Xem Nhiều 2/2023 #️ Phân Biệt Các Kĩ Thuật Xét Nghiệm Pcr: Rt # Top 9 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phân Biệt Các Kĩ Thuật Xét Nghiệm Pcr: Rt # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Biệt Các Kĩ Thuật Xét Nghiệm Pcr: Rt mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PCR (hay là phản ứng tổng hợp chuỗi polymerase) là một kĩ thuật hiện đại, được ứng dụng rộng rãi trong Y khoa, như trong chuẩn đoán bệnh di truyền, bệnh do vi khuẩn, virus, ADN “dấu vân tay”, xác định huyết thống…

Nguyên lý hoạt động của PCR là tạo ra một lượng lớn các bản sao ADN từ một đoạn ADN chọn lọc, ở môi trường in vitro tương tự như trong quá trình phân bào, trong một thời gian ngắn. Lượng lớn ADN tạo thành được so sánh, đối chiếu với các mẫu chuẩn tại các ngân hàng dữ liệu ADN, các thông số, các đặc điểm chuẩn đã có sẵn để đưa ra kết quả.

Vậy, trong trường hợp vật chất di truyền không phải là ADN thì sao? Với những virus có vật chất di truyền là ARN, liệu có sử dụng được PRC không?

Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta cần phân biệt được 2 kiểu phản ứng PCR: 

Phản ứng tổng hợp chuỗi polymerase thời gian thực

(

Real-time PCR

)

, còn gọi là qPCR.

Phản ứng tổng hợp chuỗi polymerase sao chép ngược (

Reverse transcription PCR

), gọi tắt là RT-PCR

1.

Phản ứng tổng hợp chuỗi polymerase thời gian thực (qPCR)

qPCR là quá trình khuếch đại (sao chép) một đoạn ADN xác định lên hàng trăm nghìn lần, đủ để phân tích. Trước đó, các mẫu xét nghiệm được xử lý bằng hóa chất để  tách chiết ADN từ mẫu đó.

qPCR, ngoài là “PCR định lượng”, còn có nhiều các ứng dụng khác, tiêu biểu như:

Phát hiện gene mục tiêu (Định tính). Kết quả có thể là Âm/Dương 

Xác định kiểu gene (genotype, týp) của gene mục tiêu. Kết quả trả ra là genotype A, B, C, v.v…, 

Một số phản ứng khuếch đại ADN có bản chất là PCR, chúng đẳng nhiệt, nghĩa là chúng chạy ở một nhiệt độ không đổi. Và tiêu biểu nhất là khuếch đại phụ thuộc vào enzyme Helicase – một loại enzyme tháo xoắn – tương tự như PCR truyền thống, nhưng sử dụng nhiệt độ không đổi thay vì qua các bước tách chuỗi đôi ADN và phối hợp/mở rộng chuỗi bởi biến đổi nhiệt.

Hai phương pháp phổ biến để phát hiện các sản phẩm trong qPCR là sử dụng:

Thuốc nhuộm huỳnh quang không đặc hiệu xen kẽ với bất kỳ ADN sợi kép.

Đầu dò đặc hiệu gồm oligonucleotide được dán nhãn bằng máy phóng 

huỳnh quang

.

2. Phản ứng tổng hợp chuỗi polymerase sao chép ngược (RT-PCR)

RT-PCR hiểu đơn giản là: đầu tiên cần sử dụng quá trình phiên mã ngược (tức chuyển ARN thành ADN lấy từ mẫu virus hay vi khuẩn có vật chất di truyền là ARN) để thu được ADN, sau đó dùng qPCR để khuếch đại ADN đó, đủ để phân tích. Quy trình RT-PCR thường cần khoảng 3h hoặc hơn.

Hình 1. RT-PCR và qPCR

RT-PCR có thể được tiến hành theo phương thức một bước và hai bước.

* RT-qPCR một bước, giai đoạn tổng hợp ADN (phiên mã ngược) và qPCR được tiến hành trong cùng một ống phản ứng bằng cùng một enzym. Phương thức này chỉ có thể sử dụng mồi đặc hiệu.

