, chẳng hạn như điều tra các tội phạm trên biển, điều tra các tội phạm về rừng, điều tra các tội phạm về ma túy… Theo quy định của Luật tố tụng hình sự có 14 chủ thể có thẩm quyền điều tra đặc biệt gồm: Nhân viên các trại giam, nhân viên cảnh vệ Hoàng gia, nhân viên của cơ quan quản lý rừng, cán bộ địa phương có trách nhiệm kiểm soát việc săn bắn, thanh tra tiêu chuẩn lao động, thanh tra lao động trên biển, thuyền trường và các thủy thủ, nhân viên bảo vệ an ninh biển, nhân viên kiểm soát ma túy, Giám sát viên công tác mỏ, Giám sát viên ngư nghiệp, Quân cảnh của lực lượng phòng vệ, giám sát viên thuế quốc gia, thanh tra bưu điện. Ngoài ra còn có 5 cơ quan có thẩm quyền điều tra hành chính một số loại tội nhất định (ban đầu nhằm xác định chinh xác hành vi vi phạm, sau khi kết thúc các thủ tục điều tra người bị tình nghi phạm tội thì không gửi hồ sơ sang Viện công tố Nhật Bàn mà phải làm thủ tục tố cáo sang Viện công tố. Các thủ tục về tố tụng hình sự chính thức do Viện công tố quyết định). Các cơ quan này bao gồm: Ủy ban giám sát giao dịch chứng khoán, Ủy ban giao dịch lành mạnh, Tổng cục tín dụng, Cục bảo hiểm tiền tiết kiệm,… Ở lĩnh vực điều tra này, ngoài kiến thức pháp luật, nghiệp vụ điều tra đòi hỏi Điều tra viên phải có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành đó.

Hoạt động điều tra chung của cảnh sát và của cơ quan điều tra đặc biệt đều phải tuân thủ trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định. Nếu có tranh chấp về thẩm quyền điều tra thì cơ quan công tố với tư cách là cơ quan chỉ đạo hoạt động điều tra sẽ quyết định cơ quan nào tiến hành điều tra đối với từng vụ việc cụ thể.

3.2. Công tố viên

Quyền hạn của Công tố viên khi tiến hành các hoạt động điều tra cũng giống như quyền hạn của cảnh sát tư pháp, bao gồm quyền bắt giữ, khám xét và tịch biên, lưu trữ hồ sơ, kiểm tra các đối tượng, kiểm soát việc giao nhận và thu chặn các thông tin đối với các tội phạm có tính chất nghiêm trọng; hỏi đối tượng tình nghi và nhân chứng; đề nghị các tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin. Ngoài ra Công tố viên có các quyền hạn đặc biệt riêng gồm: Yêu cầu phê chuẩn việc tạm giam, lệnh thả đối tượng tạm giam, lấy lời khai của nhân chứng.

Mối quan hệ giữa cảnh sát – công tố trong hoạt động điều tra là quan hệ hợp tác và phối hợp với nhau, mỗi bên có quyền năng pháp lý độc lập của mình. Song Công tố viên có vai trò chỉ đạo “điều khiển chung” các hoạt động điều tra của cảnh sát, thậm chí ra chỉ thị cho cảnh sát. Trường hợp Viện công tố trực tiếp điều tra, nếu thấy cần thiết, Công tổ viên ra lệnh cho cảnh sát và yêu cầu họ trợ giúp rong việc điều tra. Cảnh sát phải tuân theo sự chỉ đạo và chi huy của Công tố viên (Điều 193 BLTTHS).

