Xem Nhiều 2/2023 #️ Phân Biệt Except Và Except For # Top 8 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phân Biệt Except Và Except For # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Biệt Except Và Except For mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Dùng except for trước danh từ Ta thường dùng except for trước danh từ/cụm danh từ. Ví dụ: I’ve cleaned the house except for the bathroom. (Tớ vừa mới lau dọn nhà xong, chỉ còn trừ nhà vệ sinh.) The garden was empty except for one small bird. (Khu vườn hoàn toàn trống rỗng, chỉ ngoại trừ 1 chú chim nhỏ.) 2. Except (for) khi đứng sau all, any… Khi đứng sau các từ như all, any, every, no, everything, anybody, nowhere, nobody, whole thì ta thường lược bỏ giới từ for. Ví dụ: I’ve cleaned all the rooms except (for) the bathroom. (Tớ vừa mới lau dọn tất cả các phòng, ngoại trừ nhà vệ sinh.) He ate everything on his plate except (for) the beans. (Anh ấy đã ăn hết mọi thứ trên đĩa chỉ còn trừ lại đậu.) Nobody came except (for) John and Mary. (Chẳng có ai đến cả, ngoại trừ John và Mary.) Tuy nhiên ta không lược bỏ for khi except for đứng trước các từ này. Ví dụ: Except for John and Mary, nobody came. (Ngoại trừ John và Mary, chẳng có ai đến cả.) KHÔNG DÙNG: Except John and Mary, nobody came.

3. Except khi đứng trước giới từ, liên từ Ta thường dùng except , không dùng except for trước các giới từ và liên từ. Ví dụ: It’s the same everywhere except in Scotland. (Ở đâu cũng như thế cả, ngoại trừ ở Scotland.) KHÔNG DÙNG: It’s the same everywhere except for in Scotland. He’s good-looking except when he smiles. (Anh ấy rất đẹp trai, chỉ trừ những lúc anh ấy cười.) This room is no use except as a storeroom. (Căn phòng này chẳng để làm gì ngoại trừ làm nhà kho.) The holiday was nice except that there wasn’t enough snow. (Kỳ nghỉ lễ rất tuyệt, ngoại trừ 1 điều là không có nhiều tuyết.) 4. Except (for) khi đứng trước đại từ Khi đứng sau except (for), ta dùng đại từ tân ngữ, không dùng đại từ chủ ngữ. Ví dụ: Everybody understood except (for) me. (Mọi người đều hiểu cả, chỉ ngoại trừ tớ.) KHÔNG DÙNG: Everybody understood except (for) I. We’re all ready except (for) her. (Tất cả chúng tớ đều đã sẵn sàng, ngoại trừ cô ấy.) 5. Except khi đứng trước động từ Cấu trúc thông dụng với except là : do…. except + động từ nguyên thể không to Ví dụ: He does nothing except eat all day. (Cả ngày anh ta chẳng làm gì cả, ngoại trừ ăn.) I’ll do everything for you except cook. (Anh sẽ làm mọi thứ cho em, ngoại trừ việc nấu nướng.) Còn trong các trường hợp khác thì ta dùng except + V-ing Ví dụ: She’s not interested in anything except skiing. (Cô ấy chẳng có hứng thú với thứ gì ngoại trừ trượt tuyết.) You needn’t worry about anything except having a great time. (Cậu không cần phải lo lắng gì cả, chỉ cần vui vẻ thôi.) 6. Except and without Except (for) chỉ được dùng để nói về những trường hợp ngoại lệ. Còn các trường hợp khác ta dùng but for, hoặc without. Ví dụ: Nobody helped me except you. (Chẳng có ai giúp tớ cả, ngoại trừ cậu.) Without/But for your help, I would have failed. (Nếu không có sự giúp đỡ của cậu thì tớ đã trượt rồi.) KHÔNG DÙNG: Except for your help, I would have failed.

