Xem Nhiều 12/2022 #️ Phương Pháp Dạy Giờ Bài Tập Vật Lí / 2023 # Top 18 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Phương Pháp Dạy Giờ Bài Tập Vật Lí / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phương Pháp Dạy Giờ Bài Tập Vật Lí / 2023 mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

File đính kèm

Phương pháp dạy giờ bài tập vật lí

Tiết bài tập rất khó dạy, ở chỗ không có một thiết kế nào cụ thể, tuỳ thuộc vào khả năng tiếp thu của học sinh, của chương trình. Nếu không xác định đúng mục tiêu rất dễ đi vào sự đơn điệu.

I.  Một số vấn đề còn tồn tại của tiết bài tập vật lí

– Tiết bài tập rất khó dạy, ở chỗ không có một thiết kế nào cụ thể, tuỳ thuộc vào khả năng tiếp thu của học sinh, của chương trình. Nếu không xác định đúng mục tiêu rất dễ đi vào sự đơn điệu.

– Một số giáo viên còn xem nhẹ tiết bài tập, chỉ dừng lại khi giải xong các bài tập ở sách giáo khoa.

– Đa số bài tập ở sách giáo khoa chỉ dừng lại ở mức độ củng cố, và còn thiếu so với lượng kiến thức đã nêu trong lý thuyết. Do đó dẫn đến tình trạng: học sinh khá giỏi không thể phát huy được khả năng, học sinh ở mức độ trung bình trở xuống thì bế tắc khi gặp dạng bài tập khác.

– Tiết bài tập trong phân phối chương trình còn ít.

– Kĩ năng vận dụng kiến thức Toán cho việc giải bài tập còn hạn chế đối với một bộ phận không nhỏ học sinh.

– Trong bộ sách ban cơ bản, một số đơn vị kiến thức không trình bày nhưng lại cho bài tập trong sách bài tập, nếu giáo viên không chịu tìm hiểu thì học sinh không biết đâu mà giải khi gặp loại bài tập như vậy.

II.Phân loại và phương pháp giải bài tập vật lý

1. Bài tập vật lý định tính hay bài tập câu hỏi lý thuyết.

– Là bài tập mà học sinh không cần phải tính toán (Hay chỉ có các phép toán đơn giản) mà chỉ vận dụng các định luật, định lý, qui luật để giải tích hiện tượng thông qua các lâp luận có căn cứ, có lôgich.

2. Bài tập vật lý định lượng

Đó là loại bài tập vật lý mà muốn giải quyết nó ta phải thực hiện một loạt các phép tính. Dựa vào mục đích dạy học ta có thể phân loại bài tập dạng này thành 2 loại: +  Bài tập tập dượt: Là bài tập đơn giản được sử dụng ngay khi nghiên cứu một khái niệm hay một qui tắc vật lý nào dó để học sinh vật dụng kiến thức vừa mới tiếp thu.

+  Bài tập tổng hợp; Là những bài tập phức tạp mà muốn giải nó học sinh vận dụng nhiều kiến thức ở nhiều phần, nhiều chương, nhiều cấp học và thuộc nhiều lĩnh vực.

Đặc biệt, khi các câu hỏi loại này được nêu dưới dạng trắc nghiệm khách quan thì yêu cầu học sinh phải nhớ kết quả cuối cùng đã dược chứng minh trước đó để giải nó một cách nhanh chóng. Vì vậy yêu cầu học sinh phải hiểu bài một cách sâu sắc để vận dụng kiến thức ở mức độ cao.

3. Bài tập đồ thị

Đó là bài tập mà dữ kiện đề bài cho dưới dạng đồ thị hay trong quá trình giải nó ta phải sử dụng dồ thị. ta có thể phân loại dạng câu hỏi nay thành các loại:

+  Đọc và khai thác đồ thị đã cho: Bài tập loại này có tác dụng rèn luyện cho học sinh ký năng đọc đồ thị, biết cách đoán nhận sự thay đổi trạng thái của vật thể, hệ vật lý, của một hiện tượng hay một quá trình vật lý nào đó. Biết cách khai thác từ đồ thị những dữ để giải quyết một vấn đề cụ thể.

+ Vẽ đồ thị theo những dữ liệu đã cho : bài tập này rèn luyện cho học sinh kỹ năng vẽ đồ thị, nhất là biết cách chọn hệ tọa độ và tỉ lệ xích thích hợp để vẽ đồ thị chính xác.

4. Bài tập thí nghiệm (xây dựng phương án thực nghiệm)

Đây là loại bài tập yêu cầu học sinh xây dựng phương án thực nghiệm để xác định một đại lượng hoặc kiểm tra một quy luật, một hiện tượng hoặc một điều kiện vật lý nào đó. Loại bài tập này có 2 mức độ:

+ Mức độ 1: Chỉ xây dựng phương án (tính toán lập luận trên giấy, không đo đạc, làm thí nghiệm thực)

+ Mức độ 2: Tíên hành làm thí nghiệm thực theo phương án đã vạch ra.

III. Chuẩn bị của Giáo viên

Để thực hiện tốt một tiết dạy bài tập vật lý, giáo viên cần chuẩn bị những yếu tố sau:

1.Xác định những kiến thức kỹ năng cần củng cố cho học sinh thông qua giờ bài tập đó: Thông thường giờ bài tập thường được bố trí sau từ 2 đến 3 giờ lý thuyết, tác dụng của giờ bài tập ở đây thường là củng cố những kiến thức kỹ năng đã học thông qua những giờ học lý thuyết trước đó do đó giáo viên cần phải xác định chính xác và cụ thể những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần củng cố cho học sinh để lựa chọn hệ thống bài tập thích hợp.

+ Loại hình bài tập phải đa dạng: nên gồm nhiều loại bài tập trong giờ dạy (cả bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm …) . Sử dụng kết hợp các loại bài tập đó một cách khéo léo, tránh chỉ sử dụng một loại bài tập duy nhất gây đơn điệu nhàm chán trong học sinh.

+ Hệ thống bài tập phải phù hợp với trình độ của đa số học sinh, tránh đưa ra những bài tập quá dễ hoặc quá khó đối với trình độ chung của lớp.

IV. Những hoạt động thường được tổ chức trong một giờ bài tập vật lý

1. Gọi học sinh lên bảng trình bày lời giải : đây là hoạt động thường được giáo viên áp dụng nhiều nhất trong các giờ bài tập. Ở hoạt động này giáo viên sẽ nêu bài tập (đã đưa ra cho học sinh về làm ở nhà), gọi học sinh lên bảng tóm tắt và trình bày lời giải, gọi học sinh khác nhận xét lời giải, giáo viên tổng kết bài giải và kết luận.

