Xem Nhiều 12/2022 #️ Những Kỹ Thuật Xét Nghiệm Mới Bạn Đã Biết? / 2023 # Top 19 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Những Kỹ Thuật Xét Nghiệm Mới Bạn Đã Biết? / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Kỹ Thuật Xét Nghiệm Mới Bạn Đã Biết? / 2023 mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chúng tôi xin giới thiệu một số quan niệm mới và ứng dụng mới, có hy vọng sẽ áp dụng trong vòng những năm gần đây và sẽ thay đổi rất nhiều những cách chúng ta đang dùng bây giờ. Nói là mới vì chưa dùng thường xuyên trong tiến trình xét nghiệm hiện nay, nhưng đã có nhiều nghiên cứu tìm thấy trong thời gian gần đây.

Những Kỹ thuật Xét nghiệm mới bạn đã biết?

1/Bệnh tiểu đường:

Đo AGE ( Advanced Glycation End products) tạm dịch là những sản phẩm cuối cùng của phản ứng giữa protein với đường aldose và oxyt hóa, làm sắp đặt lại cấu trúc phân tử chỗ gắn vào đường bằng dấu nối covalent, sinh ra những hợp chất phát huỳnh quang màu vàng nâu. AGE là chất trung gian sinh ra những gốc tự do tấn công mạch máu và các cơ quan khác trong cơ thể, nên nếu đó được lượng AGE trong huyết tương bằng cách phân tích định lượng quang phổ thì không những xét nghiệm dễ thực hiện hơn vì không phải đâm kim vào da như hiện nay và kết quả cũng có độ nhạy không kém đo mức glucose trong máu hay đo mức HbA1C.

2/ Bệnh rối loạn lipid:

Đo ApoB và non-HDL, hiện nay khi làm lipid profile, người ta chỉ đó cholesterol toàn phần, LDL-C hay cholesterol xấu và HDL-C hay cholesterol tốt. Tuy nhiên một số người vẫn bị nguy hiểm tim mạch mặc dầu mức LDL vẫn ở trong mức đòi hỏi. Từ đó người ta đề nghị đo mức non HDL bằng cách lấy hiệu số cholesterol toàn phần trừ mức HDL-C. Hiện nay đo non HDL chưa phổ thông. Ngoài ra, ApoB là chất đánh dấu trên những lipoprotein chuyên chở cholesterol về gan, nơi đây sẽ có những thụ thể nhận diện được LDL để giữ lại và loại thải. Những lipoprotein có AopB được xem là những chất sinh xơ vữa mạch máu. Một số nghiên cứu cho biết đo mức ApoB cũng chính xác như đo non HDL.

Phương pháp xét nghiệm mới được hỗ trợ bằng máy móc hiện đại

3/ Bệnh suy thận:

a/ Đo albumin niệu:

Hiện nay người ta chỉ đo được albumin niệu khi bài tiết số lượng lớn trong nước tiểu, nhưng khi albumin bài tiết dưới 30 mg mỗi ngày hay dưới 20-200 mcg/phút thì gọi là microalbumin niệu và không thể đo được bằng phương pháp thông thường mà phải đo bằng phản ứng miển nhiễm đắt tiền. Mặt khác, microalbumin có 1 phần có phản ứng miển nhiễm và một phần không có phản ứng miển nhiễm, do đó mặc dầu đã đo bằng phản ứng miển nhiễm, chúng ta vẫn không đo được phần không có phản ứng miển nhiễm. Phương pháp xét nghiệm hiện nay đề nghị dùng ống sắc kế lỏng để đo albumin niệu chính xác hơn.

b/ Độ lọc tiểu cầu thận (GFR):

Muốn biết được tình trạng bài tiết của thận, người ta phải dựa vào tốc độ lọc của tiểu cầu thận (GFR). Tuy nhiên hiện nay chưa có phương pháp đo trực tiếp, mà thường dùng độ thanh thải của creatinin để đoán tốc độ lọc của tiểu cầu thận.

Hiện nay phương pháp đó creatinin trong huyết thanh cũng chưa chính xác.

