Xem Nhiều 2/2023 #️ Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non # Top 5 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẦM NON

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẦM NON

MỘT MỤC TIÊU QUAN TRỌNG.

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục Mầm non.Vì ngôn ngữ sẽ giúp trẻ bày tỏ, trao đổi và giao tiếp với nhau trong học tập cũng như vui chơi.Thông qua hoạt động dạy phát triển ngôn ngữ sẽ giúp trẻ phát triển lời nói mạch lạc, rõ ràng hơn. Chính vì thế ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hoá cho trẻ. Ngôn ngữ góp phần đào tạo các em trở thành con người hoàn thiện.

Chính tính chất rất quan trọng này mà môn học phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non trở thành một môn học trọng tậm, bắt buộc trong giáo dục học Mầm non ở mọi bậc học. Môn học cung cấp cho giáo viên mầm non một nền tảng kiến thức sâu rộng về phương pháp dạy ngôn ngữ cho trẻ, củng cố vững chắc cho giáo viên kiến thức về ngôn ngữ học, kỹ năng sử dụng, ứng dụng ngôn ngữ cũng như cách thức và các phương pháp tổ chức cho trẻ tiếp nhận, sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ một cách tích cực, hiệu quả.

Chúng ta thấy rằng, nhu cầu chiếm lĩnh ngôn ngữ ở trẻ là rất cần thiết.  Ngay từ nhỏ, các bé cần được tập nói ngôn ngữ, tập nghe âm thanh ngôn ngữ như một thói quen thường trực góp phần thúc đẩy quá trình học nói ở trẻ nhanh chóng và hiệu quả. Nhưng có đạt được kết quả tốt hay không là mục tiêu quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ ở trẻ Mầm non. Môn học phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non góp phần định hướng giải quyết những nhiệm vụ trọng tâm để phát triển ngôn ngữ cho trẻ đó là bước đầu hình thành cho trẻ những năng lực ngôn ngữ như nghe lời nói và phát âm, khả năng sử dụng từ ngữ, các kiểu câu tiếng Việt và đặc biệt là nói năng mạch lạc trong giao tiếp và học tập, song song với đó trang bị cho các em một số kĩ năng tiền đọc, viết cần thiết để học tiếng Việt ở lớp một. Nhưng quan trọng hơn hết là qua môn học, giáo viên mầm non được trang bị những kiến thức quan trọng về ngôn ngữ cùng với những cách thức và phương pháp để giải quyết các nhiệm vụ trong tậm của phát triển ngôn ngữ ở trẻ mầm non, hoàn thành một mục tiêu quan trọng: “Hình thành và phát triển ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ cho trẻ mầm non.”

Mỗi giáo viên mầm non nên xem việc hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ. Xem nó là cầu nối có đóng góp những vai trò tích cực về mặt nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ cho chính bản thân mình.

Tóm lại, vai trò của ngôn ngữ đối với con người nói chung và trẻ mầm non nói riêng là không thể phủ nhận. Việc tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực, đúng quy tắc và văn hóa là yêu cầu bắt buộc đối với mọi chúng ta. Nó trở thành một mục tiêu quan trọng!

Chuyên Đề: Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

PHẦN I

1. Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ – thành tựu lớn nhất của con người – là một hệ thống tín hiệu đạc biệt. Nú là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong xã hội loài người, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh ngiệm, bày tỏ với nhau những nguyện vọng, ý muốn và cùng nhau thực hiện những dự định tương lai.

(thiết bị mầm non hcm)sáng kiến kinh nghiệm mầm non hay sáng kiến kinh nghiệm mầm non 2012 sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn văn học sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn toán sáng kiến kinh nghiệm mầm non 4-5 tuổi sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn tạo hình sáng kiến kinh nghiệm mầm non của cán bộ quản lý sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn âm nhạc sáng kiến kinh nghiệm mầm non môn chữ cái

Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất mạnh mẽ, tạou ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử – xã hội của nền văn hoá loài người. Nú giúp trẻ tích luỹ kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ giao tiếp được với mọi người xung quanh, là phương tiện giúp trẻ điều chỉnh, lĩnh hội những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực. Ngày nay trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ , chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục – phát triển toàn vẹn nhân cách trẻ.

Trường mầm non là nơi tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn vẹn nhân cách cho trẻ, trong đó vai trò của nhà giáo dục và hoạt động tích cực của từng các nhân trẻ có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của trẻ nói chung và phát triển ngôn ngữ của từng trẻ nói riêng. Song trên thực tế để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ giáo viên mầm non đã làm gì để cung cấp cho trẻ vốn từ phong phú, dạy trẻ phát âm chuẩn? Hay khi hướng dẫn trẻ tham gia vào hoạt động ngôn ngữ giáo viên đã phát huy được tính tích cực, đã tạo điều kiện cho trẻ được luyên tập khả năng nói, phát âm chính xác, sử dụng từ đúng để diễn đạt ý nghĩ của mình trong các tình huống khác nhau của hoạt động ngôn ngữ chưa ?…

Từ những lý do trên khiến tôi đi sâu vào ” phân tích thực trạng phát triển lời nói của trẻ mầm non hiện nay”

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

2. Một số vấn đề lý luận chung về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ

2. 1 Một số khái niệm về ngôn ngữ.

Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người. Ngôn ngữ và lao động là hai yếu tố cơ bản quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của con người trong xã hội. Ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của nhiều ngành khoa học như: Xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lý học, giáo dục học…Vậy bản chất của ngôn ngữ học là gì?

– Trước hết, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội.

Ngôn ngữ chỉ sinh ra trong xã hội do ý muốn và nhu cầu – người ta phải giao tiếp với nhau trong quá trình sống, tồn tại và phát triển. Bên ngoài xã hội loài người ngôn ngữ không thể phát sinh. Ngôn ngữ là cacớ chung của xã hội, đối với mỗi cá nhân ngôn ngữ như là một thiết chế xã hội chặt chẽ, được giữ ghỡn, phát triển trong kinh nghiệm, trong truyền thống chung của cộng đồng. Thiết chế đó là một tập hợp những thói quen như nghe, nói và hiểu được tiếp thu một cách dễ dàng và liên tục ngay từ thời thơ ấu của mỗi chúng ta. Nú như là một cỏớ gì đấy bắt buộc đối với mỗi mọi người trong mọi người.

Mặt khác, sự phân biệt giữa ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ chung của mỗi cộng đồng dân tộc với các biến dạng của nó trong các cộng đồng người nhỏ hơn ( gọi là tiếng địa phương)…cũng chính là những biểu hiện sinh động, đa dạng về tính xã hội của ngôn ngữ.

Ngôn ngữ không mang tính di truyền, người ta có được ngôn ngữ là do quá trình học tập, tiếp thu từ những người sống xug quanh. Ở trẻ em để có vốn ngôn ngữ nhất định phải trải qua quá trình học tập lâu dài.

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt bởi nú không phụ thuộc vào kiến trúc thượng tầng riêng của một xã hội nào cho nên khi cơ sở hạ tầng nào đó bị phá vỡ kéo theo sự sụp đổ của kiến trúc thượng tầng tương ứng thì ngôn ngữ vẫn là nú. Mặt khác ngôn ngữ không mang tính giai cấp, nú ứng xử bình đẳng với mọi người trong xã hội.

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

-Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trong nhất của con người.

Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác với một mục đích nhất định nào đó. Khi giao tiếp người ta trao đổi tư tưởng tình cảm với nhau, tác động đến nhau, những tư tưởng, trí tuệ của người này được truyền từ người này đến người khác , từ thế hệ này đến thế hệ khác – đó là nhờ ngôn ngữ – một trong những động lực đả bảo sự tồn tại của xa hội loài người.

– Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy

Tư duy của con người – sự phản ánh thế giới khách quan xung quanh – chủ yếu được tiến hành dưới hình thức ngôn ngữ. Ngôn ngữ là hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất để thể hiện tư duy. Về phương tiện này tư duy là cái được biểu hiện, còn ngôn ngữ là cái để biểu hiện tư duy. Các kết quả của hoạt động tư duy (thuộc lĩnh vực tinh thần) bao giờ cũng được khoác lên mình một cái vỏ vật chất làm cho người khác “thấy được”. Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ có thể hình dung như hai mặt tờ giấy đã có mặt này phải có mặt kia.

Tóm lại ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, là phương tiện để giao tiếp, là công cụ để tư duy. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ giúp cho tư duy của trẻ phát triển và còn là một phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện về nhân cách – đạo đức.

2. 2 Một số quan điểm về sự phát triển của ngôn ngữ trẻ em.

* Lý thuyết hành vi chủ nghĩa: O. P. Skinner trong tác phẩm Hành vi bằng lời cho rằng – ngôn ngữcủa trẻ cũng như mọi hành vi khác được hình thành do thao tác quyết định, và sự ” bắt chước” là rất quan trọng. Những thao tác về ngôn ngữ cùng với sự giúp đỡ của người lớn sẽ cho trẻ nhanh chóng trưởng thành về ngôn ngữ.

