Xem Nhiều 2/2023 #️ So Sánh Giá Trị Sử Dụng Của Thẻ Căn Cước Công Dân Với Chứng Minh Nhân Dân # Top 3 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # So Sánh Giá Trị Sử Dụng Của Thẻ Căn Cước Công Dân Với Chứng Minh Nhân Dân # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về So Sánh Giá Trị Sử Dụng Của Thẻ Căn Cước Công Dân Với Chứng Minh Nhân Dân mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt câu hỏi: Kính chào luật sư của Công ty Luật Thái An, hiện tại tôi đang có một vấn đề thắc mắc muốn nhờ luật sư giải đáp giúp như sau: Gần đây, tại địa phương tôi sinh sống, tôi thấy rất nhiều người dân đi làm thẻ căn cước công dân, họ còn rủ tôi cùng đi nhưng vì chưa hiểu rõ về thẻ này, cũng thấy chứng minh nhân dân của mình đang còn dùng được nên tôi chưa đi làm. Vậy rất mong luật sư giải đáp giúp thẻ căn cước công dân và chứng minh nhân dân khác nhau như thế nào về giá trị sử dụng và có bắt buộc phải làm ngay không? Rất mong luật sư giải đáp giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Thẻ căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của một công dân chưa đựng các thông tin cơ bản về lai lịch, nhân dạng của công dân.

Để hiểu giúp người dân hiểu rõ về thẻ căn cước công dân, Nhà nước Việt Nam đã ban hành luật căn cước công dân năm 2014 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2016.

Theo quy định của luật, chúng tôi xin giải đáp câu hỏi của bạn như sau:

Thứ nhất: Thẻ căn cước công dân và chứng minh nhân dân khác nhau như thế nào về giá trị sử dụng.

Theo Điều 20 Luật căn cước công dân quy định về giá trị sử dụng của thẻ căn cước công dân như sau:

Điều 20. Giá trị sử dụng của thẻ Căn cước công dân

1. Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.

2. Thẻ Căn cước công dân được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ Căn cước công dân thay cho việc sử dụng hộ chiếu trên lãnh thổ của nhau.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân để kiểm tra về căn cước và các thông tin quy định tại Điều 18 của Luật này; được sử dụng số định danh cá nhân trên thẻ Căn cước công dân để kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.

Khi công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đó không được yêu cầu công dân xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này.

4. Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng của người được cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định của pháp luật.

Như vậy, căn cứ vào quy định trên, có thể thấy giá trị sử dụng của thẻ căn cước công dân rộng hơn so với giá trị sử dụng của chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân có giá trị chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam. Thẻ căn cước thay thế các giấy tờ công dân được sử dụng từ trước đến nay như: số hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn, sổ bảo hiểm xã hội,… Khi công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đó không được yêu cầu công dân xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin đã có trên thẻ. Ngoài ra, thẻ căn cước công dân có thể được sử dụng thay hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ Căn cước công dân thay cho việc sử dụng hộ chiếu.

Thứ hai: Có bắt buộc phải làm thẻ căn cước công dân ngay bây giờ.

Khoản 2 Điều 38 Luật căn cước công dân năm 2014 quy định như sau: “Chứng minh nhân dân đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định; khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ Căn cước công dân.”

Như vậy, căn cứ vào quy định trênthì công dân có thể sử dụng CMND cho đến hết thời hạn hoặc đổi sang thẻ Căn cước công dân để phục vụ việc giao dịch và hai loại giấy tờ này đều có giá trị pháp lý như nhau. Do đó, bạn không bắt buộc phải làm thẻ căn cước công dân ngay bây giờ nếu chứng minh nhân dân của bạn vẫn còn thời hạn sử dụng.

Công ty luật Thái An.

Đối tác pháp lý đang tin cậy

Sự Khác Nhau Giữa Thẻ Căn Cước Công Dân Và Cmnd

Sự khác nhau giữa Thẻ căn cước công dân và CMND

Căn cước công dân (CCCD) là giấy tờ tùy thân thể hiện thông tin cơ bản về lai lịch, nhận dạng, được sử dụng trong các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 3 Luật căn cước công dân 2014 quy định:

“1. Căn cước công dân là thông tin cơ bản về lai lịch, nhân dạng của công dân theo quy định của Luật này”.

Điều 1 Nghị định 05/1999/NĐ-CP về chứng minh nhân dân quy định:

“Chứng minh nhân dân quy định tại Nghị định này là một loại giấy tờ tùy thân của công dân do cơ quan Công an có thẩm quyền chứng nhận về những đặc điểm riêng và nội dung cơ bản của mỗi công dân trong độ tuổi do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm thuận tiện việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân trong đi lại và thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam”.