Phương pháp thứ nhất, gọi là alkaline picrate của Jaffe, creatinin tác dụng với ion picric trong môi trường kiềm, tạo ra một hợp chất phân tử tương đương màu vàng-đỏ có thể đo màu được. Mặc dầu phương pháp này thông dụng và rẻ tiền, nhưng dễ bị can thiệp. Những chất như glucose, ascorbat và uric acid có thể khử chậm alkaline picrate, trong khi acetoacetate, pyruvate, những chất ketoacid khác, nhiều loại protein, một số cephalosporin cũng có thể tương tác với alkaline picrate để tạo phức hợp vàng-đỏ làm tăng mức cratinin lên đến 20%. để tránh tương tác này, có thuốc thử tính đúng thời gian hợp chất alkaline picrate xảy ra nhiều nhất, để loại những tạp chất khác có thể xảy ra không cùng lúc.

Phương pháp thứ hai dựa vào phản ứng enzym như creatinine deaminase để tạo ammonia và N-methylation. Ammonia sẽ được định lượng qua phản ứng với chất màu bromophenol xanh. Cũng có phản ứng enzym khác thoái hóa creatinin để sinh hydrogen peroxyde, sau đó định lượng với phản ứng 2,4,6 tribromo-3-hydroxybenzoic acid,4-aminoantipyrine và peroxidase để tạo phản ứng màu tím chinone. Phương pháp đo enzym đắt tiền nên ít thông dụng. Sau khi có creatinine huyết thanh, thông thường dùng phương trình CG (Cockcroft-Gault) tính độ thanh thải, dựa trên phái tính, tuổi tác và cân nặng. Nhưng khi bệnh nhân quá nhẹ cân hay quá béo mập, hay tuổi quá cao độ thanh thải cũng không đúng.

Do đó hội bệnh thận Hoa-kỳ đề nghị dùng công thức MDRD (Modified Diet Renal Disease) lúc đầu dựa trên 6 biến số nay rút gọn lại thành 4 biến số gọi eGFR (estimated GFR) gọi là phương trình MDRD 4 (abbreviated 4-variable MDRD):

GFR = 186 x (SCr)-1.154 x(tuổi)-0.203 x (0.742 nếu phái nữ) x (1.210 nếu gốc Phi châu)

Phương pháp đo creatinin mới có thể sẽ áp dụng vào năm 2008.

c/ Đo mức thiếu máu ở người suy thận:

Ngoài những thông số thông thường như hemoglobin và hematocrit, và nồng độ sắt, hiện nay hội kiểm tra chất lượng kết quả điều trị bệnh thận (KDOQC: Kidney disease Outcome Quality Initiative) đề nghị đo hàm lượng hemoglobin trong hồng cầu lưới (Reticulocyte hemo- globine content) thay vì đo lượng sắt trong huyết thanh vì khi transferrin, giảm albumin huyết hay có bệnh mãn tính thì nồng độ sắt đo được sẽ giảm.

Cũng cần nhắc lại là hãng bảo hiểm sức khỏe kể cả ở Việt-nam chịu thanh toán epoietin để tăng huyết cho người thiếu máu do suy thận mãn. Tuy nhiên, những nghiên cứu mới đây cho thấy nếu cố gắng đưa mức hemoglobin lên trên 12 g/dl thì số tử vong tăng. Do đó hướng dẫn mới nhất yếu cầu đưa mức hemoglobin mục tiêu xuống 11 g/dl.

Nguồn: Cao đẳng Y Dược Pasteur

Kỹ Thuật Xét Nghiệm Nat / 2023

Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương tổ chức gặp mặt báo chí tiếp nhận giới thiệu công nghệ “Ứng dụng kỹ thuật xét nghiệm NAT – Đảm bào an toàn truyền máu” với sự hỗ trợ của Công ty Roche Việt Nam ngày 26-4-2016.

Kỹ thuật Xét nghiệm NAT – Đảm bảo an toàn truyền máu?

Kỹ thuật xét nghiệm NAT đã giúp phát hiện hàng trăm mẫu máu nhiễm các bệnh nguy hiểm mặc dù trước đó xét nghiệm huyết thanh cho kết quả âm tính.