* Lý thuyết tự nhiên chủ nghĩa Noam Chomxky cho rằng: Trẻ em đóng vai trò chính là nhân tố chính trong sự phát triển nhân ngôn ngữ của mình. Ông coi n gụn ngữ có cơ sở sinh học của nú. Thành tựu chỉ có ở con người, con người có cơ quan sản sinh ngôn ngữ trong não bộ,

chỉcần có sự tác động thêm từ bên ngoài (môi trường nói năng) là ngôn ngữ có cơ hội xuất hiện. Dường như suy nghĩ là có sẵn, được tập

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

hợp từ các mô hình tách biệt, được di truyền từ thế hệ trước. Nú sẽ bùng nổ khi có kích thích phù hợp, và ông cho rằng không cần có sự dạy dỗ có chủ định của các bậc cha mẹ.

Ông còn cho rằng trẻ có kho chứa ngữ pháp toàn cầu, chỉ cần sử dụng đúng lúc là có thể giải mã được tiếng mẹ đẻ của nú.

* Lý thuyết phát triển của ngôn ngữ là nhận thức của Piaget lại cho rằng ngôn ngữ không quan trọng lắm đối với sự phát triển của tư duy, theo ông tư duy phát triển được là nhờ trẻ hành độngvới các vật thể vật chất, phát hiện ra những thiếu sót trong tư duy hiện có, luyện tập để sáng tạo ra phương thức tư duy phù hợp với hiện thực

Ông cũng cho rằng mọi trẻ em đều trải qua quá trình phát triển như nhau nhưng lại với tốc độ khác nhau, vì vậy giáo viên phảinỗ lực tổ chức hoạt động cho từng trẻ, hoặc nhóm chứ không phải theo cả lớp

* Trong lý thuyết xã hội hoá của mình Vưugotxky lại cho rằng ngôn ngữ như là một nền tảng của tất cả các quá trình tư duy bậc cao như: điều khiển, ghi nhớ có chủ định, phân loại, kế hoạch hoá hoạt động, giải quyết vấn đề, trẻ càng lớn càng thấy á hoạt động dễ dần, ngôn ngữ tự điều chỉnh sẽ chuyển đần vào bên trong thành lời nói thầm.

Trong lý thuyết về vùng phát triển gần Vưugotxky đề cập đến một loại bài tập mà trẻ không thể giải quyết được nếu không có sự giúp đỡ của người lớn hay bạn bè lớn hơn. Khi tham gia vào hoạt động giao tiếp trẻ học được ngôn ngữ của bạn lớn, người lớn và biến chúng thành ngôn ngưc cá nhân, lại dùng nú để tổ chức hành động của các nhân theo cách tương tự.

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

2. 3 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ.

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người, nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những điều thầm kớn…

Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ. Ngôn ngữ đã góp phần đào tạo các em trở thành con người hoàn thiện.

2. 3. 1 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ.

U. Sinxki đã nhận định “tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốn quý của mọi tri thức”(phỏt triển ngôn ngữ. Nguyên bản tiếng Nga. NXB Matxcơva, tr.3)

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ Trước hết , ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giớ xung quanh. Song sự lĩnh hội những tri thức đó lại không thể thực hiện được khi không có ngôn ngữ.

Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi suy nghĩ và công cụ của tư duy. Trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh, trong quá trình nhận thức những sự vật hiện tượng, muốn cho các cháu phân biệt các vật này với vật khác, biết được tên giọi, hình dạng, công dụng, và những thuộc tính cơ bản của vật, nếu chỉ cho các cháu xem xét mà không dùng từ ngữ để giải thích, hướng dẫn và khẳng định những kết quả đã quan sát được thì những tri thức mà các cháu thu được đó nhất định sẽ hời hợt, nông cạn, có khi còn sai lệch hẳn. Trong khi nhận thức các sự vật đó, trẻ phải dùng từ để gọi tên sự vật, tên các chi tiết, đặc điểm, tính chất, công dụng của sự vật, từ đó trẻ biết phân biệt sự vật nà với sự vật khác.

Khi đứa trẻ đã lớn nhận thức của trẻ phát triển. Trẻ không chỉ nhận thức những sự vật, hiện tượng trẻ không trực tiếp nhìn thấy. Trẻ muốn biết cả về quá khứ cả về tương lai: trẻ muốn biết cả công việc của người lớn, của bố mẹ, của Bác Hồ, của chú bộ đội…Để đáp ững ngững nhu cầu đó trẻ không có cách nào khác là thông qua lời kể của người lớn, thông qua tac phẩm văn học…cú kết hợp với hình ảnh trực quan.

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Khi đã có một vốn ngôn ngữ nhất định trẻ sử dụng ngôn ngữ như một biểu hiện nhận thức của mình. Trẻ có thể dùng lời để diễn đạt những suy nghĩ, những cảm xúc của mình. Trẻ hiểu được chỉ dẫn của người lớn, của cô giáo thì các hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy của trẻ được chính xác, kích thích trẻ tích cực hoạt động, kích thích trẻ nói và sự hiểu biết của trẻ ngày càng được nâng lên.

Trẻ còn dùng ngôn ngữ để đặt ra muôn vàn câu hỏi, yêu cầu, nguyện vọng, thể hiện biết bao thái độ, tình cảm yêu, ghột…Biểu hiện bằng ngôn ngữ giúp cho nhận thức của trẻ được sâu sắc hơn, tạo điều kiện cho trẻ được sống trong môi trường có các hoạt động giao tiếp sẽ giúp trẻ nảy sinh những suy nghĩ sáng tạo mới. Vì vậy trong ttrường mầm non, khi cho trẻ tiến hành các hoạt động vui chơi, lao động, hoc tập, ..cần tọ điều kiện kích thích trẻ nói.

Rõ ràng ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ. Thông qua ngôn ngữ giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh một cách sâu, rông, rõ rang, chính xác. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực sáng tạo trong hoạt động trí tụờ, vì vậy việc phát triển trí tuệ không tách rời việc phát triển ngôn ngữ.

2. 3. 2 Vai trò ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức.

Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là tuổi mẫu giáo, các cháu bắt đầu hiểu biết và lỡnh hội những khái niệm, những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tuy mới chỉ là những khái niệm ban đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có ti nhs chất quyết định những nét tính cách riệng biệt của mỗi con người trong tương lai. Muốn cho các cháu hiểu, và lĩnh hội những khái niệm đạo đức này, chúng ta không thể thông qua những hoạt động cụ thể hoặc qua những sự vật hiện tơựng trực quan đơn thuần, mà phải có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể hiện được đầy đủ những nhu cầu và nguyện vọng đầy đủ của mình . Cũng nhờ có ngôn ngữ mà các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu những tình cảm và những hình vi đạo đức trong sáng nhất.

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

hàng ngày trẻ còn được ăn ngon, đủ chất thì cơ thể trẻ mới phát triển hoàn thiện, trong khi trẻ ăn thì người lớn cần phải dùng ngôn ngữ động viên, kích thích trẻ ăn được nhiều và ăn ngon hơn.

2. 4 Quy luật lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ em.

Quá trình lĩnh hội ngôn ngữ mẹ đẻ là một quá trình phát triển, hoàn thiện một cách có quy luật hệ thống của cơ quan sáng tạo ra ngôn ngữ của một con người.

Quy luật 1: Khả năng tri giác tiếng mẹ đẻ phụ thuộc vào sự rèn luyện vận động các bộ phận của cơ quan ngôn ngữ của trẻ.

Hoạt động nghe và nói là hai mặt của mặt hoạt động ngôn ngữ, nhất là đối với trẻ từ 1- 6 tuổi. Để lĩnh hội được tiếng mẹ đẻ, đứa trẻ phải phát được âm vị, âm tiết, phải tách chúng ra khỏi tổ hợp âm thanh ngôn ngữ. Muốn vậy đứa trẻ phải rèn luyện vận động cuảt các cơ quan phát âm( sau này khi học nói phải rèn luyện cả mắt nhìn, tay viết), phải điều chỉnh giọng nói, cường độ âm thanh, tốc độ nhịp điệu của âm sắc lời nói, các vận động này phải phối hợp với cả phần âm thanh (miệng nói, tai nghe)

Đứa trẻ lĩnh hội lời nói như thế nào? Nú nghe lời của người khác, nhắc lại cách phát âm, tìm cách bắt chước. Sau khi đứa trẻ đã học được ở một mức độ nào đó điều khiển các cơ quan của bộ máy phát âm, nú sẽ xuất hiện lời nói bên trong, có nghĩa là khả năng thực hiện các hoạt động phát âm và mô phỏng của các cơ quan ngôn ngữ.

Đứa trẻ lớn lên và lời nói của nú cũng đồng thời phát triển, phát âm đúng

các từ quen thuộc là chưa đủ, người lớn phải dạy trẻ phát âm đúng các từ mới và đưa vào lời nói của chúng. Đồng thời dạy trẻ mô phỏng đúng ngữ điệu trong cấu trúc lời nói.

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Quy luật 4: Sự lĩnh hội chuẩn mực lời nói phụ thuộc vào sự phát triển cảm giác ngôn ngữ của đứa trẻ.

Khả năng ghi nhớ của con người về cách thức tình huống sử dụng ngôn ngữ: Hoà thanh, âm vị từ, tập hợp từ được gọi là cảm giác ngôn ngữ.

