Xem Nhiều 2/2023 #️ Sự Giống Nhau Giữa Quang Phổ Vạch Phát Xạ Và Quang Phổ Vạch Hấp Thụ # Top 8 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Sự Giống Nhau Giữa Quang Phổ Vạch Phát Xạ Và Quang Phổ Vạch Hấp Thụ # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Giống Nhau Giữa Quang Phổ Vạch Phát Xạ Và Quang Phổ Vạch Hấp Thụ mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chủ đề :

Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

CÂU HỎI KHÁC

Trong một thí nghiệm giao thoa ánh sáng, người ta đo được khoảng cách từ vân sáng thứ 2 ở bên phải đến vân sáng th�

Tụ điện trong mạch có điện dung 25μF. Độ tự cảm L của cuộn cảm là

Công thức xác định vị trí của vân sáng bậc k là

Khi nói về quang phổ vạch phát xạ, phát biểu nào sau đây là sai?

Sự biến thiên của dòng điện i trong mạch dao động lệch pha như thế nào so với sự biến thiên của điện tích q của m

Trong sơ đồ của máy phát sóng vô tuyến điện, không có mạch:

ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ = 0,5μm. Khoảng cách giữa hai khe a = 2mm.

các khe được chiếu sáng bằng ánh sáng trắng có bước sóng từ 0,4μm đến 0,75μm. Khoảng cách giữa hai khe là 0,5 mm

Các bức xạ có bước sóng trong khoảng từ 0,38µm đến 0,76µm là:

nguồn sáng đơn sắc có bước sóng 0,5µm, hai khe cách nhau 0,5mm, khoảng cách từ hai khe đến màn là 2m.

Một mạch dao động điện từ LC lí tưởng đang thực hiện dao động điện từ tự do.

Kết luận nào sau đây là đúng khi nói về sóng điện từ?

Tại vị trí M cách vân trung tâm 4,5mm, ta thu được vân tối thứ 3. Bước sóng ánh dùng trong thí nghiệm

Tìm phát biểu sai về đặc điểm quang phổ vạch của các nguyên tố hóa học khác nhau.

Sự giống nhau giữa quang phổ vạch phát xạ và quang phổ vạch hấp thụ

đo được khoảng cách từ vân sáng bậc 4 đến vân sáng bậc 10 (ở cùng bên vân trung tâm) là 2,4 mm

mạch dao động gồm 1 tụ điện có điện dung 200 pF và một cuộn cảm có độ tự cảm 0,02 H.

Tia nào sau đây có bản chất khác với các tia còn lại:

Mạch dao động của máy thu gồm tụ điện có điện dung thay đổi từ 20pF đến 500pF và cuộn dây thuần cảm có L = 6H.

cứ sau những khoảng thời gian bằng 0,25.10-4 s thì năng lượng điện trường lại bằng năng lượng từ trường

Đặc điểm hay tính chất nào sau đây là của tia hồng ngoại?

Nếu thay ánh sáng này bằng ánh sáng có bước sóng λ’ thì thấy khoảng vân giảm 1,5 lần . Giá trị đúng của λ’

Trong một thí nghiệm về giao thoa ánh sáng với ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ1 = 0,4μm thì khoảng vân đo được là i1

Chiếu một chùm sáng đơn sắc hẹp tới mặt bên của một lăng kính đặt trong không khí.

ở cùng một phía với vân trung tâm, cách vân trung tâm lần lượt là 0,6cm và 1,55cm có bao nhiêu vân sáng.

Hiệu điện thế trên hai bản của tụ điện trong mạch dao động tự do LC biến thiên điều hoà với tần số:

Sử dụng ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ, khoảng vân đo được là 0,2mm

Trong thí nghiệm I-âng về giao thoa ánh sáng, hai khe I-âng cách nhau 2mm, hình ảnh giao thoa được hứng trên màn ảnh cách hai

Trong thí nghiệm Y-âng về giao thoa với ánh sáng đơn sắc, khoảng cách giữa hai khe là S1S2 = 1 mm, khoảng cách từ hai khe đ�

Cho mạch dao động LC, cường độ dòng điện tức thời i = 0,25cos1000t(A). Tụ điện trong mạch có điện dung 25μF.