1.7 Error Và Exceptions · Gitbook

1.7. Error và Exceptions

1.7.1. Ngữ cảnh thường gặp

Có một số hàm trong chương trình luôn yêu cầu phải chạy thành công. Ví dụ strconv.Itoa chuyển một số nguyên thành string, đọc và ghi phần tử từ array hoặc slice, đọc một phần tử tồn tại trong map và tương tự.

Những tác vụ như thế sẽ khó để có lỗi trong thời gian chạy trừ phi có bug trong chương trình hoặc những tình huống không thể đoán trước được như là memory leak tại thời điểm chạy. Nếu bạn thực sự bắt gặp một tình huống khác thường như thế, chương trình sẽ ngừng thực thi.

Khi một chương trình bị lỗi và dừng, chúng ta có thể cân nhắc một số khả năng xảy ra. Đối với các hàm xử lý lỗi tốt, nó sẽ trả về thêm một giá trị phụ, thường thì giá trị này được dùng để chứa thông điệp lỗi. Nếu chỉ có một lý do dẫn đến lỗi, giá trị thêm vào này có thể là một biến Boolean, thường đặt tên là ok. Ví dụ như bên dưới :

if

v, ok := m[

"key"

]; ok {

return

v }

Nhưng thông thường sẽ có nhiều hơn một nguyên nhân gây ra lỗi, và nhiều khi user muốn biết nhiều thêm về lỗi đó. Nếu bạn chỉ sử dụng một biến boolean, thì bạn sẽ không giải quyết được yêu cầu trên. Trong ngôn ngữ C, một số nguyên errno được sử dụng mặc định để thể hiện lỗi, do đó bạn có thể định nghĩa nhiều loại error theo nhu cầu. Trong ngôn ngữ Go, có thể gọi syscall.Errno giống như với mã lỗi errno trong ngôn ngữ C.

Ví dụ, khi chúng ta dùng syscall.Chmod để thay đổi mode của một file, chúng ta có thể thấy thông tin về lỗi qua biến err như bên dưới :

err := syscall.Chmod(

":invalid path:"

,

0666

)

if

err !=

nil

{ log.Fatal(err.(syscall.Errno)) }

Nếu một interface đơn giản ném tất cả những lỗi thông thường như là một ngoại lệ, chúng sẽ làm thông báo lỗi lộn xộn và không có giá trị. Như main trực tiếp bao gồm mọi thứ trong một hàm, nó không mang lại ý nghĩa gì.

func

main() {

defer

func

() {

if

r :=

recover

(); r !=

nil

{ log.Fatal(r) } }() }

Bao bọc một mã lỗi không phải là một kết quả cuối cùng. Nếu một ngoại lệ không thể đoán trước được, trực tiếp gây ra một ngoại lệ là một cách tốt nhất để xử lý chúng.

1.7.2. Chiến lược xử lý lỗi

Hãy minh họa cho ví dụ về sao chép file: một hàm cần phải mở hai file và sau đó sao chép toàn bộ nội dung của một file nào đó về một file khác.

func

CopyFile(dstName, srcName

string

) (written

int64

, err error) { src, err := os.Open(srcName)

if

err !=

nil

{

return

} dst, err := os.Create(dstName)

if

err !=

nil

{

return

} written, err = io.Copy(dst, src) dst.Close() src.Close()

return

}

Khi đoạn code trên chạy, sẽ tìm ẩn rủi ro. Nếu đầu tiên os.Open gọi thành công, nhưng lệnh gọi thứ hai os.Create gọi bị failed, nó sẽ trả về ngay lặp tức mà không giải phóng tài nguyên file.