– Vậy phát triển cảm giác ngôn ngữ của trẻ bằng con đường nào? Phải chú ý tạo ra các tình huống (ngữ cảnh) để chio trẻ học nói. Lời nói của trẻ luôn gắn với ngữ cảnh (thậm trí không tách rời khỏi ngữ cảnh được). Dạy lời nói cho trẻ phải trong các ngữ cảnh sống động. Điều này giúp cho trẻ ghi nhớ những kiến thức mới. Khi trẻ biết rồi cô phải tạo ngữ cảnh để cho nú vận dụng.

– Đứa trẻ cần phải hoạt động nhiều, giao tiếp nhiều. Con đường hoạt động ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp tích cực là con đường hiệu quả nhất để phát triển ngôn ngữ cho trẻ là con đường hiệu quả nhất.

Quy luật 5: Kết quả của việc lĩnh hội lời nói, viết phụ thuộc vào phối hợp phát triển giữa lời nói viết và lời nói miệng.

Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là hai dạng hoạt động ngôn ngữ của con người. Nú có những điểm đặc trưng của từng loại, phát triển ngôn từ cho một con người là không thể bỏ qua một mặt nào, cả hai dựa vào nhau, bổ xung cho nhau.

– Lời nói viết đợc hình thành nếu ta chuyển được (dịch được) lời nói âm thanh thành chử nghĩa (nói viết). Dạy nói cho trẻ là phải biết huy động đến cơ mắt và cơ tay (nhìn là cầm bút viết) nhưng mắt và tay không thể thực hiện chức năng đọc và viết nếu vẫn thiếu hoạt động các cơ của bộ máy phát âm

– Môi trường ngôn từ được ttỏ chức ra để dạy lời nói viết sẽ là tối ưu nếu như tài liệu học tập giới thiệu cho trẻ cùng một lúc hình thức âm thanh và chữ viết. Trong giai đoạn đầu của việc học lời nói viết đứa trẻ chuyển những con chữ được biết sang những từ ngữ quen thuộc chúng đã nghe được. Sau này học tập ở trường phổ thông bé không bị hạn chế bởi sự chuyển dịch dơn giản âm thanh sang chữ viết và ngược lại nhưng nú lại thực hiện được điều này theo quy luật của chính tả.

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

PHẦN II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LỜI NểI CHO TRẺ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON HIỆN NAY 1. Mục đích điều tra:

Tiến hành điều tra nhằm đánh giá tình hình chung của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ á trường mầm non. Tôi coi đây là cơ cở thực tiễn của đề tài.

2. Đối tượng điều tra:

– Giáo viên và trẻở các lớp mẫu giáo tại hai trường mầm non.

3. Nội dung điều tra:

– Điều tra nhận thức của giáo viên mầm non về việc phát triển ngôn ngữ chotrẻ ở trường mầm non.

– Tìm hiểu thực trạng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong mét sè hoạt động ở trường.

4. Địa điểm điều tra.

– Tại Tuyên Quang.

Trường mầm non Tân Trào – Thị xã Tuyên Quang

Trường mầm non Tân Trào là rường mầm non công lập điển hình của tỉnh. Năm 2014 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang. Trường nằm ở trung tâm thị xã nên địa bàn hoạt động rất thuận lợi. Trường có số lượng cháu đến học đông, khoảng 300 cháu và có nhiều cháu là con em của cán bộ công nhân viên chức. Các cháu đều là những trẻ thông minh, nhanh nhẹn, khỏe mạnh. Trường có 32 cán bộ, giáo viên, đa số có trình độ tõ trung cấp trở lên, cơ sở vật chất khá đầy đủ để thực hiện các hoạt động cho trẻ. Trong nhiều năm là trường tiên tiến

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Dạy trẻ làm quen với việc đọc, viết :

– Tiếp tục xây dựng môi trường chữ viết phong phú, phù hợp với chủ điểm : Trẻ nhận thức về chữ viết trong môi trường một cách từ từ, dần dần. Cần tạo ra các từ, cụm từ, cấu trúc câu cú ý nghĩa có ý nghĩa đối với cá nhân trẻ. VD : tên của trẻ, tên các đồ vật, tranh ảnh hấp dẫn, lời nhận xét, đánh giá, chúc mừng sinh nhật,…

– Phát triển vốn từ thị giác : Trước khi học đọc, trẻ cần được luyện tập các từ thị giác. Trẻ nhận biết các từ khi nhìn thấy các chữ viết ở xung quanh. Trẻ bắt đầu có hứng thú muốn biết những chữ viết đó nói cái gì, đọc như thế nào. Khi nhận ra các nhãn mác dán ở các đồ vật quen thuộc hoặc các biển hiệu khi đi dạo chơi, ở trẻ đã phát triển vốn từ thị giác. Vốn từ thị giác của trẻ được phát triển vào giai đoạn cuối tuổi mẫu giáo. Đó là những từ cú ý nghĩa đối với trẻ. Những từ này có thể được viết lên những tấm thẻ. Trẻ có thể sử dụng tấm thẻ đó để sao chép từ. Ví dụ : Tên trẻ, tên đồ vật, tên câu chuyện, bài thơ, bài hát

– Dạy trẻ cầm sách, mở sách, lật trang khi xem sách và bảo quản sách

– Hình thành thái độ yêu thích đối với việc đọc sách tranh truyện :

Thiết kế các từ được làm ra từ các nguyên vật liệu khác nhau như : giấy màu, miếng xốp, những hạt lấp lánh, hạt đỗ …

Dán các thẻ từ lên những bức tranh do trẻ vẽ, tạo hình

Cho trẻ bắt chước lại các từ bằng cách dùng các chữ cái có nam châm dính phía sau để ghép thành từ . Viết các động từ chỉ hành động lên những miếng bìa ví dụ như “chạy”, “ngủ”, “ăn”, ” chơi” chúng tôi Khi đưa ra những từ này, yêu cầu trẻ đứng lên và diễn tả từ đó bằng hành động.

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Giúp trẻ thu thập các từ mà trẻ thích hoặc những từ cú ý nghĩa đối với riêng trẻ. Cô có thể bảo trẻ mang một chiếc hộp, trang trí nú thành một “ngõn hàng từ”. Cô viết những từ trẻ thích lên những miếng bìa kích thước 3cm x 5cm, sau đó yêu cầu trẻ đọc và cất giữ trong hộp “ngõn hàng từ”. Trẻ có thể dùng một dây kim loại xâu các tấm bìa vào với nhau. Sau đó trẻ có thể sử dụng các từ này để tạo thành một câu chuyện hoặc để sử dụng cho các hoạt động khác

Tạo hình chữ cái thông qua các giác quan kết hợp với các bộ phận trên cơ thể trẻ.

Một số hoạt động ứng dụng từ chương trình KIDSMART

Tìm tên các bạn có tên bắt đầu bằng chữ cái theo bảng. Ví dụ :

Nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ trong chương trình CSGDMN mới

( MG lớn )

1. Nghe :

– Các âm thanh, ngữ điệu giọng nói khác nhau

– Độ to nhỏ, nhanh chậm của giọng nói, giọng đọc

– Nghe và làm theo 2 lời chỉ dẫn trở lên

– Nghe hiểu nội dung các câu nói trong giao tiếp

– Nghe hiểu nội dung truyện kể, truyện dân gian, truyện đọc phù hợp với trẻ

– Nghe hiểu thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ phù hợp với trẻ

– Nghe chăm chú không ngắt lời người nói và đáp lại bằng nét mặt cử chỉ

– Nghe truyện và biết liên hệ với bản thân

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Khi cho trẻ quan sát sự vật, hiện tượng, giáo viên chưa tạo hết những điều kiện thuận lợi để giúp trẻ sử dụng những giác quan tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng mà chưa khác sâu được biểu tượng bằng cách giúp trẻ biểu đạt những điều quan sát được bằng ngôn ngữ. Đây là cơ hội tốt mà giáo viên đã bỏ qua để dạy trẻ phát âm chuẩn, phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ.

6. 5 Việc sử dụng các phương pháp, biện pháp của giáo viên khi tổ chứchoạtđộng phát triển lời nói cho trẻMN

Nội dung phát triển lời nói cho trẻ được tiến hành lồng ghép trong các nội dung của các môn học khác như: Văn học, môi trường xung quanh…cũn ở lứa tuổi mẫu giáo lớn thì có tiết học riêng biệt.

Hạn chế: Giáo viên vẫn coi mình là trung tâm của quá trình dạy học, vẫn chủ yếu hướng dẫn trẻ bằng cách truyền đạt thông tin, thường sử dụng mẫu, vật mẫu, kết hợp với diễn tả.

Trẻ chủ yếu là ghi nhơ, nhắc lại mẫu, phương pháp ghi nhớ vẫn mang tính đồng loạt, nhiều giáo viên vẫn chưa coi trọng biện pháp chơi, hay những cách tìm tòi khám phá bằng các giác quan. Nhiều giáo viên vẫn dựa vào tài liệu có sẵn, nhiều khi còn áp đặt vào hiểu biết của trẻ.

