Xem Nhiều 9/2022 ❤️️ Phương Pháp Can Thiệp Hành Vi (Aba) ❣️ Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 9/2022 ❤️ Phương Pháp Can Thiệp Hành Vi (Aba) ❣️ Top Trend

Xem 9,603

Cập nhật thông tin chi tiết về Phương Pháp Can Thiệp Hành Vi (Aba) mới nhất ngày 30/09/2022 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 9,603 lượt xem.

Phương Pháp Phân Tích Hành Vi Ứng Dụng Aba Trong Điều Trị Tự Kỷ

Tổng Hợp 3 Phương Pháp Học Toán Tư Duy Phổ Biến Hàng Đầu Hiện Nay

Giúp Bé Học Giỏi Toán Hơn Với Phương Pháp Abacus

A/b Testing Là Gì? Quy Trình 15 Bước Thực Hiện A/b Test

Tranh Cãi Về Phương Pháp Aba Cho Trẻ Tự Kỷ

Phương Pháp can thiệp hành vi (ABA)

(Applied Behavior Analysis)

Hành vi là tập hợp các phản ứng của cơ thể đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài. Các biểu hiện của hành vi có thể là những cử động của nét mặt, tư thế cơ thể, một âm thanh lời nói hoặc một phát ngôn hay hành động nào đó. Hành vi của con người được quy định bới những gì xảy ra trước đó và hậu quả của nó. Hành vi sẽ được duy trì lâu hơn khi nhận được sự củng cố và trái lại hành vi sẽ mất đi hoặc không bền vững khi không nhận được sự củng cố.

Phân tích hành vi là mô tả và lượng hóa các hành vi đó, đúng như nó diễn ra trong tình huống xác định, quan sát khách quan và thực hiện các phản ứng của cơ thể khi có các tác nhân kích thích, nhằm xác định tương quan giữa kích thích và phản ứng (S-R). Nhờ đó biết được nguyên nhân dẫn đến hành vi và dạy hành vi thay thế.

Ứng dụng phân tích hành vi ABA cho trẻ có những rối loạn tâm lý do tác giả Ivan Lovass lần đầu ứng dụng tại khoa tâm lý của đại học California cho trẻ tự kỷ.

Để kiểm soát hành vi, cần thiết phải tìm nguyên nhân của những hành vi ấy. Một số kiểu hành vi thường gặp ở trẻ tự kỷ như sau:

Hầu hết trẻ tự kỷ không chơi những trò chơi tưởng tượng, đóng vai hay hoạt động sáng tạo. Tuy nhiên một số trẻ vẫn chơi đồ chơi như: xếp hình, lắp ráp… Trò chơi của trẻ thường là những động tác đơn điệu, lặp đi lặp lại. Nhiều trẻ thích thú những kích thích thị giác, tiền đình hoặc xúc giác; chúng say mê xoắn vặn, đung đưa hoặc gõ đập ngón tay, có trẻ thích đưa các ngón tay chếch lên cao để múa hoặc chiêm ngưỡng. Số khác lại thích cấu véo da mình, nhỏ tóc trên đầu hoặc đập đầu vào tường, cầm sách vở như đang học bài… những hành vi này có nhiều bất lợi cho trẻ ở những điểm sau:

Nhiều trẻ TK khó có thể chịu đựng được sự thay đổi xung quanh hay đến một nơi mới mẻ. Khi ấy trẻ rất bồn chồn, căng thẳng hoặc thậm chí chống lại mọi thay đổi dù nhỏ nhất về sự sắp đặt đồ vật, hoạt động hay các sự việc. Những trẻ này thường thiết lập một loạt các trật tự. Có loại có thể chấp nhận được nhưng có loại cần loại bỏ. Muốn thay đổi thói quen này cần nói cho trẻ hành vi nào cần chấm dứt và cho trẻ thời gian để điều chỉnh. VD: Trẻ tạo một trình tự nghiêm ngặt khi về nhà, trẻ xếp giày lên giá, cởi áo rồi đóng cửa. Nếu đóng cửa rồi mới làm các hoạt động kia thì trẻ dứt khoát chống lại.