Mặc dù chúng ta có thể fix bug bằng việc gọi src.Close() trước lệnh return về mệnh đề return thứ hai; nhưng khi code trở nên phức tạp hơn, những vấn đề tương tự sẽ khó để tìm thấy và giải quyết. Chúng ta có thể sử dụng mệnh đề defer để đảm bảo rằng một file bình thường khi được mở cũng sẽ được đóng.

func

CopyFile(dstName, srcName

string

) (written

int64

, err error) { src, err := os.Open(srcName)

if

err !=

nil

{

return

}

defer

src.Close() dst, err := os.Create(dstName)

if

err !=

nil

{

return

}

defer

dst.Close()

return

io.Copy(dst, src) }

Mệnh đề defer được thực thi khi ra khỏi tầm vực của hàm, chúng ta nghĩ về làm cách nào để đóng một file ngay khi mở file đó. Bất kể làm thế nào hàm được trả về, bởi về mệnh đề close có thể luôn luôn được thực thi. Cùng một thời điểm, mệnh đề defer sẽ đảm bảo rằng io.Copy file có thể được đóng an toàn nếu một ngoại lệ xảy ra.

Như chúng ta đã đề cập trước đó, hàm export trong ngôn ngữ Go sẽ thông thường ném ra một ngoại lệ, và một ngoại lệ không được kiểm soát có thể xem là một bug trong một chương trình. Nhưng với những framework Web services, chúng thường cần sự truy cập từ bên thứ ba ở middleware.

Bởi vì thư viện middleware thứ ba có bug, khi mà một ngoại lệ ném một exception, web framework bản thân nó không chắc chắn. Để cải thiện sự bền vững của hệ thống, web framework thường thu hồi chính xác nhất có thể những ngoại lệ trong luồng thực thi của chương trình và sau đó sẽ gây exception về bằng cách return error thông thường.

Chúng ta hãy xem JSON parse là một ví dụ minh họa cho việc dùng ngữ cảnh của việc phục hồi. Cho một hệ thống JSON parser phức tạp, mặc dù một ngôn ngữ parse có thể làm việc một cách phù hợp, có một điều không chắc chắn rằng nó không có lỗ hỏng. Do đó, khi một ngoại lệ xảy ra, chúng ta sẽ không chọn cách crash parser. Thay vì thế chúng ta sẽ làm việc với ngoại lệ panic nhưng là một lỗi parsing thông thường và đính kèm chúng với một thông tin thêm để thông báo cho user biết mà báo cáo lỗi.

func

ParseJSON(input

string

) (s *Syntax, err error) {

defer

func

() {

if

p :=

recover

(); p !=

nil

{ err = fmt.Errorf(

"JSON: internal error: %v"

, p) } }() }

Gói json trong một thư viện chuẩn, nếu chúng gặp phải một error khi đệ quy parsing dữ liệu JSON bên trong, chúng sẽ nhanh chóng nhảy về mức cao nhất ở phía ngoài, và sau đó sẽ trả về thông điệp lỗi tương ứng.

Ngôn ngữ Go có cách hiện thực thư viện như vậy; mặc dù sử dụng package panic, chúng sẽ có thể được chuyển đổi đến một giá trị lỗi cụ thể khi một hàm được export.

1.7.3. Trường hợp dẫn đến lỗi sai

Thỉnh thoảng rất dễ cho những upper user hiểu rằng bên dưới sự hiện thực sẽ đóng gói lại error như là một loại error mới và trả kết quả về cho user.

if

_, err := html.Parse(resp.Body); err !=

nil

{

return

nil

, fmt.Errorf(

"parsing %s as HTML: %v"

, url,err) }

Khi một upper user bắt gặp một lỗi, nó có thể dễ dàng để hiểu rằng lỗi đó được gây ra trong thời gian chạy từ cấp business. Nhưng rất khó để có cả hai. Khi một upper user nhận được một sai sót mới, chúng ta cũng mất những error type bên dưới (chỉ những thông tin về mô tả sẽ bị mất).

Để ghi nhận thông tin về kiểu lỗi, chúng ta thông thường sẽ định nghĩa một hàm WrapError chúng bọc lấy lỗi gốc. Để tạo điều kiện cho những vấn đề như vậy, và để ghi nhận lại trạng thái của hàm khi một lỗi xảy ra, chúng ta sẽ muốn lưu trữ toàn bộ thông tin về hàm thực thi khi một lỗi xảy ra. Lúc này, để hỗ trợ transition như là RPC, chúng ta cần phải serialize error thành những dữ liệu tương tự như định dạng JSON, và sau đó khôi phục lại err từ việc decoding dữ liệu.