Hình thức tổ chức nhiều khi còn đơn giản nghèo nàn, chủ yếu hướng vào tiết học. Giáo viên vẫn chưa tậo điều kiện cho trẻ vận dụng kiến thức vào cuộc sống hành

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

ngày. Hình thức dạy mọi lúc mọi nơi ít được chú ý, biện pháp dạy học được lặp đi lặp lại nên không gây hứng thú cho trẻ. Nhiệm vụ trong bài tập nhiều khi còn đơn giản chưa chú ý nâng cao hiệu quả cho trẻ.

PHẦN III – KẾT LUẬN

Trong quá trình tìm hiểu sơ bộ thực tế về nhận thứcvà việc chuẩn bị giáo án, kế hoạch và qua dù mét sè tiết học của giáo viên trong khi tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở trường mầm non. Tôi nhận thấy hoạt độngphát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang chưa thực sự đạt hiệu quả vì mét số nguyên nhân sau:

– Giáo viên đã nhận thức đúng nhưng chưa đầy đủ về nhiệm vụ về nhiệm vụ phát triển lời nói cho trẻ, chưa thấy được vai trò của quan trọng của lời nóitrong sù hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ như: là mở mang nhận thức, giáo dục tình cảm đạo đức, ngôn ngữ… Chính vì việc nhận thức như vậy nên trong khi thực hiện hoạt động này họ còn có nhiều thiếu sót.

Việc sử dụng đồ dùng dạy học còn tùy tiện, chưa có tính hệ thống. Hơn nữa các đối tượng trực quan chưa có linh hồn, chưa mang tính cách của nhân vật, chưa thực sự phù hợp với tình cảm, cảm xúc của cô và trẻ. Còn các phương tiện trực quan khác như bâng đài, vi deo, ti vi thì lại có rất Ýt (trường mầm non Lưỡng Vượng chỉ có một chiếc ti vi).

. Giáo viên cũng chưa thực sự giúp cho trẻ được phát triển lời nói ở mọilúc, , mọi nơi (ngoài tiết học), mà chủ yếu là qua tiết học chính và qua việc tích hợp trên mét sè tiết học khác.

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Tóm lại.

Những kết quả nghiên cứu đánh giá một cách khách quan thực trạng của việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở trường mầm non. Nã có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn công tác giáo dục mầm non nói chung và thực tiễn cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nói riêng. Thông qua kết quả nghiên điều tra thực trạng tôi thấy cần thiết phải có những hiểu biết đúng đắn và những biện pháp thích hợp để giáo viên có thể tổ chức hoạt động này một cách có hiệu quả nhất.

NẾU NHƯ ĐƯỢC THAY ĐỔI THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LỜI NểI , TễI XIN ĐƯỢC ĐỀ XUẤT MỘT SỐ Ý KIẾN NHƯ SAU

Sau khi điều tra thực trạng của hoạt động phát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non, trên cơ sở thực trạng đó đó, kết hợp với lý thuyết đã học trên lớp tôi xin đưa ra mét số đề xuất như sau nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ở trường mầm non như sau;

Nên tạo điều kiện và cơ hội để trẻ hiểu được ý nghĩa và vai trò câu đọc và viết trước khi dạy trẻ phân biệt tên chữ cái, âm tiết và từ. Những kỹ năng cơ bản của việc đọc và viết chỉ có thể phát triển được khi chúng có ý nghĩa đối với trẻ. Có thể thực hiện việc phát triển ngôn ngữ và cho trẻ làm quen với đọc và viết thông qua rất nhiều loại hình hoạt động có ý nghĩa đối với trẻ như: nghe, đọc truyện cổ tích việt nan, thơ của trẻ; tham quan, dạo chơi; đọc truyện cho trẻ nghe; quan sát những ký hiệu và chữ viết, bảng biểu được sử dụng trong phòng nhóm; tham gia vào các trò chơi, đóng kịch và các hoạt động giao tiếp khác như nói chuyện với bạn bè và người lớn; cho trẻ làm quen với hoạt động viết thông qua vẽ, sao chép lại và tự viết các nét chữ ban đầu.

Đọc và quan sát

– Hình thành ở trẻ những hành vi đọc thông qua các hoạt động trò chơi đóng vai và dần dần trẻ có thể hiểu, giải thích và dịch được 1 số kí hiệu chữ viết quen

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Hình thành ở trẻ những hành vi đọc thông qua các hoạt động trò chơi đóng vai và dần dần trẻ có thể hiểu, giải thích và dịch được 1 số kí hiệu chữ viết quen thuộc.

– Hiểu được ý nghĩa của chương trình nghe nhìn, các bài văn có nội dung quen thuộc đối với trẻ, đặc biệt là những bài văn được bố cục theo từng đoạn ngắn. Hiểu được ý nghĩa của chương trình nghe nhìn, các bài văn có nội dung quen thuộc đối với trẻ, đặc biệt là những bài văn được bố cục theo từng đoạn ngắn.

– Biết liên hệ giữa kiến thức, kinh nghiệm riêng của bản thân với các ý tưởng, sự kiện và thông tinh trong bài văn được xem hoặc được nghe. Biết liên hệ giữa kiến thức, kinh nghiệm riêng của bản thân với các ý tưởng, sự kiện và thông tinh trong bài văn được xem hoặc được nghe.

– Thể hiện ý thức (có ý thức) và hiểu biết vai trò của các ký hiệu và qui ước về chữ viết khi đọc tìm hiểu ý của văn bản. Thể hiện ý thức (có ý thức) và hiểu biết vai trò của các ký hiệu và qui ước về chữ viết khi đọc tìm hiểu ý của văn bản.

Viết

– Tạo các ký hiệu viết với ý đồ truyền tải 1 ý tưởng hay 1 thông tin nào đó. Tạo các ký hiệu viết với ý đồ truyền tải 1 ý tưởng hay 1 thông tin nào đó.

– Nhận biết được rằng ngôn ngữ viết được con người sử dụng nhằm truyền đạt thông tin, ý tưởng và cảm xúc cho người khác. Nhận biết được rằng ngôn ngữ viết được con người sử dụng nhằm truyền đạt thông tin, ý tưởng và cảm xúc cho người khác.

– Có ý thức sử dụng các ký hiệu viết để biểu đạt ý tưởng và thông tin. Có ý thức sử dụng các ký hiệu viết để biểu đạt ý tưởng và thông tin.

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

– Sử dụng các ký hiệu viết để biểu đạt ý tưởng thông qua các hoạt động và các thao tác thực hành. Sử dụng các ký hiệu viết để biểu đạt ý tưởng thông qua các hoạt động và các thao tác thực hành.

Về hiểu ngữ cảnh:

Trẻ biết liên hệ kiến thức, kinh nghiệm của bản thân với các ý tưởng, sự kiện và thông tin trong bản văn được xem hoặc được nghe. Cụ thể:

– So sánh kiến thức và kinh nghiệm của bản thân với thông tin trong bản văn (trẻ có thể đưa ra các nhận xét như “cỏi này giống như…” “hoặc cháu cũng làm như thế” hoặc “khi con chó của cháu ốm trông nú không giống như thế”…) So sánh kiến thức và kinh nghiệm của bản thân với thông tin trong bản văn (trẻ có thể đưa ra các nhận xét như “cái này giống như…” “hoặc cháu cũng làm như thế” hoặc “khi con chó của cháu ốm trông nó không giống như thế”…)

– Nhận xét về các hành động của nhân vật trong truyện và tự đoán rằng nếu ở vào hoàn cảnh như nhân vật thì bản thân sẽ hành động như thế nào (“nếu cháu ở đây, cháu sẽ…”). Nhận xét về các hành động của nhân vật trong truyện và tự đoán rằng nếu ở vào hoàn cảnh như nhân vật thì bản thân sẽ hành động như thế nào (“nếu cháu ở đây, cháu sẽ…”).

– Thể hiện kinh nghiệm của bản thân và so sánh với hành động của các nhân vật trong truyện đã nghe qua nói chuyện, vẽ, trò chơi đóng vai, nghệ thuật tạo hình.

Thể hiện kinh nghiệm của bản thân và so sánh với hành động của các nhân vật trong truyện đã nghe qua nói chuyện, vẽ, trò chơi đóng vai, nghệ thuật tạo hình.

– So sánh cuộc sống của bản thân và những người quen thuộc.So sánh cuộc sống của bản thân và những người quen thuộc.

– Trao đổi, hỏi về chuyện vừa được nghe đọc, những điều mới học được. Trao đổi, hỏi về chuyện vừa được nghe đọc, những điều mới học được.

Về biết đặc điểm và cấu trúc của ngôn ngữ:

Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Có ý thức về kí hiệu và qui ước của chữ viết; hiểu được tác dụng của chữ viết khi đọc: hiểu ý nghĩa của bản văn. Cụ thể:

– Nhận biết được một vài từ trong văn bản. Nhận biết được dấu chấm, chữ in viết hoa và khoảng trống giữa các từ trong bản văn in. Nhận biết được một vài từ trong văn bản. Nhận biết được dấu chấm, chữ in viết hoa và khoảng trống giữa các từ trong bản văn in.