Hoạt động này có những ưu điểm và nhược điểm cụ thể như sau:

– Ưu điểm:

+ Kiểm tra và biết được khả năng hiểu và vận dụng kiến thức của học sinh lên bảng chữa bài

+ Có thể phân tích và chỉ ra lỗi của học sinh một cách trực tiếp

+ Có thể rèn luyện cho học sinh kĩ năng trình bày bài tập.

– Nhược điểm:

+ Trong một giờ bài tập chỉ kiểm tra được một số ít học sinh của lớp

+  Học sinh ở dưới lớp dễ mất trật tự nếu giáo viên không bao quát tốt.

Để hoạt động này được tiến hành một cách có hiệu quả giáo viên cần lưu ý những nội dung sau:

– Giao bài tập phù hợp với trình độ của học sinh: đối với một lớp thông thường có nhiều  đối tượng học sinh với các mức độ học lực khác nhau nên khi giao bài tập giáo viên phải giao đúng đối tượng, bài tập đơn giản, dễ dành cho học sinh yếu và TB, bài tập phức tạp, nâng cao dành cho học sinh khá giỏi.

– Bao quát lớp, tổ chức các hoạt động khác trong khi học sinh đang chữa bài trên bảng: Trong khi học sinh đang chữa bài trên bảng giáo viên có thể kiểm tra bài tập về nhà của học sinh dưới lớp, đặt câu hỏi định tính, hoặc ra bài tập bổ sung cho học sinh…

- Phân tích kĩ những chỗ lỗi của học sinh: qua việc phân tích chỗ lỗi trong bài tập của học sinh để rèn cho cả lớp những kĩ năng còn yếu.

– Tổng kết bài tập và chốt lại phương pháp giải cho cả lớp.

2. Hướng dẫn cả lớp giải chung một bài tập: Đây là một hoạt động cũng khả phổ biến trong các giờ bài tập. Ở hoạt động này giáo viên hướng dẫn học sinh cả lớp cùng giải chung một bài tập thông qua hệ thống câu hỏi. Hoạt động này thường được tiến hành khi có những bài tập phức tạp, phải giải qua nhiều bước, ở trong lớp chỉ có một số ít học sinh giải được. Chúng ta cùng phân tích đặc điểm của hoạt động này:

– Ưu điểm:

+ Nhiều học sinh trong lớp cùng tham gia vào quá trình giải bài.

+ Học sinh hiểu các bước suy luận giải bài toán thông qua các câu hỏi của giáo viên

+ Giáo viên dễ bao quát lớp.

– Nhược điểm:

+ Không phát hiện được những lỗi và những chỗ vướng mắc của học sinh khi giải bài tập.

Để hoạt động này được tiến hành một cách có hiệu quả giáo viên cần lưu ý những nội dung sau:

* Đọc, tóm tắt đề bài, đổi đơn vị, vẽ hình

* Mô tả và tưởng tượng về hiện tượng nêu trong bài toán

* Với các phương trình trên ta có xác định được cái cần tìm không?

* Cụm từ “………….” trong bài có nghĩa như thế nào? Với cụm từ đó ta có thể biểu diễn bằng phương trình toán học như thế nào?

* Có thể giải PT/Hệ PT trên như thế nào?

* Kết quả thu được có hợp lý không?

+ Linh hoạt trong quá trình đặt hệ thống câu hỏi gợi ý cho học sinh:Hệ thống câu hỏi, các yêu cầu phải phù hợp với đối tượng, không cứng nhắc trong việc đặt câu hỏi (nếu câu hỏi khó, lớp không trả lời được thì chia nhỏ câu hỏi đó thành những câu dễ hơn hoặc sử dụng sự liên tưởng, tưởng tượng để học sinh có thể trả lời được); Sử dụng khéo léo kĩ thuật đặt câu hỏi (hỏi có đối tượng trả lời, khen học sinh sau khi trả lời, có thể cho điểm với những câu trả lời tốt…)

+ Kết hợp tốt phần trình bày trên bảng với phần trả lời câu hỏi gợi ý của học sinh: Thông thường cứ sau những câu trả lời quan trọng có tác dụng định hướng lời giải của học sinh GV nên chốt lại trong phần trình bày bài giải trên bảng.

+ Tổng kết và chốt lại phương pháp giải chung của bài toán.

3. Giao phiếu học tập và chia nhóm để học sinh giải bài tập tạilớp:Ở hoạt động này, GV chuẩn bị các bài tập ra phiếu, chia lớp thành các nhóm để làm bài tập trong các phiếu. Hoạt động này thường tiến hành khi GV đã tiến xong hoạt động 1 hoặc hoạt động 2 ở trên. Để hoạt động này tiến hành có hiệu quả GV cần lưu ý:

– Số lượng bài tập trong phiếu phải phù hợp với trình độ của học sinh.

– Chia nhóm và giao nhiệm vụ thật cụ thể cho các nhóm (số lượng thành viên, nhóm trưởng, các bài tập cần làm, thời gian hoàn thành…).

– Nên cho các nhóm làm bài tập trên bảng phụ, sau khi hoàn thành đem lên trình bày trên bảng. Theo dõi, bao quát hoạt động của các nhóm trong quá trình giải bài.

– Cho các nhóm cử người lên trình bày bài tập của nhóm mình, các nhóm khác nhận xét.

– GV tổng kết và chốt lại bài tập, đánh giá về hoạt động của các nhóm.

4. Các hoạt động khác:ngoài các hoạt động chính nói trên trong giờ bài tập vật lý có thể tiến hành thêm các hoạt động khác như sau:

– Ra các câu hỏi trắc nghiệm để cả lớp cùng làm chung

– Tổ chức đặt các câu hỏi dưới dạng hình thức giống như các trò chơi trên truyền hình (Ai là triệu phú, đấu trường một trăm, đối mặt

– Ra bài tập thí nghiệm cho học sinh (có thể ra ở giờ trước)

V. Một số lưu ý chung khi tiến hành các hoạt động trong giờ bài tập

1. Sử dụng phối hợp nhiều hoạt động trong một giờ bài tập: nếu toàn bộ giờ học chỉ có một hoạt động duy nhất thì dễ gây đơn điệu, nhàm chán cho học sinh đặc biệt là những lớp có sự phân loại học sinh rõ nét. GV nên tiến hành ít nhất từ 2 đến 4 hoạt động nêu ở trên, đồng thời kết hợp các hoạt động với nhau một cách hợp lý. Điều đó sẽ giúp cho giờ học không còn đơn điệu, tạo điều kiện cho học sinh các loại đối tượng đều được tham gia hoạt động.