Một mạch dao động gồm 1 tụ điện có điện dung 200 pF và một cuộn cảm có độ tự cảm 0,02 H.

Trong sơ đồ của một máy phát sóng vô tuyến điện, không có mạch:

Trong thí nghiệm Young với nguồn sáng đơn sắc có bước sóng 0,5µm, hai khe cách nhau 0,5mm, khoảng cách từ hai khe đến màn

Nếu thay ánh sáng này bằng ánh sáng có bước sóng λ’ thì thấy khoảng vân giao thoa giảm 1,5 lần . Giá trị đúng của λ’ là

Trong mạch dao động LC có điện trở thuần không đáng kể, cứ sau những khoảng thời gian bằng 0,25.

Trong thí nghiệm giao thoa ánh sáng bằng khe Young, dùng ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ = 0,5μm.

Trong khoảng giữa hai điểm M, N trên màn và ở cùng một phía với vân trung tâm, cách vân trung tâm lần lượt là 0,6cm và 1,55cm

Sự giống nhau giữa quang phổ vạch phát xạ và quang phổ vạch hấp thụ là

Sự Giống Nhau Giữa Quang Phổ Vạch Phát Xạ Và Quang Phổ Vạch Hấp Thụ Là

Chủ đề :

Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

CÂU HỎI KHÁC

Trong một thí nghiệm giao thoa ánh sáng, người ta đo được khoảng cách từ vân sáng thứ 2 ở bên phải đến vân sáng th�

Tụ điện trong mạch có điện dung 25μF. Độ tự cảm L của cuộn cảm là

Công thức xác định vị trí của vân sáng bậc k là

Khi nói về quang phổ vạch phát xạ, phát biểu nào sau đây là sai?

Sự biến thiên của dòng điện i trong mạch dao động lệch pha như thế nào so với sự biến thiên của điện tích q của m

Trong sơ đồ của máy phát sóng vô tuyến điện, không có mạch:

ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ = 0,5μm. Khoảng cách giữa hai khe a = 2mm.

các khe được chiếu sáng bằng ánh sáng trắng có bước sóng từ 0,4μm đến 0,75μm. Khoảng cách giữa hai khe là 0,5 mm

Các bức xạ có bước sóng trong khoảng từ 0,38µm đến 0,76µm là:

nguồn sáng đơn sắc có bước sóng 0,5µm, hai khe cách nhau 0,5mm, khoảng cách từ hai khe đến màn là 2m.

Một mạch dao động điện từ LC lí tưởng đang thực hiện dao động điện từ tự do.

Kết luận nào sau đây là đúng khi nói về sóng điện từ?

Tại vị trí M cách vân trung tâm 4,5mm, ta thu được vân tối thứ 3. Bước sóng ánh dùng trong thí nghiệm

Tìm phát biểu sai về đặc điểm quang phổ vạch của các nguyên tố hóa học khác nhau.

Sự giống nhau giữa quang phổ vạch phát xạ và quang phổ vạch hấp thụ

đo được khoảng cách từ vân sáng bậc 4 đến vân sáng bậc 10 (ở cùng bên vân trung tâm) là 2,4 mm

mạch dao động gồm 1 tụ điện có điện dung 200 pF và một cuộn cảm có độ tự cảm 0,02 H.

Tia nào sau đây có bản chất khác với các tia còn lại:

Mạch dao động của máy thu gồm tụ điện có điện dung thay đổi từ 20pF đến 500pF và cuộn dây thuần cảm có L = 6H.

cứ sau những khoảng thời gian bằng 0,25.10-4 s thì năng lượng điện trường lại bằng năng lượng từ trường

Đặc điểm hay tính chất nào sau đây là của tia hồng ngoại?

Nếu thay ánh sáng này bằng ánh sáng có bước sóng λ’ thì thấy khoảng vân giảm 1,5 lần . Giá trị đúng của λ’

Trong một thí nghiệm về giao thoa ánh sáng với ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ1 = 0,4μm thì khoảng vân đo được là i1

Chiếu một chùm sáng đơn sắc hẹp tới mặt bên của một lăng kính đặt trong không khí.