Theo Luật Căn cước công dân, từ ngày 1.1.2016, người từ đủ 14 tuổi trở lên sẽ được cấp thẻ CCCD 12 số. Đây là giấy tờ tùy thân thể hiện thông tin cơ bản về lai lịch, nhận dạng, được sử dụng trong các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam. Thẻ Căn cước công dân được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ CCCD thay cho việc sử dụng hộ chiếu trên lãnh thổ của nhau.

Về bản chất thì CMND và CCCD giống nhau, là loại giấy tờ pháp lý chứng minh nhân thân. Tuy nhiên có những điểm khác nhau là hạn sử dụng, hạn của CMND là 15 năm. Với thẻ CCCD, sau lần cấp mới, mọi người phải đi đổi vào các năm 25 tuổi, 40 tuổi và 60 tuổi. Sau 60 tuổi công dân không cần đổi.

– Mức phí cấp mới, đổi, cấp lại:

+ Thẻ căn cước công dân: Đổi: 50.000 đồng; cấp lại: 70.000 đồng.

Chứng minh nhân dân đã được cấp trước ngày Luật căn cước công dân có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định; khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ Căn cước công dân.

VNN

Một Số So Sánh Quyền Con Người Với Quyền Công Dân

TCCSĐT – Quyền con người và quyền công dân là những nội dung quan trọng của Hiến pháp. Việc chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân bảo đảm được tính khoa học về kỹ thuật lập hiến; tạo thuận lợi cho việc hiểu và thực thi quyền con người và quyền công dân trên thực tế là yêu cầu khách quan.

Điều 50 Hiến pháp năm 1992 xác định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Như vậy, lần đầu tiên Hiến pháp năm 1992 đã thừa nhận cả hai khái niệm quyền con người, quyền công dân, nhưng chưa có sự phân định rạch ròi: đâu là quyền và nghĩa vụ của con người nói chung và đâu là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nội hàm khái niệm quyền con người được thu nạp vào nội hàm của phạm trù quyền công dân.

Để khắc phục nhược điểm trên, Điều 15 (sửa đổi, bổ sung Điều 50) thuộc CHƯƠNG II: QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định: 1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Việc xác định: “Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ quyền con người và quyền công dân” là để bảo đảm tính khoa học về kỹ thuật lập hiến cho việc thực hiện cả hai quyền này. Tuy vậy, thuật ngữ “bảo đảm” được xác định trong điều này liền sau việc đã “thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ” là chưa bảo đảm được tính khoa học của luật pháp quốc tế, vì bản thân nội hàm của thuật ngữ “bảo đảm” đã gồm các hàm nghĩa: thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện (hai quyền này trên thực tế).

Về khái niệm quyền con người và quyền công dân

Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, còn có thuật ngữ “nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh “human rights”, mà nếu dịch trực tiếp sang tiếng Việt là quyền con người; còn nếu dịch qua Hán – Việt là nhân quyền. Xét về mặt ngôn ngữ học, theo Đại Từ điển tiếng Việt, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa (1).

Nhân quyền, ở góc độ khái quát nhất, theo Liên hợp quốc, có thể hiểu là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người (2). Tại Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Thuật ngữ “công dân”, theo Từ điển Merriam Webster’s Collegiate Dictionary, “công dân (citizen) là một thành viên của một nhà nước mà người đó có nghĩa vụ trung thành và được hưởng sự bảo vệ”. Cũng như thuật ngữ nhân quyền, có nhiều định nghĩa về quyền công dân (citizen’s right), tuy vậy, theo một nghĩa khái quát nhất, có thể hiểu quyền công dân là những lợi ích pháp lý được các nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho những người có quốc tịch của nước mình.

Sự khác biệt giữa quyền con người và quyền công dân

Một là, tư tưởng về quyền con người được hình thành cùng với sự xuất hiện của những nền văn minh cổ đại. Còn khái niệm quyền công dân chỉ xuất hiện cùng với cách mạng tư sản. Vì cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị thần dân trở thành công dân – với tư cách là những thành viên bình đẳng trong một nhà nước, và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân. Như vậy, khái niệm quyền công dân xuất hiện sau khái niệm quyền con người.

Hai là, xét tổng quát, quyền công dân có nội hàm hẹp hơn so với quyền con người, do quyền công dân chỉ là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho riêng công dân của mình. Chẳng hạn, trong một số trường hợp, hiến pháp của một số quốc gia có thể quy định những quyền vốn không được nêu trong luật nhân quyền quốc tế, như quyền sở hữu và sử dụng súng. Tuy nhiên, đây chỉ là một số trường hợp ngoại lệ. Xét tổng quát, các quyền hiến định trong hiến pháp của các quốc gia đều đã được ghi nhận hoặc hàm chứa trong các quyền đã được ghi nhận bởi luật nhân quyền quốc tế.

