Xem Nhiều 2/2023 #️ Phân Hóa Giàu Nghèo Giữa Các Nước Qua Đại Dịch Covid # Top 6 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phân Hóa Giàu Nghèo Giữa Các Nước Qua Đại Dịch Covid # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Hóa Giàu Nghèo Giữa Các Nước Qua Đại Dịch Covid mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phân hóa giàu nghèo giữa các nước qua đại dịch COVID-19

Theo kết quả khảo sát của BBC, đại dịch COVID-19 đã tấn công các quốc gia nghèo nhiều hơn phần còn lại của thế giới, gieo rắc bất bình đẳng trên toàn cầu.

Cuộc khảo sát với gần 30.000 người tham gia cho thấy các quốc gia khác nhau đã bị ảnh hưởng thế nào bởi đại dịch, sáu tháng sau khi COVID-19 được xác nhận vào tháng 3/2020. Chi phí tài chính là một vấn đề lớn sau khi các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội đã gây thiệt hại lớn cho các nền kinh tế trên toàn thế giới.

Các nước nghèo hơn và những người trẻ cho biết họ đối mặt với khó khăn lớn nhất. Thăm dò cho thấy sự sụt giảm thu nhập của 69% người được hỏi ở các nước nghèo hơn, so với 45% ở những nước giàu hơn. Kết quả cũng khác nhau theo chủng tộc và giới tính, với phụ nữ gặp khó khăn nhiều hơn nam giới, và người da đen được cho thấy có mức độ mắc COVID-19 cao hơn người da trắng ở Mỹ. 

Nghiên cứu được GlobeScan thực hiện cho BBC World Service ở 27 quốc gia vào tháng 6/2020, vào giai đoạn cao điểm của đại dịch ở nhiều nơi. Tổng cộng, hơn 27.000 người đã được khảo sát về COVID-19 và tác động của đại dịch đối với cuộc sống của họ.

Một thế giới không bình đẳng

Cuộc thăm dò cho thấy đại dịch đã tác động nghiêm trọng hơn đến người dân ở các nước nghèo hơn và làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng hiện có. Có khác biệt đáng chú ý giữa các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và các nước không phải là thành viên. OECD là một nhóm gồm 37 quốc gia nằm trong số các nền kinh tế thịnh vượng nhất thế giới.

Cuộc thăm dò cho thấy 69% người dân ở các nước không thuộc OECD bị ảnh hưởng thu nhập do đại dịch, so với 45% người sống ở các nước OECD. Nhìn chung, nghiên cứu cho thấy những người ở Mỹ Latinh, châu Á và châu Phi có xu hướng nói rằng đại dịch đã có tác động đáng kể đến họ hơn là với những người sống ở châu Âu và Bắc Mỹ.

Những người ở Kenya (91%), Thái Lan (81%), Nigeria (80%), Nam Phi (77%), Indonesia (76%) và Việt Nam (74%) có nhiều khả năng bị ảnh hưởng về tài chính. Những người có thu nhập thấp ở những nước này nói rằng họ hiện giờ có thu nhập ít hơn trước.

Trong khi đó, những người có thu nhập cao ở Australia, Canada, Nhật Bản, Nga và Anh có nhiều khả năng bị ảnh hưởng về mặt tài chính bởi đại dịch hơn những người có thu nhập thấp nhất.

Ảnh hưởng giữa các thế hệ

Vẫn theo thăm dò này, đại dịch COVID-19 đã mở ra một hố sâu ngăn cách giữa giới trẻ và người già. Các thế hệ trẻ hơn nói rằng họ trải qua một thời gian khó khăn hơn các thế hệ già. Điều này có thể là do có ít cơ hội hơn để làm việc, giao tiếp xã hội và tìm kiếm giáo dục, học hành trong thời gian đại dịch xảy ra.

Khoảng 55% người được hỏi thuộc Thế hệ Z (tức những người sinh từ giữa những năm 1990 đến đầu những năm 2010) và 56% thuộc thế hệ Millennials (những người sinh từ đầu những năm 1980 đến giữa những năm 1990) cảm thấy đại dịch đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của họ.