* RT-qPCR hai bước, giai đoạn tổng hợp ADN và qPCR được tiến hành trong hai ống phản ứng riêng biệt với enzym, đệm, thành phần và điều kiện phản ứng được tối ưu cho mỗi giai đoạn.

Hình 2. Sao chép ngược (RT-PCR) và tổng hợp ADN (qPCR)

Khuôn của RT-PCR là ARN, ARN này có thể nằm trong hỗn hợp ARN tổng số hoặc chỉ riêng mARN. Tách chiết ARN tổng số cần ít bước thực hiện hơn, giúp cho hiệu suất tách chiết cao hơn đồng thời thuận lợi hơn khi định mức lượng tế bào đầu vào. Ngoài ra, do không có bước làm giàu riêng mARN, sử dụng ARN tổng số không gây khác biệt trong hiệu suất tách chiết các loại mARN khác nhau. Những ưu thế trên đã giúp cho ARN tổng số được ưu tiên chọn làm vật liệu khởi đầu phù hợp cho RT-PCR hơn là mARN tinh sạch chỉ giúp phản ứng có độ nhạy cao hơn một chút.

Hình 3. Một số loại mồi dùng trong RT-PCR.

Mồi (Primer) phổ biến hay dùng trong RT-PCR là oligo dT và mồi ngẫu nhiên, nó sẽ liên kết bổ sung với khuôn ARN và làm điểm bắt đầu cho phản ứng tổng hợp ADN.

Enzym phiên mã ngược tiến hành phản ứng tổng hợp ADNc từ khuôn ARN. Một số enzym có hoạt tính RNAse cho phép phân hủy khuôn ARN sau khi đã tổng hợp ADN. Nếu enzym không có hoạt tính này, có thể cần bổ sung RNAse nhằm tăng hiệu quả của qPCR. Loại enzym phiên mã ngược thường dùng là enzym phiên mã ngược của virus ung thư bạch cầu chuột moloney (M-MLV) và virus cúm gia cầm (AMV). Tiêu chuẩn của một enzym phiên mã ngược lý tưởng cho phản ứng RT-PCR là có độ bền nhiệt tốt, cho phép tổng hợp hiệu quả ADN ở nhiệt độ cao trên những khuôn ARN có nhiều vùng cấu trúc bậc hai.

Cặp mồi lý tưởng cho phản ứng qPCR trong RT-PCR thường được thiết kế nằm trùm qua vị trí nối giữa hai exon. Một trong hai mồi sẽ nằm vắt ngang vị trí nối giữa 2 exon này, khiến cho mồi chỉ bắt cặp đặc hiệu với ADN mà không thể liên kết với ADN tổng số do ở ADN tổng số chứa intron nằm xen giữa các exon. Thiết kế này giúp loại bỏ nguy cơ khuếch đại nhầm ADN tổng số.

Nếu không thể thiết kế mồi chùm qua vị trí nối giữa exon hoặc nằm trên 2 exon được ngăn cách bới intron dài, cần phải xử lý mẫu ARN với enzyme RNAse-free ADNase I hoặc ds-ADNase để loại bỏ ADN tổng số.

Hình 4. Thiết kế đoạn mồi trong RT-PCR

Khác với các phương pháp PCR thông thường hay qPCR chỉ khuếch đại được ADN thì RT-PCR cho phép chúng ta xác định được cả những loại virus, vi khuẩn mang vật chất di truyền là ARN cũng như xác định được trình tự của một đoạn ARN bất kì nào đó một cách dễ dàng hơn.