Ở nhiều góc độ khác nhau – xem so sánh, có thể chứng minh quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền công dân. Ví dụ, về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân, mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại. Về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch, nên chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của gia đình nhân loại, bất kể vị thế, hoàn cảnh, quốc tịch,… Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền.

So sánh quyền con người, quyền công dân

Lịch sử:

Quyền con người: Tư tưởng xuất hiện trong các nền văn minh cổ đại; luật nhân quyền quốc tế chỉ có từ 1945

Quyền công dân: Từ cách mạng tư sản (khoảng thế kỷ 16)

Công cụ ghi nhận và bảo đảm:

Quyền con người: Luật quốc tế (toàn cầu và khu vực) và luật quốc gia

Quyền công dân: Luật quốc gia (trước hết là hiến pháp)

Nội hàm:

Quyền con người: Những tự do và bảo đảm mà mọi thành viên trong gia đình nhân loại được hưởng và được cộng đồng quốc tế bảo vệ

Quyền công dân:  Những tự do và bảo đảm mà một quốc gia dành cho các công dân của nước mình

Tính chất:

Quyền con người: Tự nhiên, vốn có, không do chủ thể nào ban phát. Thể hiện vị thế của mỗi cá nhân trong quan hệ với quốc gia mà cá nhân đó là công dân và với cộng đồng nhân loại

Quyền công dân: Do các nhà nước xác định bằng pháp luật. Thể hiện vị thế của mỗi cá nhân trong quan hệ với quốc gia mà cá nhân đó là công dân

Đặc điểm:

Quyền con người: Áp dụng toàn cầu; đồng nhất trong mọi hoàn cảnh; không thay đổi theo thời gian

Quyền công dân: Áp dụng trong lãnh thổ quốc gia; không hoàn toàn giống nhau giữa các quốc gia; có thể bị thay đổi theo thời gian

Chủ thể có quyền:

Quyền con người: Mọi thành viên của nhân loại, bất kể dân tộc, chủng tộc, thành phần xuất thân, tôn giáo, tư tưởng, giới tính, độ tuổi,…

Quyền công dân: Chỉ những người có quốc tịch của một quốc gia

Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm:

Quyền con người: Các nhà nước là chủ thể chính, ngoài ra các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, cộng đồng, cá nhân.. đều có trách nhiệm

Quyền công dân: Các nhà nước là chủ thể chính, ngoài ra các doanh nghiệp, cộng đồng, cá nhân… cũng có trách nhiệm

Cơ chế bảo vệ:

Quyền con người: Các diễn đàn, thủ tục điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm nhân quyền của Liên hợp quốc và một số tổ chức liên chính phủ khu vực

Quyền công dân: Toà án và một số cơ chế tài phán khác ở mỗi quốc gia. Trong một số trường hợp, các cơ chế quốc tế được áp dụng như là giải pháp tiếp nối

Nhóm quyền chủ yếu:

Quyền con người: Kinh tế, xã hội, văn hóa

Quyền công dân: Dân sự, chính trị Một cá nhân, ngoại trừ những người không quốc tịch, xét về danh nghĩa, luôn đồng thời là chủ thể của cả hai loại quyền (con người và công dân). Sự phân biệt trong việc thụ hưởng hai loại quyền này chỉ được thể hiện trong một số hoàn cảnh đặc biệt. Chẳng hạn, một người nước ngoài sẽ không được hưởng một số quyền công dân (và cũng là những quyền con người) đặc thù, như quyền bầu cử, ứng cử,…; nhưng người đó vẫn được hưởng các quyền con người phổ biến (mà đồng thời cũng là các quyền công dân) áp dụng cho mọi thành viên của nhân loại trong mọi hoàn cảnh, như quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân,…

Có thể nói, quyền công dân không phải là hình thức toàn diện của quyền con người. Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với nhà nước, được xác định thông qua một chế định pháp luật đặc biệt là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luật của một nước ghi nhận và bảo đảm, nhưng chủ yếu dành cho những người có quốc tịch của nước đó. Không phải ai cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhất định, và không phải hệ thống quyền công dân của mọi quốc gia đều giống hệt nhau, cũng như đều hoàn toàn tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người.

Ba là, đa số hiến pháp các nước đều quy định rạch ròi quyền công dân và quyền con người; và đều sử dụng cả hai thuật ngữ công dân và mọi người. Những quyền dành cho công dân thì chế định “công dân có quyền,…”; những quyền dành cho mọi người thì sử dụng thuật ngữ mọi người/hoặc không ai. Thí dụ: không ai bị bắt, giam giữ vô cớ, hoặc bị tra tấn, nhục hình.

