Xem Nhiều 2/2023 #️ Phương Đông Và Phương Tây Khác Biệt Về Âm Nhạc Như Thế Nào? (Kỳ 1) # Top 10 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phương Đông Và Phương Tây Khác Biệt Về Âm Nhạc Như Thế Nào? (Kỳ 1) # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phương Đông Và Phương Tây Khác Biệt Về Âm Nhạc Như Thế Nào? (Kỳ 1) mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thế giới rộng lớn luôn là một kho tàng đa dạng về văn hóa, tập quán, truyền thống. Đây thật sự là một thú vui vô tận đối với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực dân tộc học, xã hội học. Trong đó nổi bật hơn cả là sự khác biệt giữa 2 nền văn hóa phương Đông và phương Tây, với sự khác biệt cơ bản về bản tính tâm lý, tư duy, lối sống, tập quán, truyền thống… Có thể coi đây là 2 cái nôi văn hóa – văn minh lớn nhất của nhân loại.

Văn minh phương Đông và phương Tây

Xét về vùng lãnh thổ, phương Đông ngày nay được hiểu là khu vực bao phủ toàn bộ châu Á và phần Đông Bắc châu Phi. Nói đến phương Đông, người ta không thể không nhắc đến những nền văn minh nổi tiếng như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Arập, Trung Hoa. Tóm lại, phương Đông là một khu vực văn minh có “bản sắc” riêng cả về phương diện truyền thống lẫn hiện đại. Ngày nay, xét trên nhiều góc độ như lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá,… phương Đông chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong lịch sử thế giới. Người phương Đông thường có cách cư xử nặng về tình cảm, đề cao tính cộng đồng và tập thể. Tiêu biểu nhất cho văn minh phương Đông chính là 2 cái nôi ở Trung Hoa và Ấn Độ mà nền văn hoá – văn minh này thậm chí còn mang tính cổ xưa hơn cả văn minh phương Tây. Sự khác biệt ấy được thể hiện hầu như ở mọi phương diện đời sống xã hội, trong đó có văn hóa, nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng.

Khác biệt về âm nhạc

Xét về tầm ảnh hưởng của nền văn minh thì Trung Hoa và Ấn Độ, trong đó có văn hoá âm nhạc, đã chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến các nước trong khu vực và nhiều nước khác trên thế giới. Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã khẳng định bằng cả lý luận và thực tiễn rằng, âm nhạc Phương Đông nói chung, âm nhạc Trung Hoa – Ấn Độ nói riêng có những nét đặc sắc, thậm chí còn bao trùm các nước khác. Mặc dù vậy nền âm nhạc phương Tây từ lâu cũng đã được định hình và đạt được nhiều thành tựu to lớn về hệ thống lý luận âm nhạc, về phong cách sáng tác, phong cách biểu diễn, các thể chế tổ chức và diễn tấu (chẳng hạn như những qui định trong biên chế dàn nhạc, sự phân loại và sử dụng các loại giọng…).

Phương Tây luôn dựa trên cơ sở khoa học để đề xướng các lý thuyết cơ bản về âm nhạc và được phổ biến rộng khắp trên toàn thế giới. Đồng thời, nó chi phối, ảnh hưởng cực kỳ mạnh mẽ đến nghệ thuật âm nhạc của nhiều nước, kể cả các nước phương Đông. Tuy nhiên, trong thời đại sự giao lưu văn hoá giữa các nước ngày càng trở nên cởi mở, tôn trọng lẫn nhau và tìm ra cái hay, cái đẹp của nhau để làm giàu thêm vốn văn hóa của dân tộc mình đây đôi khi lại là điều tốt. Đó chính là những yếu tố không thể thiếu để làm nên cái chung, cái phổ quát của văn hoá nhân loại, trong đó có âm nhạc và hệ thống ngôn ngữ chung của văn hoá âm nhạc đương đại trên thế giới. Những cái độc đáo, đặc sắc của âm nhạc mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc một mặt luôn được bảo tồn cùng với sự tồn vong của từng dân tộc, một mặt lại phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ hơn.