Để làm việc đó, chúng ta sẽ phải tự định nghĩa cấu trúc lỗi riêng ví dụ như chúng tôi với những kiểu cơ bản sau:

type

Error

interface

{ Caller() []CallerInfo Wraped() []error Code()

int

error private() }

type

CallerInfo

struct

{ FuncName

string

FileName

string

FileLine

int

}

Trong số những Error, interface error là một mở rộng của kiểu interface, nó sẽ được dùng để thêm thông tin lời gọi hàm vào call stack, và hỗi trợ wrong muti-level gói lồng và hỗ trợ định dạng code. Cho tính dễ sử dụng, chúng ta có thể định nghĩa một số hàm giúp ích như sau:

func

New(msg

string

) error

func

NewWithCode(code

int

, msg

string

) error

func

Wrap(err error, msg

string

) error

func

WrapWithCode(code

int

, err error, msg

string

) error

func

FromJson(json

string

) (Error, error)

func

ToJson(err error)

string

New dùng để tạo ra một loại error mới tương tự như errors.New trong thư viện chuẩn, nhưng với việc thêm vào thông tin gọi hàm tại thời điểm gây ra error. FromJson được dùng để khôi phục một kiểu đối tượng error từ chuỗi JSON. NewWithCode nó cũng gây dựng một error với một mã error, chúng cũng có thể chứa thông tin về gọi hàm call stack. Wrap và WrapWithCode là một hàm error secondary wrapper chúng sẽ gói error như là một error mới, nhưng sẽ giữ lại message error gốc. Đối tượng error sẽ trả về từ đây và có thể trực tiếp gọi json.Marshal để encode error như là JSON string.

Chúng ta có thể sử dụng wrapper function như sau:

import

(

"github.com/chai2010/errors"

)

func

loadConfig() error { _, err := ioutil.ReadFile(

"/path/to/file"

)

if

err !=

nil

{

return

errors.Wrap(err,

"read failed"

) } }

func

setup() error { err := loadConfig()

if

err !=

nil

{

return

errors.Wrap(err,

"invalid config"

) } }

func

main() {

if

err := setup(); err !=

nil

{ log.Fatal(err) } }

Ở ví dụ trên, error sẽ được bao bọc trong hai lớp. chúng ta có thể duyệt quy trình đóng gói và bỏ qua.

for

i, e :=

range

err.(errors.Error).Wraped() { fmt.Printf(

"wraped(%d): %vn"

, i, e) }

Chúng ta có thể lấy thông tin gọi hàm cho mỗi wrapper error:

for

i, x :=

range

err.(errors.Error).Caller() { fmt.Printf(

"caller:%d: %sn"

, i, x.FuncName) }

Nếu chúng ta cần truyền một error thông qua network. chúng ta có thể encode errors.ToJson(err) như là JSON string.

func

sendError(ch

chan

<-

string

, err error) { ch <- errors.ToJson(err) }

func

recvError(ch <-

chan

string

) error { p, err := errors.FromJson(<-ch)

if

err !=

nil

{ log.Fatal(err) }

return

p }

Cho web service dựa trên http protocol, chúng ta cũng có thể kết hợp trạng thái http với error.

err := errors.NewWithCode(

404

,

"http error code"

) fmt.Println(err) fmt.Println(err.(errors.Error).Code())

Trong ngôn ngữ Go, error handling cũng có một coding style duy nhất. Sau khi kiểm tra nếu chức năng phụ bị failed, chúng ta thường đặt logic code tại sao chúng failed vào process trước khi code process thành công. Nếu một error gây ra function return, sau đó logic code về thành công sẽ không được đặt trên mệnh đề else, nó nên được đặt trực tiếp trong body của function.

f, err := os.Open(

"filename.ext"

)

if

err !=

nil

{ }

Cấu trúc code của hầu hết các hàm trong ngôn ngữ Go cũng tương tự, bắt đầu bới một chuỗi khởi tạo việc kiểm tra để ngăn chặn lỗi xảy ra, theo sau bởi những logic thực sự trong function.