2. Nên khen ngợi và khuyến khích học sinh, cho điểm hợp lý, tuyệt đối không  chê bai học sinh:Theo tâm lý học thì con người ai cũng thích được khen, ghét bị chê. Do đó việc khen ngợi học sinh sau khi làm được một bài tập (cho dù là dễ) hoặc trả lời được một câu hỏi là rất cần thiết (kể cả khi học sinh trả lời sai ta cũng khen ngợi vì học sinh đã suy nghĩ và nói lên suy nghĩ của mình). Việc khen ngợi và cho điểm hợp lý sẽ giúp cho học sinh tăng thêm sự hứng thú trong môn học. Bên cạnh đó nếu có chê trách học sinh thì nên thực hiện một cách khéo léo tế nhị, tránh làm học sinh bị tổn thương, tuyệt đối không được có mạt sát học sinh, điều này có thể dập tắt ngay sự hứng thú của học sinh đối với môn học vừa mới được hình thành.

3. Luôn luôn tổng kết và chốt lại phương pháp giải của các dạng bài tập đã nêu ra:đây là thao tác rất cần thiết nó giúp cho học sinh xác định được phương pháp chung giải bài tập theo dạng và lần sau có thể làm bài tập tương tự.

Trên tinh thần phát huy tinh thần chủ động học tập, phát huy tính sáng tạo của học sinh trong việc vận dụng kiến thức thì dạy giờ bài tập trên lớp có một vai trò rất quan trọng. Thực tế cho thấy có nhiều giáo viên không thích dạy hoặc không thấy thỏa mản qua dạy các giờ bài tập, nếu không chuẩn bị chu đáo . Hy vọng rằng, qua bài viết này các đồng nghiệp tham khảo vận dụng và góp ý trao đổi, đóng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.

Phương Pháp Dạy Học Bài Tập Thí Nghiệm Vật Lí / 2023

Chuẩn bị kiến thức, kĩ năng cho học sinh trước khi vào bài học mới

Việc củng cố trình độ xuất phát về tri thức và kĩ năng là một chức năng của quá trình dạy học.

Nhấn mạnh điều này, cô Nguyễn Thị Mai Hương cho rằng, để thực hiện chức năng này, giáo viên có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có bài tập thí nghiệm.

Tuy nhiên, khi sử dụng đòi hỏi phải có thời gian, vì muốn giải được bài tập thí nghiệm, ngoài việc sử dụng vốn kiến thức đã có vào tình huống cụ thể của bài toán, học sinh còn phải xây dựng phương án, tiến hành thí nghiệm mới rút ra được kết luận do đó khó sử dụng vào đầu giờ học.

Giờ bài tập Vật lí có sử dụng bài tập thí nghiệm ở trên lớp

Theo cô Nguyễn Thị Mai Hương, đa số các giờ học bài tập Vật lí được sử dụng sau khi học sinh học xong tài liệu mới.

Giờ học bài tập Vật lí có thể chia làm hai giai đoạn: giai đoạn xây dựng phương pháp giải bài tập, giai đoạn rèn luyện kỹ năng (là quá trình luyện tập vận dụng phương pháp đã có để giải các bài tập tương tự).

Các bài tập thí nghiệm được sử dụng trong giai đọan thứ hai. Sau khi học sinh đã làm thành thạo các bài tập, tỏ ra nắm vững các kiến thức cơ bản thuộc một phần nào đó và phương pháp vận dụng chúng giải các bài toán cụ thể thông thường, giáo viên cho học sinh các bài tập thí nghiệm về nhà.

Quan sát, thí nghiệm Vật lí ở nhà, qua tham quan, dã ngoại

Lưu ý thời gian trên lớp là rất hạn chế, mặt khác bài tập thí nghiệm thường chiếm thời gian lớn của tiết học, vì vậy cô Hương cho biết hầu hết các bài tập thí nghiệm được học sinh giải ở nhà; giờ bài tập trên lớp chỉ là giúp học sinh tháo gỡ những khó khăn mà đa số các em gặp phải.

Bên cạnh đó, đối tượng nghiên cứu của Vật lí học có mặt ở mọi nơi, mọi lúc. Vì vậy, nhận thức Vật lí cũng có thể tiến hành trong mọi hoàn cảnh nêu giáo viên biết gợi ý cho học sinh suy nghĩ, biết đặt câu hỏi phù hợp với hoàn cảnh.

Phương pháp giải bài tập thí nghiệm Vật lí

Bài tập thí nghiệm vừa là bài tập vừa là thí nghiệm việc giải nó có hiệu quả cao cho sự phát triển tư duy của học sinh.

Để đạt được điều đó, cô Nguyễn Thị Mai Hương chia sẻ các bước giải bài tập thí nghiệm vật lý như sau:

Bước 1: Đọc đề bài, hiểu rõ câu hỏi của bài toán, phân tích bản chất Vật lí của bài toán

Bước 2: Phân tích nội dung bài tập:

– Bài tập thuộc loại nào?

– Nội dung đề cập đến những kiến thức Vật lí nào?

– Đại lượng nào đã cho, đại lượng nào cần tìm?

– Mối quan hệ giữa các đại lượng cần tìm?

– Có những đặc trưng định tính, định lượng nào đã biết và chưa biết? Mối quan hệ đó biểu hiện ở những quy tắc, định luật, khái niệm nào?

Bước 3: Thực hiện giải: Tính toán, lập luận, trình bày lời giải, (nếu có thể giải bằng lí thuyết). Hoặc lập phương án thí nghiệm, quan sát để thu thập số liệu.

Bước 4: Tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, ghi nhận số liệu và xử lí kết quả.

Bước 5: Đánh giá kết quả và trả lời câu hỏi của bài toán.

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Vật Lí / 2023

1. Lí do chọn đề tài.

Môn Vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường trung học cơ sở, cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lí cơ bản, bước đầu hình thành ở học sinh những kỹ năng và thói quen làm việc khoa học.

Muốn hoàn thành tốt tiết dạy trên lớp, chúng ta không thể không sử dụng thiết bị dạy học làm thí nghiệm chứng minh trên lớp, đặt câu hỏi, sử dụng phiếu học tập…Vậy làm thế nào để học sinh hứng thú học tập môn Vật lí, giải thích được một số hiện tượng vật lí thường xảy ra trong cuộc sống thường ngày? Chính vì lí do đó tôi chọn đề tài mới phương pháp dạy học môn Vật lí 6″

2. Mục đích nghiên cứu

– Đổi mới phương pháp trong dạy học môn Vật lí 6 có thể làm cho những em thích học tập môn Vật lí có hứng thú học tập.

– Có thể rèn luyện cho học sinh có được một cách học để tiếp thu bài nhanh nhất, hình thành tư duy lôgic khoa học cho học sinh.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu : Học sinh khối 6 trường THCS

– Các dạng bài tập mẫu hướng dẫn học sinh cách thực hiện.

– Thông qua việc thực hiện nội dung đề tài, kiểm tra, so sánh kết quả học tập của học sinh qua hai năm học 2015-2016 và 2016-2017.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Hướng dẫn học sinh quan sát thí nghiệm, độc lập suy nghĩ trả lời các câu hỏi của giáo viên.

– Phát huy tính tích cực, tinh thần tự giác trong học tập của học sinh.

