Xem Nhiều 1/2023 #️ Phong Tục Hôn Nhân Xưa Và Nay # Top 7 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Phong Tục Hôn Nhân Xưa Và Nay # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phong Tục Hôn Nhân Xưa Và Nay mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phong tục hôn nhân – cưới hỏi là dấu mốc quan trọng của đời người và đồng thời cũng thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc. Tuy vậy, văn hóa là một phạm trù có sự tiếp biến, nên phong tục hôn nhân của mỗi dân tộc luôn có sự chọn lọc, thay đổi cho phù hợp hơn với thời đại mới, trên cái nền của bản sắc truyền thống.

Trầu cau là lễ vật không thể thiếu trong mỗi lễ cưới. Ảnh: sưu tầm

* Từ hôn nhân theo ý nguyện gia đình, dòng tộc…

TS Nguyễn Thị Nguyệt, giảng viên Trường đại học Văn hóa chúng tôi nhận định, hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không đơn thuần là việc hai người lấy nhau mà là việc của hai bên cha mẹ, hai dòng họ dựng vợ gả chồng cho con. Từ đó kéo theo việc xác lập quan hệ qua lại giữa hai gia tộc. Bên cạnh đó trong xã hội xưa, giáo dục gia đình thuần theo triết lý của Nho giáo nên hôn nhân luôn đặt trong tình huống Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy.

Tục ngữ Việt Nam có nhiều câu đúc kết vấn đề kén rể, chọn dâu. Chẳng hạn: Lấy vợ xem tông, lấy chồng kén giống, việc đầu tiên không phải là lựa chọn cá nhân cụ thể cho cuộc hôn nhân mà là lựa chọn một gia đình, một dòng họ, xem hai bên có tương xứng không, có môn đăng hộ đối hay không.

Đám cưới hiện đại ngày nay có xu hướng giản lược nhưng luôn phải đảm bảo vấn đề cơ bản là đăng ký kết hôn để pháp luật công nhận, bảo vệ cuộc hôn nhân hợp pháp. Một số cặp đôi là công nhân lao động sống xa quê, không có điều kiện kinh tế, thì có khi tự tổ chức đám cưới và báo hỉ với gia đình, dòng tộc, tổ chức mâm cơm ra mắt tại quê nhà. Một số địa phương còn tổ chức đám cưới tập thể cho các cặp đôi công nhân lao động khó khăn, người khuyết tật…

Tiếp đó, trong xã hội Việt Nam trước đây, nghề nông nghiệp là chủ yếu nên cần nhiều nhân lực. Ông bà xưa rất quan tâm đến năng lực sinh sản, duy trì nòi giống của người phụ nữ. Người ta thường chúc đôi trai gái mới cưới có Con đàn cháu đống; việc chọn dâu cũng theo tiêu chí: Đàn bà thắt đáy lưng ong/ Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con; hoặc Mua heo chọn nái/ lấy gái chọn dòng…

Ngoài ra, đối tượng được dựng vợ gả chồng còn phải có trách nhiệm mang lại các lợi ích cho gia đình. Con rể phải mang về vẻ vang, hãnh diện cho gia đình vợ, và ngược lại con dâu phải đảm đang, quán xuyến cho gia đình chồng: Chồng sang vợ được đi giày/ Vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông.

Theo các nhà nghiên cứu về văn hóa, gia đình ở xã hội Việt Nam truyền thống không tách rời khỏi làng và nước, mà ngược lại “nhà – làng – nước” là một thể thống nhất, có mối liên hệ chặt chẽ. Một trong những ví dụ cụ thể cho mối liên hệ này trong lĩnh vực hôn nhân là tục nộp cheo: Nuôi lợn thì phải vớt bèo/ Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng; hoặc Lấy vợ không  cheo/ Tiền gieo xuống đất…