Ngược lại, chỉ 49% những người thuộc Thế hệ X (những người sinh từ 1965 đến 1980) và 39% Những người thuộc nhóm Baby Boomers (bùng nổ dân số – những người sinh từ 1946 đến 1964) nói rằng họ cảm thấy như vậy.

Những người được hỏi thuộc thế hệ Z phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất về tài chính, với 63% nói rằng họ thấy thu nhập của mình có sự thay đổi. Ngược lại, chỉ 42% thuộc thế hệ bùng nổ dân số Baby Boomers cho biết thu nhập của họ bị ảnh hưởng.

Các thế hệ cao niên hơn cũng có nhiều khả năng thoát khỏi những tổn hại về thể chất hoặc tài chính. Khoảng 56% thuộc thế hệ Baby Boomers và lớn hơn cho hay không bị tác động về thể chất hoặc tài chính, so với mức trung bình 39% trên toàn cầu.

Các phát hiện chính khác từ cuộc thăm dò bao gồm:Gần 6/10 người (57%) nói rằng họ đã bị ảnh hưởng tài chính bởi đại dịch. Phụ nữ nói rằng họ phải đối mặt với tác động tài chính lớn hơn nam giới. Sự chênh lệch lớn nhất được cho thấy ở Đức (32% phụ nữ so với 24% nam giới), Italy (50% so với 43%) và Anh (45% so với 38%) chịu ảnh hưởng.

Trong khi đó, các bậc cha mẹ cảm thấy những tác động lớn hơn từ đại dịch, với 57% nói với khảo sát rằng họ đã bị ảnh hưởng rất nhiều, so với 41% những người không có con./.

Theo TTXVN

Toàn Cầu Hóa Chênh Lệch Giàu Nghèo

Trên các phương tiện thông tin đại chúng, không chỉ ở Việt Nam mà hầu như trên toàn thế giới, người ta nói rất nhiều về sự nghèo đói và hiện tượng chênh lệch giàu nghèo. Tuy nhiên, ở đây có một điểm cần làm rõ, đó là phải phân biệt sự nghèo đối với khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, sự nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo với nhận thức về chúng. Cần phải khẳng định rằng toàn cầu hóa chỉ làm cho sự nghèo đói xuất hiện và được chú ý hơn, chứ không phải làm cho người ta nghèo đói hơn. Trước đây, khi tất cả mọi người đều nghèo đói, nhất là trong một thế giới ít thông tin, sự nghèo đói bị chìm đi. Thế nhưng, toàn cầu hóa, với luồng thông tin thông thoáng, đã khiến người ta cảm nhận rõ ràng hơn sự nghèo đói của mình trong mối tương phản với sự giàu có của những dân tộc khác. Cũng bởi thế mà một số người vội vã đổ lỗi cho toàn cầu hóa, quên mất rằng chính nó đã, đang và sẽ đem đến cho dân tộc mình rất nhiều cơ hội phát triển.

Toàn cầu hóa đã thổi vào các quốc gia một luồng sinh khí mới, hay ít ra, buộc các quốc gia, thêm một lần nữa, phải nhìn lại chính mình, phải xác định những mặt mạnh, mặt yếu của chính mình để tận dụng các cơ hội và đối mặt với những hiểm họa mà nó mang lại.