– Nhận biết được một vài chữ cái trong bảng chữ cái và tỏ ra có ý thức về mối quan hệ giữa chữ cái, âm tiết và vần (vần được tạo ra bởi chữ cái đầu và cuối trong các từ). Nhận biết được một vài chữ cái trong bảng chữ cái và tỏ ra có ý thức về mối quan hệ giữa chữ cái, âm tiết và vần (vần được tạo ra bởi chữ cái đầu và cuối trong các từ).

Nhận biết được phần mở đầu và phần kết thúc của bản văn.

Về hành động:

Nhận biết và sử dụng các dấu hiệu gợi ý để đoán ý nghĩa của bản văn. Cụ thể:

– Dự đoán tiến triển các sự kiện trong truyện dựa vào quan hệ nhân quả. Dự đoán tiến triển các sự kiện trong truyện dựa vào quan hệ nhân quả.

Phương Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Em Mầm Non Cùng American Skills

Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em mầm non cùng American Skills

Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em mầm non đòi hỏi sự kết hợp từ phía gia đình và nhà trường để đạt được hiệu quả cao nhất. Sự quan tâm đến từ nhiều phía sẽ giúp con trẻ nhận thức nhanh hơn, tâm lý thoải mái và ổn định hơn. Phương pháp này nên được sử dụng ngay từ khi con trẻ bắt đầu hình thành nhận thức, việc sớm dạy ngôn ngữ cho trẻ sẽ giúp trẻ có trí não và tư duy phát triển nhanh hơn so với lứa tuổi. Trong khoảng bé từ 1 đến 5 tuổi là khoảng thời gian phù hợp nhất để phát triển ngôn ngữ cho con trẻ, nếu bỏ qua giai đoạn này là bạn đã bỏ lỡ cơ hội tạo dựng nền tảng tốt nhất cho con trẻ.

Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em mầm non cùng American Skills

Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non bao gồm những nội dung gì?

Không chỉ khi bà mẹ mang thai mới cần cho trẻ nghe nhạc thường xuyên mà ngay cả khi bắt đầu từ thời điểm đứa bé chào đời bạn đã nên cho bé tiếp xúc thường xuyên với âm nhạc. Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy những đứa trẻ làm quen với âm nhạc ngay từ lúc sơ sinh sẽ có trí não phát triển hơn rất nhiều so với những bé không được tiếp xúc với âm nhạc. Việc cho bé cảm thụ và lắng nghe âm nhạc sẽ giúp các bé có óc sáng tạo, tính thẩm mỹ và trí thông minh phát triển xuất sắc hơn.

Một việc tưởng chừng như quen thuộc nhưng không phải bậc cha mẹ và môi trường mầm non nào cũng làm được điều này là Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em mầm non . Ở độ tuổi mầm non của các bé, khi được giao tiếp nhiều với người lớn sẽ giúp các bé gia tăng vốn từ rất nhanh chóng. Bậc cha mẹ và thầy, cô trông trẻ nên dành cho các bé nhiều câu hỏi để các bé tập dần với việc tư duy và suy nghĩ. Cách giao tiếp với người lớn cũng giúp cho khả năng giao tiếp của bé sau này sẽ tốt hơn rất nhiều.

Dù chỉ là những nét vẽ nguệch ngoạc thì những nét chữ, hình ảnh bé viết ra cũng giúp bé sáng tạo nhiều hơn, trí nhớ tốt hơn sau mỗi lần được bố mẹ hay thầy, cô chỉ dẫn và gợi ý.

Avits Math & Skills Learning Center Điện thoại: 024 6257 3256 – 096 425 8282

Phụ huynh quan tâm vui lòng liên hệ : Hệ thống American Skills

Phương Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Em

TRƢỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG KHOA SPTN- TỔ SPMN

Ths Cao Thị Lệ Huyền

Bài giảng PHƢƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẦM NON DÀNH CHO HỆ CAO ĐẲNG NGÀNH GDMN

0

LỜI MỞ ĐẦU Giáo dục mầm non là mắc xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân có nhiệm vụ hình thành và phát triển nhân cách trẻ, tạo ra thế hệ ngƣời Việt Nam có đầy đủ những phẩm chất về sức khỏe, trí tuệ cũng nhƣ đạo đức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ, phát triển ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Mục đích của công việc này là bƣớc đầu hình thành cho trẻ những năng lực ngôn ngữ nhƣ nghe lời nói và phát âm, khả năng sử dụng từ ngữ, các kiểu câu tiếng Việt và đặc biệt là nói năng mạch lạc trong giao tiếp và học tập. Ngoài ra, trẻ còn đƣợc chuẩn bị một số kỹ năng tiền đọc viết để trẻ học tiếng Việt khi học lớp một. Bài giảng này đƣợc sử dụng cho đối tƣợng là sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non, hệ cao đẳng. Bài giảng cũng có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hệ đào tạo giáo viên mầm non khác .

1

Mục tiêu của học phần 1. Kiến thức: – Hiểu đƣợc khái niệm, đặc điểm, nội dung, phƣơng pháp, hình thức của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. – Vận dụng đƣợc các phƣơng pháp giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, phát triển vốn từ, dạy trẻ đặt câu, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo. – Hiểu và vận dụng đƣợc các biện pháp cho trẻ làm quen với biểu tƣợng từ và câu. – Biết đƣợc chƣơng trình cho trẻ làm quen với chữ cái. – Biết lập kế hoạch hoạt động Nhận biết tập nói, hoạt động Làm quen với chữ viết. – Liên hệ thực tiễn việc phát triển ngôn ngữ của trẻ ở trƣờng mầm non. 2. Kỹ năng: – Có kỹ năng xây dựng trò chơi học tập, bài tập trò chuyện với trẻ. – Có kỹ năng lập kế hoạch hoạt động Nhận biết tập nói và Làm quen với chữ cái. – Có kỹ năng tổ chức hoạt động Nhận biết tập nói và Làm quen với chữ cái. – Có kỹ năng lập kế hoạch có trẻ kể chuyện theo tranh, đồ vật, đồ chơi, kinh nghiệm và kể chuyện sáng tạo. – Nhận xét và đánh giá giờ dạy của mình và của sinh viên khác. 3. Thái độ: – Nhận định đƣợc tầm quan trọng của môn học với nghề nghiệp của mình trong tƣơng lai. – Chủ động vận dụng kiến thức đã học để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.

2

Chƣơng 1

PHƢƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ EM LÀ MỘT KHOA HỌC A. Mục tiêu – Hiểu đƣợc đối tƣợng nghiên cứu của môn học. – Hiểu đƣợc mối liên hệ giữa phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ với các ngành khoa học khác. – Biết các phƣơng pháp nghiên cứu môn học. B. Nội dung 1.1.

Đối tƣợng nghiên cứu Là quá trình dạy nói cho trẻ 0 – 6 tuổi, bao gồm: – Mục đích dạy học: phát triển hoạt động ngôn ngữ cho trẻ ở trƣờng MN – Nhiệm vụ của môn học: + Giáo dục chuẩn mực ngữ âm. + Hình thành và phát triển vốn từ. + Dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt. + Phát triển lời nói mạch lạc. + Phát triển lời nói nghệ thuật. + Chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết ở trƣờng phổ thông. + Giáo dục tình yêu, sự trân trọng tiếng mẹ đẻ và văn hoá giao tiếp ngôn

ngữ. – Phƣơng pháp và biện pháp: Sử dụng các phƣơng pháp, biện pháp dạy học phù hợp với độ tuổi mầm non đƣợc vận dụng cụ thể vào công việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. – Các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục và dạy học. – Các điều kiện và phƣơng tiện dạy học. 1.2.

Mối liên hệ giữa phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ với các ngành

khoa học khác 1.2.1. Mối liên hệ với ngôn ngữ học Các kiến thức về ngôn ngữ học là những kiến thức cơ bản của ngôn ngữ

3

tiếng Việt. Phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ mầm non cũng bắt đầu từ việc phát triển các nội dung đó. Vì vậy, những kiến thức về ngôn ngữ học sẽ là những kiến thức cơ sở giúp cho các nhà giáo dục hiểu đúng nội dung, tìm ra các phƣơng pháp hiệu quả để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. 1.2.2. Mối liên hệ với tâm lí học trẻ em Tâm lý học trẻ em trƣớc tuổi học đã nghiên cứu chức năng tâm lí trẻ, các hoạt động chủ đạo của trẻ… Dựa trên, cơ sở nghiên cứu đó, các nhà giáo dục xác định đuợc mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phƣơng pháp và hình thức dạy trẻ nói cho phù hợp với từng độ tuổi và năng lực của trẻ. 1.2.3. Mối liên hệ với giáo dục học mầm non Phát triển ngôn ngữ đƣợc coi nhƣ là một bộ phận của khoa học giáo dục mầm non, lĩnh vực cụ thể của khoa học giáo dục mầm non. Phát triển ngôn ngữ đƣợc tích hợp trong tất cả các hoạt động giáo dục trong trƣờng mầm non. Nắm vững khoa học giáo dục học mầm non, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các môn học, tận dụng các cơ hội có đƣợc, giáo viên mầm non có thể nâng cao chất lƣợng giáo dục ngôn ngữ cho trẻ. 1.2.4. Mối liên hệ với sinh lí học Ngôn ngữ có cơ sở sinh lý học. Bộ máy phát âm của con ngƣời là cơ quan sản sinh ra âm thanh ngôn ngữ. Hoạt động của tƣ duy ngƣời là sản phẩm của não bộ. Thính giác giúp trẻ nghe lời nói trong quá trình học nói. Nhƣ vậy, hoạt động lời nói có cơ sở sinh lý học. 1.3. Các phƣơng pháp nghiên cứu – Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu lí luận. – Phƣơng pháp quan sát sƣ phạm. – Phƣơng pháp điều tra giáo dục: điều tra bằng phiếu câu hỏi, trò chuyện, phỏng vấn, toạ đàm, trắc nghiệm. – Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm sƣ phạm. – Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm. – Phƣơng pháp thống kê toán học.