Như vậy, khi đôi trai gái lấy nhau phải nộp cho làng một khoản lệ phí gọi là cheo mới được làng xã công nhận khoản cheo này để làng xã dùng vào những việc chung, công ích. Đa phần tục nộp cheo phổ biến ở miền Bắc hơn vì tính cộng đồng mạnh mẽ được cố kết bởi những lũy tre làng. Còn ở phương Nam, đặc thù có nhiều kênh rạch bao quanh đã hình thành tính mở của làng. Việc nộp cheo không thể hiện rõ ràng như ở miền Bắc. Tuy vậy, khi nghiên cứu, tìm hiểu về di sản văn hóa làng xã ở xã Hiệp Phước, H.Nhơn Trạch, TS Nguyễn Thị Nguyệt cho biết ở xã Hiệp Phước xưa có tổ chức lễ lạy làng trong hôn nhân, thể hiện trách nhiệm của gia đình tổ chức hôn nhân đó đối với làng.

Nhìn rộng ra, hầu hết các cuộc hôn nhân xưa đều làm theo ý nguyện của cộng đồng, vì lợi ích của quốc gia như: cuộc hôn nhân đi vào lịch sử của Mỵ Châu – Trọng Thủy, công chúa Huyền Trân – vua Chàm Chế Mân…, hay ở phạm vi nhỏ hơn ở các gia tộc là vô số những cuộc hôn nhân của thường dân.

* … Đến tự do hôn nhân

Ngày nay, quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, được tôn trọng và thực hiện theo quy định của pháp luật, với các luật cụ thể như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới… Khác với trước đây Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thì ngày nay theo Luật Hôn nhân và gia đình, nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn, thì được tự nguyện quyết định trong việc kết hôn.

Các cặp đôi rước dâu bằng xe xích lô, trong tà áo dài truyền thống. Ảnh: TTXVN

Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc.

Dưới góc nhìn văn hóa, TS Nguyễn Thị Nguyệt nhận định rõ ràng việc tự do yêu và tự do hôn nhân là sự tiến bộ của xã hội, nhưng nếu quan niệm tự do hôn nhân một cách thái quá cũng sẽ trở thành một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng “sống thử” để lại nhiều hệ lụy, nhất là trong giới sinh viên, hoặc công nhân lao động.

Ngoài ra, ngày nay, hôn nhân được hiểu thiên về chuyện cá nhân, riêng tư của mỗi người nhiều hơn trước nên một số tục lệ được điều chỉnh để phù hợp với thực tế. Cụ thể như lễ lạy làng ở xã Hiệp Phước đã được chuyển đổi thành lễ gia tiên, thường tổ chức vào đêm trước ngày rước dâu về nhà chồng. Hoặc việc xem tuổi xem đôi trai gái có hợp với nhau hay không, người con dâu tuổi có xung khắc với gia đình chồng hay không, xem ngày tốt để tổ chức các nghi lễ… vốn dĩ trước đây rất được coi trọng, nay không còn đặt nặng như trước nữa. Những ngày cưới thường được tổ chức vào dịp cuối tuần để tạo thuận lợi cho người tổ chức và tham dự lễ cưới, một số cặp vợ chồng tuy không hợp tuổi vẫn tiến đến hôn nhân và sống hạnh phúc với nhau… 

* Gìn giữ các giá trị văn hóa

Để cho quan hệ vợ chồng đời đời bền vững, theo sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của GS-TS Trần Ngọc Thêm thì khi cưới, đôi vợ chồng trẻ thời Hùng Vương có tục trao cho nhau nắm đất và gói muối. Nắm đất tượng trưng cho lời nguyền gắn bó với đất đai – làng xóm – quê hương; gói muối là lời chúc cho tình nghĩa giữa cặp vợ chồng thêm mặn mà chung thủy.