Tạm kết

Để có thể nói về sự khác nhau trong âm nhạc giữa hai Châu lục là điều vô cùng rộng lớn mà trong khuôn khổ một bài viết là chắc chắn không thể đầy đủ hết. Như chúng ta đã biết âm nhạc là hơi thở của cuộc sống, bắt nguồn từ cuộc sống lao động của xã hội loài người, phản ánh tâm tư, tình cảm, ước vọng trong cuộc sống của con người trong mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi châu lục. Dù được thể hiện qua câu hát – tiếng đàn, hay qua thị hiếu thưởng thức âm nhạc, qua giai điệu, tiết tấu, điệu thức, cách thức cơ cấu nhạc cụ, phong cách biểu diễn, phong cách sử dụng nhạc cụ… thì bản chất ấy của âm nhạc không hề thay đổi. Chúng ta chỉ có thể nhìn vấn đề dưới góc độ nhỏ của dòng âm nhạc chuyên nghiệp (một bộ phận của âm nhạc nói chung) và dựa vào những cách thức biểu hiện ấy để làm cơ sở cho những so sánh về sự khác biệt giữa âm nhạc Phương Đông và âm nhạc Phương Tây.

– Kỳ 2: Phương Đông và phương Tây khác biệt về âm nhạc như thế nào? (Kỳ 2)

Phương Đông Và Phương Tây Khác Biệt Về Âm Nhạc Như Thế Nào? (Kỳ 2)

Thế giới rộng lớn luôn là một kho tàng đa dạng về văn hóa, tập quán, truyền thống. Đây thật sự là một thú vui vô tận đối với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực dân tộc học, xã hội học trong đó nổi bật hơn cả là sự khác biệt giữa 2 nên văn hóa nổi bật nhất là phương Đông và phương Tây, với sự khác biệt cơ bản về bản tính tâm lý, tư duy, lối sống, tập quán, truyền thống… Có thể coi đây là 2 cái nôi văn hóa – văn minh lớn nhất của nhân loại.

Khác biệt về âm nhạc

1. Khác biệt trong việc sử dụng âm thanh

Âm nhạc Phương Đông và âm nhạc Phương Tây cùng dùng con số để thể hiện các âm có độ cao. Tuy nhiên, cách lý giải thì có sự khác nhau:

Người phương Tây – tiêu biểu là Hy Lạp cổ đại – thường dùng tần số làm số đo chủ yếu của âm thanh, chẳng hạn cách định âm của Pythagore (582 – 493), theo nguyên tắc định âm “vòng quãng 5” để xác định các bậc âm: Đô – Son – Rê – La – Mi – Xi – Fa#; họ lấy cách định âm bằng sợi dây, và sự khác biệt của âm thanh được qui định một cách khoa học theo âm chuẩn 1 cung = 9 comma. Theo đó, âm La1 ứng với 440 Hz và âm càng cao thì con số ứng với nó càng lớn; từ âm La1 cố định làm chuẩn, mà sau này tất cả các nhạc cụ trong dàn nhạc đều phải được định hình theo nó và âm nhạc Phương Tây còn coi âm Đồ là âm cơ bản đầu tiên. Khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, đến thế kỷ II sau Công nguyên có trường phái “hòa thanh học” phản đối phương pháp dùng “số học” để nghiên cứu nhạc luật của Pythagore, họ đề ra phương pháp dựa vào tai nghe làm cơ sở và đã phát hiện “âm sai” 5/4, 6/5, âm nhỏ 10/9 và comma 81/80. Theo một số nhà nghiên cứu âm nhạc còn cho rằng Aristoxene (thế kỷ IV trước Công nguyên) đã phát hiện nguyên lý thang 12 luật điều hòa.