4

Câu hỏi ôn tập 1. Tại sao nói phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em là một khoa học? 2. Đối tƣợng nghiên cứu của khoa học phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em là gì? Nó có quan hệ nhƣ thế nào với các khoa học khác?

5

Chƣơng 2

NHIỆM VỤ, HÌNH THỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TRẺ EM A. Mục tiêu – Hiểu đƣợc các nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. – Hiểu đƣợc các phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. – Hiểu đƣợc các hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. B. Nội dung 2.1. Các nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ trẻ em: Có 7 nhiệm vụ 2.1.1. Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt – Luyện cho trẻ nghe âm thanh ngôn ngữ. – Dạy trẻ phát âm đúng các âm vị tiếng Việt trong các kết hợp âm tiết – từ câu theo chuẩn mực âm thanh tiếng Việt. – Dạy trẻ biết điều chỉnh hơi thở ngôn ngữ để tạo nên sự hợp lý của âm thanh ngôn ngữ về cƣờng độ, nhịp điệu, tốc độ của lời nói, ngữ điệu khi nói để tạo nên sự biểu cảm khi giao tiếp. – Sửa các lỗi phát âm của trẻ. 2.1.2. Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ – Làm giàu vốn từ cho trẻ: làm phong phú số lƣợng từ của trẻ. – Nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ, dạy trẻ dùng từ chính xác, phát triển vốn từ đồng nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa. – Tích cực hoá vốn từ cho trẻ: giúp trẻ sử dụng từ một cách chính xác, linh hoạt trong các ngữ cảnh giao tiếp. 2.1.3. Dạy trẻ sử dụng các mẫu câu tiếng Việt – Dạy trẻ nói đúng các mẫu câu theo cấu trúc tiếng Việt. – Sửa câu sai cho trẻ, nhƣ câu thiếu thành phần, câu sai trật tự từ, câu sai logic. 2.1.4. Phát triển lời nói mạch lạc – Đơn vị ngôn ngữ để giao tiếp không phải là một câu mà là một ngôn bản. Vì thế sự mạch lạc của lời nói là rất cần thiết.

6

– Dạy lời nói mạch lạc cho trẻ có hai dạng: độc thoại và đối thoại. Thực chất đó là việc rèn khả năng tƣ duy ngôn ngữ và sử dụng lời nói để giao tiếp. Sự mạch lạc của ngôn ngữ chính là sự mạch lạc của tƣ duy. – Mục đích của phát triển lời nói mạch lạc là để giúp trẻ tƣ du y ngôn ngữ tốt, diễn đạt rõ ràng, không ê a, biết ngắt nghỉ giọng đúng chỗ, lời nói mang sắc thái biểu cảm. 2.1.5. Chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết ở trƣờng phổ thông – Dạy trẻ nhận diện và phát âm đúng 29 chữ cái theo kiểu chữ in thƣờng – Cho trẻ làm quen với các khái niệm âm, tiếng, từ, câu. – Cho trẻ làm quen dần với các kỹ năng: ngồi, cầm bút, tô, viết, giở sách, biết cách đọc sách… 2.1.6. Phát triển lời nói nghệ thuật thông qua việc cho trẻ tiếp xúc với thơ, truyện Cho trẻ tiếp xúc với thơ, truyện là con đƣờng phát triển lời nói, đặc biệt là lời nói nghệ thuật. Thông qua các tác phẩm văn học có chọn lựa, trẻ học đƣợc lời hay, ý đẹp, những từ trong sáng, gợi cảm, lối nói ví von… Qua đó trẻ có thể sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp một cách phong phú, hay, đẹp. 2.1.7. Giáo dục tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ và văn hoá giao tiếp ngôn ngữ. – Dạy trẻ biết sử dụng ngữ điệu sao cho phù hợp, biểu cảm; sử dụng từ ngữ chính xác, phong phú, gợi cảm; sử dụng câu phù hợp với hoàn cảnh, diễn đạt rõ ràng mạch lạc… – Giáo dục trẻ biết phối hợp các phƣơng tiện phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ…) để lời nói thêm biểu cảm, cuốn hút ngƣời nghe. 2.2. Các phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em 2.2.1. Phƣơng pháp trực quan Phƣơng pháp này đảm bảo mối liên hệ giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất (đối tƣợng để trực quan) và hệ thống tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ phát ra khi quan sát đối tƣợng). 2.2.1.1. –

Mục đích phƣơng pháp: Hình thành một số kiến thức mới, hình thành vốn từ cho trẻ.

7

Củng cố kiến thức, củng cố vốn từ.

Rèn luyện phát âm.

2.2.1.2.

Các dạng trực quan:

8

– Nội dung tham quan phải đáp ứng đƣợc sở thích của trẻ. – Tổ chức tham quan phải giúp trẻ chú ý đến cái chính, cái trọng tâm. Không để cho những cái nhỏ, lẻ chi phối trẻ. – Buổi tham quan không mang tính chất của buổi học. Nó phải đƣợc tổ chức nhẹ nhàng, thoải mái. Trƣớc khi tổ chức cho trẻ tham quan cô giáo cần phải cần phải lập kế hoạch cụ thể. – Sau buổi tham quan cần tổ chức cho trẻ củng cố lại những nhận thức và ấn tƣợng đã thu nhận đƣợc trong buổi tham quan. c. Xem phim Là cách sử dụng máy móc, thiết bị vào quá trình dạy học trong điều kiện cho phép, tạo điều kiện cho trẻ quan sát, tham quan cảnh vật mà trẻ không thể đến tận nơi để quan sát, hoặc cho trẻ xem lại những cảnh quay trong quá khứ. Ví dụ: xem phim về cuộc sống của con vật ở trong rừng, động vật sống dƣới biển sâu… 2.2.2. Phƣơng pháp dùng lời 2.2.2.1.

Đàm thoại

– Là cách sử dụng hệ thống câu hỏi của cô và câu trả lời của trẻ nhằm giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển. – Đàm thoại cần đƣợc tiến hành thoải mái, đáp ứng đƣợc yêu cầu của trẻ, cần tiến hành đối với từng trẻ. Nên có đồ dùng trực quan đặt trƣớc mắt trẻ khi đàm thoại. – Hệ thống câu hỏi cần phù hợp với khả năng nhận thức và đặc điểm ngôn ngữ của trẻ. 2.2.2.2.

Sử dụng lời nói mẫu

Mẫu lời nói đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng pháp khi chỉ cho đứa trẻ cách thức tốt nhất để diễn đạt suy nghĩ của mình. Lƣu ý, số lƣợng câu trong mẫu phải phù hợp với khả năng chú ý và trí nhớ của trẻ. Trẻ càng nhỏ câu càng phải ngắn gọn. 2.2.2.3.

Giảng giải

Là phƣơng pháp dùng lời nói cho trẻ hiểu về đặc điểm,tính chất của một vật hay một hành động nào đó. Cô sử dụng những từ mà trẻ đã biết để

9

10

– Giờ ƣu thế: Làm quen với tác phẩm văn học, Làm quen với môi trƣờng xung quanh. Ngoài ra, các giờ học khác đều có tác dụng đối với sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ. 2.3.2. Phát triển ngôn ngữ trong các hoạt động khác Ngoài các giờ học, các hoạt động giáo dục ở trƣờng mầm non nhƣ: lao động, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời, chế độ sinh hoạt hàng ngày đều có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Nhƣ vậy, từ hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ ta thấy rõ, nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ đƣợc tích hợp trong các hoạt động giáo dục. Câu hỏi ôn tập: 1. Có mấy nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, nhiệm vụ nào là quan trọng nhất? 2. Phân tích mối quan hệ giữa các nhiệm vụ. 3. Trình bày các phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. 4. Trình bày các hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.