1.7.4. Trả về kết quả sai

Error trong ngôn ngữ Go là một kiểu interface. Thông tin về interface sẽ chứa kiểu dữ liệu nguyên mẫu, và kiểu dữ liệu gốc. Giá trị của interface chỉ tương ứng nếu như cả kiểu interface và giá trị gốc cả hai đều empty nil. Thực tế, khi kiểu của interface là empty, kiểu gốc sẽ tương ứng với interface sẽ không cần thiết phải empty.

Ví dụ sau, tôi thử cố gắng trả về một custom error type và trả về chỉ khi không có errors nil:

func

returnsError() error {

var

p *MyError =

nil

if

bad() { p = ErrBad }

return

p }

func

returnsError() error {

if

bad() {

return

(*MyError)(err) }

return

nil

}

Do đó, khi đối mặt với giá trị error được return về, giá trị error return sẽ thích hợp khi được gán trực tiếp thành nil.

Ngôn ngữ Go sẽ có một kiểu dữ liệu mạnh, và cụ thể chuyển đổi sẽ được thực hiện giữa những kiểu khác nhau (và sẽ phải bên dưới cùng kiểu dữ liệu). Tuy nhiên, interface là một ngoại lệ của ngôn ngữ Go: non-interface kiểu đến kiểu interface, hoặc chuyển đổi từ interface type là cụ thể. Nó cũng sẽ hỗ trợ ducktype, dĩ nhiên, chúng sẽ thỏa mãn cấp độ 3 về bảo mật.

1.7.5. Phân tích ngoại lệ

Panic được hỗ trợ để ném ra một kiểu ngoại lệ tùy ý (không chỉ là kiểu error), recover sẽ trả về một giá trị của lời gọi hàm và panic cũng như thông tin về kiểu tham số của hàm và những nguyên mẫu của hàm sẽ như sau:

func

panic

(

interface

{})

func

recover

()

interface

{}

Luồng thông thường trong ngôn ngữ Go là kết quả trả về của việc thực thi lệnh return. Đó không phải là một exception trong luồng, do đó luồng thực thi của ngoại lệ recover sẽ catch function trong process sẽ luôn luôn trả về nil. Cái khác là ngoại lệ exception. Khi một lời gọi panic sẽ ném ra một ngoại lệ, function sẽ kết thúc việc thực thi lệnh con, nhưng vì lời gọi registered defer sẽ vấn được thực thi một cách bình thường và sau đó trả về caller. Caller trong hàm hiện tại, bởi vì trạng thái xử lý ngoại lệ chưa được bắt, panic sẽ tương tự như hành vi gọi hàm một cách trực tiếp. Khi một ngoại lệ xảy ra, nếu defer được thực thi lời gọi recover, nó có thể được bắt bằng việc trigger tham số panic, và trả về luồng thực thi bình thường.

defer sẽ thực hiện lệnh gọi recover nó thường gây khó khăn cho những người mới bắt đầu.

func

main() {

if

r :=

recover

(); r !=

nil

{ log.Fatal(r) }

panic

(

123

)

if

r :=

recover

(); r !=

nil

{ log.Fatal(r) } }

Cả hai lời gọi trên không có thể catch exceptions. Khi lời gọi recover đầu tiên được thực thi, hàm sẽ phải được trong một thứ tự thực thi bình thường, tại một điểm mà recover có thể trả về nil. Khi mà một exception xảy ra, lời gọi recover thứ hai sẽ không làm thay đổi việc thực thi, bởi vị lệnh gọi panic sẽ gây ra defer hàm sẽ trả về ngay lặp tức sau khi thực thi registered function.