– Giúp học sinh yêu thích môn học, có tinh thần học hỏi ở thầy cô, bạn bè…

– Sử dụng phiếu học tập đối với từng bài học phù hợp để học sinh hứng thú trong giờ học, hiểu bài trên lớp dễ dàng hơn.

– Đổi mới phương pháp dạy học là dùng hình ảnh để minh họa trong từng bài học cụ thể, thí nghiệm chứng minh trên lớp,…

Tập trung nghiên cứu việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí lớp 6.

5. Kế hoạch thực hiện.

Để thực hiện hoàn thành tốt sáng kiến kinh nghiệm tôi xin trình bày kế hoạch thực hiện đề tài như sau:

– Đầu tháng 8 năm 2016 nghiên cứu và đăng ký tên đề tài.

– Vào tháng 9 năm 2016, tìm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và liên hệ thực tế ở trường nơi công tác giảng dạy. Lập thành đề cương nghiên cứu áp dụng đề tài trong giảng dạy.

– Đến 17/4/2017 kết thúc đề tài.

Cụ thể qua điều tra kết quả học tập của học sinh năm học 2015-2016 khi chưa áp dụng đề tài:

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận.

Luật giáo dục năm 2005 (điều 5) quy định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực học tập, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Do đó, đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập…Từ đó học sinh dần hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Đó là điều kiện cần thiết cho bản thân học sinh và cho sự phát triển của xã hội.

Đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn Vật lý nói riêng ở trường THCS xuất phát từ các quan niệm sau:

– Mục tiêu của ngành giáo dục, trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, là hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Dạy học không chỉ đơn thuần cung cấp cho học sinh những tri thức và kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được, mà phải góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu đào tạo. Học sinh càng được tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thì phẩm chất và năng lực của cá nhân càng sớm được hình thành phát triển và hoàn thiện. Tính năng động, sáng tạo là những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại, phải được hình thành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

– Trước đây, trong giảng dạy các môn học, người giáo viên chỉ chú trọng truyền đạt các tri thức khoa học của bộ môn mà coi nhẹ phương pháp học tập và nghiên cứu mang tính đặc thù của môn học đó (gọi là phương pháp bộ môn). Ngày nay, cùng với tri thức khoa học của môn học, giáo viên phải làm cho học sinh nắm vững và sử dụng các phương pháp bộ môn. Điều đó có ý nghĩa to lớn với nhiệm vụ học tập trước mắt và cả trong tương lai.

– Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phân hóa trong dạy học. Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàn giống nhau, việc phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tất yếu để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi học sinh.

– Mỗi môn học có các đặc trưng riêng, Vật lí học là môn koa học thực nghiệm. Đổi mới phương pháp phải xuất phát từ đặc trưng này của bộ môn.

Tóm lại, dạy học không chỉ là “dạy chữ” mà phải qua dạy chữ mà “dạy người”. Tất nhiên, hình thành và phát triển nhân cách không chỉ có nhà trường. Trong nhà trường cũng không chỉ có hoạt động dạy học, tuy nhiên dạy học là hoạt động chủ yếu.

2. Cơ sở thực tiễn

– Trong những năm thực hiện cải cách giáo dục chúng ta có nhiều cố gắng đổi mới và đa dạng hóa cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới nội dung giáo dục trong nhà trường. Tuy nhiên, về phương pháp giáo dục và dạy học thì chưa có sự quan tâm đầy đủ, phương pháp dạy học chưa được đổi mới tương xứng.

– Những năm gần đây, do nhiều tác động khách quan, phương pháp và chất lượng dạy học đã có sự phân hóa và đã có không ít giáo viên giỏi, học sinh giỏi. Ở những giáo viên này phương pháp dạy học có nhiều cải tiến theo hướng hiên đại. Về cơ bản giảng dạy bộ môn Vật lí ở trường THCS hiện nay, trình độ chung của học sinh còn thấp, học sinh chưa biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đã được học vào cuộc sống hoặc chỉ vận dụng kiến thức một cách đơn giản, máy móc…

3. Nội dung thực hiện các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn Vật lí 6.

Trong quá trình giảng dạy, cùng với việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học trong trường THCS, bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng phải thực hiện kết hợp một số giải pháp sau đây:

Hoạt động dạy học hợp tác theo nhóm thường bao gồm các bước:

Bước 1: Làm chung cho cả lớp

Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.

Bước 2: Hoạt động nhóm

Từng nhóm làm việc riêng trong không khí thi đua với các nhóm khác. Thành viên trong mỗi nhóm trao đổi ý kiến , phân công nhóm sau đó từng thành viên làm việc theo sự phân công đó và có thể bàn bạc, trao đổi với nhau khi cần thiết. Giáo viên giám sát sự hoạt động của nhóm và của từng cá nhân học sinh.

Trong quá trình thực hiện dạy học hợp tác theo nhóm, giáo viên cần làm các công việc sau:

* Tổ chức nhóm:

+ Quy mô nhóm:

Nhóm từ 5 đến 6 học sinh là nhóm lớn, chủ yếu thích hợp với những công cụ lớn, phức tạp như thực hành thí nghiệm. Các nhóm lớn dễ tạo cho học sinh cảm giác vui, hồ hởi và niềm tin vào sự thành công. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm là phức tạp hơn, khó đạt được sự đồng thuận hơn. Giáo viên khó khăn hơn trong việc quản lí các thành viên trong nhóm lớn nhưng dễ dàng bao quát chung các nhóm hơn và thời gian để các nhóm trình bày kết quả cũng ít hơn.

+ Phân công nhiệm vụ trong nhóm:

Trong các nhóm thường có các thành phần: Trưởng nhóm, thư kí nhóm, báo cáo viên và các thành viên còn lại. Trưởng nhóm chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều khiển nhóm, thư kí có trách nhiệm ghi chép lại các kết quả công việc của nhóm. Các thành viên còn lại trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vào hoạt động của nhóm theo sự phân công của nhóm trưởng.

Sự phân công nhiệm vụ trong nhóm cần linh hoạt, không phải luôn cần có đầy đủ các thành phần như trên. Tuy nhiên một nhóm nhất thiết nên có trưởng nhóm để triển khai hoạt động của nhóm. Các thành phần trong một nhóm cũng cần thực hiện luân phiên, các em trong nhóm lần lượt trao đổi với nhau thực hiện các vai trò đó để đều có cơ hội rèn luyện về mọi mặt như nhau.

* Các kiểu chia nhóm:

Chia nhóm theo trình độ học sinh. Khi đó, học sinh trong lớp được chia vào các nhóm thường theo một số kiểu sau: Nhóm nhiều trình độ (trong nhóm có cả học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu); nhóm cùng trình độ (các em học sinh trong một nhóm có khả năng học tập tương đối như nhau). Với nhóm nhiều trình độ các em học yếu có cơ hội học hỏi các em học khá, giỏi. Ngoài những cách chia nói trên, vẫn có thể có những cách chia nhóm dựa trên sự tương đồng với dụng cụ thực hành thí nghiệm, đảm bảo đầy đủ các dụng cụ cho các nhóm thực hành có hiệu quả.