Ở trẻ tự kỷ có xu hướng học một cặp: cách giải quyết – tình huống cho sẵn rồi áp dụng cặp này một cách cứng nhắc. Để cải thiện tình hình, cần tạo nhiều bài học tình huống để trẻ tập suy nghĩ, tập chọn lựa cách giải quyết. Chẳng hạn, khi kết bạn, khi lựa chọn nhiều món ăn khác nhau… nên đưa ra nhiều thông tin để trẻ chọn lựa một giải pháp. Hoặc khi học vẽ, cần giới thiệu cho trẻ dùng các loại màu khác nhau để thể hiện đồ vật, tính trạng khác nhau. Nếu trẻ dùng màu khác đi so với hướng dẫn, chưa chắc là trẻ sáng tạo mà có thể trẻ chưa biết dùng màu khác. Chỉ trong trường hợp trẻ đã dùng đúng màu khác thì việc thay đổi đó mới gọi là sáng tạo. Hay khi cô dạy bé biết “xin cô” một thứ gì đó về nhà ba mẹ dạy bé cũng nói “xin cô”. Một số trường hợp trẻ không thể học cách suy nghĩ và thay đổi những cố gắng của cha mẹ hoặc giáo viên có thể khiến trẻ bị căng thẳng và chịu áp lực. Trẻ có thể bộc lộ nhiều hành vi không mong muốn.

Những hành vi này có thể xuât hiện do chán chường, có quá ít hoặc quá nhiều kích thích. Có thể có cả những nguyên nhân sinh học nữa, chẳng hạn do đau ở đâu đó trong cơ thể trẻ. Cần tìm kiếm những yếu tố kích động hành vi ở môi trường xung quanh, có tính đến những khó chịu của trẻ dẫn đến hành vi. Khi xác định được ý đồ giao tiếp của trẻ, cần hướng dẫn trẻ thể hiện ý đồ đó bằng cách giao tiếp đơn giản hơn.

Đi tìm căn nguyên của những hành vi này là cách tốt nhất để kiểm soát chúng.

Khi phân tích hành vi của trẻ, cần tìm hiểu nguyên nhân, những động cơ, những lý do ẩn chứa đằng sâu bên trong của hành vi đó.

Thử tìm hiểu một số nguyên nhân hành vi của trẻ TK:

Hành vi ở mức sơ đẳng nhất nhưng bị coi là bất thường khi những hành vi ấy quan sát thấy ở mọi trẻ bình thường, tuổi nhỏ hơn. VD: trẻ ngồi vân vê bánh xe ôtô, với những đồ vật chi tiết nhỏ … vì chúng có cảm nhận đặc biệt khi vận động vê xoắn tay. Nhờ đó ta hiểu được nguyên nhân của hành vi bất thường. Bởi vì, khi nhận thức của trẻ thay đổi thì hành vi này sẽ hết hoặc trẻ sẽ được hỗ trợ để phát triển nhận thức. Đây là khó khăn về nhận thức, không phải là khó khăn về xã hội của trẻ. Trong trường hợp đó, để thay đổi hành vi của trẻ cần dạy cho trẻ chơi phù hợp với độ tuổi như: khi chơi ôtô cần chơi luôn phiên đẩy ôtô, đóng vai để otô chở đồ …

Nếu yếu tố kích động hành vi là tiếng ồn nào đó (màu sắc, ngữ cảnh nào đó..) thì yếu tố đó là kích thích tiêu cực đối với trẻ và trẻ sử dụng hành vi như một phương tiện để biểu lộ sự khó chịu đó. Cứ mỗi khi kích thích xuất hiện trẻ lại thể hiện hành vi; đó là phương thức giao tiếp sơ đẳng của trẻ. Trong trường hợp này, cần dạy cho trẻ cách bày tỏ thông điệp cho hành vi này.

Khi uốn nắn hành vi cho trẻ, người dạy không chỉ tập trung điều chỉnh hành vi mà cần chú ý đến những khó khăn trong khi làm việc với trẻ. Những khó khăn này nằm ngoài hành vi và ý chí của trẻ.

Trẻ thường tập trung sự quan tâm chú ý vào một vấn đề hoặc 1 lĩnh vực nào đó. Do vậy, nếu trẻ thông minh, có thể đọc chữ lúc 3 tuổi thì không có nghĩa là cư xử, nói năng của trẻ tương ứng với mức độ đọc chữ đó. Nghĩa là trẻ phát triển các kỹ năng cơ bản môt5 cách không đều. VD: Trẻ TK 3 tuổi độc báo rành rẽ nhưng không biết đánh răng, rửa mặt, chào hỏi, nói năng 1 câu chưa hoàn chỉnh … Bởi vậy cần chú ý đến mọi khả năng một cách tổng thể hơn là tập trung vào khả năng nổi trội của trẻ.