Trong thực tế, hàm recover sẽ có những yêu cầu nghiêm ngặt: chúng ta phải gọi lệnh defer để gọi chúng một cách trực tiếp từ hàm recover. Nếu hàm wrapper defer được gọi, recover sẽ catchup ngoại lệ sẽ bị fail. Ví dụ, thông thường chúng ta sẽ muốn gói hàm MyRecover và thêm những log cần thiết những thông tin bên trong, và sau đó gọi hàm recover. Đây là một hướng tiếp cận sai.

func

main() {

defer

func

() {

if

r := MyRecover(); r !=

nil

{ fmt.Println(r) } }()

panic

(

1

) }

func

MyRecover()

interface

{} { log.Println(

"trace..."

)

return

recover

() }

Một cách tương tự, nếu chúng ta gọi defer trong hàm nested, recover sẽ cũng sẽ gây ra một ngoại lệ có thể được bắt.

func

main() {

defer

func

() {

defer

func

() {

if

r :=

recover

(); r !=

nil

{ fmt.Println(r) } }() }()

panic

(

1

) }

defer sẽ trực tiếp gọi two level nested function giống như wrapper function recover ở lớp một defer function. MyRecover là hàm trực tiếp trong statement sẽ work again.

func

MyRecover()

interface

{} {

return

recover

() }

func

main() {

defer

MyRecover()

panic

(

1

) }

Tuy nhiên, nếu defer statement trực tiếp gọi hàm recover, thì ngoại lệ sẽ không được bắt một cách phù hợp.

func

main(){

defer

recover

()

panic

(

1

) }

Nó sẽ phải tách biệt từ stack frame với một ngoại lệ bởi stack frame, do đó hàm recover sẽ có thể ném một ngoại lệ một cách bình thường. Hay nói cách khác, hàm recover sẽ bắt ngoại lệ của mức trên gọi hàm stack frame (chỉ là một layer defer function).

Dĩ nhiên, để tránh việc gọi recover không nhận ra được ngoại lệ, chúng ta nên tránh ném ra ngoại lệ nil như là một tham số.

func

main() {

defer

func

() {

if

r :=

recover

(); r !=

nil

{ ... } }()

panic

(

nil

) }

Khi chúng ta muốn trả về việc ném ngoại lệ vào error, nếu chúng ta muốn trung thành trả về thông tin gốc, bạn sẽ phải cần sử lý chúng một cách rời rạc cho những kiểu khác nhau.

func

foo() (err error) {

defer

func

() {

if

r :=

recover

(); r !=

nil

{

switch

x := r.(

type

) {

case

string

: err = errors.New(x)

case

error: err = x

default

: err = fmt.Errorf(

"Unknown panic: %v"

, r) } } }()

panic

(

"TODO"

) }

Dựa trên mẫu code trên, chúng ta có thể mô phỏng nhiều kiểu exception. Bởi việc định nghĩa những kiểu khác nhau của việc bảo vệ interface, chúng ta có thể phân biệt kiểu của ngoại lệ.

func

main {

defer

func

() {

if

r :=

recover

(); r !=

nil

{

switch

x := r.(

type

) {

case

runtime.Error:

case

error:

default

: } } }() }

Nhưng làm như vậy sẽ đi ngược lại với triết lý lập trình đơn giản và dễ hiểu của Go.

Liên kết

Phân Biệt Passport Và Visa Phân Biệt Passport Và Visa

Phân biệt Passport và Visa

Với cuộc sống ngày càng phát triển, du lịch đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của mọi người, ngày nay việc du lịch nước ngoài không còn quá khó khăn nữa, mọi thủ tục đều trở nên dễ dàng hơn, chi phí cũng rẻ hơn. Nhu cầu làm Visa và Passport cũng theo đó mà tăng lên.