Dù quy định theo cách nào thì quyền con người, quyền công dân cũng là một nội dung quan trọng, có tính xuyên suốt trong hiến pháp của các quốc gia. Một công trình nước ngoài, trên cơ sở khảo cứu 420 bản hiến pháp của các quốc gia trên thế giới, đã thống kê có đến gần 60 quyền con người được chế định trong hiến pháp các nước và luật nhân quyền quốc tế (3). Cụ thể: 1/ Quyền sống; 2/ Tự do biểu đạt; 3/ Tự do tôn giáo, tín ngưỡng; 4/ Tự do hội họp; 5/ Tự do lập hội; 6/ Tự do báo chí; 7/ Tự do tư tưởng, ý kiến, quan điểm; 8/ Cấm kiểm duyệt; 9/ Quyền được thành lập hoặc gia nhập công đoàn; 10/ Tự do đi lại; 11/ Quyền bảo vệ đời tư; 12/ Quyền sở hữu tài sản; 13/ Quyền được lựa chọn nghề nghiệp; 14/ Cấm chế độ nô lệ, nô dịch hoặc cưỡng bức lao động; 15/ Quyền có quốc tịch; 16/ Cấm hồi tố; 17/ Không bị trừng phạt khi luật chưa quy định là tội phạm; 18/ Quyền không bị tước tự do một cách tùy tiện; 19/ Quyền được suy đoán vô tội; 20/ Quyền được im lặng hoặc không phải tự chứng minh mình không phạm tội; 21/ Quyền được yêu cầu xem xét lại việc bắt giữ mình; 22/ Quyền được kháng cáo; 23/ Quyền được xét xử công khai; 24/ Quyền không bị xét xử hai lần vì cùng một hành vi phạm tội; 25/ Cấm tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; 26/ Quyền được tại ngoại chờ xét xử; 27/ Quyền được xét xử công bằng; 28/ Quyền được đền bù khi bị xét xử oan sai; 29/ Quyền được sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình trong tố tụng; 30/ Quyền được có thị trường tự do; 31/ Quyền được xét xử nhanh chóng; 32/ Các quyền của trẻ em; 33/ Các quyền của người không quốc tịch; 34/ Quyền được trả thù lao công bằng và thích đáng; 35/ Quyền được tự do kinh doanh; 36/ Quyền được đình công; 37/ Quyền được đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, lành mạnh; 38/ Các quyền về sở hữu trí tuệ; 39/ Quyền được chăm sóc y tế; 40/ Nghĩa vụ của nhà nước phải cung cấp dịch vụ y tế miễn phí; 41/ Quyền được kết hôn; 42/ Quyền được lập gia đình; 43/ Quyền được hưởng chuẩn mực sống thích đáng; 44/ Cấm sử dụng lao động trẻ em; 45/ Cấm trừng phạt thể chất; 46/ Cấm hình phạt tử hình; 47/ Các quyền đặc biệt của trẻ em trong tố tụng hình sự; 48/ Quyền được có nơi ở; 49/ Quyền tự quyết dân tộc; 50/ Quyền tiếp cận thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ; 51/ Quyền được hưởng những thành quả của khoa học; 52/ Quyền thừa kế; 53/ Quyền được bảo vệ danh dự; 54/ Quyền được chuyển nhượng tài sản; 55/ Quyền được xin thôi quốc tịch; 56/ Quyền được di chúc để lại tài sản; 57/ Quyền thay thế nghĩa vụ quân sự vì lý do lương tâm; 58/ Quyền của người tiêu dùng; 59/ Một số quyền của lao động chưa thành niên.

Tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân

Một là, theo nghĩa rộng, cả thuật ngữ “quyền con người” và “quyền công dân” đều là những phạm trù triết học dùng để biểu thị mối quan hệ của cá nhân con người với cộng đồng nhân loại (quyền con người) và với quốc gia nơi mà người đó có quốc tịch (quyền công dân)

Quyền con người và quyền công dân đều xoay quanh một chủ thể chung (của quyền), đó là con người, và một chủ thể chung khác (có nghĩa vụ) là các cộng đồng nhân loại mà thể chế chính trị – pháp lý trung tâm của nó là nhà nước. Thêm vào đó, quyền con người và quyền công dân, về bản chất, đều là những gì mà một cá nhân con người được phép làm và được thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ bởi các chủ thể khác. Chính vì thế mà quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi, và trong nhiều bối cảnh hầu như không có sự phân biệt với nhau.