Hãy nhìn lại những diễn biến gần đây của thế giới để thấy rằng, sự luân chuyển mạnh mẽ dòng vốn giữa các quốc gia, quá trình chuyển giao công nghệ sôi động cùng với sự phổ biến các tiêu chuẩn về lao động và môi trường đã giúp và buộc các quốc gia, nhất là những nước thuộc thế giới thứ ba, cải thiện bức tranh kinh tế xã hội của mình như thế nào. Toàn cầu hóa có tác động quan trọng nhất là khai thác việc sử dụng một cách hiệu quả lợi thế so sánh của các quốc gia, và hơn thế nữa, nó giúp các quốc gia phát huy những lợi thế ấy. Dường như, lý thuyết về việc khai thác chi phí nhân công rẻ đã không còn tuyệt đối đúng và giữ nguyên màu sắc nguyên thủy của nó nữa. Trước đây, khi toàn cầu hóa còn ở mức thấp, các nước giàu chỉ khai thác lao động về mặt số lượng, hay nói khác đi, họ chỉ tận dụng những lao động cơ học, thay vì tạo điều kiện để tăng cường hàm lượng chất xám của nhưng lao động ấy. Ngày nay, toàn cầu hóa buộc các quốc gia phải tăng cường chất lượng lao động cũng như tiêu chuẩn hóa lao động của mình, phải đặt vấn đề về việc sử dụng lao động tù nhân lao động trẻ em… thay vì khai thác theo kiểu bóc lột như trước đây.

Toàn cầu hóa cũng đã làm thay đổi tư duy của mọi người về hoạt động đầu tư của các nước giàu. Trước đây, người ta nhìn nhận nó đơn thuần như một quá trình khai thác tài nguyên, mà kẻ hưởng lợi duy nhất là những nước đi đầu tư. Ngày nay, hoạt động này được công nhận như một quá trình hợp tác “win-win”, đôi bên đều có lợi. Các nước đầu tư đã, đang và sẽ tái phân phối sự giàu có của mình, giúp các nước nghèo đói khai thác và chỉ cho họ cách thức để tạo ra sự giàu có cho riêng mình. Bên cạnh đó, các nước đầu tư cũng có thể mở rộng thị trường của mình qua việc làm cho một bộ phận dân cư ở các nước nhận đầu tư trở nên giàu có hơn, và do đó, có điều kiện tiêu dùng sản phẩm của mình. Cũng nhờ thế, quá trình này phần nào giúp các nước đang phát triển giải quyết vấn đề việc làm và gia tăng những điều kiện thuận lợi để thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nên ý thức về những ảnh hưởng tiêu cực mà toàn cầu hóa mang đến. Thứ nhất, toàn cầu hóa buộc các quốc gia phải đối mặt với những nguy cơ tụt hậu, nó cũng buộc các quốc gia phải chấp nhận thay đổi, mà đôi khi là những thay đổi đau đớn. Toàn cầu hóa sẽ chỉ ra những hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sẽ khiến các doanh nghiệp phải tham gia vào một cuộc chơi với những luật chơi khắc nghiệt, để hoặc tận hưởng những cơ hội mà nó mang lại, hoặc chấp nhận bị phá sản. Vì thế, nó sẽ kéo theo hệ quả thất nghiệp như là nguyên nhân của sự lan tràn các tệ nạn xã hội.

Thứ hai, toàn cầu hóa chỉ ra một cách rõ ràng sự lạc hậu của năng lực một dân tộc, năng lực doanh nghiệp và năng lực cá nhân. Hơn bất kỳ lúc nào, người ta sẽ phải đánh giá một cách sâu sắc về “tính có thể mua bán được” của những giá trị lao động của mình. Thứ ba, toàn cầu hóa cũng sẽ yêu cầu các quốc gia phải giải bài toán đánh đổi tăng trưởng về kinh tế với tính ổn định của chính trị và xã hội. Bởi nó thổi vào các quốc gia những luồng tư duy mới rất có thể gây ra những xáo trộn tạm thời. Ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề nan giải của các quốc gia và của cả thế giới trước nhịp điệu phát triển vũ bão của khoa học công nghệ. Nhưng trên hết, dân chủ hóa đóng vai trò then chốt, bởi lẽ chỉ có dân chủ hóa mới cho phép chúng ta huy động tiềm năng sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, hợp lý hóa đời sống kinh tế chính trị, tăng sức cạnh tranh và cuối cùng là sự phát triển bền vững.