Visa (thị thực nhập cảnh) là giấy chứng nhận của cơ quan nhập cư thuộc một quốc gia để xác minh bạn (hoặc một người nào đó) được cấp phép nhập cảnh vào quốc gia đó trong một khoảng thời gian quy định tùy trường hợp như nhập cảnh 1 lần hay nhiều lần.

Passport (hay còn gọi là hộ chiếu ) là giấy chứng nhận do chính phủ một nước cấp (ở đây là Việt Nam) để công dân nước đó có quyền xuất cảnh đi nước khác và nhập cảnh trở về nước mình.

Hiện tại có 3 loại passport thông dụng:

– Loại phổ thông (Popular Passport) : Được cấp cho công dân Việt Nam có thời hạn là 10 năm kể từ ngày cấp. Bạn sẽ phải xuất trình khi nhập cảnh vào một quốc gia khác. Du học sinh và công dân định cư cũng được dùng loại này.

– Hộ chiếu công vụ (Official Passport): Được cấp phép cho cá nhân trong cơ quan, chính phủ nhà nước đi công vụ ở nước ngoài.

– Hộ chiếu ngoại giao (Diplomatic Passport): Được cấp cho quan chức ngoại giao của chính phủ công tác ở nước ngoài.

Phân biệt Passport và Visa – Sự khác nhau giữa Visa và Passport.

Nói đơn giản, Passport (hộ chiếu) là giấy tờ được cơ quan thẩm quyền cấp cho công dân nước mình, trong khi đó visa là loại giấy tờ nơi người xin cấp muốn đến nhưng không phải là công dân nước đó.

Ví dụ: Bạn muốn nhập cảnh sang Mỹ để du lịch trong thời gian là 1 tháng thì cần phải có 2 loại giấy tờ

– Passport do chính phủ Việt Nam cấp xác nhận bạn là công dân Việt Nam hợp pháp và muốn xuất ngoại.

– Visa do chính phủ Mỹ cấp xác nhận cho phép bạn nhập cảnh vào nước họ du lịch.

Passport có trước, visa có sau, nếu không có passport bạn sẽ không thể xin được visa.

1. Thái Lan: không quá 30 ngày 2. Singapore: không quá 30 ngày 3. Lào: không quá 30 ngày 4. Campuchia: không quá 30 ngày 5. Philippines: không quá 21 ngày 6. Myanmar: không quá 14 ngày 7. Indonesia: không quá 30 ngày 8. Brunei: không quá 14 ngày 9. Malaysia: không quá 30 ngày 10. Kyrgyzstan: miễn visa (không phân biệt mục đích nhập cảnh) 11. Panama: miễn visa với mục đích du lịch 12. Ecuador: không quá 90 ngày 13. Turks and Caicos: không quá 30 ngày 14. Đảo Jeju: miễn visa 15. Saint Vincent and the Grenadies: miễn visa 16. Haiti: không quá 90 ngày

Chiến Lược Marketing Phân Biệt Và Không Phân Biệt

Chiến lược marketing phân biệt trong tiếng Anh gọi là: differentiated marketing strategy.

Khi áp dụng chiến lược này, doanh nghiệp quyết định tham gia vào nhiều đoạn thị trường và áp dụng những chương trình marketing riêng biệt cho từng đoạn.

Thay vì việc cung ứng một loại sản phẩm, áp dụng một chương trình marketing cho tất cả mọi khách hàng, doanh nghiệp cung ứng những sản phẩm khác nhau, với nhiều mức giá bán, nhiều kiểu xúc tiến cho từng nhóm khách hàng.

Chiến lược marketing phân biệt tỏ ra ưu thế hơn chiến lược marketing không phân biệt trong việc đáp ứng nhu cầu và ước muốn đa dạng của thị trường. Bằng việc đa dạng hóa sản phẩm và các nỗ lực marketing, doanh nghiệp có khả năng gia tăng doanh số và xâm nhập sâu hơn vào nhiều đoạn thị trường.

Bất lợi phải kể đến của chiến lược này là doanh nghiệp phải đối phó với sự gia tăng về chi phí bỏ ra trong sản xuất và thương mại.