Hai là, các quyền con người, quyền công dân, được pháp điển hóa vào hiến pháp các nước trên thế giới theo những cách thức nhất định

Tuy là hai phạm trù khác nhau, nhưng quyền con người và quyền công dân hầu như không mâu thuẫn mà ngược lại, có sự thống nhất, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Nhìn chung, các quyền con người, quyền công dân, được pháp điển hóa vào hiến pháp các nước trên thế giới theo ba cách cơ bản sau:

Cách thứ nhất: Đề cập trực tiếp thành các điều khoản trong một chương riêng (có tên là “quyền con người”, “quyền con người, quyền công dân” hoặc ‘quyền công dân”…) hoặc rải rác trong một số chương của hiến pháp. Đây là cách hiến định nhân quyền phổ biến nhất hiện nay, được đa số quốc gia, trong đó có Việt Nam, áp dụng.

Cách thứ hai: Các quyền con người, quyền công dân được quy định trong một văn bản riêng và được thừa nhận như là một cấu phần của Hiến pháp. Ví dụ, Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1689 và Bộ luật về quyền năm 2008 được coi là hai văn bản nguồn của Hiến pháp nước Anh. Một ví dụ tiêu biểu khác là nước Pháp. Lời mở đầu của Hiến pháp năm 1958 (hiện hành) của nước này quy định: “Nhân dân Pháp trung thành với bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789”. Điều đó có nghĩa là bản Tuyên ngôn (được ban hành trước Hiến pháp hơn 150 năm) nhưng sau đó đã được thừa nhận như là một nội dung của Hiến pháp.

Cách thứ ba: Không quy định trực tiếp trong nội dung mà cũng không thành một văn bản riêng, mà được xác định như là những điều bổ sung của Hiến pháp. Đây là trường hợp của Hoa Kỳ. Hiến pháp Hoa Kỳ ban đầu không có quy định trực tiếp nào về nhân quyền, nhưng sau đó được bổ sung 10 tu chính án quy định về các quyền cơ bản mà sau này được gọi là Bộ luật về các quyền của Mỹ.

Ba là, không chỉ quyền công dân mà cả quyền con người cũng chịu sự quy định của sự giới hạn quyền

Giới hạn của quyền nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa các quyền của cá nhân và các quyền của tập thể (cộng đồng, quốc gia, dân tộc), cũng như việc thụ hưởng quyền giữa các cá nhân với nhau. Luật nhân quyền quốc tế quy định giới hạn áp dụng của một số quyền (limitation of rights) trong một số điều ước quốc tế về quyền con người. Bản chất của các quy định này là cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện với việc thực hiện/hưởng thụ một số quyền con người nhất định nhằm các mục đích như thúc đẩy phúc lợi chung của cộng đồng, bảo vệ an ninh quốc gia (national security), để bảo đảm an toàn cho cộng đồng (public safety), để bảo vệ sức khỏe hay đạo đức của cộng đồng (public health or moral), và để bảo vệ các quyền, tự do hợp pháp của người khác (rights and freedoms of others). Chẳng hạn Điều 4 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966)) quy định rằng, trong những bối cảnh khẩn cấp đe dọa sự sống còn của đất nước (state of emergency), các quốc gia có thể áp dụng những biện pháp hạn chế việc thực hiện các quyền nêu trong Công ước này (derogation of rights). Về bản chất, những quy định này là sự tạm đình chỉ thực hiện một số quyền dân sự, chính trị trong một thời gian nhất định do bối cảnh khẩn cấp của quốc gia, thông qua một số biện pháp cụ thể như: thiết quân luật (trên cả nước, ở một khu vực hay một địa phương); cấm biểu tình, hội họp đông người; cấm hoặc hạn chế hoạt động của một số cơ quan thông tin đại chúng như truyền hình, phát thanh, báo..; cấm đi lại ra, vào một khu vực hoặc xuất, nhập cảnh (với một số cá nhân hay nhóm),…

Với tính chất là một văn kiện pháp luật quốc gia, hiến pháp của nhiều nước cũng quy định về giới hạn của các quyền con người, quyền công dân nhằm những mục đích nêu trên. Quy định về vấn đề này ít nhiều khác nhau trong hiến pháp các nước, nhưng giới hạn thường được áp dụng với các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do đi lại,… Cũng tương tự như luật nhân quyền quốc tế, hiến pháp một số nước có quy định về những giới hạn áp dụng chung cho mọi quyền, đồng thời có quy định về giới hạn áp dụng riêng cho một số quyền cụ thể.