ở cùng một phía với vân trung tâm, cách vân trung tâm lần lượt là 0,6cm và 1,55cm có bao nhiêu vân sáng.

Hiệu điện thế trên hai bản của tụ điện trong mạch dao động tự do LC biến thiên điều hoà với tần số:

Sử dụng ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ, khoảng vân đo được là 0,2mm

Trong thí nghiệm I-âng về giao thoa ánh sáng, hai khe I-âng cách nhau 2mm, hình ảnh giao thoa được hứng trên màn ảnh cách hai

Trong thí nghiệm Y-âng về giao thoa với ánh sáng đơn sắc, khoảng cách giữa hai khe là S1S2 = 1 mm, khoảng cách từ hai khe đ�

Cho mạch dao động LC, cường độ dòng điện tức thời i = 0,25cos1000t(A). Tụ điện trong mạch có điện dung 25μF.

Một mạch dao động gồm 1 tụ điện có điện dung 200 pF và một cuộn cảm có độ tự cảm 0,02 H.

Trong sơ đồ của một máy phát sóng vô tuyến điện, không có mạch:

Trong thí nghiệm Young với nguồn sáng đơn sắc có bước sóng 0,5µm, hai khe cách nhau 0,5mm, khoảng cách từ hai khe đến màn

Nếu thay ánh sáng này bằng ánh sáng có bước sóng λ’ thì thấy khoảng vân giao thoa giảm 1,5 lần . Giá trị đúng của λ’ là

Trong mạch dao động LC có điện trở thuần không đáng kể, cứ sau những khoảng thời gian bằng 0,25.

Trong thí nghiệm giao thoa ánh sáng bằng khe Young, dùng ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ = 0,5μm.

Trong khoảng giữa hai điểm M, N trên màn và ở cùng một phía với vân trung tâm, cách vân trung tâm lần lượt là 0,6cm và 1,55cm

Sự giống nhau giữa quang phổ vạch phát xạ và quang phổ vạch hấp thụ là

Thiết Bị Đo Quang Phổ Hấp Thụ Phân Tử (Uv

Các loại đèn H 2 và D 2 cho ánh sáng với bước sóng từ 160-380 nm (hình 2-7)

Đèn sợi đốt vonfram cho ánh sáng từ miền 350-2200 nm (hình 2-8)

Các thiết bị UV-VIS hiện đại thường sử dụng cả hai đèn D 2 và đèn sợi đốt vonfram cho miền ánh ổn định từ miền tử ngoại và miền trông thấy.

Các thiết bị phân tích quang học thường cần đến bộ tán sắc giúp việc phân chia ánh sáng thành ánh sáng đơn sắc, nó được sử dụng để chất phân tích hấp thụ hay phát xạ. Do vậy, bộ tán sắc nâng cao cả độ nhạy và độ chọn lọc. Ngoài ra, tính đơn sắc của ánh sáng tới làm tăng tính đúng đắn của phương trình toán học của định luật Lambert-Beer.

Đầu tiên, cần hiểu rằng không có có bộ tán sắc nào là có khả năng tạo ra bức xạ có bước sóng đơn sắc. Mặc dù, đầu ra của thiết bị là một miền ánh sáng liên tục được gọi là đám; Các bước sóng này phân bố ít nhiều đối xứng qua trung tâm của bước sóng danh nghĩa λ 1 (nominal wavelength).

Cách tử: Hầu hết bộ tán sắc trong các thiết bị phân tích hiện đại là các bản sao cách tử, nhận được bằng cách đúc từ cách tử chủ. Cách tử chủ là một kính phẳng, được đánh bóng bề mặt và được chia vạch bằng kim cương. Mặt cắt đứng được phóng đại ở hình 2-9 chỉ cho ta thấy một vài rãnh. Một cách tử sử dụng cho miền tử ngoại và trông thấy thường chứa từ 300-2000 rãnh/mm.