Trong đồ lễ vật của đám cưới ngày nay tuy không dùng đất và muối nhưng cũng luôn có một loại bánh rất đặc biệt có ý nghĩa là bánh su sê. Loại bánh được đọc chệch đi của từ phu thê – mang nghĩa vợ chồng. Bánh làm bằng bột lọc, nhân gồm đường, dừa, đậu xanh, rắc thêm mè, được nắn hình tròn, đặt trong một hộp vuông làm bằng lá dứa úp khíp vào nhau. Bánh su sê với hình vuông tròn như một biểu tượng của triết lý âm dương, biểu tượng của sự hòa hợp, vẹn toàn…

Trong phong tục hôn nhân của người Việt, trải qua hàng ngàn năm vẫn luôn có sự hiện diện của trầu cau – một biểu tượng văn hóa đặc biệt của dân tộc ta, thể hiện của sự mặn nồng trong các lễ cưới. Hình ảnh cây cau vươn cao là biểu tượng của trời, vôi lấy từ đá là biểu tượng của đất, dây trầu quấn quýt lên thân cây tạo nên sự hòa hợp, trở thành biểu tượng của tình yêu đôi lứa: Thưa rằng bác mẹ đã răng/ Làm thân con gái chớ ăn trầu người; hoặc Có trầu mà chẳng có cau/ Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm; hay Em về, anh  gởi buồng cau/ Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy…

Đáng chú ý, dù tiếp cận với nhiều nền văn hóa khác nhau nhưng trang phục cưới truyền thống của cô dâu Việt không bao giờ thiếu tà áo dài. So với áo dài thường, áo dài cưới được may với loại vải có chất liệu cao cấp hơn, màu sắc cũng tươi sáng, rực rỡ hơn như: màu đỏ, vàng, hồng, trắng… Một số áo dài cưới được may cầu kỳ, cách điệu cho phù hợp với xu hướng thời trang, nhưng chung quy vẫn giữ được những nét cơ bản của tà áo dài, tôn vinh sự duyên dáng, nữ tính của người mặc nó. Trong một số đám cưới, chú rể cũng diện trang phục áo dài, đồng bộ với cô dâu.

Lâm Viên

So Sánh Hôn Nhân Xưa Và Nay

Ảnh: dantri

Ý nghĩa về lễ cưới

Ngày xưa

Ngoài sự đồng ý của cả hai gia đình thì điều kiện tiên quyết còn lại là căn cứ vào hoàn cảnh của cả hai nhà. Cả hai gia đình cần phải có sự phù hợp về địa vị, kinh tế thì cô dâu, chú rể mới được chúc phúc. 

Hôn nhân ngày xưa rất xem trọng lễ cưới, nó mang ý nghĩa hơn cả giấy chứng nhận kết hôn. Bởi đây là dịp báo hỷ, chia vui cùng hai gia đình.

Ngày nay

Cùng với xu hướng hiện đại hoá và hội nhập với thế giới, những quan niệm cùng dần thay đổi. Việc tiến đến hôn nhân không chỉ là sự đồng ý của hai gia đình mà điều quan trọng là sự tìm hiểu, hoà hợp và quyết định của cô dâu, chú rể.

Cả hai cần phải đăng ký kết hôn và ý nghĩa về lễ cưới dù thay đổi nhưng vẫn giữ bản sắc như ngày xưa. Vẫn là chung vui của bạn bè, người thân chúc phúc cho đôi bạn tiến đến hạnh phúc trăm năm.

Các nghi thức cưới hỏi xưa và nay

Khi so sánh hôn nhân xưa và nay, điều khác nhau dễ nhận thấy nhất chính là những nghi thức cưới hỏi.