Vì marketing phân biệt làm tăng cả mức tiêu thụ lẫn chi phí nên khó có thể đưa ra được kết luận về khả năng sinh lời. Vấn đề trọng tâm khi áp dụng chiến lược này, doanh nghiệp phải cân đối được số đọan thị trường và qui mô của từng đoạn.

Việc chọn số lượng đoạn quá lớn dẫn đến phải cung ứng quá nhiều mặt hàng cho qui mô của từng đoạn thị trường quá nhỏ, thường không có hiệu quả.

Nguyên tắc chung của áp dụng chiến lược này là “giảm phân đoạn” hoặc “mở rộng phần cơ bản” để tiêu thụ một khối lượng lớn hơn cho mỗi loại nhãn hiệu, sao cho tốc độ tăng của chi phí thấp hơn tốc độ tăng của doanh thu.

Trường hợp áp dụng

Chiến lược marketing phân biệt dược áp dụng phổ biến ở những doanh nghiệp lựa chọn thị trường mục tiêu theo phương án chuyên môn hóa sản phẩm, chuyên môn hóa thị trường hoặc bao phủ thị trường và khi sản phẩm đang ở giai đoạn bão hòa của chu kì sống.

Chiến lược marketing không phân biệt trong tiếng Anh gọi là: undifferentiated marketing strategy.

Đặc trưng của chiến lược này là: doanh nghiệp bỏ qua ranh giới của các đoạn thị trường được lựa chọn. Họ tìm cách nắm giữ được một số lượng lớn nhất các khách hàng ở các đoạn thị trường đó.

Cách thức kinh doanh được áp dụng ở chiến lược này gọi là “sản xuất và phân phối đại trà” tức là chào bán những sản phẩm giống nhau, sử dụng hình ảnh, phương pháp khuếch trương, kiểu kênh phân phối khác nhau.

Ưu thế lớn nhất của marketing không phân biệt:

Tiết kiệm chi phí nhờ khai thác được lợi thế qui mô, sản xuất và phân phối một chủng loại sản phẩm hạn hẹp và đồng nhất, tiêu chuẩn hóa cao; dễ dàng xâm nhập vào những thị trường nhạy cảm về giá.

Chiến lược marketing không phân biệt cũng có những hạn chế đáng kể.

– Thứ nhất, không dễ dàng tạo một nhãn hiệu có khả năng thu hút mọi khách hàng ở nhiều đoạn thị trường. “Thật hiếm khi có một sản phẩm hay nhãn hiệu là tất cả cho mọi người”.

– Thứ hai, khi có nhiều doanh nghiệp cùng áp dụng kiểu marketing không phân biệt sẽ làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt hơn ở những thị trường qui mô lớn, song lại bỏ qua những nhu cầu riêng biệt, qui mô nhỏ, gây nên tình trạng mất cân đối trong việc đáp ứng cầu thị trường.

– Thứ ba, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc đối phó với những rủi ro khi hoàn cảnh kinh doanh thay đổi (qui mô càng lớn sự thay đổi càng khó khăn), hoặc khi đối thủ cạnh tranh áp dụng chiến lược marketing phân biệt – chiến lược có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu và ước muốn của khách hàng.

Marketing không phân biệt thường đòi hỏi một năng lực kinh doanh mạnh, một danh tiếng nhất định. Nó chỉ thích hợp với những doanh nghiệp lớn, thị trường mục tiêu họ lựa chọn là toàn bộ thị trường hoặc “siêu đoạn” thị trường.

Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia thị trường tổng thể thành các nhóm nhỏ hơn trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, ước muốn và các đặc điểm trong hành vi.

Đoạn thị trường là một nhóm khách hàng trong thị trường tổng thể có đòi hỏi (phản ứng) như nhau đối với một tập hợp các kích thích marketing.

* MarketingTrips Tổng hợp

Bạn đang xem bài viết Phân Biệt Except Và Except For trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!