* Giao nhiệm vụ cho nhóm:

Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm thực hiện. Sau khi giao nhiệm vụ cho các nhóm, giáo viên cần kiểm tra xem từng nhóm, từng học sinh đã hiểu được nhiệm vụ của mình chưa. Có thể thực hiện đều này bằng cách hỏi một vài nhóm trưởng cũng như một vài em khác, yêu cầu các em đứng lên nói rõ nhiệm vụ của mình. Giáo viên cũng cần quy định rõ thời gian yêu cầu phải hoàn thành hoạt động nhóm, thường với mọi hoạt động, thời gian từ 5 đến 7 phút.

* Giáo viên quản lí hoạt động nhóm:

Trong khi các nhóm hoạt động, giáo viên cần bao quát, chỉ đạo học sinh theo các chú ý sau:

– Quan sát tất cả các nhóm, phát hiện và hỗ trợ các nhóm có khó khăn thông qua các câu hỏi dẫn dắt, các hướng dẫn thích hợp.

– Phát hiện các nhóm làm việc chưa tích cực, mất trật tự…để nhắc nhở, uốn nắn. Các nhóm tích cực khuyến khích, động viên kịp thời. Dù là khuyến khích hay nhắc nhở học sinh, cử chỉ của giáo viên phải thể hiện thái độ thân mật, hợp tác, tạo niềm tin cho học sinh.

Khi các nhóm đã hoàn thành hoạt động, giáo viên yêu cầu mỗi nhóm cử đại diện lên trình bày trước toàn lớp và nêu rõ quy định về cách trình bày như đứng tại chỗ hay lên bảng, chỉ diễn đạt bằng lời nói hay kết hợp với viết bảng…Sau khi giáo viên yêu cầu một vài nhóm lên trình bày, các nhóm khác quan sát, nhận xét, bổ sung. Sự nhận xét, bổ sung lẫn nhau giữa các nhóm là rất quan trọng, nó thể hiện sự tương tác giữa các nhóm và sự gắn kết của cả lớp trong mục tiêu chung của nhiệm vụ học tập. Sau khi mỗi nhóm đã trình bày và có sự nhận xét, bổ sung của các học sinh ngoài nhóm, giáo viên đưa ra ý kiến của mình, thể thức hóa kết quả của mỗi nhóm trước cả lớp.

Cuối cùng, sau khi các nhóm được chỉ định đều đã trình bày xong, giáo viên tổng kết, chốt lại những điểm quan trọng trong kết quả của tất cả các nhóm và nhận xét, động viên, khen ngợi các nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán những khiếm khuyết đã mắc phải của một số nhóm hay cá nhân trong quá trình thực hiện hoạt động nhóm.

3.2. Sử dụng phương pháp trực quan trong tiết học:

Phương pháp trực quan hay nói chính xác hơn là nhóm các phương pháp sử dụng các vật thực, mô hình, tranh vẽ… để minh họa cho các bài học nhằm cụ thể hóa cái nhìn trừu tượng trong đối tượng và hiện tượng giúp học sinh khắc phục khó khăn ban đầu, tiếp thu và vận dụng được các kiến thức một cách hiệu quả, nhanh chóng.

Khi dạy bài 5 ” Khối lượng – đo khối lượng” trong chương trình Vật lí 6, để giúp học sinh hiểu thêm một số dụng cụ dùng để đo khối lượng thường dùng trong đời sống, giáo viên cần dùng một số tranh vẽ sau:

Cân y tế Cân tạ Cân đòn Cân đồng hồ

3.3. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là cách thầy tổ chức tạo ra một tình huống hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra những vướng mắc mà học sinh chưa giải đáp ngay được, nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họ thấy có triển vọng tự giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ.

Trong dạy học và giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những tình huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức mới, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác.

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường có những đặc điểm sau đây:

– Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được thông báo tri thức dưới dạng có sẵn.

Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải là nghe thầy giảng một cách thụ động.

– Mục tiêu dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn ở chỗ làm cho học sinh phát triển khả năng tiến hành khám phá và lĩnh hội tri thức mới.

Trong dạy học và phát hiện vấn đề là việc điều khiển học sinh tự thực hiện hoặc hòa nhập vào quá trình nghiên cứu vấn đề, quá trình này có thể chia làm các bước sau:

Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề

– Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề thường do thầy tạo ra. Học sinh có thể liên tưởng, dự đoán, suy nghĩ, tìm tòi tình huống gợi vấn đề.

– Giải thích và chính xác hóa tình huống khi cần thiết để hiểu đúng vấn đề được đặt ra.

– Phát hiện vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó.

Bước 2: Tìm giải pháp

– Học sinh tìm một cách giải quyết vấn đề, cần làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm. Trong Vật lí thường liên tưởng tới những khái niệm, đặc điểm hoặc tính chất thích hợp.

– Tổ chức thu thập dữ liệu, học sinh tiến hành suy luận tìm ra hướng giải quyết vần đề một cách hiệu quả.

Bước 3: Trình bày giải pháp

Khi giải quyết được vấn đề đặt ra, học sinh trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề cho tới giải pháp. Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề. Trong khi trình bày, học sinh phải trình bày rõ ràng, mạch lạc, logic.

a) Tính thể tích của 1 tấn cát.

b) Tính trọng lượng của một đóng cát 3m 3

Giáo viên đặt một số câu hỏi dẫn dắt học sinh làm bài tập theo trình tự các bước sau:

Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề

Giáo viên hướng dẫn câu a của bài toán

Em hãy cho biết đề bài đã cho những đại lượng nào?

+HS: Đề bài cho biết khối lượng và thể tích của cát.

-GV: Bài toán yêu cầu tính những đại lượng nào?

+HS: Bài toán yêu cầu tính thể tích và trọng lượng của cát

-GV yêu cầu học sinh tóm tắt đề bài, giáo viên theo dõi

+HS: Ta tính được khối lượng riêng của cát

-GV: Em hãy cho biết công thức tính khối lượng riêng?

+HS: Khối lượng riêng được xác định theo công thức

-GV: Sau khi tính được khối lượng riêng của cát, các em tính thể tích của cát dựa vào công thức biến đổi

với m = 1tấn = 1000kg

Giáo viên hướng dẫn câu b của bài toán

-GV: Em hãy cho biết công thức tính trọng lượng của cát?

+HS: Công thức tính trọng lượng là

P = 10m

– GV: Muốn tính được trọng lượng của một đóng cát có thể tích 3m 3, trước hết ta phải tính được khối lượng của cát. Vậy khối lượng của cát được tính theo công thức nào?