Hình ảnh Vòng quãng 5

2. Khác biệt trong sử dụng điệu thức

Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã đối chiếu điệu thức 5 âm và 7 âm cổ đại của Trung Quốc (phương Đông) và Hy Lạp (phương Tây) đã thấy sự sắp xếp các quãng của hai điệu thức 5 âm tương đối giống nhau, song hai điệu thức 7 âm lại khác. Bán âm đầu tiên trong điệu thức Trung Quốc nằm giữa bậc IV và V( Sanh Tân và Lâm Chung), còn trong điệu thức trưởng Hy Lạp nó lại nằm ở bậc III và IV. Tuy nhiên, hình thức sắp xếp các bậc trong điệu thức 7 âm của Trung Quốc chỉ nằm trong sách vở ở thời kỳ đầu và trong âm nhạc cung đình. Còn âm nhạc dân gian thì quãng bán âm giữa bậc III và IV đã hình thành từ sớm (như trong âm nhạc cổ đại Hy Lạp) và đến thế kỷ VI sau công nguyên đã thấy nó được sử dụng trong âm nhạc cung đình.

Tên gọi 7 âm của Trung Quốc tương ứng với 7 âm Hy Lạp:

                          Cung         Thương     Giốc      Biến Trủy       Trủy          Vũ         Biến Cung

Song, điệu thức trong âm nhạc Phương Đông rất phức tạp, ở mỗi khu vực đều có những cách sử dụng điệu thức khác nhau và điều đó làm cho âm nhạc Phương Đông vốn độc đáo, riêng biệt lại càng giàu thêm phần phong phú và đa dạng hơn. Vùng phương Bắc Trung Quốc thường dùng điệu thức 7 âm bằng nhau, đặc biệt là 7 âm Thương hay được dùng với sắc thái vui vẻ, lạc quan, mạnh mẽ. Vùng phương Nam chủ yếu là dùng 5 âm và sử dụng nhiều 5 âm Truỷ, tiếp theo đến 5 âm Vũ với tính chất âm nhạc trữ tình. Dĩ nhiên, những tính chất, sắc thái, đặc điểm âm nhạc trong mỗi vùng miền ở phương Đông khác nhau đều xuất phát từ yếu tố con người, địa lý, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, ngữ điệu…

Âm nhạc thời cổ điển ở Ấn Độ dùng 7 bậc âm chính để xây dựng thành 7 nốt – tiếng Ấn Độ là xva-ra (svara). Mỗi nốt có một tên riêng và tương ứng với tiếng của mỗi con vật: Nốt thứ nhất tên là Xa-dơ-gia (Sadja)  tương ứng với tiếng chim công, nốt thứ hai tên là Ri-sa-ba (Rishaba) tương ứng với tiếng kêu của con bò cái, nốt thứ ba tên là Gan-đơ-ha-ra (Gandhara) tương ứng với tiếng kêu của con dê, nốt thứ tư tên là Ma-dơ-hi-a-ma (Madhyama) tương ứng với tiếng kêu của con cò, nốt thứ năm tên là Pan-sa-ma (Panchama) tương ứng với tiếng gáy của chim cu, nốt thứ sáu tên là Đơ-hai-va-ta (Dhaivata) tương ứng với tiếng hí của ngựa, nốt thứ bảy tên là Ni-sa-da (Nishada) tương ứng với tiếng giống của voi. Trong thực hành, các nốt nhạc này được đọc theo vần đầu của chúng. Do đó mà tên bảy nốt nhạc của Ấn Độ là: Xa – Ri – Ga – Na – Pa – Đa – Ni. Tên gọi của bảy nốt trong âm nhạc Phương Tây là Ut – Rê – Mi – Fa – Son – La – Xi cũng hình thành theo cách này – lấy vần đầu của các câu kinh thánh. Lý thuyết âm nhạc cổ điển đã được định hình bởi các điệu thức cơ bản Raga – là một điệu thức 7 âm chia ra thành 22 cao độ không đều nhau trong một quãng 8 được gọi là sơ-ru-ti (shruti), mỗi sơ-ru-mi được xác định tính chất âm nhạc khác nhau. Các điệu thức 7 âm Raga được dùng nhiều ở miền Bắc với tính chất âm nhạc trữ tình, mềm mại. Còn trong hệ thống Siva có tới mười điệu thức 5 âm lại thường được dùng nhiều ở miền Nam với tính chất âm nhạc nặng về lý trí.