Cách tử được phủ lớp nhôm để nó có thể phản xạ. Một lớp mỏng SiO 2 trên bề mặt nhôm để bảo vệ kim loại khỏi bị oxy hóa, điều này có thể làm giảm khả năng phản xạ của nó. Khi ánh sáng được phản xạ từ cách tử, mỗi một rãnh hoạt động như một nguồn bức xạ. Khi các tia sáng liền kề nhau trong cùng pha, chúng tăng cường lẫn nhau, và khi chúng không cùng một pha, chúng môt phần hoặc toàn bộ triệt tiêu nhau (hình 2-10).

nλ = a-b (2-13)

Tro ng đó n = ±1, ±2, ±3, … Khi n = ±1 gọi là nhiễu xạ bậc nhất (first-order diffraction), khi n = ±2 gọi là nhiễu xạ bậc 2 (second-order diffraction)

nλ = a-b = d(sinθ +sinΦ) (2-13)

Ở đây, d là khoảng cách giữa hai vạch liền kề. Ứng với mỗi một góc tới θ, có hàng loạt góc phản xạ, trong đó Φ là góc ở bước sóng xác định sẽ tạo ra cực đại sáng.

Độ phân giải: đo khả năng tách hai pic ở gần nhau. Độ phân giải càng cao thì sự khác nhau giữa hai bước sóng ∆λ có thể phân biệt được càng nhỏ. Độ phân giải của cách tử:

(2-14)

ở đây,λ là bước sóng, n là bậc nhiễu xạ, N là số vạch trên cách tử nhiễu xạ được chiếu sáng.

Phương trình (2-14) chỉ ra rằng, nếu chúng ta thiết kế với độ phân giải là 10 4 với bậc nhiễu xạ bậc nhất, nhất thiết phải có 10 4 vạch ở trên cách tử. Nếu cách tử có độ dài 10cm, cách tử phải có số vạch 10 3 vạch/cm.

4. Cuvet đựng mẫu

5. Detector

Các tính chất của bộ chuyển đổi tín hiệu bức xạ điện từ:

Phản hồi nhanh chóng với các với các bức xạ mang năng lượng thấp trên một miền bước sóng rộng.

Tạo ra tín hiệu điện để có thể dễ dàng khuếch đại và có độ nhiễu thấp.

Tín hiệu được tạo ra bởi đầu dò tỉ lệ thuận với cường độ của tín hiệu của đầu vào Detector làm việc trong miền UV-VIS thường dùng là ống quang (phototubes) làm việc trong miền từ 150-1000 nm (hình 2-13).

Số electron được đẩy ra từ bề mặt của quang điện tỉ lệ thuận với bức xạ tia tới tấn công bề mặt này. Với điện áp khoảng 90V, các electron này có thể tới được anot và cho một dòng tỉ lệ thuận với cường độ tia tới.

Một số ứng dụng phương pháp đo quang (đo UV-VIS)

Việc ứng dụng phương pháp quang phổ đo quang không chỉ ở phân tích định lượng mà nó còn được ứng dụng để nghiên cứu trạng thái cân bằng trong dung dịch như xác định hằng số phân ly của các axit hữu cơ, hằng số cân bằng của phản ứng tạo phức và thành phần phức chất.

1. Phân tích các chất trong hỗn hợp

Câu hỏi: Độ hấp thụ A của 1 dd X và Y nguyên chất và hỗn hợp (X+Y) với cuvet có bề dày b= 1,00cm tại 1 bước sóng λ= 420nm và 505nm có các giá trị là :

Giải:

Biểu thức toán học của định luật Lambert- Beer ta có

A=ε×b×C

Trong đó: A là độ hấp thụ là một đại lượng không thứ nguyên

b là bề dày của cuvet đựng mẫu, cm C là nồng độ chất nghiên cứu, M ε là độ hấp thụ mol, M-1cm-1

(với 1 cuvet cố định b =1,00 cm = const)

A=ε×1(cm)×C

Từ bảng số liệu thực nghiệm ta có:

Ta có thể thiết lập hệ phương trình dựa trên số liệu độ hấp thụ đo được ở bước sóng 420 và 505nm.

Thay số liệu thực ngiệm vào ta có:

Hệ phương trình tương đương với:

2. Xác định thành phần phức chất trong dung dịch bằng phương pháp dãy đồng phântử gam (phương pháp biến thiên liên tục_Continuous Variation)

Để xác định hệ số hóa học trong phản ứng tạo phức chất người ta hay dùng phương pháp dãy đồng phân tử gam. Phương pháp này chỉ đúng cho trường hợp hệ thống tạo thành một phức, không có phản ứng phụ như thủy phân, trùng hợp hay phân ly.