Cũng tương tự như vậy, chúng ta phải nhận thức lại vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Xét về mặt xã hội học, sự chênh lệch giàu nghèo trở thành vấn đề xã hội thực sự và làm nảy sinh những vấn đề mang tính tâm lý tác động không tốt tới nhiều mặt của đời sống xã hội. Điều này thể hiện qua việc xuất hiện và tồn tại tâm lý hằn học với sự giàu có, đố kỵ với những nhà kinh doanh, ác cảm với những người thành đạt không theo quan niệm truyền thống cũ. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta đổ lỗi cho kinh tế thị trường, cho toàn cầu hóa hoặc tự do thương mại, coi đó như là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, buôn lậu, và các hành vi trục lợi hoặc tạo ra ưu thế và lợi ích cho người giàu, hạn chế và làm thiệt hại đến quyền lợi của người nghèo và là nguyên nhân khiến khoảng cách giàu nghèo ngày càng mở rộng. Tâm lý tiêu cực này nảy sinh trên cơ sở nhận thức không đúng đắn về sự chênh lệch giàu nghèo. Nhận thức lại vấn đề sẽ giúp chúng ta hình thành tâm lý xã hội đúng đắn và chỉ có như vậy mới đưa ra được những biện pháp phù hợp để xoá đói giảm nghèo tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển vốn là hố sâu ngăn cách giữa nhiều quốc gia, nhiều cộng đồng đang cùng sống chung dưới một mái nhà thế giới.

Chúng ta cần nhận thức chênh lệch giàu nghèo là hiện tượng tất yếu của xã hội. Chúng ta không thể xoá bỏ được chênh lệch giàu nghèo bởi nó thể hiện kết quả của chênh lệch năng lực tự nhiên giữa các cá thể. Điều chúng ta có thể làm được là nâng cao mức sông của người nghèo thông qua việc nâng cao năng lực của chính họ. Chỉ có trên cơ sở đổi mới quan điểm như vậy chúng ta mới xây dựng được một tâm lý xã hội tích cực đối với vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Đây cũng chính là tiền đề để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.

Có người đã trả lời rằng có thể. Câu chuyện này cho thấy tâm lý nóng vội muốn đốt cháy nhiều thứ để phát triển, nhưng cũng cho thấy cả sự phiến diện trong cách tư duy của chúng ta về một sự phát triển thực sự. Giàu có thịnh vượng không phải là một toà lâu đài đẹp được xây dựng chỉ sau một đêm như ước mơ của anh bạn trẻ nêu trên. Chúng ta không thể tư duy hời hợt như vậy bởi vấn đề phải được giải quyết trên quy mô quốc gia và quốc tế, trên cơ sở phối hợp các chính sách đã được phân tích và nghiên cứu thấu đáo

Một số người chủ trương rằng để giải quyết vấn đề nghèo đói tạo lập sự bình đẳng xã hội phải thực hiện nhiều hơn nữa các giải pháp ưu đãi người nghèo thông qua các biện pháp điều tiết thu nhập của nhà nước. Những giải pháp này còn có thể áp dụng trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam chưa bị ràng buộc quá khắt khe bởi những hiệp ước kinh tế song phương hoặc đa phương, tức là, khi nhà nước còn có không gian đủ tự do để sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ sản xuất thông qua các hình thức ưu đãi cho người nghèo. Nhưng các hình thức ưu đãi như vậy không thể là giải pháp dài hạn. Về thực chất, đó chỉ là sự bố thí trên quy mô xã hội và sẽ không bao giờ cho phép chúng ta giải quyết dược cơ bản vấn đề nghèo đói. Hơn thế nữa, trong tương lai, khi tiến trình hội nhập kinh tế đạt đến quy mô và trình độ cao, nhiều hình thức ưu đãi sẽ không còn có thể áp dụng, bởi sẽ bị coi là trợ cấp thương mại, điều cấm kỵ trong xu thế tự do hóa thương mại.

Rõ ràng, chúng ta phải đi con đường khác để tìm ra những giải pháp cơ bản có thể xoá đói giảm nghèo phù hợp với các chuẩn mực quốc tế cũng như xu hướng phát triển của thời đại.