Đây cũng là một trong những phương pháp được áp dụng nhiều nhất song song với test kháng thể (antibodies) để phục vụ cho truy vết và xét nghiệm một sô loại virus như Zika, HIV, sởi,… nói chung cũng như SARS-CoV-2 đang hoành hành gần đây nói riêng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. ThS. BS. Vũ Thị Thúy Chi, Xét nghiệm PCR có những ưu – nhược điểm gì? Trung tâm Xét nghiệm, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, 2019

2. Công ty TNHH Hamesco Việt Nam, Kĩ thuật Real-time PCR là gì? 2019.

3. RT-qPCR – Các nguyên lý cơ bản, Sinh học phân tử, Công nghệ sinh học, Dịch và tổng hợp từ Thermo Scientific BioMedia VN.

4. Nguyễn Thành Khôi, 4 Sự thật gây mất lòng về real-time PCR! Sinh học phân tử.

5. Xét Nghiệm SARS-CoV-2 / COVID-19, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.

6. Kỹ thuật Realtime PCR – đếm tải lượng virus, vi khuẩn, BioMedia, 2015.

7. chúng tôi Trần Bá Thoại, Uỷ viên BCH Hội Nội tiết Việt Nam, Xét nghiệm PCR trong chẩn đoán Y khoa, Đại học Phan Châu Trinh

Người viết bài:

SV. Vũ Hoài Hương Giang

SV. Hoàng Quốc Cường

Hiệu đính: chúng tôi Ngô Thiện

=====

Để nhận tư vấn về sản phẩm và đặt hàng, vui lòng liên hệ:

CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM FYKOFA

Hotline: 1800 234 555 (Miễn phí) Email: info@fykofa.com Website: www.fykofa.com Fanpage: www.fb.com/duocphamFYKOFA

Các Kĩ Thuật Xét Nghiệm Hiv Nhanh Hiện Nay

Khi đứng trước nguy cơ có thể bị lây nhiễm HIV, với tâm lý lo lắng và hoang mang tột độ thì rất nhiều người muốn đi làm xét nghiệm HIV nhanh chóng trong thời gian sớm nhất có thể biết được mình có bị lây nhiễm HIV hay không. Vậy hiện nay có những phương pháp xét nghiệm HIV nhanh nào? Nếu như trước đây, để chẩn đoán sàng lọc những bệnh nhân nhiễm virus,người ta hay sử dụng xét nghiệm Elisa. Phương pháp này với bệnh nhân sàng lọc HIV hay viêm gan B phải đợi thời gian khá dài là 3 tháng. Thời gian chờ đợi lâu khiến cho bệnh nhân rất bồn chồn, bất an, chưa kể tới việc nếu như những cơ sở y tế cần tiến hành thủ thuật truyền máu cho bệnh nhân, mà mẫu máu mới được lấy trong khoảng thời gian gần thì rất khó để có thể sàng lọc chính xác.

Các xét nghiệm HIV nhanh nhất hiện nay

Với công nghệ tiên tiến hiện đại ,ngày nay Viện Huyết học Truyền máu Trung ương đã áp dụng kỹ thuật xét nghiệm NAT rút ngắn thời gian chờ đợi và cho kết quả rất chính xác, khắc phục nhược điểm của các loại xét nghiệm cũ trước đây.

a. Xét nghiệm NAT là kỹ thuật như thế nào?

Kỹ thuật xét nghiệm NAT là kỹ thuật sinh học phân tử tự động sàng lọc các virus gây bệnh,điển hình như HIV. Đồng thời dựa trên nguyên lý phản ứng khuyếch đại nhân lên gấp bội các yếu tố di truyền ,trực tiếp phát hiện các AND hoặc ARN có nguồn gốc từ các virus gây bệnh viêm gan B,viêm gan C, HIV cho độ chính xác, độ nhạy cao, đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc rút ngắn thời gian cửa sổ phát hiện các virus.

Kỹ thuật NAT là một trong các xét nghiệm HIV nhanh cho phép rút ngắn thời gian cửa sổ từ 90 ngày xuống còn khoảng 30 đến 40 ngày đối với virus viêm gan C, từ 60 ngày xuống chỉ còn 20 đến 30 ngày đối với virus viêm gan B. Bên cạnh đó, NAT còn có thể phát hiện HIV chỉ với 11 ngày sau khi nhiễm bệnh, trong khi nếu thực hiện xét nghiệm điện hóa phát quang phải cần tới 20 ngày.