Ở cấp độ quốc gia, theo nghiên cứu của Dự án Hiến pháp so sánh (Comparative Constitutions Project – CCP) (4), ở thời điểm năm 2000, xét chung ở các khu vực, có hơn 80% số hiến pháp quy định về việc tuyên bố tình trạng khẩn cấp, gấp đôi so với cuối thế kỷ XIX. Tại một số khu vực, có đến gần 100% số hiến pháp quy định về vấn đề này. Tình trạng khẩn cấp thường được tuyên bố khi xảy ra thảm họa thiên tai, bạo động hoặc tuyên bố chiến tranh. Nhiều quốc gia quy định rõ về tình trạng khẩn cấp trong hiến pháp hoặc luật nhằm tránh sự lạm dụng. Một số quốc gia tuyên bố tình trạng khẩn cấp gần đây là: Philíppin (tháng 2-2006) sau khi có cuộc đảo chính chống lại chính quyền, Hy Lạp (tháng 8-2007) khi bị cháy rừng, Pakixtan (tháng 11-2007), Thái Lan (tháng 9-2008) đối phó với bất ổn do biểu tình…

Trong bối cảnh tình trạng khẩn cấp, hiến pháp của các quốc gia cũng quy định về tạm đình chỉ thực hiện một số quyền dân sự, chính trị đồng thời xác định rõ một số quyền sẽ không bị đình chỉ thực hiện kể cả trong bối cảnh này như được đề cập trong luật nhân quyền quốc tế (5).

Kết luận

Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù khác nhau, song có mối liên hệ rất chặt chẽ, tác động, bổ sung lẫn nhau. Khái niệm và viễn cảnh về quyền con người có thể được nhìn nhận qua lăng kính của quyền công dân và ngược lại. Thực tế cho thấy sự gắn bó giữa quyền con người và quyền công dân ngày càng trở lên mật thiết, đến nỗi trong một số trường hợp rất khó phân biệt và trong một số bối cảnh không cần thiết phải phân biệt giữa chúng (ví dụ các quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm,…). Sự tương đồng kể trên khiến cho những nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trở lên khăng khít, không thể tách rời, kể cả khi những nỗ lực này gắn liền với những chủ thể tương đối khác nhau.

(1) Viện Ngôn ngữ học, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa – Thông tin, H, 1999, tr.1239. (2) United Nations, Human Rights: Questions and Answers (Quyền con người: hỏi và đáp), New York and Geneva, 2006, tr.4. (3) Xem: Constitutional Convergence in Human Rights? The Reciprocal Relationship between Human Rights Treaties and National Constitutions, tài liệu đã dẫn, tr.19-21. (4) CCP khảo sát 550/800 bản Hiến pháp thành văn đã được ban hành trên thế giới từ năm 1789, trong đó hơn 90% được thông qua sau Chiến tranh Thế giới II. Số liệu khảo sát ở mục này cập nhật đến ngày 22/5/2008. Xem dữ liệu của CCP tại http://www.constitutionmaking.org/reports.html (5) Xem Comparative Constitutional Rights Chart của Arthur W. Diamond Law Library, Columbia Law School, tại http://www.hrcr.org/chart/limitations+duties/limits_general.html

So Sánh (Phân Biệt) Quyền Con Người Và Quyền Công Dân

188881

lần đầu tiên được trang trọng ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm hại được ,trong những quyền đó có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và công dân quyền nổi tiếng của nước Pháp năm 1971 cũng khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn phải được tự do và bình đẳng về quyền lợi.” Quyền con người được luật pháp quốc tế bảo vệ .

Ngày 19/12/1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua và công bố tuyên ngôn thế giới về quyền con người.

Ngày 19/12/1966, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua hai công ước quốc tế về quyền con người.

Quyền công dân cũng được mọi công dân của mỗi nước quan tâm và được nhà nước bảo vệ, mà cụ thể ở Việt Nam là quyền và nghĩa vụ của công dân được thể hiện trong bốn bản Hiến pháp và ngày càng rõ nét.

So sánh quyền con người và quyền công dân

Ở bài viết này, mình sẽ đi sâu vào So sánh quyền con người và quyền công dân để làm rõ được điểm giống và khác nhau giữa 2 quyền cơ bản này.

Điểm giống nhau giữa quyền con người và quyền công dân

Quyền con người và quyền công dân là những quyền cơ bản, quan trọng được quy định trong Hiến pháp.