3.3. Thẩm phán

Thẩm phán cũng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình điều vụ án thông qua việc ban hành các lệnh bắt, giữ, trả tự do hoặc tạm giam. Để kiểm tra hoạt động điều tra của cảnh sát, hạn chế việc lạm dụng quyền hạn và xâm phạm quyền của công dân trong quá trình điều tra, BLTTHS quy định 2 hệ thống kiểm tra là kiểm tra của Công tố viên và Nguyên tắc lệnh của Thẩm phán trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam, trả tự do cho bị can, truy tố hoặc đình chỉ vụ án. Về nguyên tắc, không ai bị bắt nếu không có lệnh của Thẩm phán ngoại trừ bắt quả tang và bắt khẩn cấp. Việc khám xét, thu giữ, kiểm tra ngoài nơi bắt giữ chỉ thực hiện khi có lệnh của Thẩm phán. Chứng cứ sẽ không được chấp nhận nếu vi phạm nguyên tắc lệnh.

4. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tổ và Công tố viên trong tố tụng hình sự

Hoạt động công tố thể hiện bằng những hoạt động tìm kiếm chứng cứ chứng minh tội phạm, đưa vụ án ra Tòa bằng bản cáo trạng, trình hồ sơ, tài liệu chứng cứ trước Tòa để buộc tội bị cáo. BLTTHS không quy định về tiêu chuẩn thu thập chứng cứ để truy tố. Về mặt lý thuyết, Công tố viên có thể truy tố vụ án khi chưa đầy đủ chứng cứ. Tuy nhiên trong thực tế một Công tố viên không bao giờ truy tố bị can khi chưa có đủ chứng cứ. Công tố viên chi truy tố bị can khi anh ta chắc chắn rằng người bị tình nghi sẽ bị Tòa án kết tội. Tuy nhiên, với quyền “độc quyển truy tố” Công tố viên lại có quyền đình chỉ vụ án, không truy tố thậm chí cả khi vụ án đó có đủ chứng cứ đảm bảo chắc chắn rằng bị can có tội. Việc quyết định truy tố hoặc không truy tố của Công tố viên trên cơ sở cân nhắc các yểu tố về tính chất tội phạm, độ tuổi, môi trường, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết phạm tội, tình huống xảy ra sau khi có sự kiện phạm tội (Điểu 248 BLTTHS).

Việc truy tố phải được quyết định bằng bản cáo trạng và gửi đến Tòa án. Ở giai đoạn trước khi xét xử, Công tố viên chỉ gửi cáo trạng đến Tòa án mà không gửi hồ sơ. Khi bắt đầu vào phiên tòa thì Công tố viên chuyển hồ sơ cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Quy định này nhằm bảo đảm cho Thẩm phán không bị thiên lệch trong việc nghiên cứu, điều tra chứng cứ để kết luận về vụ án.

Như vậy, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Công tố viên Nhật Bản so với các hệ thống tố tụng trên thế giới, có thể thấy rõ 3 điểm khác biệt cơ bản như sau:

Một là, Công tố viên trực tiếp và chủ động tham gia các hoạt động thu thập chứng cứ một cách trực tiếp thể hiện thông qua việc tiến hành thẩm vấn người bị tình nghi và nhân chứng. Thông thường, việc điều tra do các nhân viên cảnh sát tư pháp tiến hành và Công tố viên kiểm tra lại việc điều tra sau khi tiếp nhận vụ án. Công tố viên có thể tự mình tiến hành điều tra khi thấy cần thiết, có quyền chỉ đạo nhân viên cảnh sát trong việc điều tra hoặc hợp tác với nhân viên cảnh sát trong việc điều tra.

Hai là, Công tố viên tiến hành truy tố chỉ khi việc kết án chắc chắn được đưa ra. Công tố viên độc quyền truy tố, cá nhân không được phép thực hiện việc truy tố.

Ba là, Công tố viên có quyền quyết định truy tố hoặc không truy tố theo nguyên tắc tùy nghi truy tố. Ngay cả khi không có nghi ngờ gì về tội phạm thì Công tố viên vẫn có thể lựa chọn việc không truy tố (quy định này đối lập với nguyên tắc bắt buộc truy tố trong hệ tố tụng thẩm vấn).