Bên cạnh đó, xét nghiệm NAT còn có thể phát hiện các trường hợp nhiễm virus ở thể ẩn, tức là những người đã nhiễm bệnh một thời gian khá dài, nhưng virus chỉ tồn tại tiềm ẩn trong các tế bào và cơ thể người nhiễm không hề sản sinh ra kháng thể, vì thế không thể phát hiện được bằng các xét nghiệm gián tiếp.

b. Kỹ thuật NAT được áp dụng tiến hành ở đâu?

Với bước tiến đột phá và tiên tiến, kỹ thuật NAT được Bộ Y tế ban hành Thông tư hướng dẫn, cho phép áp dụng kỹ thuật trên tại các trung tâm truyền máu, cơ sở sàng lọc máu của các bệnh viện trên toàn quốc theo lộ trình cụ thể.

Kỹ thuật này góp phần mở ra kỷ nguyên mới bảo đảm an toàn truyền máu, cung cấp nguồn máu an toàn, kịp thời.

Năm 2015, Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương là đơn vị đầu tiên trong cả nước chính thức cung cấp tất cả các đơn vị máu, chế phẩm máu đều được sàng lọc bằng xét nghiệm NAT. Sau đó, xét nghiệm trên đã được triển khai ở các trung tâm truyền máu của Bệnh viện Truyền máu Huyết học Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Huyết học Truyền máu Cần Thơ…Sắp tới, kỹ thuật xét nghiệm sẽ được phổ biến rộng rãi hơn nữa.

Đây cũng là tin vui cho những bệnh nhân có nguy cơ không an toàn, có thể rút ngắn thời gian chờ đợi, lo lắng khi chưa có kết luận bệnh án.

2. Xét nghiệm PCR

PCR-ARN-HIV là kỹ thuật khuếch đại chuỗi làm tăng HIV-ARN lên triệu lần nên phát hiện cực nhậy sự hiện diện của virion HIV trong máu sớm nhất sau 6 ngày kể từ khi bắt đầu nhiễm HIV.

Nguyên lý:

Tổng hợp trong phòng thí nghiệm nhiều bản sao acid nucleic virus có trong bệnh phẩm.

Chủ yếu là tìm tiền virus ADN, gắn vào ADN tế bào được khuếch đại lên hàng triệu lần cho phép tìm 1/100.000 tế bào bị nhiễm như tìm kim trong đống cỏ bằng cách làm tăng lên triệu cái kim.

Là một kỹ thuật sinh học cao nên không áp dụng cho chẩn đoán thông thường mà chỉ áp dụng cho chẩn đoán nhanh không chờ xét nghiệm kháng thể như: trẻ sơ sinh mà mẹ HIV(+) hay muốn biết ngay theo yêu cầu đối tượng là có nhiễm HIV không sau phơi nhiễm.

PCR-ARN-HIV là tiền đề của xét nghiệm đếm virion HIV trong máu sau này.

Vì vậy khi có nguy cơ bị lây nhiễm HIV thì hiện nay người bệnh hoàn toàn có thể đi thực hiện các phương pháp xét nghiệm HIV nhanh và sớm mà kết quả vẫn hoàn toàn có thể tin tưởng được mà không cần phải đợi đến khoảng thời gian sau 3 tháng.

Mọi thắc mắc về vấn đề HIV, vui lòng gọi đến tổng đài 19006237 để được tư vấn HIV, tư vấn xét nghiệm HIV trực tiếp từ các chuyên gia.

Xét Nghiệm Pcr Có Những Ưu

1. Xét nghiệm PCR là gì?

PCR (Polymerase Chain Reaction gọi là phản ứng chuỗi polymerase) là một kỹ thuật được phát minh vào năm 1985 bởi một nhà khoa học người Mỹ tên là Kary Mullis. Phát minh này được coi là một cuộc cách mạng lớn đối với nền y học thế giới, và đã được trao giải thưởng danh giá Nobel vào năm 1993.