Theo chúng tôi, trên phương diện vĩ mô, chúng ta có thể tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, nâng cao năng lực cho người lao động đê họ có thể cạnh tranh thắng lợi, hoặc chí ít, giúp người lao động không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập thương mại, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn, trong khi năng lực tự nhiên của người lao động tại các nước nghèo lại nhanh chóng trở nên lạc hậu với yêu cầu của thị trường và rất dễ bị gạt ra bên lề của sự phát triển. Ngư lao động tại các nước nghèo như Việt Nam cần được nâng cao năng lực để tham gia vào quá trình hội nhập, đó mới là hạt nhân của chính sách xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển. Để làm được như vậy, đổi mới giáo dục – đào tạo phải là bước đi đầu tiên và tất yếu trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Vấn đề không chỉ ở chỗ nhiều người nghèo không có điều kiện tiếp cận hệ thống giáo dục – đào tạo, mà còn ở chỗ hệ thống giáo dục – đào tạo hiện nay quá xa rời thực tế thị trường lao động, không đảm bảo trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì thế, năng lực cạnh tranh cá nhân của họ vẫn rất yếu kém, khiến họ là những người đầu tiên thua thiệt trong cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc.

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu một cách linh hoạt và thích hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình hội nhập. Cần phải nói rằng chuyển dịch cơ cấu là quá trình tất yếu xảy ra trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chuyển dịch đến đâu, chuyển dịch như thế nào, chuyển dịch chất lượng lao động theo hướng nào là chuẩn mực quốc tế cũng như xu hướng phát triển của thời đại.

Theo chúng tôi, trên phương diện vĩ mô, chúng ta có thể tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, nâng cao năng lực cho người lao động để họ có thể cạnh tranh thắng lợi, hoặc chí ít, giúp người lao động không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập thương mại, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn, trong khi năng lực tự nhiên của người lao động tại các nước nghèo lại nhanh chóng trở nên lạc hậu với yêu cầu của thị trường và rất dễ bị gạt ra bên lề của sự phát triển. Ngư lao động tại các nước nghèo như Việt Nam cần được nâng cao năng lực để tham gia vào quá trình hội nhập, đó mới là hạt nhân của chính sách xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển. Để làm được như vậy, đổi mới giáo dục – đào tạo phải là bước đi đầu tiên và tất yếu trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Vấn đề không chỉ ở chỗ nhiều người nghèo không có điều kiện tiếp cận hệ thống giáo dục – đào tạo, mà còn ở chỗ hệ thống giáo dục – đào tạo hiện nay quá xa rời thực tế thị trường lao động, không đảm bảo trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì thế, năng lực cạnh tranh cá nhân của họ vẫn rất yếu kém, khiến họ là những người đầu tiên thua thiệt trong cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc.

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu một cách linh hoạt và thích hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình hội nhập. Cần phải nói rằng chuyển dịch cơ cấu là quá trình tất yếu xảy ra trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chuyển dịch đến đâu, chuyển dịch như thế nào, chuyển dịch chất lượng lao động theo hướng nào là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn và nghiêm túc hơn.

Chẳng hạn, chúng ta luôn nói về việc phát triển các làng nghề mà quên mất rằng nghề ấy, hay làng nghề ấy cho ra những sản phẩm không còn những giá trị thị trường như trước nữa, và do đó, thị trường lao động ấy cũng không nên khuyến khích nữa. Chúng ta đã bàn nhiều về chuyển dịch lĩnh vực sản xuất, nhưng do những nghiên cứu nửa vời, chúng ta lại rơi vào tình trạng chuyển từ một lĩnh vực kém hiệu quả này sang một lĩnh vực kém hiệu quả khác. Kết quả là chúng ta đã nghèo lại còn nghèo hơn, vì việc đầu tư sai hướng đã gây lãng phí cả năng lực vật chất cũng như thời gian. Bởi vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu không thể thực hiện bằng mọi giá mà cần được nghiên cứu một cách khoa học để tạo ra những thay đổi tích cực và phù hợp với nhu cầu của thị trường. Trong mọi trường hợp, chúng ta không được quy quá trình chuyển dịch cơ cấu đơn thuần về các đối tượng sản xuất, mà cần phải chuyển địch cơ cấu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu quản lý và cả cơ cấu thị trường lao động. Nếu không, chuyển dịch cơ cấu có thể lại là sự thua thiệt của người nghèo và rốt cục, khoảng cách giàu nghèo không những không bị thu hẹp mà còn có nguy cơ mở rộng hơn.