Khác hẳn so với điệu thức âm nhạc Phương Đông, thời Hy Lạp cổ đại sắp xếp hệ thống âm nhạc theo thứ tự từ trên đi xuống; điệu thức đó chứa dãy bốn âm cùng một dạng thức quãng theo cách gối đầu hoặc kế tiếp. Hệ thống hoàn thiện nhất là có bốn dãy âm và có âm gốc (gọi là Meda) nằm ở chính giữa chia cả hệ thống thành hai phần bằng nhau. Trên cơ sở lấy hai dãy bốn âm cùng một dạng thức quãng đem đặt kế tiếp nhau (không gối đầu nhau) sẽ được một điệu thức có các tên gọi khác nhau như: Iolien, Eolien,  Phrigien, Mixolidien, Lidien, Dorien, Locrien.

Thế kỷ III đến thế kỷ XIV, các điệu thức vẫn được gọi tên theo các điệu thức Hy Lạp cổ đại (còn được gọi là điệu thức nhà thờ vì được dùng làm cơ sở cho nhạc nhà thờ) nhưng về bản chất thì khác hẳn, bao gồm các điệu thức chính như sau:

Phrigien: C – Des – Es – F – G – As – B – C

Mixolidien: C – D – E – Fis – G – A – H – C

Lidien: C – D – E – F – G – A – B – C

Dorien: C – D – Es – F – G – A – H – C

Locrien: C – D – Es – F – Ges – As – B – C

Iolien: C – D – E – F – G – A – H – C

Eolien: A – H – C – D – E – F – G – A

Nửa đầu thế kỷ XVII, điệu thức âm nhạc Phương Tây chủ yếu thống nhất gồm hai hệ thống Trưởng và Thứ mà ngày nay chúng ta thường dùng. Hệ thống bình quân của J.S. Bach ra đời thay thế cho hệ thống tuyệt đối là một bước tiến mới trong lịch sử âm nhạc Phương Tây, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Nhưng, như ta đã biết, cái gì đã chia đều “bình quân” bao giờ cũng chỉ giữ tính đại thể, còn những nét độc đáo, tinh tế  lại bị mờ đi. Trong âm nhạc cũng vậy, cần có sự hài hoà, trong đó cơ sở vật lý đóng vai trò quan trọng. Song trong âm nhạc còn bao hàm cả tính thị hiếu thẩm âm của từng dân tộc, tính địa phương, mà những cao độ “ già, non” lại là những nhân tố quan trọng. Bình quân luật đã làm nhoà đi phần nào tính địa phương và những sắc thái tinh tế trong sự tiếp nhận cao độ của thẩm mỹ âm nhạc tự nhiên. Do đó, khi nhạc luật bình quân phổ biến rộng rãi, những nhà lý luận cũng như nhạc công vẫn duy trì nhạc luật không bình quân để giữ sự hài hoà trong âm nhạc đa âm và màu sắc riêng của dân tộc, nhất là ở các nước phương Đông. 

3. Khác biệt trong sử dụng các yếu tố của âm nhạc

Giai điệu

Tiết tấu

4. Cơ cấu nhạc cụ dẫn đến khác biệt trong việc sử dụng cũng như phong cách biểu diễn

Sáo

Tại Nam Á có Ấn Độ là đại diện tiêu biểu với hệ thống nhạc cụ riêng rất đặc sắc. Có các nhạc cụ tiêu biểu làm bằng Bầu, Bí, bộ gõ bằng Da được vỗ bằng tay (trên thế giới các nhạc cụ làm bằng chất liệu như vậy đều có nguồn gốc từ Ấn Độ và đã có giả thuyết cho rằng đàn Violon của phương Tây cũng có nguồn gốc từ đàn Sudi của Ấn Độ). Các nhạc cụ tiêu biểu có ảnh hưởng đến khu vực như: đàn Sarasvati, đàn Vina (4 dây), đàn Sitar (7 dây, đánh 1 dây còn 6 dây kia đệm), sáo Pungi (kèn thổi cho múa rắn, có tần số rất hợp với con rắn), trống Baya (1 mặt vỗ bằng tay), trống Tabla (2 mặt vỗ bằng tay)…