Phương pháp xét nghiệm PCR có thể nhân bản một lượng lớn lên đến hàng triệu bản ADN nhằm phục vụ cho các quá trình khảo sát trong phản ứng.

Nguyên lý hoạt động của PCR là nhằm tạo ra một lượng lớn các bản sao ADN từ một đoạn ADN chọn lọc chỉ trong một thời gian ngắn. Sự sao chép ADN được diễn ra trong môi trường in vitro tương tự như trong quá trình phân bào.

Bằng kỹ thuật PCR, từ một lượng khuôn ADN rất nhỏ như: một giọt máu, một sợi tóc hay một tế bào,… người ta có thể khuếch đại chính xác, trật tự một lượng lớn lên đến hàng triệu bản nhằm phục vụ cho các quá trình khảo sát trong phản ứng.

Đặc biệt, phương pháp PCR có độ nhạy đặc nhạy lên tới 90,4% và độ đặc hiệu là 94% khi so sánh với phương pháp nuôi cấy (tiêu chuẩn vàng).

Như vậy, xét nghiệm PCR cho kết quả chính xác cao hơn các phương pháp xét nghiệm truyền thống. Nó có thể giúp phát hiện ra nhiều loại vi khuẩn gây bệnh và tiết kiệm được nhiều thời gian hơn.

2. Xét nghiệm PCR chẩn đoán những bệnh gì?

– Phát hiện các tác nhân vi sinh vật gây bệnh như các virus (viêm gan B, viêm gan C, HIV, Herpes, CMV, EBV, HPV, virus SARS, H5N1…).

– Phát hiện các vi khuẩn lậu (Chlamydia, Legionella, Mycoplasma, Treponema pallidum…).

– Phát hiện virus Dengue gây bệnh sốt xuất huyết.

– Phát hiện mầm mống của bệnh ung thư (tìm HPV trong ung thư cổ tử cung, phát hiện gen APC trong ung thư đại tràng, gen BRCA 1 – BRCA 2 trong ung thư vú, gen TPMT trong bệnh bạch cầu trẻ em, gen Rb-105 trong u nguyên bào lưới, gen NF-1,2 trong u xơ thần kinh, gen IgH và TCRy trong u lympho không Hodgkin…)

Xét nghiệm PCR có thể phát hiện được virus HPV với độ chính xác cao.

– Nghiên cứu về hệ kháng nguyên bạch cầu người (HLA, human lymphocyte antigen)…

– Phát hiện các chủng vi khuẩn kháng thuốc như S.aureus – MRSA, các vi khuẩn sinh ESBL hoặc betalactamase, carbapenemase…)

Trong công nghệ sinh học, PCR được sử dụng trong việc lập bản đồ gen, phát hiện gen, dòng hoá gen, giải mã trình tự ADN…

3. Xét nghiệm PCR bao nhiêu tiền?

Xét nghiệm PCR thường có giá thành cao bởi những hoá chất để làm phản ứng đều phải nhập ngoại. Đó là chưa kể đến những máy móc thiết bị xét nghiệm PCR cũng có giá thành lên tới hàng chục ngàn USD. Thông thường, để xét nghiệm một bệnh phẩm bằng phương pháp PCR, người bệnh phải tiêu tốn tối thiểu 8 – 10 USD/ lần xét nghiệm.

4. Những ưu – nhược điểm của xét nghiệm PCR.

4.1. Ưu điểm

Phương pháp xét nghiệm PCR có nhiều ưu điểm vượt trội hơn hẳn so với xét nghiệm truyền thống như:

– Cho kết quả xét nghiệm nhanh, thường không quá 5 giờ kể từ khi bắt đầu làm xét nghiệm.