5. Bị cáo và quyền bào chữa của bị cáo

Quyền bào chữa, quyền được giúp đỡ về pháp lý là quyền cơ bản của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Bị cáo, người bị tình nghi và người đại diện của họ có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất cứ lúc nào (Điều 30). Người bào chữa có thể là luật sư hoặc bất kỳ người nào có chuyên môn pháp lý, công tâm, không trái ý bị cáo, được bị cáo nhờ hoặc Công tố viên, Tòa án chỉ định. Đại diện pháp lý, người giám hộ, vợ hoặc chồng, họ hàng trực hệ, anh chị em của bị can, bị cáo có thể độc lập chỉ định người bào chữa hoặc giúp đỡ cho bị cáo vào bất kì thời điểm nào và phải nộp đơn tại mỗi cấp xét xử.

Tòa án bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo trong các trường hợp: Bị cáo là người chưa thành niên (người dưới 20 tuổi); bị cáo từ đủ 70 tuổi trở lên; bị cáo là người câm, người điếc hoặc khi nghi ngờ bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc không có khả năng nhận thức và trường hợp cần thiết khác mà bị cáo yêu cầu nhà nước chỉ định người bào chữa, về nguyên tắc trường hợp bị cáo bị truy tố về tội có mức hình phạt tử hình, tù khổ sai, chung thân hoặc tù có thời hạn tối đa từ ba năm trở lên đều phải có luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không có khả năng thuê luật sư thì Công tố viên hoặc Thẩm phán phải chỉ định luật sư cho họ.

Bị cáo có quyền đề nghị thay đổi luật sư nếu có lý do chính đáng. Nhưng nếu lý do bị cáo đưa ra không có căn cứ thì Tòa án vẫn tiếp tục xét xử nhằm tránh việc hạn chế quyền bào chữa của bị cáo nhưng đồng thời cũng ngăn ngừa việc bị cáo lợi dụng quy định được thay đổi luật sư để trì hoãn việc xét xử.

Nhật Bản quy định Công tổ viên, bị cáo và người bào chữa có vị trí bình đẳng trong quá trình tham gia tố tụng. Do bị cáo là người không có chuyên môn pháp lý và không có bất kỳ quyền hạn gì để thu thập bằng chứng trong giai đoạn điều tra nên Luật tố tụng hình sự quy định họ có một số quyền để bảo đảm được bình đẳng về phương diện pháp lý: Quyền có luật sư biện hộ, quyền yêu cầu chỉ định một Luật sư biện hộ chính thức, quyền được liên lạc và phỏng vấn, quyền giữ im lặng… Bên cạnh đó, bị cáo có nghĩa vụ hợp tác như nghĩa vụ có mặt tại Tòa án, ở lại tòa và giữ trật tự tại Tòa (các điều 301, 36, 39, 3111).

Bị cáo và luật sư biện hộ có địa vị bình đẳng với Công tố viên và đưa ra những lập luận chống lại cáo buộc của Công tố viên. Bị cáo có địa vị bình đẳng với Công tố viên trong việc thu thập tài liệu, đưa ra chứng cứ chứng minh, tham gia các hoạt động để thu thập bằng chứng. Bị cáo, người bào chữa có quyền tham gia các hoạt động khám xét, thu giữ, yêu cầu và kiểm tra chứng cứ, chất vấn nhân chứng, tranh luận về bắt buộc chứng minh chứng cứ, phản đối việc kiểm tra chứng cứ. Bị cáo cũng có quyền yêu cầu nhập các vụ án để xét xử, chuyển vụ án, quyền đưa ra quan điểm phản bác, quyền được tiếp nhận các văn bản của Tòa án, yêu cầu thay đổi ngày xét xử (các điều 113-1, 142, 157, 2981, 30411, 308, 3091, 8, 191, 21, 49, 276-lBLTTHS).

6. Mối quan hệ buộc tội – bào chữa – Tòa án và nguyên tắc xét xử tranh tụng

6.1. Mối quan hệ luật sư bào chữa với Công tố viên

Công tố viên và luật sư bình đẳng với nhau về quyền độc lập thu thập chứng cứ và trình bày chứng cứ tại phiên tòa và Tòa án tạo điều kiện cho hai bên thực hiện quyền đó.