Đàn Sitar

Ngoài ra, âm nhạc Phương Đông còn có cách biên chế dàn nhạc đặc biệt mà âm nhạc Phương Tây không có như: dàn nhạc hoà tấu các nhạc cụ có độ vang lớn (Triều Tiên), dàn nhạc hoà tấu cồng chiêng (vùng Đông Nam Á), dàn nhạc hoà tấu Ti – Trúc…

Đương nhiên, các nhạc cụ được sử dụng trong âm nhạc Phương Tây cũng rất phong phú, đa dạng. Các nhạc cụ thời nguyên thuỷ cũng bắt đầu bằng những cây đàn gõ bằng đá, bằng ống sậy, bằng ống xương, bằng ống sừng… Sau đó, người ta biết dùng tới sợi dây căng – chùng và dài – ngắn để tạo các âm thanh cao thấp khác nhau. Thời cổ đại Hy Lạp có các nhạc cụ tiêu biểu như: đàn Lia (nguồn gốc từ phương Bắc – người Phratki), đàn Kipha và kèn Aviot (nguồn gốc từ Tây Á), sáo nhiều lỗ Xirinh… Đến thời trung cổ, âm nhạc của nhà thờ Thiên Chúa giáo thống trị, âm nhạc dân gian phát triển không mạnh. Thời kỳ này, dàn nhạc nhiều tổ hợp nhạc cụ được hình thành và chỉ trong nhà thờ mới có tổ chức dàn nhạc lớn. Âm nhạc thời phục hưng ở phương Tây bắt đầu đi những bước non trẻ, song từng bước có vị trí vững vàng. Các loại nhạc cụ tiêu biểu ở phương Tây gồm: đàn Luyt, đàn Oocgan, đàn Clavecine, đàn Mandoline, đàn Guitare, đàn Vion, đàn Violon, đàn Viola, đàn Violoncello, đàn Contrebass, sáo Flute, kèn Oboi, kèn Clarinetto, kèn Fagotto, trống Timpani, trống Tamburino, trống Tamburo,… luôn được ưa chuộng và được sử dụng thường xuyên trong biên chế dàn nhạc. Do bản tính tâm lý, tập quán, truyền thống… nên cách phân loại nhạc cụ của âm nhạc Phương Tây khác hẳn so với âm nhạc Phương Đông. Họ phân loại nhạc cụ theo nguồn phát âm, cách biên chế dàn nhạc theo bộ: Dây- Gỗ – Đồng – Gõ, nhất là vào nửa sau thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18 thì cách biên chế các dàn nhạc lớn nhỏ mới được hoàn thiện như ngày nay.

Đàn Lia

Đàn Luyt

5. Một số khác biệt khác

Ngoài ra, còn có một số điểm khác biệt giữa âm nhạc Phương Đông và âm nhạc Phương Tây như: âm nhạc Phương Tây thường được phân theo trường phái, gắn liền với những tên tuổi của các nhạc sĩ; trong khi đó, lịch sử âm nhạc Phương Đông được phân theo khu vực, phân theo đặc trưng âm nhạc của từng vùng, từng miền, còn âm nhạc cổ điển chủ yếu là âm nhạc cung đình. Âm nhạc phương Đông không nặng về phối khí cho dàn nhạc mà diễn tấu theo kiểu bè tòng trên cơ sở lòng bản cho trước, tức hứng. Âm nhạc Phương Đông có hình thức biểu diễn tức hứng trong hoà tấu cũng như độc tấu và kể cả trong thanh nhạc. Hình thức này âm nhạc phương Tây không có, bởi khi biểu diễn, người nghệ sỹ phải chơi theo những qui định đã được ghi sẵn trong bản phổ. Âm nhạc Phương Đông còn có kiểu hoà tấu đặc sắc mà phương Tây không có – đó là hoà tấu nhiều nhạc cụ có độ vang lớn được biểu diễn ở ngoài trời, các hình thức biểu diễn thường mang sắc thái nghi lễ, tín ngưỡng thông tục.