– Phát hiện được các tác nhân vi sinh vật gây bệnh mà phòng thí nghiệm lâm sàng không có khả năng phát hiện với các xét nghiệm vi sinh hay miễn dịch truyền thống như các tác nhân virus (HCV, HBV, HPV…), tác nhân vi sinh không thể triển khai nuôi cấy được tại phòng thí nghiệm lâm sàng vì khả năng gây dịch cao (H5N1) hay khó nuôi cấy (C. trachomatis, L.pneumophila), hay có mặt rất ít trong bệnh phẩm ( tuberculosis trong lao ngoài phổi, tác nhân viêm màng não mủ cụt đầu…), hay là các tác nhân có thể nuôi cấy được nhưng thời gian có kết quả chung cuộc quá lâu (M. tuberculosis).

– Xét nghiệm PCR còn có thể cho ra kết quả định lượng chính xác số bản copies virus/ 1 ml máu. Từ đó hỗ trợ rất đắc lực cho bác sĩ đánh giá được hiệu quả điều trị, cũng như tiên lượng giai đoạn bệnh.

– Phát hiện các đột biến gen gây ung thư, gây các bệnh di truyền khác…nhằm có biện pháp phòng ngừa bệnh.

– Xác định mối quan hệ huyết thống giữa những cá thể khác nhau.

4.2. Nhược điểm

– Xét nghiệm PCR rất khó thực hiện được một cách chuẩn mực tại các phòng thí nghiệm lâm sàng.

– Giá thành khá cao.

– Đòi hỏi trình độ của kỹ thuật viên, bác sĩ phải là người có trình độ cao.

– Đòi hỏi trang thiết bị , máy móc kỹ thuật hiện đại.

Xét nghiệm PCR là kỹ thuật phức tạp, hỏi nhân viên kỹ thuật, bác sĩ phải giàu kinh nghiệm, có trình độ cao.

5. Xét nghiệm PCR ở đâu nhanh và chính xác nhất?

Xét nghiệm PCR là kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi trang bị hiện đại, đồng thời với độ nhạy phản ứng rất cao đòi hỏi nhân viên kỹ thuật, bác sĩ phải giàu kinh nghiệm, có trình độ cao, tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật để tránh hiện tượng dương tính giả khi bị nhiễm lại sản phẩm PCR. Do những yêu cầu cao như vậy nên không phải ở bất cứ bệnh viện nào cũng có thể tiến hành làm xét nghiệm PCR được.

Do đòi hỏi trang thiết bị hiện đại nên không phải bệnh viện nào cũng có thể làm xét nghiệm PCR.

Hiện nay, tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC đang sử dụng phương pháp realtime PCR (là một cải tiến kỹ thuật cao hơn của phương pháp PCR) để giúp nâng cao hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị các loại bệnh lý nói chung. Với công nghệ đầu dò Taqman (Taqman probe) cùng chứng nội tại (Internal control) được cho vào ngay từ quá trình tách chiết cho phép kiểm soát toàn bộ quá trình xét nghiệm từ đó cho ra kết quả nhanh chóng và chính xác hơn. Bệnh nhân sẽ nhận được kết quả xét nghiệm PCR chỉ sau vài giờ đồng hồ, tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí khi thăm khám, đi lại.

Hy vọng qua những thông tin hữu ích trong bài viết trên, bạn đã có cái nhìn tổng quan hơn về phương pháp xét nghiệm PCR, những ưu điểm và hạn chế của phương pháp này cùng những địa chỉ làm xét nghiệm chính xác, uy tín nhất hiện nay.

Kỹ Thuật Xét Nghiệm Nat

Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương tổ chức gặp mặt báo chí tiếp nhận giới thiệu công nghệ “Ứng dụng kỹ thuật xét nghiệm NAT – Đảm bào an toàn truyền máu” với sự hỗ trợ của Công ty Roche Việt Nam ngày 26-4-2016.

Kỹ thuật Xét nghiệm NAT – Đảm bảo an toàn truyền máu?

Kỹ thuật xét nghiệm NAT đã giúp phát hiện hàng trăm mẫu máu nhiễm các bệnh nguy hiểm mặc dù trước đó xét nghiệm huyết thanh cho kết quả âm tính.