Giả sử P tác dụng với thuốc thử X để cho phức PX n theo phản ứng:

P + nX ⇋ PX n (2-16)

Với hằng số cân bằng:

(2-17)

Từ phương trình (2-17) cho thấy khi tăng nồng độ thuốc thử X thì lượng phức tạo thành sẽ tăng lên. Nếu pha một dãy dung dịch trong đó lượng tương đối của P và X khác nhau, nhưng lượng chung của chúng không đổi, thì sẽ có một dung dịch có nồng độ PX n cực đại. Thành phần của dung dịch này sẽ phụ thuộc vào nồng độ ban đầu của Pvà X cũng như K cb. Nếu pha chế dãy dung dịch xuất phát từ dung dịch P và X có nồng độ phân tử gam (mol/l) giống nhau, trong từng dung dịch của dãy, tổng nồng độ phân tử gam của P và X là không đổi, còn tỉ lệ nồng độ P với nồng độ X thay đổi (dung dịch đồng phân tử). Dung dịch có thành phần phức chất cực đại là dung dịch mà trong đó tỉ lệ nồng độ của Me và R bằng thành phần của chúng trong phức chất.

Giả sử P và X có khả năng tạo ra ba phức PX, PX 2 và PX 3. Nếu một phức chiếm ưu thế chả hạn PX 2, thì người ta có thể sử dụng phương pháp dãy đồng phân tử để xác định thành phần phức.

Thủ tục truyền thống khi xác định là trộn P và X và pha loãng đến một thể tích sao cho tổng nồng độ của [P] + [X] = const. Độ hấp thụ (thường chọn bước sóng tia tới ứng với cực đại hấp thụ) được đo với từng dung dịch. Xây dựng đồ thị mối quan hệ giữa độ hấp thụ và phần mol của X. Độ hấp thụ cực đại đạt được chỉ ra thành phần phức chiếm ưu thế (hình 1-13).

Các điều lưu ý khi sử dụng phương pháp biến thiên liên tục:

Đảm bảo tính đúng đắn của định luật Lambert-Beer.

Giữ lực ion không đổi và pH ổn định (có thể sử dụng dung dịch đệm).

Đo ở nhiều hơn một bước sóng tia tới; cực đại hấp thụ xảy ra ở cùng phần mol cho mỗi bước sóng.

Làm thí nghiệm với tổng nồng độ Me + R khác nhau.

Đây là phương pháp phổ biến, có thể ứng dụng trong trường hợp phương pháp biến dãy đồng phân tử không cho kết quả tốt. Đối với các phản ứng có hiệu ứng phổ hấp thụ, luôn luôn ta có thể xây dựng được đường cong bão hòa.

Khi xây dựng đường cong bão hòa thì người ta giữ nồng độ một cấu tử không thay đổi (thường là cấu tử Me) còn thay đổi nồng độ cấu tử kia. Đo độ hấp thụ của các dung dịch trong dãy. Xây dựng đồ thị mối quan hệ A-C R/C Me. Nếu phức bền thì đồ thị thu được sẽ có điểm gãy ứng với hoành độ .

Quang Phổ Hấp Thụ Nguyên Tử: Ngành Khoa Học Nguyên Tử Hóa

Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) đo nồng độ nguyên tử ở mức phần triệu trong mẫu dựa trên khả năng hấp thụ ánh sáng của chúng ở một bước sóng nhất định. Hầu hết các mẫu phân tích bằng phương pháp AAS là các mẫu lỏng, các mẫu rắn cũng có thể được phân tích sau khi được hóa lỏng.

Hiện nay trên thị trường có một số máy quang phổ hấp thụ nguyên tử có thể lựa chọn, phụ thuộc vào ứng dụng cụ thể.

Các phương pháp AAS

Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử cần có một nguồn sáng, một bộ phận nguyên tử hóa, một bộ đơn sắc và một đầu dò detector. Các hệ thống AAS có thể là máy quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS) hoặc là máy quang phổ hấp thụ nguyên tử lò graphite (G-FAAS). Ở máy F-AAS, bộ phận nguyên tử hóa là một lò duy trì ngọn lửa và ở máy G-FAAS, bộ phận nguyên tử hóa là một lò graphite.