Kết

Như vậy, rõ ràng là âm nhạc nói riêng, cũng như văn hoá nói chung của người phương Đông và người phương Tây, ngoài những giá trị chung, sự tương đồng và sự giao thoa văn hoá còn có những nét khác biệt nhất định. Những nét khác biệt ấy được quy định bởi điều kiện sinh sống, những nét đặc trưng riêng trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán sinh hoạt xã hội và tâm lý cộng đồng… Do vậy, những quan niệm về nhất thể hoá văn hoá, nhất thể hoá nền âm nhạc… rõ ràng là hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, nghiên cứu về những sự khác biệt ấy hoàn toàn không phải để kỳ thị, đánh giá thấp – cao đối với các nền âm nhạc khác nhau, mà chỉ để nhằm thấy được sự phát triển cực kỳ phong phú của văn hoá nhân loại nói chung, âm nhạc nhân loại nói riêng, và điều quan trọng hơn là để chúng ta có điều kiện học hỏi cái hay, cái đẹp của các nền văn hoá – âm nhạc trên thế giới, cả phương Đông và phương Tây nhằm không ngừng làm giàu cho nền văn hoá, nền âm nhạc của nước nhà.

– Kỳ 1: Phương Đông và phương Tây khác biệt về âm nhạc như thế nào? (Kỳ 1)

Sự Khác Biệt Về Ý Nghĩa Của Váy Cưới Phương Tây Và Phương Đông

Váy cưới không chỉ là phục trang của cô dâu, mà còn là biểu tượng hàm chứa những ý nghĩa sâu sắc. Trong khi ở phương Tây, người phụ nữ chuộng váy cưới màu trắng vì ý nghĩa đặc biệt của nó, còn ở phương Đông thì lại chọn váy cưới màu đỏ. 

1. Váy cưới trong văn hóa phương Tây

Vào thời trung cổ, đám cưới không đơn giản chỉ là sự kết duyên của hai người trong tình yêu đến với nhau, đó còn là kết quả của sự gắn kết giữa hai doanh nghiệp, hai gia đình giàu có, hoặc thậm chí là hai đất nước. Thời gian đó, váy cưới là để thể hiện địa vị trong xã hội cũng như sự giàu có của cô dâu. 

Nữ hoàng Victoria mặc váy cưới màu trắng trong lễ kết hôn vào năm 1840.

Váy cưới màu trắng thực sự phổ biến khi Nữ hoàng Victoria đã diện một chiếc váy trắng có kết hợp ren trong lễ kết hôn của mình vào năm 1840 với Albert của nước Saxe-Coburg.  Váy cưới màu trắng tượng trưng cho thuần khiết, trong sáng và trinh trắng của cô dâu. 

2. Váy cưới trong văn hóa phương Đông 

Ở phương Đông, để cầu chúc cho một đám cưới an lành và thịnh vượng, các cô dâu thường sẽ mặc váy cưới màu đỏ, màu tượng trưng cho sự may mắn theo quan niệm phương Đông. Phụ nữ ở Đài Loan được lựa chọn mặc váy cưới màu đỏ (phương Đông) hoặc mặc váy cưới màu trắng (phương Tây) trong ngày cưới của mình.

Váy cưới mang sắc đỏ của phụ nữ Đài Loan.

Ở Nhật Bản, phụ nữ khi cưới sẽ mặc bộ Kimono màu trắng tượng trưng cho sự tinh khiết và trong trắng thay cho váy cưới. Và sau đó có thể đổi sang bộ Kimono màu đỏ khi lễ chính đã kết thúc. Phụ nữ Ấn Độ mặc Sari màu đỏ, trong khi đó ở Indonesia phụ nữ sẽ mặc Kebaya.

Phụ nữ Nhật Bản mặc Kimono trắng thay cho váy cưới.

Váy cưới dần trở nên quan trọng hơn do những ý nghĩa đặc biệt của nó, là thứ không thể thiếu của cô dâu trong ngày lễ trọng đại của bản thân. 

Sự Khác Biệt Trong Khẩu Vị Người Phương Đông Và Phương Tây

Dù là văn hóa ẩm thực của quốc gia nào, thì cả người phương Đông và phương Tây đều có xu hướng chung, đó là quây quần bên gia đình và người thân.