Trẻ thường không biết lựa chọn một trong nhiều sự vật, sự việc, hành động.

Như vậy, cần rèn luyện cho trẻ kỹ năng lựa chọn trong nhiều tình huống và giai đoạn phát triển khác nhau. Lưu ý sự lựa chọn phải có nghĩa, không phải tình cờ. Người dạy phải lưu ý giải thích rõ – chậm – đơn giản cho trẻ. Đôi khi đưa ra hai vật, cái trẻ thích và ghét để trẻ chú ý hơn khia lựa chọn. Vd: Trẻ thích bộ quần áo màu xanh, ghét màu đỏ. Muốn bé lựa chọn ta đưa hai bộ ra trước mặt để thu hút sự chú ý và sự lựa chọn cho trẻ

Ngoài vấn đề hành vi, trẻ TK còn gặp khó khăn về giao tiếp. Trẻ khó bộc lộ nhu cầu, bức xúc, ý muốn của mình. Do đó trẻ hay bị chán nản, bức bối, cáu gắt, cả trẻ Asperger cũng gặp vấn đề này. Mặt khác trẻ cũng bị hạn chế trong việc hiểu ngôn ngữ của người lớn. Điều này khiến trẻ thực hiện lời của người lớn không đúng. điều này làm cha mẹ, giáo viên nản lòng và gây gián đoạn mối quan hệ phụ huynh – trẻ – giáo viên.

Lưu ý khi làm việc trẻ TK, CPT: HIỂU – YÊU THƯƠNG – NHẪN LẠI

5.4 Khó khăn về tri giác và sự tập trung

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP HÀNH VI

Để can thiệp có hiệu quả, chương trình thường gồm các nội dung sau:

Đó phải là hành vi quan sát được và đo lường được. GV/PH làm việc với trẻ cần đặt ra một hành vi đích dễ điều chỉnh được trước khi chuyển sang hành vi khác khó hơn.

VD: Trẻ không chịu ngồi ghế chơi. Để trẻ ngồi được với cô trong 10 phút, cần đặt ra mục tiêu đích “trẻ ngồi với cô được 1 phút” sau đó đặt mục tiêu cao hơn.

Nếu trẻ có hành vi xấu, gây tổn thương… khi ngồi ghế học thì phải đặt ra vài mục tiêu. VD: Bé muốn gì đó mà không được mà khóc ăn vạ thì cần ra đặt mục tiêu nữa là “biết xin” và dạy cho trẻ cách xin

Việc chỉ dẫn có ý nghĩa quyết định đến kêt1 quả thực hiện của trẻ. Nếu trẻ chú ý lắng nghe, nếu khả năng hiểu của trẻ phù hợp với cách thức nói năng của người dạy, nếu nhiệm vụ không quá khó với trẻ thì trẻ dễ dàng thực hiện. Mệnh lệnh cần NGẮN GỌN – DỄ HIỂU; có thể kết hợp với điệu bộ cử chỉ (phi ngôn ngữ) để trẻ dễ hiểu.

VD: “con đừng lăng xăng, ngồi xuống, trật tự và ăn cơm đi” thì thay bằng: “ngồi xuống ăn cơm”. Nói chậm và có thể nhắc lại mệnh lệnh to, rõ ràng vài lần

Ngay sau khi hướng dẫn xong, hãy chờ khoảng 3-5s để trẻ thực hiện. Kết quả thực hiện có thể là đúng, chưa đúng hoàn toàn hoặc sai. Nếu trẻ đáp ứng sai hoặc định bỏ chỗ đứng dậy, cần thể hiện thái độ hoặc đưa ra nhận xét ngay cho trẻ

Tùy vào kết quả đáp ứng của trẻ, phản hồi của người dạy khác nhau:

Nếu đúng: Cần khẳng định hoặc khen thưởng ngay (cho thức ăn, ôm, hôn, vỗ về …)

Nếu sai hoặc không làm gì cả: Hãy nhắc lại chỉ dẫn, kết hợp với làm mẫu lại. Nếu trẻ vẫn chưa làm đúng có thể làm mẫu bằng cách cầm tay trẻ, sau ó khuyến khích trẻ làm. Nếu trẻ làm được hãy động viên kịp thời.Lưu ý: Chỉ nên dùng kỹ năng khẳng định nếu trẻ úng sau khi chỉ dẫn một lần(tốt – đúng rồi)

Là khoảng cách giữa lần phản hồi của người dạy (khẳng định hoặc sửa sai) và chỉ dẫn tiếp theo. Thời điểm này rất ngắn, chỉ khoảng 3-5s, nó giúp xác định yêu cầu đó đã chấm dứt và trẻ chuẩn bị cho lần thử tiếp. Hãy bắt đầu một yêu cầu mới bằng chỉ dẫn hoặc làm mẫu thật rõ ràng ngắn gọn; hãy để trẻ thật chú ý.