Ảnh: Lạc Stationery

Ngày xưa

Do ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc ngày xưa, nên các nghi lễ cưới hỏi cũng mang nét đặc trưng đất nước này. Những nghi thức này được thực hiện nhiều công đoạn hơn, tuy nhiên phải kể đến những nghi thức chính như sau: 

-    Lễ nạp tài: Nhà trai mang cặp “nhạn” đến nhà gái, tỏ ý đã chọn được ý trung nhân. -    Lễ vấn danh: Nhà trai đến hỏi tên, ngày tháng năm sinh của người con gái. -    Lễ nạp cát: Lễ báo kết quả xem tuổi, hợp nhau thì tiến tới, còn nếu không hợp sẽ huỷ. -    Lễ nạp tệ : Nhà trai đem sính lễ đến nhà gái. -    Lễ thỉnh kỳ: Lễ xin ngày giờ tốt làm lễ thân nghinh. -    Lễ thân nghinh: Tức là lễ cưới, đúng ngày giờ trong lễ thỉnh kỳ nhà trai sẽ đem lễ vật đến đón dâu về.

Ngày nay

Sự giản lược làm cho các nghi thức được thực hiện ít rườm rà hơn cũng như tiết kiệm được thời gian, chi phí và công sức. Các nghi lễ ngày nay tuy có tên gọi hơi khác so với nghi lễ trước kia nhưng ý nghĩa thì khá giống. Các nghi thức cưới hỏi chính ngày nay là lễ dạm ngõ, ăn hỏi, xin dâu, đón dâu, lại mặt.

Trang phục đám cưới

Ngày xưa

Cô dâu sẽ mặc áo mớ ba, bên trong là áo màu sắc rực rỡ như hồng, xanh, vàng,… phía bên ngoài là áo phủ the thâm. Sau này thì mặc áo dài trắng hoặc váy trắng có thiết kế đơn giản. Còn chú rể thường mặc quần âu, áo sơ mi đơn giản.

Ảnh: Yêu Media

Ngày nay

Trang phục lễ cưới hỏi ngày nay khá đa dạng, nhưng thường cô dâu sẽ mặc áo dài trong đám hỏi và váy cưới trong đám cưới. Áo dài và váy cưới cô dâu ngày nay có nhiều thiết kế khác nhau vì vậy có rất nhiều lựa chọn cho tân nương. Còn về phía chủ rể sẽ mặc áo vest hiện đại trong cả đám cưới và đám hỏi.

Lễ vật cưới hỏi

Nhìn chung lễ vật cưới hỏi ngày nay về cơ bản không khác nhiều so với lễ vật ngày xưa. Tựu chung sẽ có trầu cau, rượu, thuốc lá, bánh, chè, mứt sen, xôi, heo quay,… Tuỳ mỗi vùng miền mà lễ vật sẽ có sự khác nhau phần nào nhưng đều mang một ý nghĩa nhất định.

Từ những so sánh hôn nhân xưa và nay như trên đã cho thấy rằng, cưới hỏi dù thời gian nào cũng mang một ý nghĩa rất quan trọng. 

 

Sự Khác Biệt Trong Quan Niệm Hôn Nhân Xưa Và Nay

Nếu chúng đi ngược lại dòng lịch sử xem xét lại chuyện hôn nhân của con người thì sẽ thấy có quá nhiều điểm khác biệt. Cụ thể là ngày xưa người phụ nữ thường rất thụ động trong hôn nhân. Họ không bao giờ được tự do tìm hiểu đối phương của mình. Bởi lễ nghi phong kiến thời đó buộc con người phải tuân thủ theo quan niệm cha mẹ đặt đâu còn ngồi đó. Cho nên có tình trạng hầu hết các cặp đôi không hề yêu nhau và không biết mặt nhau. Chỉ khi lấy nhau về rồi thì tình yêu mới bắt đầu nảy sinh.

Hơn nữa ở thời đó người con gái thường không được phép lăng nhăng, bồ bịch tức là không có quan hệ ngoài hôn nhân và hoàn toàn trinh trắng trước khi lấy chồng. Cô gái nào không may mang bầu trước thì được cho là chửa hoang một tội nhân trong xã hội cần phải bài trừ. Không chỉ có vậy khi về nhà chồng người con gái chỉ biết cúi đầu mà làm lụng nâng khăn sửa túi cho chồng. Chồng bảo sao thì nghe vậy không được cãi lời. Chồng có quyền 5 thê 7 thiếp còn vợ chỉ chính chuyên 1 chồng.