+ HS: Khối lượng của cát được tính theo công thức m = D.V

– GV: Sau khi các em tính được khối lượng của cát, ta áp dụng lại công thức P=10m sẽ tính được trọng lượng của cát.

Bước 3: Trình bày giải pháp

Bằng các gợi ý và hướng dẫn của giáo viên, học sinh trình bày bài toán một cách chi tiết, cụ thể.

– GV theo dõi, uốn nắn, sữa sai kịp thời.

Cho biết

V = 10dm 3 = 0,01m 3

m = 15kg

V = ? Khi m = 1tấn = 1000kg

P = ? Khi V = 3m 3

Khối lượng riêng của cát là

a) Thể tích của một tấn cát là:

b)Trọng lượng của một đóng cát 3m 3 là:

Khối lượng của 3m 3 cát là:

m = D.V = 1500.3 = 4500 (kg) Trọng lượng của 3m 3 cát là:

P = 10.m = 10.4500 = 45000 (N) Đáp số: a) V = 4500 (kg)

b) P = 45000 (N)

3.4. Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh trên lớp:

Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm. Các tri thức Vật lí là sự khái quát hóa các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng xảy ra trong đời sống. Không có thí nghiệm, học sinh không có cơ sở để thực hiện các thao tác tư duy để tiếp nhận tri thức mới. Do đó mọi tri thức mà giáo viên truyền đạt đến học sinh về bản chất là áp đặt. Chính cách dạy chay là một trong những nguyên nhân của tình trạng chất lượng học tập bộ môn còn thấp và cũng đồng thời là sự tách rời giữa học và hành, giữa nhà trường và cuộc sống.

Trong học tập, nếu sử dụng các đồ dùng dạy học thực hiện các thí nghiệm chứng minh trên lớp ta dễ dàng nhận thấy học sinh học tập hứng thú hơn, sinh động hơn, hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, trang thiết bị trong nhà trường còn hạn chế. Để thực hiện các thí nghiệm trong các tiết dạy đạt hiệu quả, giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy cần thực hiện các bước sau:

+ Giáo viên bộ môn phối hợp với nhóm bộ môn, tập thể tổ rèn kĩ năng thực hiện các thí nghiệm chứng minh.

+ Các câu hỏi phải được sắp xếp thành hệ thống, đảm bảo tính lôgic và theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ khái quát đến cụ thể…

+ Các hiện tượng mà học sinh quan sát được là một chỉnh thể, các em cần tự mình phân tích để lí giải từng bộ phận, từng khía cạnh, từng giai đoạn…để nắm vững được bản chất và quy luật của chúng. Nếu học sinh không tự làm được theo các yêu cầu đó, giáo viên mới tách ra thành những câu hỏi nhỏ, cụ thể và chi tiết hơn.

+ Học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả phát huy được năng lực của mọi đối tượng học sinh. Đối với học sinh khá – giỏi trả lời những câu hỏi chung, khái quát; học sinh trung bình và yếu trả lời các câu hỏi cụ thể, chi tiết hơn. Có thể trong thời gian đầu, học sinh chưa quen với cách làm này nhưng giáo viên cần phải làm như vậy để rèn luyện thói quen cho học sinh.

+ Câu hỏi mà giáo viên đặt ra cho học sinh phải được chuẩn bị trước, kể cả các câu hỏi gợi ý chi tiết. Diễn đạt phải rõ ràng, ngắn gọn.

3.6. Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp:

Luyện tập là khâu quan trọng trong mỗi tiết học. Nó giúp học sinh hoàn thiện tri thức mới và biết vận dụng tri thức đó để giải quyết các nhệm vụ thực tiễn. Qua luyện tập, giáo viên tiếp nhận thông tin ngược từ học sinh để bổ sung những tri thức còn thiếu, uốn nắn những sai lầm thường mắc phải.

Nội dung luyện tập phải được lựa chọn ưu tiên cho học sinh trung bình: Tương ứng với yêu cầu tối thiểu của bài học, có tác dụng chuẩn bị cho học sinh học bài và làm bài ở nhà. Tuy vậy, không thể bỏ qua những đối tượng khá, giỏi. Nên có những bài tập có yêu cầu cao hơn cho các em này. Khâu luyện tập cần được dành thời gian hợp lí, tốt nhất là khoảng 10 phút cho mỗi tiết học. Coi trọng những bài tập có nội dung thực tế, gắn với đời sống để giúp học sinh biết vận dụng kiến thức giải quyết những nhiệm vụ hàng ngày.

3.7. Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh:

Để hỗ trợ và thực hiện tốt các giải pháp trên. Phiếu học tập được thiết kế cho từng tiết học. Nội dung của phiếu bao gồm:

– Các câu hỏi hoặc những chỉ dẫn cho học sinh quan sát và ghi lại các kết quả thí nghiệm.

– Các bài luyện tập.

Sử dụng phiếu học tập cho mỗi bài dạy cụ thể sẽ có tác dụng:

– Tiết kiệm được thời gian để giáo viên truyền đạt các yêu cầu hoặc hướng dẫn đối với học sinh.

– Tăng cường tính độc lập trong khi làm việc của mỗi học sinh.

– Nhịp độ và khối lượng công việc làm được tùy thuộc vào năng lực của mỗi học sinh. Bằng cách này quá trình học tập của học sinh từng bước được cá nhân hóa.

– Trong thời gian đầu, giáo viên có thể thu “phiếu học tập” sau tiết học để xem xét, đánh giá hoạt động của từng học sinh và của tập thể học sinh. Từ đó có biện pháp uốn nắn, chấn chỉnh hoặc điều chỉnh cho hợp lí và có hiệu quả hơn.

Tóm lại: Các giải pháp đổi mới phương pháp dạy học vật lí nêu trên nhằm đạt được ba yêu cầu sau:

– Học sinh phải được quan sát các hiện tượng vật lí một cách trực tiếp đúng theo nguyên tắc sư phạm.

– Giáo viên tổ chức, hướng dẫn cho các em tự phân tích, lí giải…để qua đó nắm được bản chất, quy luật của hiện tượng.

– Học sinh được luyện tập vận dụng phương pháp và tri thức mới vào giải quyết các nhiệm vụ cụ thể – trước hết là trong các bài tập, sau đó là trong đời sống.

Chính trong quá trình hoạt động một cách tích cực, chủ động để chiếm lĩnh tri thức trên, các năng lực và phẩm chất nhân cách của các em được hình thành và phát triển.

Ví dụ 1: BÀI LỰC ĐÀN HỒI * Mục tiêu bài học: 1. Kiến thức:

– Nhận biết được vật đàn hồi (qua sự đàn hồi của lò xo).

– Trả lời đặc điểm của lực đàn hồi.

– Rút ra được nhận xét về sự phụ thuộc của lực đàn hồi vào độ biến dạng của vật đàn hồi.