2.2 Điều chỉnh môi trường

Đối với mỗi trẻ, việc dạy một hành vi thay thế cần đi kèm với viêc điều chỉnh môi trường xung quanh khi dạy trẻ. Môi trường có thể là người dạy, các thành viên có mặt lúc đó, phòng ốc, hoặc là mục tiêu nội dung dạy… Những thay đổi đó là:

Mức độ trợ giúp: trẻ có thể cần được trợ giúp nhiều hơn hoặc ít hơn khi thực hiện kỹ năng mới

Thời gian: Trẻ có thể cần nhiều thời gian hơn để học, nên chú ý đến thời gian giải lao khi trẻ học

Mức độ khó của kỹ năng: Cân nhắc để nhiệm vụ không quá khó hoặc quá dễ với trẻ

Khen thưởng giúp trẻ thích thú và hưng phấn. Khen thưởng là kỹ năng chủ chốt khi dạy trẻ tự kỷ. Khen thưởng là lời khen của cô hoặc cái gì ó ăn được, một hoạt động hoặc một đồ chơi trẻ thích… Lưu ý thái độ của trẻ để lựa chọn hình thức khen thưởng phù hợp.

Bản thân sự khen thưởng cũng cần thay đổi mỗi thời điểm và giai đoạn phát triển của trẻ. Khen khi có đáp ứng với yêu cầu, khen khi làm đúng yêu cầu và khen khi hoàn thành tốt yêu cầu. Khi trẻ đã làm tốt một nhiệm vụ thì có thể dừng việc khen thưởng.

Người dạy phải gợi ý dần, mỗi lần gợi ý càng gần giống với hành vi mong muốn

VD: Dạy trẻ giơ tay chào. Nếu trẻ đã nhìn thấy ai đó hoặc trước ó trẻ đã vẫy tay chào, thì khi nhăc1 trẻ chào chỉ cần gợi ý bằng cách giơ nhẹ một cánh tay lên. Nếu trẻ chưa nhớ, có thể vẫy tay nhẹ một lần. Gợi ý có thể bằng lời nói, củ chỉ hoặc một đồ vật.

Nhắc là đưa ra chỉ dẫn bằng lời nói hoặc bằng cử chỉ một hoạt động nào đó để trẻ có áp ứng đúng. Nhắc có thể tiến hành trước hành vi ngay khi hướng dẫn trẻ; Trong khi trẻ thực hiện hành vi để giảm thiểu lỗi. Sau khi trẻ thực hiện hành vi sai cũng có thể nhăc để trẻ sửa sai. Nhắc có thể sẽ khiến trẻ phụ thuộc, ỉ lại vào sự nhắc nhở nên cần giảm nhắc dần

Giảm dần nhắc: chẳng hạn lúc đầu cầm tay trẻ dạy chải đầu, sau đó giảm dần bằng cầm cánh tay, khửu tay, cầm vai, sau ó bằng lời nói

nhắc tối đa đến tối thiểu: lúc đầu nhắc nhiều (cầm tay chỉ việc) sau đó bằng lời nói hoặc nhìn trẻ kàm

nhắc tối thiểu đến tối đa: lúc đầu để trẻ có cơ hội tự đáp ứng, nếu trẻ không làm được sẽ nhăc trẻ nhiều cách khác nhau cho tới khi trẻ làm được

Chờ lâu hơn: Cô sẽ nhắc bằng lời hoặc bằng cách cầm tay chỉ việc nếu đợi trẻ một lúc mà không có đáp ứng

Hình thức này áp dụng cho trẻ tự kỷ và CPT gọi là dạy theo chuỗi.

VD: dạy trẻ đi tất gồm; chun tất lại, xỏ vào đầu ngón chân, kéo tât1 lên tới cổ chân, kéo tất qua cổ chân, kéo lên trên. Lúc đầu nên dạy 1-2 hoạt động nhỏ những hoạt động còn lại giúp trẻ. Khi đã làm hoạt động nhỏ mới tiếp tục hoạt động khác.