Kỹ thuật NAT hiện là kỹ thuật xét nghiệm sàng lọc máu tiên tiến nhất, được thực hiện trên máy xét nghiệm sinh học phân tử hoàn toàn tự động sàng lọc vi rút viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV), HIV cho độ chính xác, độ nhạy cao, đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc rút ngắn thời gian cửa sổ phát hiện các vi rút. Kỹ thuật này mở ra kỷ nguyên mới bảo đảm an toàn truyền máu, cung cấp nguồn máu an toàn kịp thời.

Năm 2015 cả nước tiếp nhận được 1.160.726 đơn vị máu toàn phần và khối tiểu cầu gạn tách từ một người hiến. Trong đó, ngoài việc xét nghiệm sàng lọc cho 100% đơn vị máu bằng kỹ thuật huyết thanh học phát hiện nhiễm vi rút HBV, HCV, HIV, giang mai, sốt rét… trong đó bước đầu thực hiện xét nghiệm sàng lọc bằng kỹ thuật NAT cho 417.893 mẫu máu, đạt 36%, tổng số máu tiếp nhận và sử dụng; phát hiện được 442 mẫu máu nhiễm bệnh, ước tính xét nghiệm NAT có thể phát hiện được mẫu nhiễm HBV là 1/1.184 mẫu; HCV là 1/37.990 mẫu; với HIV là 1/83.579 mẫu đã có xét nghiệm huyết thanh học âm tính trước đó.

Tại buổi họp báo, GS Nguyễn Anh Trí – Viện trưởng Viện Huyết học Truyền máu Trung ương cho biết: “Kỹ thuật NAT được thực hiện trên máy xét nghiệm sinh học phân tử hoàn toàn tự động sàng lọc virus HBV, HCV, HIV cho độ chính xác cao, độ nhạy cao, đem hiệu quả rõ rệt trong việc rút ngắn thời gian cửa số phát hiện các virus. Kỹ thuật này mở ra kỷ nghiên mới đảm bảo an toàn truyền máu, cung cấp nguồn máu an toàn kịp thời”.

Viện Huyết học Truyền máu Trung ương là đơn vị đầu tiên sử dụng kỹ thuật sàng lọc máu bằng phương pháp xét nghiệm NAT.

Ngoài việc tự động sàng lọc các virus như HIV, kỹ thuật xét nghiệm này còn trực tiếp phát hiện các ADN hoặc RNA của virus thông qua các nhân bản đoạn gen đặc hiệu của virus và sau đó xác định chính xác virus đã nhiễm, rút ngắn thời gian cửa sổ phát hiện virus lây nhiễm và cho kết quả có độ nhạy cao.

Công nghệ Kỹ thuật Xét nghiệm NAT

“Nếu như trước kia, để phát hiện chính xác máu có bị nhiễm virus hay không, người ta sử dụng phương pháp xét nghiệm Elisa. Với phương pháp này, khoảng thời gian cửa sổ cho HIV là 3 tháng, còn viêm gan B là 85 ngày. Nhưng với việc áp dụng phương pháp này, khoảng thời gian cửa sổ cho xét nghiệm virus HIV chỉ còn 7 đến 10 ngày”, GS Trí cho biết thêm.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, truyền máu là một trong 3 yếu tố đánh giá sự phát triển y tế của mỗi quốc gia. Lãnh đạo Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương thông tin: năm 2016, cả nước dự kiến tiếp nhận khoảng 1,3 triệu và đạt 1,8 triệu đơn vị máu vào năm 2020. Do vậy việc đảm bảo an toàn truyền máu luôn được đặt lên hàng đầu, trong đó xét nghiệm sàng lọc máu, đảm bảo an toàn truyền máu là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất góp phần đạt được mục tiêu phát triển y tế của đất nước.

Các Dịch Vụ, Các Kỹ Thuật Xét Nghiệm Sàng Lọc Máu Tại Viện / 2023

Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y tế quy định bắt buộc phải thực hiện xét nghiệm sàng lọc một số tác nhân lây truyền bệnh (xét nghiệm sàng lọc HIV, viêm gan vi rút B, viêm gan vi rút C và vi khuẩn gây bệnh giang mai) đối với đơn vị máu hiến tặng để nhằm đảm bảo an toàn truyền máu.