Bên cạnh đó nhiều người hầu như không được biết đến tình yêu vợ chồng hay cái gọi là lạc thú trong hôn nhân mà người ta thường đùa nhau nói là lên đỉnh. Bởi vì quan niệm xã hội cũ giáo dục người con gái phải kín đáo, dịu dàng không chỉ nghĩ cho mình mà chỉ biết nghĩ tới việc hy sinh cho con, thỏa mãn cho chồng.

Ngoài ra nếu ông chồng nào chán vợ thì người vợ còn phải thay mặt chồng đi cưới hỏi thiếp nhỏ. Thế nhưng lỡchẳng may chồng chết sớm thì cũng không được quyền tái giá. Sống là người nhà chồng và chết là ma nhà chồng.

Quan niệm hôn nhân ngày nay

So với ngày xưa thì quan niệm hôn nhân ngày nay có nhiều điểm cởi mở hơn. Đặc biệt là nó đã giải phóng cho người phụ nữ khỏi rất nhiều hệ lụy. Cụ thể là họ có quyền được tự do tìm hiểu yêu đương rồi dẫn về gặp cha mẹ và xin cưới. Thế nên người phụ nữ ngày nay rất hạnh phúc trong hôn nhân. Thậm chí cái cảnh phải khom lưng phục vụ chồng và gia đình nhà chồng cũng không còn. Nhiều ông chồng khi đi làm về đã biết vào bếp cùng phụ giúp vợ làm việc nhà. Đến những ngày lễ trọng đại của chị em như 20 tháng 10, ngày 8 tháng 3 hay ngày sinh thần cũng được chồng âu yếm tặng cho những nụ hôn nồng thắm hay những bó hoa hồng thật đẹp. Ngoài ra nếu trong đời sống riêng của vợchồng xảy ra xích mích, kình cãi thì họ có thể tự do li hôn mà tìm đến với người khác phù hợp hơn.

Phong Tục Và Hủ Tục 2022

Mấy chục năm sống ở Tây Nguyên, tôi đã chứng kiến nhiều hủ tục và phong tục.

Chỉ nói riêng ở Gia Lai nơi tôi đang sống thôi, nhiều hủ tục giờ hầu như chỉ còn trong dĩ vãng, nhiều người muốn “nghiên cứu” lại cũng chả còn, ví dụ như lặn nước, đổ chì để phân định đúng sai. Ví dụ như chôn chung, như vẫn bón thức ăn cho người chết sau khi đã chôn hàng tháng… Nhưng vẫn còn những hủ tục đang tồn tại, thảng hoặc đâu đó, ta vẫn nghe chuyện ma lai, chuyện thuốc thư, chuyện mẹ chết thì chôn theo con…