6.2. Nguyên tắc xét xử tranh tụng và quan hệ các bên

Thẩm phán có vai trò như một trọng tài, có quyền đưa ra phán quyết công bằng trên cơ sở bằng chứng mà Công tố viên và luật sư bào chữa đưa ra. Điều này được bảo đảm trên nguyên tắc loại trừ định kiến, chỉ đệ trình cáo trạng. Nội dung cáo trạng được trình lên Thẩm phán hết sức ngắn gọn và cô đọng, chỉ bao gồm tên và những thông tin khác về nhân thân của bị cáo, những sự kiện cấu thành tội phạm bị truy tố, tội danh. Việc nắm giữ và xử lý tài liệu điều tra được giao cho Công tố viên nhằm tránh không để Thẩm phán bị tác động bởi kết quả điều tra trong việc ra phán quyết.

Trong giai đoạn xét xử, Công tố viên chịu trách nhiệm chứng minh theo nguyên tắc tranh tụng, chỉ đệ trình cáo trạng. Thẩm phán xét xử công bằng và không định kiến. Trước khi bắt đầu phiên tòa, các Thẩm phán chỉ được đọc cáo trạng. Tất cả các tài liệu và chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điều tra do Công tố viên giữ và lựa chọn, trình lên Tòa án với tư cách là bằng chứng theo quyết định của Công tố viên.

Về mặt lý thuyết, Tòa án có quyền xử tội danh nhẹ hơn tội danh mà Viện công tố đã truy tố song trên thực tế, Tòa án vẫn cần có sự đồng ý của Công tố viên. Trong quá trình chứng minh tại phiên tòa, khi xét thấy cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn thì Công tố viên thay đổi cáo trạng, nếu không Tòa sẽ yêu cầu Công tố viên làm điều đó. Trong trường hợp này Tòa án phải hoãn phiên tòa để tạo điều kiện cho Công tố viên thay đổi cáo trạng và không gây hại đến quyền bào chữa của bị cáo (Điều 312 BLTTHS).

Thủ tục xét xử được tổ chức theo nguyên tắc tranh tụng. Công tố viên và bị cáo, luật sư có quyền tranh tụng về bằng chứng đưa ra. Bị cáo có quyền giữ im lặng trong toàn bộ quá trình xét xử hoặc từ chối trả lời những câu hỏi có tính chất riêng tư. Các bên có quyền bác bỏ việc kiểm tra bằng chứng, bác bỏ biện pháp do Thẩm phán chủ tọa đưa ra. Công tố viên hoặc bị cáo có thể kháng cáo. Tuy nhiên, việc xét xử không có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn, và đây là điểm khác biệt của tố tụng hình sự Nhật Bản so với mô hình tố tụng xét xử tranh tụng (các điều 308, 311, 351).

Việc thẩm vấn các nhân chứng và bị cáo của Thẩm phán chỉ là phụ. Tòa án có thể thay đổi lịch xét xử, thay đổi chủ tọa phiên tòa, hạn chế việc thẩm vấn và lấy lời khai, tạm hoãn và mở phiên tòa mới.

Thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng trong giai đoạn truy tố và xét xử do Công tố viên quyết định, không áp dụng trong giai đoạn điều tra. Điều kiện áp dụng thủ tục này là loại tội có hình phạt tiền và mức phạt tiền không quá 5000 Yên, phải có sự đồng ý của bị can, không áp dụng đối với trường hợp bị can phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng hoặc có nhân thân xấu (có nhiều tiền án, tiền sự hoặc sau khi phạm tội không chịu khắc phục hậu quả hay không bồi thường thiệt hại).

7. Vai trò của người bị hại

Nếu người bị hại có yêu cẩu, Tòa án sẽ xét xử vụ án có thể cho phép người bị hại kiểm tra, sao chép biên bản phiên toà nếu việc đó là cần thiết để người bị hại thực hiện quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Quyết định của Tòa về việc chấp nhận hoặc từ chối cho người bị hại kiểm tra, sao chép biên bản phiên tòa được giải quyết theo thủ tục hành chính và do vậy không thể bị chống án lên Tòa án cấp trên.