Kỹ thuật NAT hiện là kỹ thuật xét nghiệm sàng lọc máu tiên tiến nhất, được thực hiện trên máy xét nghiệm sinh học phân tử hoàn toàn tự động sàng lọc vi rút viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV), HIV cho độ chính xác, độ nhạy cao, đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc rút ngắn thời gian cửa sổ phát hiện các vi rút. Kỹ thuật này mở ra kỷ nguyên mới bảo đảm an toàn truyền máu, cung cấp nguồn máu an toàn kịp thời.

Năm 2015 cả nước tiếp nhận được 1.160.726 đơn vị máu toàn phần và khối tiểu cầu gạn tách từ một người hiến. Trong đó, ngoài việc xét nghiệm sàng lọc cho 100% đơn vị máu bằng kỹ thuật huyết thanh học phát hiện nhiễm vi rút HBV, HCV, HIV, giang mai, sốt rét… trong đó bước đầu thực hiện xét nghiệm sàng lọc bằng kỹ thuật NAT cho 417.893 mẫu máu, đạt 36%, tổng số máu tiếp nhận và sử dụng; phát hiện được 442 mẫu máu nhiễm bệnh, ước tính xét nghiệm NAT có thể phát hiện được mẫu nhiễm HBV là 1/1.184 mẫu; HCV là 1/37.990 mẫu; với HIV là 1/83.579 mẫu đã có xét nghiệm huyết thanh học âm tính trước đó.

Tại buổi họp báo, GS Nguyễn Anh Trí – Viện trưởng Viện Huyết học Truyền máu Trung ương cho biết: “Kỹ thuật NAT được thực hiện trên máy xét nghiệm sinh học phân tử hoàn toàn tự động sàng lọc virus HBV, HCV, HIV cho độ chính xác cao, độ nhạy cao, đem hiệu quả rõ rệt trong việc rút ngắn thời gian cửa số phát hiện các virus. Kỹ thuật này mở ra kỷ nghiên mới đảm bảo an toàn truyền máu, cung cấp nguồn máu an toàn kịp thời”.

Viện Huyết học Truyền máu Trung ương là đơn vị đầu tiên sử dụng kỹ thuật sàng lọc máu bằng phương pháp xét nghiệm NAT.

Ngoài việc tự động sàng lọc các virus như HIV, kỹ thuật xét nghiệm này còn trực tiếp phát hiện các ADN hoặc RNA của virus thông qua các nhân bản đoạn gen đặc hiệu của virus và sau đó xác định chính xác virus đã nhiễm, rút ngắn thời gian cửa sổ phát hiện virus lây nhiễm và cho kết quả có độ nhạy cao.

Công nghệ Kỹ thuật Xét nghiệm NAT

“Nếu như trước kia, để phát hiện chính xác máu có bị nhiễm virus hay không, người ta sử dụng phương pháp xét nghiệm Elisa. Với phương pháp này, khoảng thời gian cửa sổ cho HIV là 3 tháng, còn viêm gan B là 85 ngày. Nhưng với việc áp dụng phương pháp này, khoảng thời gian cửa sổ cho xét nghiệm virus HIV chỉ còn 7 đến 10 ngày”, GS Trí cho biết thêm.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, truyền máu là một trong 3 yếu tố đánh giá sự phát triển y tế của mỗi quốc gia. Lãnh đạo Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương thông tin: năm 2016, cả nước dự kiến tiếp nhận khoảng 1,3 triệu và đạt 1,8 triệu đơn vị máu vào năm 2020. Do vậy việc đảm bảo an toàn truyền máu luôn được đặt lên hàng đầu, trong đó xét nghiệm sàng lọc máu, đảm bảo an toàn truyền máu là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất góp phần đạt được mục tiêu phát triển y tế của đất nước.

Bạn đang xem bài viết Phân Biệt Các Kĩ Thuật Xét Nghiệm Pcr: Rt trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!