Thời gian gần đây, do tác động của toàn cầu hóa, giao thương, du lịch, tỷ lệ nhiễm các vi rút lây truyền qua đường truyền máu và một số các vi rút nguy hiểm ngày càng cao và có xu hướng lan rộng trong cộng đồng. Chính vì vậy các hoạt động tuyên truyền, tuyển chọn người hiến máu, xét nghiệm sàng lọc máu càng đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an toàn truyền máu.

I. CÁC DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM ĐƯỢC THỰC HIỆN TẠI KHOA XÉT NGHIỆM SÀNG LỌC MÁU

Khoa Xét nghiệm sàng lọc máu của Viện Huyết học – Truyền máu TW đã đạt chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn ISO 9001:2008 (28/12/2011), chứng nhận ISO 9001:2015 (2019), giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn TCVN ISO 13485:2001 (3/2/2016) và tiêu chuẩn TCVN ISO 15189:2014 (30/8/2016).

Với việc áp dụng các kỹ thuật xét nghiệm hiện đại, tự động, Khoa Xét nghiệm sàng lọc máu đang thực hiện các xét nghiệm sau:

Xét nghiệm HBsAg bằng kỹ thuật hóa phát quang hoặc điện hóa phát quang

Xét nghiệm Anti-HCV bằng kỹ thuật hóa phát quang hoặc điện hóa phát quang

Xét nghiệm kháng nguyên kháng thể HIV bằng kỹ thuật hóa phát quang hoặc điện hóa phát quang

Xét nghiệm CMV-IgM bằng kỹ thuật điện hóa phát quang

Xét nghiệm giang mai bằng kỹ thuật TPHA

Xét nghiệm sinh học phân tử NAT phát hiện HBV, HCV, HIV

Sản xuất mẫu chứng nội kiểm xét nghiệm (HBsAg, Anti-HCV, kháng nguyên kháng thể HIV, giang mai, kháng thể bất thường, HBV-ADN, HCV-ARN, HIV-ARN)

Xét nghiệm khẳng định các trường hợp HIV dương tính cho bệnh nhân và người hiến máu (Phòng xét nghiệm HIV được Bộ Y tế cho phép)

Xét nghiệm định nhóm máu hệ ABO, Rh

Xét nghiệm sàng lọc kháng thể bất thường

Định nhóm kháng nguyên hệ hồng cầu (E, Mia….) cho đơn vị máu

II. CÁC XÉT NGHIỆM THỰC HIỆN ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ MÁU TỪ NGƯỜI HIẾN MÁU

Mẫu máu từ người hiến máu được đựng trong 3 loại ống khác nhau:

Ống 2ml máu toàn phần được chống đông bằng EDTA: Sử dụng cho xét nghiệm định nhóm máu, sàng lọc kháng thể bất thường và giang mai;

Ống 4ml máu toàn phần, được chống đông bằng EDTA: Sử dụng cho xét nghiệm sàng lọc huyết thanh học HBsAg, Anti-HCV, kháng nguyên kháng thể HIV, CMV-IgM (nếu có);

Ống 6ml máu toàn phần, được chống đông bằng EDTA: Sử dụng cho xét nghiệm sinh học phân tử (NAT), sàng lọc HBV, HCV, HIV.

Các mẫu máu từ người hiến máu sau khi được kiểm tra đảm bảo đủ điều kiện đưa vào xét nghiệm (thể tích, nhiệt độ vận chuyển, độ tán huyết và mỡ máu…) sẽ được nhập vào phần mềm quản lý xét nghiệm để khai báo và chỉ định xét nghiệm trên phần mềm.

Nhận bàn giao mẫu xét nghiệm và nhập thông tin mẫu xét nghiệm vào phần mềm quản lý xét nghiệm sàng lọc máu

Các xét nghiệm được tiến hành đối với mẫu máu từ người hiến máu bao gồm:

1. Xét nghiệm định nhóm máu, sàng lọc kháng thể bất thường và giang mai

Thiết bị thực hiện xét nghiệm: Máy xét nghiệm Olympus PK7300.