Một số nhận xét

Từ mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp đối tụng mà tố tụng hình sự sử dụng, địa vị pháp lý và mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử,… có thể nói mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản mang đặc trưng cơ bản của tố tụng tranh tụng, mặc dù ngay trong nguyên tắc đặc trưng nhất của tố tụng tranh tụng đã có những yếu tố của hệ tố tụng thẩm vấn như xét xử tranh tụng không có Bồi thẩm đoàn, nguyên tắc tùy nghi truy tố, giới hạn xét xử, vai trò của Công tố viên trong giai đoạn điều tra…

Khác với tố tụng hình sự Hoa Kỳ, tố tụng hình sự Nhật Bản vận dụng nguyên tắc điều tra chính xác trên cơ sở áp dụng luật chứng cứ, không truy tố nếu khà năng có được phán quyết có tội không cao và chế độ xét xử không có bồi thẩm. Đây chính là những đặc điểm cơ bản của hệ tố tụng hình sự thẩm vấn mà Nhật Bản đã tiếp thu và thể hiện trong mô hình tố tụng hình sự của mình. Với mô hình tố tụng hình sự vừa có tính chất của hệ tố tụng tranh tụng, vừa mang đặc điểm của hệ tố tụng hình sự thẩm vấn, tố tụng hình sự Nhật Bản đã đạt được mục đích “làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng tội phạm trong khi vẫn xem xét đầy đủ việc duy trì phúc lợi công và bảo đảm nhân quyên đối với từng cá nhân”.

Theo đánh giá của chuyên gia Nhật Bản thì hệ thống tố tụng hình sự hiện tại của Nhật Bản có sự kết hợp giữa luật lục địa có nguồn gốc từ Pháp, Đức và tư tưởng của thông luật từ Hoa Kỳ. Hệ thống xét xử nhấn mạnh hơn vào nguyên tắc tranh tụng. Các Thẩm phán có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh quy định về chống định kiến nhằm ngăn ngừa bất cứ suy đoán nào trước khi xét xử. Công tố viên chịu trách nhiệm thực hành quyền công tố, đồng thời đại diện cho lợi ích công. Do đó với việc ra đời của các khái niệm về tư pháp mới như nguyên tắc độc quyền truy tố của nhà nước, nguyên tắc độc quyền truy tố của Công tố viên và truy tố tùy nghi, các Công tố viên đã có vai trò tư pháp cao hơn trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự.

Có thể nói pháp luật Nhật Bản đương đại là sự kết hơp đặc biệt của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa với hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Trong nhiều thế kỷ, Nhật Bản đã khôn khéo trong việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng hệ thống pháp luật nước mình. Trong xu thế hội nhập và phát triển chung của thế giới, không một hệ thống pháp luật nào có thể tồn tại và phát triển tách biệt hoàn toàn với hệ thống pháp luật khác, nhưng cần tìm hiểu, nghiên cứu để xem xét, tiếp thu trên cơ sở đánh giá tính phù hợp của các chế định đó với các điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước. Mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản là kinh nghiệm quý báu cho chúng ta trong việc nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) phù hợp với điều kiện thực tiễn và truyền thống pháp lý đất nước, có tính khả thi và có hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo chân lý khách quan, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản.

2. Sổ tay Kiểm sát viên hình sự Nhật Bản.

3. Tố tụng hình sự so sánh – Bản dịch của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.

4. Các bài giới thiệu của chuyên gia Nhật Bản về hệ thống các cơ quan tư pháp Nhật Bản và mô hình Viện công tố Nhật Bàn tại các cuộc hội thảo do Dự án quốc tế cùa Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và các nguồn khác.

Bạn đang xem bài viết Mô Hình Var ( Value At Risk) trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!