Tán thưởng khi trẻ kết thúc 1 nhiệm vụ hay làm được gì đó. Không bao giờ dùng sự đồng tình như 1 cách mua chuộc kiểu: con đang hờn nói “con ngoan lắm”. “Hay chào bà đi bà choăn bim bim”

Một số kỹ năng áp dụng khi trẻ chống đối

Bình thường khi trẻ đáp ứng tốt hoặc đúng thì trẻ nhận được sự đồng tình của cô. Khi gây ra hành xi xấu, trẻ không nhận được thái độ đó nữa. Đó là thông điệp khiến trẻ hiểu hành vi đó không được khuyến khích. Tuy nhiên, có thể bộc lộ rõ hơn kỹ năng này bằng cách để trẻ phải trả giá cho hành vi chưa đúng.

VD 1: Trẻ thích xe ôtô, sau khi hoàn thành nhiệm vụ/yêu cầu nào đó trẻ sẽ được chơi. Nếu gây hành vi xấu thì sẽ không được chơi, bắt trẻ phải trả giá sẽ giúp trẻ thôi không tạo hành vi xấu.

VD 2: PH/GV yêu cầu trẻ chào/bye, bye (trước đó trẻ đã làm được) nhưng trẻ không chịu làm theo. PH/GV tỏ thái độ nghiêm khắc (nét mặt cần thay đổi – tỏ ra không hài lòng – nghiêm nghị). Trả giá cho hành vi xấu này nữa là PH/GV không bế, bồng, nắm tay trẻ nữa hoặc trẻ không được đi chơi nữa.

Để hành vi xấu không có cơ hội được khuyến khích, khi trẻ gây ra hành vi xấu, thái độ không đồng tình sẽ giúp trẻ không tái hiện lại hành vi này nữa. Nhiều giáo viên dùng thái độ “chủ ý lờ đi”. Làm ngơ cũng là kỹ năng hay được sử dụng, tuy nhiên cần tùy vào mức độ hành vi của trẻ. Nếu hành vi của trẻ không đến mức gây hại cho chính trẻ, hay trẻ khác hoặc những người xung quanh thì cô/ph có thể làm ngơ. Ngược lại nếu hành vi đó gây tổn hại thì không thể dùng cách làm ngơ được. Chúng ta chuyển sang cách giảm chú ý tới trẻ (nhớ đảm bảo an toàn cho trẻ). Thể hiện ít chú ý bằng cách:

+ Nói với trẻ bằng giọng bình thường, trầm xuống

+ Không nhìn hoặc ít nhìn vào trẻ

+ Hạn chế giữ, hoặc chạm vào người trẻ

Cách làm ngơ này chỉ nên sử dụng khi nhận được sự đồng tình của những người xung quanh.

Việc áp dụng hình thức phạt cho trẻ TK, CPT có nhiều vấn đề bàn cãi. Nhưng chỉ nên đưa ra hình phạt khi không thể kiểm soát hành vi của trẻ bằng mọi biện pháp thông thường khác. Hình phạt có thể ở mức độ khác nhau như:

Tóm lại: Việc can thiệp hành vi cho trẻ TK, CPT là quá trình lâu dài, từng bước nhỏ. Việc kết hợp giữa giáo viên và gia đình là việc bắt buộc để bé được củng cố nhiều hành vi tích cực tránh việc củng cố và phát sinh thêm hành vi tiêu cực.

Người nuôi, dạy trẻ các trẻ này cần: YÊU THƯƠNG – KIÊN KÌ – NHẪN LẠI

(Bài có sử dụng thêm tài liệu từ các nguồn khác nhau)

BAN CHUYÊN MÔN TRUNG TÂM SỐNG TRẺ

Những Phương Pháp Dạy Trẻ Tự Kỷ Phổ Biến Nhất Hiện Nay

12 Phương Pháp Dạy Trẻ Tự Kỷ Phổ Biến Mà Ba Mẹ Nên Biết

100 Bài Tập Can Thiệp Hành Vi Dành Cho Trẻ Tự Kỷ

Phương Pháp Đo Phổ Hấp Thụ Nguyên Tử Aas

Phương Pháp Phổ Hấp Thu Nguyên Tử

Bạn đang xem bài viết Phương Pháp Can Thiệp Hành Vi (Aba) trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Yêu thích 2648 / Xu hướng 2738 / Tổng 2828 thumb
🌟 Home
🌟 Top