Ẩm thực phương Đông và phương Tây có nét gì khác biệt

Ẩm thực phương Tây và phương Đông có những nét khác biệt rất rõ ràng từ thành phần, hương vị và cả màu sắc. Sự khác biệt giữa các món ăn ngon phương Tây và phương Đông bởi hương vị riêng biệt của họ.

Sự khác biệt trong thành phần kết hợp

Để có thể tạo ra các món ăn hoàn hảo mà chiến thắng trái tim, các đầu bếp phải chú ý đến các thành phần khác nhau và các loại gia vị. Vì vậy, nhiều người có thể nghĩ rằng có những quy tắc nhất định trong nghệ thuật ẩm thực. Nhưng bạn sẽ ngạc nhiên khi biết những quy tắc cơ bản không được khá nhiều đưa vào tài khoản trong việc tạo ra hương vị khác nhau trong các nền văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây.

Trong khi các món ăn phương Tây luôn luôn kết hợp các thành phần có sở thích là mâu thuẫn và “tránh” ghép nối những người có hương vị tương tự, các đầu bếp Đông thường nấu từ sự kết hợp của các thành phần với nhiều hương vị phổ biến. Vậy nên có thể nhận thấy thành phần trong các món ăn phương Đông luôn rất dồi dào hương vị trong khi đó món ăn ngon phương Tây lại đơn giản hơn và có mùi vị nổi trội hơn.

Sự khác nhau trong khu vực, thời tiết

Với sự khác biệt về thời tiết và khu vực, mỗi quốc gia đều có lợi thế riêng của họ trong việc phát triển và sản xuất các thành phần khác nhau. Ví dụ: lúa mạch, lúa mì, các loại hạt, các loại đậu, rau và hải sản …, dẫn đến các phương pháp khác nhau và phong cách nấu ăn thực phẩm.

Sụ khác biệt về văn hoá ẩm thực

Ở châu Á, đặc biệt là Việt Nam, một bữa ăn truyền thống bao gồm cơm – rau – cá. Người châu Á không tiêu thụ thịt như món chính nhưng tập trung vào rau quả tự nhiên.Ngược lại, trong ẩm thực châu Âu, thịt là phần quan trọng nhất của bữa ăn. Các loại phổ biến nhất của thịt là thịt bò và thịt cừu. Đầu bếp châu u cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nước sốt miễn phí để nâng cao hương vị của thịt. Sản phẩm sữa thường được sử dụng trong quá trình nấu. Ngũ cốc và bánh mì từ lâu đã là món ăn ngon quen thuộc bên ngoài ăn với những món ăn chính cũng như mì và bánh ngọt.

Tìm hiểu thêm : Ẩm thực Nhật Bản

Nhiều điểm khác biệt là thế, cứ ngỡ văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây khó mà kết hợp với nhau để tạo nên “tiếng nói chung” trong thế giới ẩm thực đầy sắc màu. Vậy mà, khi thử kết hợp những gì độc đáo nhất của 2 “thái cực” ẩm thực này với nhau, các đầu bếp đã tạo nên những món ăn vô cùng hài hòa, vừa mang tính thẩm mỹ, nghệ thuật, lại vẫn có nét truyền thống riêng mà vô cùng phóng khoáng.

Nếu bạn tò mò về những hương vị của các món ăn ngon châu Âu bạn có thể tham gia khoá học nấu món Âu tại Ezcooking. Ezcooking là trung tâm đào tạo nghề bếp chuyên nghiệp giúp các học viên hiểu hơn về các món ăn cũng như về nghề đầu bếp. Bạn muốn khám phá ẩm thực thế giới hay nấu những món ăn gia đình đều đáp ứng được nhu cầu của bạn.

Ezcooking với những khoá học chuyên nghiệp sẽ giúp bạn trở thành một đầu bếp chuyên nghiệp. Không có món ăn nào có thể làm khó được bạn.

Bạn đang xem bài viết Phương Đông Và Phương Tây Khác Biệt Về Âm Nhạc Như Thế Nào? (Kỳ 1) trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!