Quyền công dân và quyền con người là hai phạm trù rất gần gũi với nhau nhưng không đồng nhất. Nhân quyền và dân quyền đều là những quyền lợi mà mọi công dân đều được hưởng và được bảo vệ (trừ những người không có quốc tịch). Trong đó quyền công dân có nghĩa hẹp hơn so với quyền con người, về bản chất quyền công dân là những quyền con người được nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân nước mình. Một số quyền công dân cũng là quyền con người như: quyền được có nhà ở, quyền tự do kinh doanh buôn bán, tự do ngôn luận, quyền được học tập, quyền được tham gia quản lí nhà nước và xã hôi, quyền được bảo vệ về sức khỏe…

Ở Việt Nam quyền con người và quyền công dân ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và lịch sử lập hiến nước nhà. Nó được thể hiển 1 cách nhất quán trong cả 4 bản hiến pháp, ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam. Đất nước ngày càng phát triển, nhân quyền và dân quyền cũng ngày 1 được mở rộng thể hiện sự tôn trọng của nhà nước với quyền lợi của nhân dân,nâng cao niềm tin của nhân dân với đất nước. Sự quản lí của nhà nước không nhằm hạn chế các quyền và tự do của con người mà mong muốn phát triển hoàn thiện hơn các quyền con người mà nhân dân Việt Nam đáng được hưởng đã ghi nhận trong các công ước quốc tế. Một cá nhân (trừ những người không quốc tịch) về danh nghĩa đều là chủ thể của cả hai loại nhân quyền và dân quyền nếu họ sinh sống trong quốc gia mà họ đăng kí quốc tịch. Nếu đang sinh sống tại nước ngoài thì họ sẽ chỉ được hưởng những quyền con người cơ bản như “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” ngoài ra một số quyền lợi đặc thù như bầu cử, ứng cử thì họ sẽ không được thừa nhận và bảo vệ.

(Điểm khác nhau giữa quyền con người và quyền công dân)

Phân biệt quyền con người và quyền công dân

Quyền con người (Nhân quyền) là những quyền tự nhiêncủa con người có từ lúc đã thành hình bào thai tới lúc đã chết đi và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai hay bất cứ chủ thể nào.

Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người.

là quyền của một người được công nhận theo các điều kiện Pháp lý để trở thành thành viên Quyền công dân (Dân quyền) hợp pháp của một Quốc gia có chủ quyền (Quốc tịch). Một người có thể là công dân của nhiều Quốc gia hoặc không là công dân của bất cứ Quốc gia nào.

Mỗi một Quốc gia đều có các quy định pháp lý riêng để cho một người trở thành công dân Quốc gia đó, và được hưởng các quyền riêng biệt, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ của mình.

Tư tưởng xuất hiện trong các nền văn minh cổ đại; luật nhân quyền quốc tế chỉ có từ 1945

Từ cách mạng tư sản (khoảng thế kỷ 16)

Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng Quốc Mỹ 1779

Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân quyền của cách mạng Tư sản Pháp 1789

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948.

Công ước về chính sách việc làm 1964

Công ước Quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1965

Công ước về quyền của những người khuyết tật về tâm thần 1971

Công ước Quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại Phụ nữ 1979

Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm 1984

Hiến pháp hoặc Luật cơ bản của Quốc gia

Các văn bản pháp lý Quốc tế khác

Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân Quyền của Cách mạng Tư sản Pháp 1789.

Hiến pháp hoặc Luật cơ bản của Quốc gia.

Tất cả những ai là con người, từ lúc bào thai đã thành hình, được sinh ra cho tới lúc đã chết đi.

Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể.

Còn chủ thể của quyền công dân có thể là “các cá nhân đặt trong mối quan hệ với nhà nước, dựa trên tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi cá nhân được nhà nước đó quy định tạo nên địa vị pháp lý của công dân”, do vậy quyền công dân chỉ mang tính chất quốc gia.

Đối với những chủ thể không phải là công dân nước sở tại hoặc không mang quốc tịch của một nhà nước nào thì họ vẫn có được những quyền hạn chế của công dân hoặc phải thực thi những nghĩa vụ cũng hạn chế của công dân đối với xã hội, nhà nước nơi họ sinh sống, cư trú.

Là những quyền cơ bản tự nhiên mà có không ai hay bất cứ chủ thể nào có thể tước bỏ hay ban phát, kể cả khi người đó là người không quốc tịch, người bị hạn chế các quyền công dân. Tuy nhiên khi có sự xung đột giữa quyền công dân và quyền con người, Pháp luật của một số Quốc gia cho phép được tước đoạt một số quyền con người cơ bản như quyền được sống, quyền mưu cầu hành phúc…

Bao gồm cả Nhân quyền được Quốc gia thừa nhận. Tuy nhiên có những quyền đặc trưng riêng biệt khác mà phải là công dân thì mới được hưởng tại Quốc gia đó. Người được hưởng quyền này phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng theo quy định Pháp lý trước đó.