11

Chƣơng 3

GIÁO DỤC CHUẨN MỰC NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT A. Mục tiêu – Hiểu đƣợc khái niệm giáo dục chuẩn mực ngữ âm. – Hiểu đƣợc các nhiệm vụ, nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt cho trẻ mầm non. – Vận dụng đƣợc biện pháp giáo dục chuẩn mực ngữ âm cho trẻ từng độ tuổi. – Xây dựng trò chơi học tập nhằm rèn luyện chuẩn mực ngữ âm cho trẻ. B. Nội dung 3.1. Khái quát về giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt 3.1.1. Bộ máy phát âm – cơ quan sản sinh ra âm thanh ngôn ngữ – Bộ máy phát âm của con ngƣời là một trong những điều kiện vật chất quan trong nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ. Nếu trong cấu tạo của nó có sự khiếm khuyết nào đó thì việc hình thành lời nói là điều hết sức khó khăn. – Trẻ em mới sinh ra chƣa có bộ máy phát âm hoàn chỉnh. Tuổi mầm non là giai đoạn hoàn chỉnh dần bộ máy đó. 3.1.2. Giáo dục chuẩn mực chính âm là gì? Giáo dục chuẩn mực ngữ âm cho trẻ là tập cho trẻ phát âm chính xác, rõ ràng mọi câu, tiếng của tiếng Việt đúng quy định. Ngoài ra, còn rèn luyện cho trẻ khả năng nghe âm thanh ngôn ngữ, biết điều khiển hơi thở đúng, biết điều chỉnh giọng nói của mình sao cho biểu cảm, phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp. 3.1.3. Đặc trƣng của việc dạy tiếng Việt. Âm tiết là đơn vị phát âm cơ bản. Trong tiếng Việt, khi phát âm, các âm tiết tách rời nhau, mỗi âm tiết lại gắn với một thanh điệu. Vì thế dạy trẻ phát âm đúng trƣớc hết phải dạy trẻ phát âm rõ từng âm tiết và thanh điệu của từng âm tiết đó. 3.2. Các nhiệm vụ giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt 3.2.1. Rèn luyện khả năng nghe lời nói – Rèn luyện cho trẻ nghe và phân biệt âm thanh trong cuộc sống.

12

– Rèn luyện cho trẻ tri giác đƣợc tính biểu cảm của ngôn ngữ: sự âu yếm, sự vui vẻ, sự buồn bã… – Rèn luyện cho trẻ phân biệt các âm vị – Rèn luyện khả năng nghe cho trẻ bao gồm các thành tố nhƣ: khả năng chú ý nghe, nghe từng âm vị, tri giác tốc độ khả năng nghe tốt tạo điều kiện cho khả năng nói phát triển. 3.2.2. Rèn luyện khả năng phát âm – Rèn luyện bộ máy phát âm: rèn luyện sự linh hoạt của lƣỡi, môi, răng… – Rèn luyện thở ngôn ngữ: là rèn luyện khả năng hít vào nhanh, ngắn và thở ra nhịp nhàng tạo điều kiện cho khả năng nói các câu một cách thoải mái trong quá trình diễn đạt. Thở ngôn ngữ đúng tạo điều kiện phát âm rõ nét, giữ đƣợc cƣờng độ nói phù hợp, lời nói khúc chiết, nhẹ nhàng, lời nói biểu cảm. – Rèn luyện giọng nói cho trẻ: là giúp cho trẻ có khả năng điều khiển giọng nói của mình sao cho trở nên biểu cảm, rõ ràng, thể hiện đƣợc thái độ, tình cảm của ngƣời nói. Cần chú ý đến đặc tính của giọng nói: + Cao độ: sự nâng lên, hạ xuống của âm thanh, chuyển giọng từ cao xuống thấp và ngƣợc lại. + Cƣờng độ: phát âm với một cƣờng độ chính xác, hợp lý phù hợp với ngữ cảnh. + Âm sắc: sắc thái riêng làm nên đặc trƣng của giọng nói mỗi ngƣời (âm vang, trầm, ấm, đục…). 3.2.3. Hoàn thiện chuẩn mực chính âm: Chính âm là quy định thống nhất về âm thanh ngôn ngữ tiếng nói của một quốc gia, dân tộc. Trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ xác định phát âm của phƣơng ngữ Hà Nội đƣợc lấy làm cơ sở chính âm. Giáo viên phải nắm vững chính âm và phát âm chuẩn. Giáo viên căn cứ vào đó làm mẫu cho trẻ phát âm và khắc phục các lỗi do tiếng địa phƣơng gây ra. 3.2.4. Rèn luyện ngữ điệu lời nói Ngữ điệu là tổng hợp phức tạp các phƣơng tiện biểu cảm ngữ âm của lời nói nhƣ: giai điệu, tốc độ, nhịp điệu, trọng âm (logic và ngữ pháp), âm sắc.

13

– Giai điệu: nâng lên hoặc hạ giọng nói làm lời nói mang sắc thái khác nhau (du dƣơng, mềm mại…). – Tốc độ: nhanh, chậm. – Nhịp điệu: lời nói nhịp nhàng, tách bạch các từ, âm tiết. – Trọng âm: nhấn mạnh về phát âm trong lời nói. – Âm sắc: lời nói thể hiện sắc thái riêng, đặc trƣng giọng nói của từng ngƣòi. Cô giáo cần giáo dục trẻ biết thể hiện ngữ điệu phù hợp trong các hoàn cảnh giao tiếp. 3.2.5. Sửa các l i phát âm cho trẻ Ở tuổi mầm non, khi cơ quan phát âm đang ở giai đoạn hoàn thiện thì trẻ thƣờng mắc các lỗi phát âm. Cô giáo căn cứ vào chính âm để sửa các lỗi phát âm cho trẻ. 3.3. Các nội dung và biện pháp giáo dục chuẩn mực ngữ âm 3.3.1. Giai đoạn 1 ( trẻ từ 18 tháng đến 36 tháng tuổi) 3.3.1.1. Đặc điểm Trẻ lứa tuổi này phát triển nhanh chóng, khả năng hiểu lời nói, vốn từ tăng nhanh, cấu trúc từ hoàn thiện, thƣờng sử dụng câu ngắn. Mặt âm thanh ngôn ngữ đƣợc phát triển mạnh, cơ quan phát âm hoàn thiện một bƣớc (hai hàm răng hình thành đã điều khiển đƣợc môi, lƣỡi..) tạo điều kiện phát âm đƣợc. Tri giác nghe tốt hơn cũng có tác động tốt đến khả năng phát âm. 3.3.1.2. Nhiệm vụ Bằng con đƣờng giao tiếp thƣờng xuyên, có hệ thống của trẻ với ngƣời lớn, cô giáo chú ý phát triển tri giác nghe, củng cố và phát triển các bộ phận của cơ quan phát âm. 3.3.1.3. Nội dung và biện pháp – Cho trẻ bắt chƣớc và rèn luyện phát âm các phụ âm môi nhƣ: p, b, m, các nguyên âm đơn: a, o, ô ,ơ… – Đối với trẻ 2 tuổi trở đi, cần đƣa ra các âm khó phát âm hơn nhƣ: s, r, ch, x, có thể giai đoạn này các âm này trẻ chƣa phát âm chính xác nhƣng vẫn cần đƣợc rèn luyện.

14

– Dựa vào bộ phát âm của trẻ mà cô cho trẻ phát âm các âm trong các kết hợp khác nhau. Ví dụ: âm vị “b”  bà bế bé. Điều này giúp trẻ phát âm rõ các âm vị, cũng chính là luyện khả năng nghe âm vị và phát âm của các âm vị đó. – Cho trẻ nhắc đi nhắc lại các âm vị sẽ tạo thành các mẫu, từ đó rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo phát âm, cấu tạo âm của trẻ. – Cần đặc biệt lƣu ý các âm mà trẻ phát âm không chính xác hoặc hoàn toàn không phát âm đƣợc để rèn luyện cho trẻ. Ví dụ: các nguyên âm đôi nhƣ iê, uô, ƣơ, các vần có âm đệm u, các phụ âm s, x, ch, l. – Các mẫu phát âm cần đặt trong hoạt động ngôn ngữ giao tiếp. Quá trình rèn luyện này có thể thông qua một số giờ học ( Làm quen với âm nhạc, nhận biết tập nói, Làm quen văn học…), đặc biệt thông qua qua trò chơi. 3.3.2. Giai đoạn 2 (trẻ 3 – 5 tuổi) 3.3.2.1. Đặc điểm Ở tuổi này vốn từ của trẻ tăng nhanh. Trẻ hiểu nghĩa của từ và dùng từ chính xác hơn. Trẻ đã sử dụng đƣợc nhiều mẫu câu đơn giản đúng ngữ pháp, kể tuần tự đƣợc một số câu chuyện ngắn, trẻ cũng đã biết kể chuyện theo tranh. Nhƣ vậy, điều kiện và khả năng giao tiếp đã mở rộng. Mặt âm thanh của lời nói cũng nhanh chóng phát triển. Trẻ lĩnh hội và phát âm đƣợc nhiều âm vị, phát âm các từ, các câu rõ nét hơn. Trẻ bắt đầu biết điều chỉnh tốc độ, cƣờng độ của giọng nói. 3.3.2.2. Nhiệm vụ Phát triển khả năng nghe các âm tiết, phát âm đúng trong tất cả các âm vị tiếng Việt trong từ, trong câu một cách rõ ràng, rành mạch. Tiếp tục rèn luyện kỹ năng điều chỉnh giọng nói với cƣờng độ, tốc độ phù hợp với tình huống giao tiếp. 3.3.2.3. Biện pháp – Biện pháp chủ yếu là sử dụng các bài tập, TC tập cho trẻ phát âm các âm vị trong tiếng việt. Đặc biệt, các âm vị khó nhƣ âm: s, tr, r, x, ch…phải chú ý tập cho trẻ ngay từ khi mới 3 tuổi. – Luyện phát âm các âm vị tiếng mẹ đẻ bao gồm 4 loại công việc tuần tự thay