Máy xét nghiệm tự động hoàn toàn, công suất xét nghiệm cao: 300 test/giờ.

Việc kiểm tra chất lượng xét nghiệm định nhóm máu, sàng lọc kháng thể bất thường và giang mai được thực hiện định kỳ hằng ngày trước khi tiến hành xét nghiệm và sau mỗi 12 giờ thiết bị xét nghiệm liên tục.

Phương pháp xét nghiệm: Ngưng kết hạt.

Hệ thống máy xét nghiệm định nhóm máu PK7300 sử dụng trong xét nghiệm định nhóm máu, sàng lọc kháng thể bất thường, giang mai

Các bước thực hiện:

Mẫu máu được ly tâm để phân tách huyết tương và hồng cầu.

Mẫu máu được đưa vào máy xét nghiệm, máy sẽ tự động quét mã barcode, tự động xử lý mẫu và sau 1 giờ máy xét nghiệm sẽ in ra kết quả nhóm máu; đồng thời, kết quả xét nghiệm sẽ được chuyển tự động ra phần mềm quản lý xét nghiệm.

Thời gian trả kết quả xét nghiệm: 3,5 giờ/200 mẫu.

2. Xét nghiệm định nhóm kháng nguyên hồng cầu (E, Mia)

Chỉ sử dụng cho những trường hợp chỉ định của bác sĩ lâm sàng.

Mẫu máu được đưa vào xét nghiệm để chọn ra những những đơn vị máu có kháng nguyên hệ hồng cầu như kháng nguyên E, kháng nguyên Mia âm tính.

Việc truyền các các đơn vị có kháng nguyên hệ hồng cầu âm tính có thể giúp bệnh nhân giảm sinh các kháng thể do truyền máu nhiều lần.

3. Xét nghiệm sàng lọc HBsAg, kháng thể HCV, kháng nguyên kháng thể HIV, kháng thể CMV-IgM (nếu có).

Thiết bị thực hiện xét nghiệm: Máy xét nghiệm Roche cobas 8000, Abbott Alinity.

Máy xét nghiệm tự động hoàn toàn.

Việc kiểm tra chất lượng xét nghiệm xét nghiệm HBsAg, kháng thể HCV, kháng nguyên kháng thể HIV, kháng thể CMV-IgM (nếu có) được thực hiện định kỳ hằng ngày trước khi tiến hành xét nghiệm và sau mỗi 12 giờ thiết bị xét nghiệm liên tục.

Phương pháp xét nghiệm: Hóa phát quang/điện hóa phát quang.

Hệ thống máy xét nghiệm Roche cobas 8000, Abbott Alinity i sử dụng cho xét nghiệm sàng lọc HBsAg, kháng thể HCV, kháng nguyên kháng thể HIV

Các bước thực hiện:

Mẫu máu được đưa vào hệ thống tiền phân tích để ly tâm với tốc độ 3.000 vòng/10 phút, mẫu ly tâm xong được mở nắp tự động và tự động chuyển vào module xét nghiệm;

Máy xét nghiệm quét barcode ống mẫu, xử lý mẫu và tự động xét nghiệm hoàn toàn. Sau 30 phút, máy xét nghiệm sẽ in ra kết quả xét nghiệm đầu tiên và lần lượt cho ra kết quả các mẫu xét nghiệm tiếp theo.

Kết quả được đẩy tự động ra phần mềm quản lý xét nghiệm sàng lọc máu.

Thời gian trả kết quả xét nghiệm: 3,5 giờ/200 mẫu.

4. Xét nghiệm sàng lọc HBV-ADN, HCV-ARN, HIV-ARN bằng kỹ thuật sinh học phân tử (NAT)

Thiết bị thực hiện xét nghiệm: Máy xét nghiệm Roche cobas 6800, Grifols Panther Procleix.

Phương pháp xét nghiệm: Realtime PCR, khuếch đại qua trung gian phiên mã (TMA).

Xét nghiệm NAT phát hiện HBV-ADN, HCV-ARN, HIV-ARN được thực hiện sàng lọc cho 100% đơn vị máu hiến tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương từ 1/1/2015.