Quyền con người mang tính độc lập,tính phổ biến, phổ quát và có những giá trị chung đối với toàn thể nhân loại: Điều 14 Hiến pháp 2013 nước ta ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”

Quyền công dân mang tính quốc gia: Để trở thành công dân của một nước, các cá nhân bao giờ cũng phải có quốc tịch của nước đó. Tư cách công dân mang đến cho cá nhân một địa vị pháp lý đặc biệt trong quan hệ với nước mà họ mang quốc tịch. Dựa trên những điều kiện cụ thể của mình mà nhà nước quy định cho công dân những quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định.

Căn cứ phát sinh về quyền con người: có hai trường phái cơ bản đưa ra quan điểm trái ngược nhau:

+ Thứ nhất, những người theo học thuyết về quyền tự nhiên thì cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh vốn có mà mọi cá nhân khi sinh ra đều được hưởng.

+ Thứ hai, theo học thuyết về pháp lí, trong đó quyền con người không phải là bẩm sinh vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xây dựng và pháp điển hóa thành các quy định pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa.

Qua đây có thể thấy được, theo thuyết tự nhiên quyền con người có tính thống nhất trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm thì quyền con người theo thuyết pháp lý lại mang tính chất khác biệt tương đối về mặt văn hóa chính trị. Mặc dù vậy nhưng không thể phủ nhận bất cứ học thuyết nào, bởi lẽ trong khi về hình thức hầu hết các văn kiện pháp luật đều thể hiện quyền con người dưới hình thức pháp lí thì trong tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con năm1948 và một người văn kiện pháp luật ở một số quốc gia quyền con người được khẳng định một cách rõ ràng là quyền tự nhiên vốn có không thể chuyển nhượng.

Khác với quyền con người, căn cứ phát sinh của quyền công dân là dựa trên cơ sở quốc tịch.Tuy nhiên cách xác định quốc tịch của mỗi quốc gia có sự khác nhau. Có quốc gia xác định quốc tịch theo huyết thống có quốc gia lại xác định theo nới sinh.Như vậy để trở thành công dân của một nước cần phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện do pháp luật nước đó quy định.. Quyền công dân xuất phát từ quyền con người – giá trị trị được thừa nhận chung của nhân loại nhưng được nâng lên thành quyền của công dân và được quy định trong hiến pháp của quốc gia được thừa nhận chung của nhân loại nhưng được nâng lên thành quyền của công dân và được quy định trong hiến pháp của quốc gia.

Luật Quốc tế về Quyền con người có một hệ thống cơ chế đảm bảo việc tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người khá rộng. Từ cơ chế có tính toàn cầu, khu vực tới Quốc gia bằng các hình thức thực hiện là báo cáo của các Quốc gia thành viên, thiết lập các tổ chức giám sát về Nhân quyền của Liên hợp Quốc lẫn các tổ chức khu vực.

Khác so với nhân quyền, cơ chế đảm bảo dân quyền hẹp hơn. Quyền công dân bó hẹp trong mối quan hệ của một Nhà nước với cá nhân, được ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất. Mọi cá nhân của một nước mang quốc tịch của nước đó đồng thời là chủ thể của quyền con người và quyền công dân.

Việc thực hiện quyền công dân hay có thể nói là quy định về quyền công dân tại các quốc gia khác nhau thì khác nhau bởi nó phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội.

Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù khác nhau, song có mối liên hệ rất chặt chẽ, tác động, bổ sung lẫn nhau. Khái niệm và viễn cảnh về quyền con người có thể được nhìn nhận qua lăng kính của quyền công dân và ngược lại. Thực tế cho thấy sự gắn bó giữa quyền con người và quyền công dân ngày càng trở lên mật thiết, đến nỗi trong một số trường hợp rất khó phân biệt và trong một số bối cảnh không cần thiết phải phân biệt giữa chúng ( ví dụ các quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm,…). Sự tương đồng kể trên khiến cho những nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trở lên khăng khít, không thể tách rời, kể cả khi những nỗ lực này gắn liền với những chủ thể tương đối khác nhau.

Quyền con người trong thế giới hiện đại (nghiên cứu và thông tin) Phạm Khiêm Ích- Hoàng Văn Hảo

Quyền lực nhà nước và quyền công dân. Ts.Đinh Văn Mậu (Chủ biên). Nhà xuất bản Tư pháp.

Hỏi đáp về quyền con người. Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội

Giáo Trình Lý Luận Và Pháp Luật Về Quyền Con Người. Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội.

Hiến pháp 2013

Tìm cơ chế bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân trong sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. http://moj.gov.vn/hienphap1992/News/Lists/tintuchoatdong/View_Detail.aspx?ItemID=5272

Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992: Tính hiện thực và cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=253348

Bạn đang xem bài viết So Sánh Giá Trị Sử Dụng Của Thẻ Căn Cước Công Dân Với Chứng Minh Nhân Dân trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!