Thứ ba, phát triển nông thôn như là hạt nhân của chiến lược xoá đói giảm nghèo. Với một quốc gia mà đa số người dân sống ở nông thôn như Việt Nam, khu vực nông thôn là lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Theo những số liệu chính thức, hiện còn quá nhiều người nông dân Việt Nam có mức sống dưới đô la/ ngày. Vì thế, nông thôn là địa bàn chính, phát triển nông thôn là một giải pháp cốt lõi, để xoá đói giảm nghèo. Nếu được đào tạo kỹ năng để chủ động tham gia vào quá trình hội nhập, người lao động nông thôn sẽ không phải ra thành thị chỉ để làm các nghề nặng nhọc. Họ có thể xây dựng cuộc sống mới và hưởng thụ thành quả ngay trên mảnh đất quê hương bởi cuộc sống ở đây cũng cần phát triển để không bị tụt hậu so với nhịp phát triển chung trong một thế giới đang toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Cuối cùng xây dựng đô thị giàu có và thịnh vượng, tạo động lực thúc đẩy cả nền kinh tê. Xoá đói giảm nghèo phải được đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế chung của một quốc gia. Các nước đang phát triển muốn cho nền kinh tế cất cánh, muốn đất nước phồn vinh, muốn xoá đói giảm nghèo phải có động lực đủ mạnh. Trên phương diện thị trường, khu vực đô thị giàu có với sức mua lớn sẽ kích thích sản xuất ở nông thôn, tạo lối ra cho sản phẩm và dịch vụ từ khu vực nông thôn, và do đó, có thể đẩy nhanh quá trình giảm nghèo cho nông dân hiện chiếm đại bộ phận cư dân cả nước. Chính vì thế, nếu chúng ta thành công trong việc giải bài toán tăng cường sức mua đô thị, bộ mặt của nông thôn sẽ được cải thiện hơn rất nhiều. Tuy nhiên, để tăng cường sức mua đô thị, chúng ta cũng nên có những thay đổi về chính sách thuế thu nhập. Hiện nay, chính sách thuế thu nhập của chúng ta ít nhiều mang tính chất “cào bằng”, bỏ qua sự khác nhau giữa các khu vực địa lý, tức là bỏ qua những yếu tố địa kinh tế, mà quên mất rằng tiền cũng như nước, nó sẽ chảy từ nơi có cột nước cao đến nơi có cột nước thấp. Do đó, nếu chúng ta làm cho mức nước ở các đô thị thấp, thì sức nén đẩy tới những vùng xa xôi khác cũng sẽ thấp. Thành công của một số nước trong việc phát triển đô thị chỉ ra rằng, việc phát triển các đô thị lớn thành các trung tâm kinh tế giàu có và thịnh vượng sẽ đóng vai trò các đầu tầu tạo động lực thúc đẩy cả nền kinh tế cất cánh.