Nguyên tắc: Chuyển mẫu cần phân tích (xử lý mẫu: đồng hóa mẫu, phá mẫu…) về dạng dung dịch đồng thể. Tiếp đó hóa hơi dung dịch mẫu để có đám khí (hơi) của mẫu. Mẫu được đưa vào bộ phận nguyên tử hóa. Ở máy F-AAS, nhiệt của ngọn lửa tạo ra các nguyên tử tự do. Ở máy G-FAAS, năng lượng điện trong lò graphite tạo ra các nguyên tử tự do.

Một chùm sáng từ nguồn sáng đi qua bộ phận nguyên tử hóa và đi vào bộ đơn sắc. Nói chung, nguồn sáng là một đèn ca-tốt rỗng cung cấp những tia sáng phát xạ tương ứng với phổ hấp thụ của chất phân tích. Các nguyên tử tự do hấp thụ ánh sáng ở một bước sóng đặc trưng. Ánh sáng trực tiếp đi vào detector tạo ra một tín hiệu điện tỉ lệ với cường độ ánh sáng và cường độ của ánh sáng được hấp thụ là một chỉ số đo của nồng độ nguyên tử.

a. FAAS

Ưu điểmDễ sử dụng

Thời gian phân tích nhanh

Giá thành đầu tư thấp

Ít bị nhiễu

Thiết bị gọn nhẹ

Hiệu suất phân tích tốt

Nhược điểm

Giới hạn phát hiện trung bình

Nguyên tố phân tích bị giới hạn

Chỉ phân tích được từ 1 – 10 nguyên tố/lần

Không có chức năng quét

b. GFAAS

Ưu điểmGiới hạn phát hiện nhỏ

Lượng mẫu nhỏ

Giá thành đầu tư trung bình

Thiết bị gọn nhẹ

Ít bị nhiễu

Nhược điểmThời gian phân tích lâu hơn

Bị nhiễu chéo hóa học

Nguyên tố phân tích bị giới hạn

Phân tích được từ 1 – 6 nguyên tố

Dải động học bị giới hạn

Phương pháp hóa hơi hiđrua

Một số nguyên tố tạo nên các hợp chất hiđrua ở trạng thái khí và một khí trơ mang các hiđrua này tới bộ phận nguyên tử hóa. Phương pháp này cung cấp một kỹ thuật bổ trợ cho các phương pháp phân tích nguyên tử hóa bằng ngọn lửa và bằng lò graphite.

Phương pháp hóa hơi thủy nhân

Thủy ngân được khử về dạng thủy ngân nguyên tố và một khí trơ mang thủy ngân nguyên tố tới bộ phận nguyên tử hóa. Phương pháp này chỉ được dùng với máy AAS chuyên dụng để xác định thủy ngân hoặc bổ trợ cho các phương pháp nguyên tử hóa bằng ngọn lửa và bằng lò graphite.

Hiệu chỉnh hấp thụ nền  (Bổ chính nền) trong phép đo AAS

Hiện nay, có một số phương pháp để bổ chính (loại trừ) hấp thụ nền. Lấy độ hấp thụ tổng cộng trừ đi độ hấp thụ nền thì đo được độ hấp thụ của chất phân tích.

Trong phương pháp đơ-tơ-ri (phương pháp D2), ánh sáng của một đèn ca-tốt rỗng đo cường độ hấp thụ tổng cộng và ánh sáng từ một đèn đơ-tơ-ri đo cường độ hấp thụ nền. Ở phương pháp đảo chiều tốc độ cao (SR), sự đảo chiều nguồn điện của đèn ca-tốt rỗng giúp đo cường độ hấp thụ nền. Ở phương pháp Zeeman, từ trường được đặt vào giúp đo cường độ hấp thụ nền.

Dịch và tổng hợp BioMedia VN

Bạn đang xem bài viết Sự Giống Nhau Giữa Quang Phổ Vạch Phát Xạ Và Quang Phổ Vạch Hấp Thụ trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!