Là đứng dưới góc độ văn minh mà xét, chứ khi một hiện tượng đã tồn tại, dù lâu dù mau, nó phải có lý của nó, kể cả đấy là hủ tục man rợ nhất. Lấy ví dụ hủ tục mẹ chết thì chôn theo con. Ai cũng biết người Tây Nguyên thời còn lạc hậu, khi đẻ người phụ nữ phải tự làm lấy mọi thứ. Giờ chuẩn bị sinh các bà mẹ trẻ và gia đình của họ lo lắng chuẩn bị từng ly từng tí, còn phụ nữ Tây Nguyên ư, tự vào rừng, làm một cái chòi, chuẩn bị ít mì, đu đủ, gạo, củi… vào đấy tự sinh, xong xuôi thì bế con về. Và trong hoàn cảnh ấy, thì nếu người mẹ chẳng may chết (hiện tượng chết này rất nhiều do sự thiếu thốn lạc hậu đủ bề), nếu để đứa bé thì cũng không cách gì có thể nuôi được. Chúng ta giờ có lồng ấp, có các phương tiện hiện đại, bác sĩ giỏi, các loại sữa đủ để thay sữa mẹ mà nuôi những đứa bé như thế còn khó khăn, thì thử hỏi người nhà đứa bé ở giữa rừng, lạc hậu như thế, đói khổ như thế, thiếu thốn như thế… có thể làm gì khi mẹ chúng mất, nguồn sữa duy nhất nuôi bé không còn. Cách tốt nhất trong hoàn cảnh ấy là cho đứa bé đi theo mẹ. Và trong hoàn cảnh ấy có thể hành động ấy là nhân văn với họ. Nhưng giờ, chỉ nghe nói thế là đã gai cả người. Ánh sáng của văn minh đẩy lùi hủ tục là như thế.

Có những việc không phải hủ tục mà là phong tục, như lễ bỏ mả. Cái lễ này nó cũng như việc người Kinh cúng giỗ, gần gần hơn với làm lễ hết tang. Khi đủ điều kiện thì người Tây Nguyên tổ chức lễ bỏ mả. Đây là một cái lễ rất lớn, một hoạt động văn hóa trọng thể kéo dài so với các lễ khác. Cũng có nhiều ý kiến về lễ này, như có người bảo lãng phí, vì mỗi lễ bỏ mả như thế có khi người ta làm đến mấy chục con bò, chưa kể lợn dê gà, hàng mấy trăm ghè rượu… Thực ra cái gọi là lãng phí thì… người Kinh lãng phí hơn nhiều. Nên nhớ một gia đình người Tây Nguyên có khi cả đời họ mới tổ chức một lễ bỏ mả, bỏ một lúc cho nhiều người. Và dịp ấy họ mới làm bò. Còn chúng ta, ngày nào chả ăn thịt. Mà khách trong các cuộc bỏ mả ấy rất đông, cả khách được mời và khách đi qua ghé vào, khách tò mò đến xem… đều được mời ăn mời uống, thậm chí được chia phần mang về. Có chăng cái phần cần phải xử lý là vệ sinh thực phẩm và môi trường. Hãy hình dung, ở những khu nhà mả hẻo lánh ấy, phân, máu súc vật, nước lại hiếm, nền đất và cỏ, hàng trăm con người ăn uống nhảy múa… thì việc vệ sinh hoàn toàn có thể hiểu là bằng không. Rất nhiều cuộc ngộ độc tập thể xuất phát từ các cuộc như thế này…

Trong đời sống hiện nay, có nhiều phong tục đẹp đang trở thành hủ tục.

Như việc đi lễ chùa chiền đang bị biến tướng thành nơi xin xỏ cầu ước rất tầm thường. Các di tích lịch sử văn hóa đang trở thành nơi buôn thần bán thánh rất thực dụng. Các nhân vật lịch sử, các anh hùng dân tộc đang bị biến thành những thế lực để phân phát quyền và tiền. Thậm chí người ta đi vay tiền ở các vị danh nhân rồi trả gấp ba bốn lần như thế. Hay như nạn cưới xin rùm beng đang thành gánh nặng với những gia đình thu nhập thấp. Việc thăm nhau đang bị biến tướng thành đi “lễ”, đi “tết” với túi to nhỏ các loại…

Và, phải nói thật với nhau, trong chúng ta có ai làm việc gì đấy, từ nhỏ như sửa cái cổng, mua cái xe, đến lớn như làm nhà, dựng vợ gả chồng, ma chay… mà không xem thầy xem ngày không, không sửa lễ cúng bái không? Và cũng không biết liệt những việc ấy vào phong tục hay hủ tục nhỉ?…

Bạn đang xem bài viết Phong Tục Hôn Nhân Xưa Và Nay trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!