Qua tất cả những gì đã trình bày ở trên, chúng tôi muốn khẳng định rằng xoá đói giảm nghèo không phải là vấn đề của riêng người nghèo mà là của toàn xã hội. Tuy nhiên, giải pháp cho vấn đề không nằm ở chỗ tiếp tục khoét sâu khía cạnh tâm lý của việc phân biệt giàu nghèo, chia rẽ các lực lượng trong xã hội và đổ lỗi cho những lực lượng này hoặc lực lượng khác, mà ở chỗ nhận thức một cách khách quan và khoa học các quy luật và hiện tượng nhằm xây dựng những chiến lược phát triển phù hợp. Một chính sách thực tế và sáng suốt hơn để xoá đói giảm nghèo, trong bối cảnh hiện nay khi toàn cầu hóa đang ngày càng trở thành xu thế áp đảo trong mọi lĩnh vực đời sống phát triển phải là tăng cường hợp tác giữa các lực lượng, giữa các quốc gia, không kể giàu nghèo, đồng thời nâng cao mức sống tối thiểu cho người dân thông qua việc cải thiện năng lực phát triển của chính họ.

Mọi chương trình xoá đói giảm nghèo chỉ có thể thành công khi chính người nghèo trở thành chủ thể trong cuộc chiến chống đói nghèo.

Sự Khác Biệt Giữa Trẻ Nhà Giàu Và Nhà Nghèo

Những đứa trẻ giàu sợ mình nghèo đi, còn các đứa trẻ khó khăn sợ phải nhìn thấy đám người có tiền.

Cuộc đời của một đứa trẻ có dễ dàng và thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào xuất thân gia đình.

Sự khác biệt về tuổi thơ của những đứa trẻ sinh ra trong gia đình giàu có và gia đình thiếu thốn về vật chất được khắc họa trong chính thái độ của các em với cuộc sống.

Đợi mẹ về

Trẻ nhà giàu sẽ biết mẹ mua cái gì cho nó, mẹ sẽ đáp ứng được những thứ nó thích còn đứa trẻ kém may mắn hơn thì không.

Chỉ cần mẹ về nhà và mua cho nó bất cứ cái gì trên đời này, nó mặc nhiên hài lòng đến độ sung sướng tột cùng.

Trong khi ở nơi khác, ông bố, bà mẹ khác, điều kiện tốt hơn hẳn, trẻ có tất cả mọi thứ tuyệt vời như quà, bánh sinh nhật , mọi lời gửi gắm cưng chiều, nựng nịu nhất.

Đồ chơi

Đồ chơi của đứa trẻ sung sướng là những sản phẩm công nghệ hiện đại, đầy đủ, là công viên, sở thú… Còn của đứa trẻ nghèo là sản phẩm từ lá cây, là diều giấy, ruộng đồng, sông nước…

Con đường đến trường

Một đứa trẻ nghèo sẽ tự đi học về trên đoạn đường từ nhà đến trường, dù trời nắng hay mưa, đường có khó hay dễ đi.

Cảm giác đó dĩ nhiên không có ở đứa trẻ được bố mẹ thay phiên đưa đón trên con đường đến trường mỗi ngày.

Ước mơ

Trẻ nhà giàu ước mình làm gì đó để bố mẹ hãnh diện và tự hào. Trẻ nhà nghèo ước mình làm gì đó để bố mẹ thoát nghèo.

Cái gì cũng sẽ qua, mọi đứa trẻ rồi sẽ lớn lên. Đứa trẻ nghèo lớn lên bằng tuổi thơ “dữ dội”, đen đúa, bẩn thỉu và lam lũ.

Còn đứa trẻ may mắn hơn sẽ lớn lên từ sự bao bọc, che chở đến từng miếng ăn, giấc ngủ, lối đi. Suy cho cùng lớn lên theo số phận nào cũng đáng quý!

Cách Phân Biệt Đàn Ông Giàu Và Nghèo

1. Đàn ông giàu hay nói tới đi chơi. Đàn ông nghèo hay nói tới công việc.

2. Đàn ông giàu ăn mặc theo sở thích của mình. Đàn ông nghèo ăn mặc theo sở thích của người xung quanh hoặc theo quy định.

3. Đàn ông nghèo dẫn bạn gái vào tiệm sang trọng. Đàn ông giàu dẫn vào tiệm kín đáo.

4. Đàn ông nghèo hay mang tiền trong túi. Đàn ông giàu mang thẻ tín dụng. Đàn ông cực giàu chả mang gì hết.