Tất cả các mẫu máu có kết quả xét nghiệm HBsAg, kháng thể HCV, kháng nguyên kháng thể HIV không phản ứng được đưa vào làm xét nghiệm NAT.

Thời gian thực hiện xét nghiệm: tối thiểu 552 mẫu/3,5 giờ.

Hệ thống máy xét nghiệm Roche cobas 6800 và Grifols Panther Procleix sử dụng để xét nghiệm sàng lọc HBV-ADN, HCV-ARN, HIV-ARN bằng kỹ thuật sinh học phân tử (NAT)

ThS. Nguyễn Thị Thanh Dung

Trưởng Khoa Xét nghiệm sàng lọc máu

(Ảnh: Công Thắng)

Kỹ Thuật Xét Nghiệm Lai Tại Chỗ Nhiễm Sắc Thể Gắn 2 Màu (Dual / 2023

Trong UTBMDD, các số liệu thu được từ những nghiên cứu khác nhau còn chưa thật thống nhất: có nghiên cứu thấy chỉ có 5,6% số BN có tăng biểu lộ HER2, trong khi một số nghiên cứu khác lại công bố tỷ lệ có khuếch đại HER2 tới 33-74%. Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây thường cho thấy khoảng 15-20% các trường hợp UTBMDD có tăng biểu lộ gene này.

Về điều trị, kết quả từ nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy khi UTBMTV có tăng biểu lộ HER2 sẽ không đáp ứng với hóa trị liệu quy ước nhưng sẽ đáp ứng tốt với liệu pháp điều trị đích. Các thuốc này đã được DFA phê duyệt để sử dụng điều trị độc lập hoặc kết hợp với hóa chất cho các BN UTV có khuếch đại gene HER2. Tuy nhiên, đây là loại thuốc rất đắt tiền nên, ở Hoa Kỳ và các nước phát triển, quy định chỉ điều trị trastuzumab khi khi HER2 dương tính mạnh trên xét nghiệm hoá mô miễn dịch (HMMD) hoặc khi các xét nghiệm lai tại chỗ NST (In situ Hybridization – ISH) cho kết quả dương tính …..

Kỹ thuật Dual-ISH có hai ưu điểm nổi bật hơn so với kỹ thuật FISH: một là cho phép quan sát kết quả dưới kính hiển vi quang học thông thường mà không cần kính hiển vi huỳnh quang với những filter và nguồn sáng chuyên dụng như FISH; tín hiệu bền vững, không bị phai dần theo thời gian như đối với FISH, nên có thể bảo quản tiêu bản lâu dài để khi cần thiết có thể xem lại (tương tự như tiêu bản nhuộm Hematoxylin – Eosin (HE) thông thường. Gần đây, FDA đã cấp phép sử dụng kỹ thuật xét nghiệm Dual-ISH để xác định tình trạng khuếch đại của gene HER2 trong UTBMTV và UTBMDD.

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu khảo sát sự biểu lộ của HER2 trong nhiều bệnh UT, bằng cả HMMD, FISH và Dual-ISH. Tuy nhiên, ở Việt Nam cho đến nay vẫn rất ít cơ sở Y tế có thể thực hiện được các xét nghiệm này. Trong 10 năn nay, Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện TƯQĐ 108 đã thực hiện xét nghiệm HMMD một cách tthường quy, và gần đây đã triển khai thành công kỹ thuật FISH. Hiện tại, Khoa đang triển khai thêm kỹ thuật Dual-ISH, với những ưu điểm, tiện lợi như trên đã nêu, để phục vụ cho việc chẩn đoán và điều trị UT hiệu quả hơn. Vì vậy, chúng tôi triển khai và ứng dụng một cách thường quy kỹ thuật “Lai tại chỗ nhiễm sắc thể gắn 2 màu (Dual-ISH) phát hiện sự khuếch đại gene HER2 trong ung thư biểu mô tuyến vú và dạ dày”.

Liên hệ: Khoa Giải phẫu bệnh lý Điện thoại: 04. 62784117

Bạn đang xem bài viết Những Kỹ Thuật Xét Nghiệm Mới Bạn Đã Biết? / 2023 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!