15

đổi nhƣ sau: + Luyện các bộ phận của cơ quan phát âm nhƣ môi, lƣỡi, hàm. Việc này đƣợc tiến hành bằng cách, giáo viên tổ chức các bài tập, trò chơi để phát triển, chính xác hoá các vận động của các bộ phận cấu âm nhƣ luyện cấu âm đúng, thở nhịp nhàng bằng miệng, phát triển, điều chỉnh giọng nói. Ví dụ: luyện độ linh hoạt của lƣỡi qua TC “Chú lƣỡi vui tính”… + Chính xác hoá việc phát âm các âm vị riêng biệt, biết tách một âm ra khỏi âm khác bằng các bài tập trò chơi, tách biệt các âm ra và phát âm để sau đó trẻ có thể bắt chƣớc làm theo. Loại công việc này giúp trẻ phân biệt đƣợc các âm vị gần nhau. Rèn luyện phát âm kết hợp với thể hiện ngôn ngữ và luyện giọng. Ví dụ: trò chơi “Đoán xem con gì kêu” (làm tiếng ong kêu “rì rì” để luyện phát âm “r” hoặc tiếng ve kêu để luyện âm “v”) + Luyện phát âm đúng các âm vị trong âm tiết, trong từ. Lựa chọn các từ, các âm tiết khác nhau có chứa một âm vị nào đó để tập cho trẻ phát âm rõ nét các âm vị đó. Ví dụ: trò chơi “Con gì xuất hiện” (luyện phát âm đúng âm “r” bằng cách đƣa các loại con có tên gọi là âm “r” rồi cho trẻ gọi tên: con rết, con ruồi, con rắn…) + Luyện phát âm đúng các âm trong cấu trúc câu (lời nói) thông qua trò chơi, câu đố, thơ ca, truyện. Ví dụ: cho trẻ đọc đồng dao bài “Dung dăng dung dẻ” để luyện âm “d”… 3.3.3. Giai đoạn 3 ( trẻ 5 – 6 tuổi) 3.3.3.1. Đặc điểm Đa số trẻ mẫu giáo lớn đã nắm đƣợc và phát âm chính xác tất cả các âm vị của tiếng mẹ đẻ và các thanh điệu. Các từ, các câu trẻ đều phát âm tƣơng đối chính xác, giọng điệu phù hợp với nội dung và hoàn cảnh giao tiếp. Số ít trẻ còn mắc một số lỗi sai về phát âm khi gặp các từ khó, bỏ sót một số nguyên âm. Một số trẻ khác không phân biệt đƣợc các âm gần giống nhau nhƣ: s-x, tr-ch, r-d, hoặc chƣa làm chủ đƣợc cƣờng độ, ngữ điệu giọng nói. 3.3.3.2. Nhiệm vụ – Tiếp tục hoàn thiện khả năng nghe lời nói, củng cố các kỹ năng nói đúng các từ, câu, sử dụng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảng giao tiếp.

16

– Phân biệt và rèn luyện phát âm chính xác những âm trẻ thƣờng hay lẫn lộn nhƣ: s-x, tr-ch, r-d. 3.3.3.3. Biện pháp – Chọn các âm gần nhau để trẻ so sánh và phân biệt. Ví dụ: quả sấu – xấu xí; xôi gấc – nƣớc sôi, trồng cây – cây chuối. – Phân biệt âm trong các từ bằng cách chọn các bức tranh hoặc các trò chơi có các từ có các âm khác nhau, cần phân biệt và dạy trẻ phân biệt chúng. Ví dụ: âm c, cho trẻ xem tranh ” quả cà”, tranh “con cá”. – Phân biệt các âm trong cấu trúc câu, cô sử dụng các bài tập, các trò chơi ngôn ngữ, các câu chuyện, tranh ảnh…để tập cho trẻ nói nhanh và luyện nghe cho trẻ. 3.4. Các hình thức rèn luyện ngữ âm cho trẻ 3.4.1. Tiết học rèn luyện phát âm – Đối với trẻ dƣới 3 tuổi: + Hình thức: cá nhân + Thời gian: từ 10 – 15 phút + Mục đích: Phát triển sự chú ý lời nói, phát triển tri giác nghe, thở ngôn ngữ, hoàn thiện bộ máy phát âm. + Biện pháp: ƣu tiên sử dụng biện pháp bắt chƣớc, sử dụng các bài đồng dao, ca dao, trò chơi. – Đối với trẻ 3 – 5 tuổi: + Hình thức: cả nhóm + Thời gian: 15 – 20 phút. + Mục đích: phát triển khả năng nghe hình vị và lời nói, tiếp tục hoàn thiện vận động bộ máy phát âm; củng cố kỹ năng phát âm; hoàn thiện phát âm đúng từ, câu; phát triển kỹ năng sử dụng cƣờng độ giọng nói thích hợp, tốc độ ngữ điệu hợp lý. + Biện pháp: Sử dụng trò chơi độc lập, các bài tập trò chơi, câu đố, chuyện vui, chuyện kể…

17

– Đối với trẻ 5 – 6 tuổi: + Hình thức: cả nhóm + Thời gian: 15 – 20 phút. + Mục đích: rèn luyện, củng cố và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo có liên quan đến các mặt của chuẩn mực ngữ âm. Chú ý đặc biệt đƣợc hƣớng đến các âm vị s – x, r – d, tr – ch, l – n … + Biện pháp: Sử dụng trò chơi học tập, câu đố, tục ngữ, ca dao, đồng dao, thơ, chuyện vui, chuyện kể…. 3.4.2. Đƣa việc rèn luyện ngữ âm vào các tiết học Có thể đƣa việc rèn luyện phát âm cho trẻ trong các giờ: kể chuyện, đọc thơ, âm nhạc, làm quen với chữ cái… 3.4.3 Rèn luyện ngữ âm ngoài giờ học Mọi lúc, mọi nơi cô đều có thể luyện ngữ âm cho trẻ nhƣ: lúc tập thể dục, đi dạo, chơi tự do, đón trả trẻ….Công việc này cô cần tiến hành thƣờng xuyên và kiên trì. Câu hỏi ôn tập: 1. Thế nào là giáo dục chuẩn mực ngữ âm cho trẻ mầm non? 2. Phân tích các nhiệm vụ giáo dục chuẩn mực ngữ âm cho trẻ mầm non. 3. Trình bày đặc điểm ngữ âm của trẻ nhà trẻ, mẫu giáo. 4. Nêu biện pháp giáo dục chuẩn mực ngữ âm cho trẻ các độ tuổi. 5. Thiết kế giờ học giáo dục chuẩn mực ngữ âm cho trẻ 24 – 36 tháng, 3 – 4 tuổi.

18

Chƣơng 4

HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ A. Mục tiêu: – Biết đặc điểm vốn từ của trẻ tuổi mầm non. – Hiểu đƣợc các nhiệm vụ hình thành vốn từ cho trẻ mầm non. – Hiểu và vận dụng đƣợc các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non. – Có kỹ năng xây dựng trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ. – Có kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức hoạt động nhận biết tập nói cho trẻ. B. Nội dung 4.1. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non 4.1.1. Vốn từ xét về mặt số lƣợng – Từ 12 tháng trở đi, ở trẻ bắt đầu xuất hiện các từ chủ động đầu tiên. 18 tháng trẻ có khoảng 11 từ (nhiều nhất 24 từ). – Từ 19 – 21 tháng, số lƣợng từ tăng nhanh, 21 tháng có khoảng 220 từ, 24 tháng có 234 từ, 30 tháng có 434 từ, 36 tháng có khoảng 468 từ. – Năm thứ 3, trẻ sử dụng đƣợc hơn 500 từ chủ yếu là các danh từ, động từ, tính từ chỉ các sự vật, hiện tƣợng xung quanh, quen thuộc với trẻ. – Trẻ 4 tuổi có khoảng 700 từ, hầu hết các từ loại xuất hiện trong vốn từ của trẻ. – Trẻ 5 – 6 tuổi có khoảng 1033 từ, tính từ và các từ loại khác chiếm tỉ lệ cao hơn.  Quy luật tăng số lượng từ của trẻ: – Số lƣợng từ tăng theo thời gian. – Sự tăng số lƣợng từ có tốc độ không đều, có giai đoạn tăng nhanh, có giai đoạn tăng chậm. Năm thứ ba tốc độ tăng nhanh nhất. Từ 3 – 6 tuổi tốc độ giảm dần. 4.1.2. Vốn từ xét về cơ cấu từ loại Theo Nguyễn Xuân Khoa, tiếng Việt có 9 loại từ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, phó từ, quan hệ từ, định từ, tình thái từ. Các từ loại xuất hiện dần trong vốn từ của trẻ. Đầu tiên chủ yếu là danh từ, sau đó đến động từ, tính từ rồi đến các từ loại khác.

19

Bạn đang xem bài viết Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!