5. Đàn ông nghèo hay nói về tài sản. Đàn ông giàu hay nói về các dự định.

6. Đàn ông giàu tặng quà theo cảm hứng. Đàn ông nghèo tặng quà theo những ngày quy định trong năm.

7. Đàn ông nghèo nhiều bạn bè. Đàn ông giàu nhiều cấp dưới.

8. Đàn ông giàu thường già. Đàn ông nghèo thường trẻ. Nếu quá trẻ mà giàu thì đấy chỉ là con của đàn ông giàu.

9. Đàn ông nghèo hay kể về những cô gái anh ấy ghét. Đàn ông giàu hay kể về những cô gái anh ấy yêu.

10. Đàn ông giàu bước ra khỏi xe hơi là đi thẳng. Đàn ông nghèo bước ra là nhìn chung quanh.

11. Đàn ông nghèo hay kể về những nơi đã đi qua. Đàn ông giàu hay kể về những người đã gặp.

12. Đàn ông nghèo hay đeo dây chuyền và nhẫn vàng. Đàn ông giàu chả có gì hết.

13. Dẫn bạn gái vào cửa hàng, đàn ông giàu thả đó rồi đi. Đàn ông nghèo luôn luôn muốn đi kèm.

14. Nếu bạn đòi đi thi hoa hậu, đàn ông nghèo sẽ can và nói: “Em không đậu đâu”, còn đàn ông giàu cũng can và nói: “Em đậu để làm gì?”.

15. Đến nhà bạn gái, đàn ông nghèo nhìn đồ đạc trong phòng. Đàn ông giàu nhìn tranh ảnh trên tường.

16. Mới gặp nhau, đàn ông nghèo hỏi: “Em làm nghề gì?”. Đàn ông giàu hỏi: “Em định không làm nghề gì?”.

17. Kể về thời thơ ấu, đàn ông nghèo hay nói: “Ngày xưa anh khổ”. Còn đàn ông giàu hay nói: “Ngày xưa anh chả biết gì”.

18. Khi bị mất cắp, đàn ông nghèo nói: “Của đi thay người”. Còn đàn ông giàu nói: “Thôi cho chúng nó”.

19. Vô khách sạn, đàn ông nghèo quan tâm tới những gì trong phòng. Đàn ông giàu quan tâm những gì ngoài cửa sổ.

20. Gặp bọn cướp, đàn ông giàu đưa tiền, đàn ông nghèo chiến đấu dũng cảm.

21. Đàn ông nghèo giáo dục con cái quan tâm tới học hành. Đàn ông giàu giáo dục con cái quan tâm tới giao tiếp.

22. Đàn ông nghèo uống rượu theo nhãn hiệu. Đàn ông giàu uống rượu theo năm.

23. Đàn ông nghèo khoe bạn giàu. Đàn ông giàu khoe bạn nghèo.

24. Đàn ông nghèo nói: “Xa em là anh chết”. Đàn ông giàu nói: “Xa em anh sẽ sống khác đi”.

25. Dự hội nghị, đàn ông nghèo quan tâm lãnh đạo nói gì. Đàn ông giàu quan tâm ai là lãnh đạo.

26. Đàn ông nghèo mua tặng bố mẹ vợ thuốc bổ. Đàn ông giàu mua tặng vé đi du lịch.

27. Đàn ông nghèo da trắng trẻo. Đàn ông giàu da rám nắng.

28. Đàn ông nghèo đọc xem báo chí viết gì. Đàn ông giàu đọc xem báo chí không viết gì.

29. Đàn ông nghèo hứa: “Yêu em cho đến chết”. Đàn ông giàu hứa: “Yêu em cho đến hết yêu”.

30. Đi bên em, đàn ông nghèo nắm tay. Đàn ông giàu khoác vai.

Bạn đang xem bài viết Phân Hóa Giàu Nghèo Giữa Các Nước Qua Đại Dịch Covid trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!