2. Kỹ năng:

– Lắp được thí nghiệm chứng minh lò xo là một vật có tính chất đàn hồi.

– Nghiên cứu hiện tượng để rút ra quy luật về sự biến dạng và đặc điểm của lực đàn hồi.

3. Thái độ: Có ý thức tìm tòi quy luật vật lý qua các hiện tượng tự nhiên.

*Thí nghiệm:

Dụng cụ: Chuẩn bị cho mỗi nhóm học sinh

Một giá treo, một lò xo, một thước có độ chia đến mm

Ba quả nặng giống nhau, mỗi quả có khối lượng 50g

Bước 1: Đo chiều dài tự nhiên của lò xo khi chưa kéo dãn (chiều dài tự nhiên của lò xo): l 0

Bước 2: Móc quả nặng vào đầu dưới của lò xo. Đo chiều dài ­l 1 của lò xo khi bị biến dạng.

Bước 3: Tính trọng lượng của quả nặng và ghi vào ô tương ứng.

Bước 4: Đo lại chiều dài của lò xo khi bỏ quả nặng ra. So sánh l 0 và l 1.

Bước 5: Móc thêm 2, 3 quả nặng 50g vào vào đầu dưới của lò xo và làm tương tự như trên.

* Hệ thống câu hỏi: Từ kết quả thí nghiệm hãy cho biết chiều dài của lò xo khi bỏ hết quả nặng ra và so sánh với chiều dài tự nhiên của lò xo?

Giáo viên đặt các câu hỏi hướng dẫn học sinh:

– Trọng lượng của các quả nặng tương ứng được móc vào lò xo được xác định như thế nào?

– Đặt thước đo như thế nào để đo chiều dài của lò xo chính xác?

– Số chỉ trên thước đo khi móc các quả nặng tương ứng vào lò xo có giá trị như thế nào so với chiều dài tự nhiên ban đầu của lò xo?

– Khi bỏ các quả nặng ra chiều dài của lò xo như thế nào so với chiều dài ban đầu của lò xo?

Học sinh làm thí nghiệm, thu thập kết quả ghi vào ô tướng ứng trong phiếu học tập của nhóm:

Z

* Củng cố và luyện tập: Giáo viên có thể đặt một số câu hỏi cho học sinh tham gia trả lời

1. Lực đàn hồi là gì? Đặc điểm của lực đàn hồi?

2. Nêu ví dụ về một số vật có tính chất đàn hồi?

3. Lực đàn hồi phụ thuộc như thế nào vào độ biến dạng của lò xo?

4. Các lực nào sau đây là lực đàn hồi?

A. Lực hút của trái đất lên các vật

B. Lực hút của mặt trời lên trái đất.

C. Lực kéo của một sợi dây khi treo một vật nặng vào

D. Lực mà cung tác dụng lên mũi tên.

BÀI ĐÒN BẨY *Mục tiêu của bài: 1. Kiến thức:

– Nêu được các ví dụ về sử dụng đòn bẩy trong cuộc sống.

– Xác định điểm tựa 0, các lực tác dụng lên đòn bẩy.

– Biết sử dụng đòn bẩy trong các công việc thích hợp (biết thay đổi vị trí của các điểm 0, 0 1, 0 2 cho phù hợp với yêu cầu sử dụng).

2. Kĩ năng: Biết đo lực ở mỗi trường hợp

3. Thái độ: Cẩn thận, trung thực nghiêm túc.

Dụng cụ và cách tiến hành thí nghiệm:

– Dụng cụ: Lực kế có GHĐ 2N, khối trụ kim loại có móc, một giá đỡ

-Tiến hành:

Bước1: Tính trọng lượng của quả nặng P = F 1

Bước 3: Dịch chuyển điểm 0, sao cho khoảng cách 00 1­ = 00 2, dùng lực kế đo cường độ lực F 2.

Bước 4: Tiếp tục dịch chuyển 0, sao cho khoảng cách 00 2 < 00 1, dùng lực kế đo cường độ lực F 2.

*Hệ thống câu hỏi:

Trước khi học sinh làm thí nghiệm, giáo viên đặt vấn đề: Muốn lực nâng nhỏ hơn trọng lượng của vật thì các khoảng cách 00 1 và 00 2 phải thỏa mãn điều kiện gì? Để giúp học sinh trả lời được câu hỏi mà giáo viên đặt ra, học sinh phải thực hiện được thí nghiệm, ghi lại kết quả thí nghiệm trong từng trường hợp cụ thể. Do đó giáo viên đặt một số câu hỏi gợi ý:

– Muốn xác định độ lớn của lực F 1, ta dùng dụng cụ gì?

– Cho biết độ lớn của lực F 2 ứng với từng trường hợp

– So sánh cường độ lực F 2 và F 1 trong từng trường hợp?

– Muốn lực nâng vật nhỏ hơn trọng lượng của vật (F 2 < F 1) phải thỏa mãn điều kiện gì?

– Từ kết quả thí nghiệm, em rút ra được kết luận gì?

Phiếu học tập của nhóm

* Củng cố và luyện tập: Giáo viên có thể sử dụng phiếu học tập cho cá nhân học sinh trả lời.

Họ và tên:……………

Lớp:…………………

C. F = 200N D. F = 100N

Trả lời: …………………………………………………………………….

Câu hỏi 2. Dùng đòn bẩy được lợi về lực khi:

Trả lời: ……………………………………………………………………..

Câu hỏi 3. Cần tác dụng một lực 150N thì mới nâng được vật lên (biết 00 1< 00 2), trọng lượng của vật là:

A. 150N B. 200N C. 1000N D. 150N

Trả lời: …………………………………………………………………….

* Năm học 2015- 2016 * Năm học 2016-2017

Qua đó các em có sự hứng thú, tích cực tìm hiểu nội dung bài học để hình thành và chiếm lĩnh kiến thức mới.

C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Từ vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học, nên mỗi bản thân giáo viên giảng dạy bộ môn cần phải nắm vững được lý luận của phương pháp, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn trong giảng dạy. Nắm được yêu cầu của từng bài học cụ thể để từng bước phát huy được hiệu quả của phương pháp dạy học, hình thành cho học sinh khả năng tự học, độc lập, sáng tạo…

2. Bài học kinh nghiệm

Để thực sự phát huy tính tích cực học tập của học sinh khi học chương trình Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng, giáo viên cần vận dụng các phương pháp đổi mới nhằm tạo mọi điều kiện cho học sinh hoạt động trong tiết học.Tuy nhiên trong quá trình dạy học, học sinh cần chú ý:

– Thu thập thông tin: Cá nhân học sinh thực hiện.

– Xử lý thông tin: Chủ yếu là hoạt động nhóm.

Đối với giáo viên, là người đóng vai trò, tổ chức điều khiển hoạt dộng học của học sinh, giáo viên cần sử dụng các câu hỏi phù hợp với trình độ học sinh, đặt ra các câu hỏi gợi mở, đồng thời dự kiến trước các phương án trả lời của học sinh và cách xử lí các tình huống có thể xảy ra. Từ đó chỉnh lại câu hỏi mở cho phù hợp hơn với trình độ thực tế của học sinh.

* Ưu điểm: Trong quá trình sử dụng đổi mới phương pháp dạy học bộ môn, tôi nhận thấy:

– Học sinh trả lời được một số câu hỏi gợi mở do giáo viên đặt ra.

– Học sinh có tinh thần hợp tác, quan sát thí nghiệm theo tổ, nhóm.

– Vận dụng kiến thức, giải thích một số hiện tượng cơ bản trong đời sống.

* Nhược điểm: Thực hành thí nghiệm chứng minh trên lớp là một trong những phương pháp đặc thù của bộ môn, trong quá trình thực hành thí nghiệm học sinh không tự chủ động được thời gian, có thể kéo dài thời gian làm thí nghiệm. Do đó, giáo viên thường xuyên nhắc nhở, kiểm tra đôn đốc các em thực hiện thu thập kết quả đúng theo thời gian quy định.

3. Khuyến nghị

Để việc đổi mới phương pháp dạy học đạt dược kết quả cao nhát tôi xin được có những kiến nghị sau:

Với nhà trường thường xuyên bổ sung và kiểm tra những thiết bị bị hỏng của bộ môn vật lý để giáo viên có thể dạy thực hành cho học sinh một cách tốt nhất và hiệu quả nhất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sách giáo khoa vật lý 6 NXB Giáo Dục

Sách giáo viên vật lý 6 NXB Giáo Dục

Sách kiến thức cơ bản và nâng cao vật lý 6 NXB Giáo Dục.

Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm Vật lí 6 NXB Giáo dục

Sách bài tập Vật lí 6 NXB Giáo dục.

CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

S¸ng kiÕn kinh nghiÖm “ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÍ 6” Lĩnh vực : Vật lí Cấp học : THCS Năm học: 2016 – 2017

Giải Bài Tập Địa Lí 7 / 2023

Giải Bài Tập Địa Lí 7 – Bài 1: Dân số giúp HS giải bài tập, các em sẽ có được những kiến thức phổ thông cơ bản, cần thiết về các môi trường địa lí, về hoạt động của con người trên Trái Đất và ở các châu lục:

Trả lời câu hỏi Địa Lí 7 Bài 1 trang 3: Quan sát tháp tuổi ở hình 1.1 cho biết:

+ Trong số trẻ em từ khi mới sinh ra cho đến 4 tuổi ở mỗi tháp, ước tính có bao nhiêu bé trai bao nhiêu bé gái?

+ Hình dạng của hai tháp tuổi khác nhau như thế nào? Tháp tuổi có hình dạng như thế nào thì tỉ lệ người trong độ tuổi lao động cao?

Trả lời:

– Tháp tuổi thứ nhất có khoảng 5,5 triệu bé gái và 5,5 triệu bé trai.

– Tháp tuổi thứ 2 có khoảng 5,5 triệu bé gái và 4,5 triệu bé trai.

– Hình dạng 2 tháp tuổi:

+ Tháp tuổi thứ nhất có đáy tháp rộng, thân tháp thu hẹp dần, đỉnh nhọn.

+ Tháp tuổi thứ 2 có đáy tháp thu hẹ, thân tháp mở rộng.

– Tháp tuổi có thân tháp mở rộng thể hiện số người trong độ tuổi lao động cao, nhưng đáy tháp hẹp thể hiện tỉ lệ sinh đã giảm, tương lai nguồn lao động cũng bị giảm.

Trả lời câu hỏi Địa Lí 7 Bài 1 trang 4: Quan sát hình 1.2, nhận xét về tình hình tăng dân số thế giới từ đầu thế kỉ 19 đến cuối thế kỉ 20.

Trả lời:

Từ đầu thế kỉ 19 dân số thế giới có xu hướng tăng nhanh và tăng liên tục đến cuối thế kỉ 20. Cụ thể là: Năm 1804 thế giới có khoảng 1 tỉ người đến năm 1999 thế giới đã tăng lên thành 6 tỉ người.

Trả lời:

Trong giai đoạn từ năm 1950 đến năm 2000, nhóm nước đang phát triển có tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên cao hơn nhóm nước phát triển.

Nguyên nhân

– Do ở các nước đang phát triển từ năm 1950 lần lượt giành được độc lập, đời sống được cải thiện, những tiến bộ của khoa học kĩ thuật làm cho tỉ lệ tử giảm, trong khi tỉ lệ sinh vẫn cao.

Bài 1 trang 6 Địa Lí 7: Tháp tuổi cho ta biết đặc điểm gì của dân số?

Trả lời:

Nhìn vào tháp tuổi, chúng ta biết:

– Kết cấu theo độ tuổi của dân số: bao nhiêu người ở từng lớp tuổi và từng nhóm tuổi; số người trong độ tuổi lao động.

– Kết cấu theo giới tính của dân số: bao nhiêu nam, nữ ở từng lớp tuổi và từng nhóm tuổi.

Trả lời:

– Châu lục có tỉ lệ gia tăng dân số cao nhất là Châu Phi.

– Châu lục có tỉ lệ gia tăng dân số thấp nhất là châu Âu

– Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của châu Á giảm nhưng tỉ trọng dân số so với toàn thế giới tăng, vì: dân số châu Á quá nhiều (chiếm 55,6% dân số thế giới) cho nên tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của châu Á mặc dù có giảm nhưng số dân tăng lên vẫn còn rất nhiều nên tỉ trọng dân số so với toàn thế giới vẫn tăng cao.

Bài 3 trang 6 Địa Lí 7: Bùng nổ dân số thế giới xảy ra khi nào? Nêu nguyên nhân, hậu quả và phương hướng giải quyết.

Trả lời:

– Bùng nổ dân số xảy ra vào những năm 50 của thế kỉ XX. Vào thời kì này, tỉ lệ gia tăng bình quân hàng năm của dân số thế giới lên đến 2,1 %. Bùng nổ dân số xảy ra chủ yếu ở các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.

– Nguyên nhân: do tỉ suất sinh lớn, tỉ suất tử thấp. Trong những năm này, các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mĩ Latinh giành được độc lập, đời sống được cải thiện và nhừng tiến bộ y tế làm cho tỉ lệ tử giảm, trong khi tỉ lệ sinh vẫn cao.

– Hậu quả: gánh nặng cả vấn đề ăn, mặc, ở, học hành, việc làm,…

– Phương hướng giải quyết: Chính sách dân số kết hoạch hóa gia đình, tuyên truyền và giáo dục,…

Bạn đang xem bài viết Phương Pháp Dạy Giờ Bài Tập Vật Lí / 2023 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!