Xem Nhiều 1/2023 #️ Sự Khác Biệt Giữa Kế Toán Và Kiểm Toán # Top 4 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Sự Khác Biệt Giữa Kế Toán Và Kiểm Toán # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Khác Biệt Giữa Kế Toán Và Kiểm Toán mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kế toán là gì? Kiểm toán là gì?

Tài chính là bộ phận hoặc chức năng quan trọng nhất trong mọi tổ chức và đóng vai trò như một trụ cột vững chắc cho sự thành công của họ. Bất kỳ hành vi sai trái nào trong tài chính đều dẫn đến kết quả thảm hại hoặc thậm chí gây nguy hiểm cho doanh nghiệp. 

Nói chung, kế toán được định nghĩa là quản lý hồ sơ tiền tệ của một cá nhân hoặc công ty và báo cáo các vấn đề tài chính của họ. Mặt khác, kiểm toán kiểm tra hồ sơ kế toán của một cá nhân hoặc công ty để xác định xem thông tin họ chứa có hợp pháp và chính xác hay không.

Nhưng nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa chúng và coi chúng là các hoạt động hoặc thủ tục giống nhau. Tuy nhiên, cả hai đều khác nhau rất nhiều về phạm vi công việc và khả năng hoạt động.

Sự khác biệt chính giữa kế toán và kiểm toán

Kế toán và Kiểm toán đều cần thiết và quan trọng đối với mọi tổ chức và đóng vai trò quyết định.

Sự khác nhau của cả 2 là:

Kế toán là một quá trình liên tục mà trọng tâm là ghi chép chính xác các giao dịch tài chính hàng ngày và sau đó lập các báo cáo tài chính. Trong khi Kiểm toán là một hoạt động độc lập và được thực hiện hàng quý hoặc hàng năm. Kiểm toán bao gồm việc đánh giá trọng yếu các báo cáo tài chính của tổ chức và đưa ra ý kiến ​​khách quan về tính chính xác.

Kế toán được thực hiện bởi một nhân viên nội bộ tức là người ghi sổ kế toán, trong khi Kiểm toán được thực hiện bởi một cơ quan bên ngoài hoặc một kiểm toán viên độc lập.

Trọng tâm của kế toán là thông tin tài chính hiện tại, trong khi kiểm toán sử dụng các hồ sơ và báo cáo tài chính trong quá khứ. Kiểm toán viên đảm bảo các kiểm soát nội bộ còn nguyên vẹn và không có sự sai lệch.

Phần kết luận

Để bắt đầu kiểm toán, tổ chức cần phải thiết lập khuôn khổ kế toán cơ bản. Độ tin cậy của báo cáo tài chính được đánh giá bởi kiểm toán viên và họ làm tăng thêm giá trị cho nó.

Họ cũng làm việc cùng nhau khi một tổ chức muốn thiết lập các quy trình kế toán nghiêm ngặt và hiệu quả. Kiểm toán viên có thể kiểm tra các biện pháp và kiểm soát kế toán do kế toán viên thiết kế và thực hiện. Kiểm toán viên có thể giúp xác định các lỗ hổng kiểm soát và các khu vực có rủi ro cao và đề xuất cải tiến quy trình để quản lý rủi ro tốt hơn.

Nói một cách dễ hiểu, kế toán là quá trình theo dõi các dữ liệu hoặc thông tin tài chính trong khi kiểm toán là quá trình đảm bảo rằng các hồ sơ tài chính này là xác thực và không có sai sót trọng yếu.

Rate this post

Sự Khác Nhau Giữa Kế Toán Và Kiểm Toán

Định nghĩ về kế toán và kiểm toán

1. Kế toán

Là nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản (hay là toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính) trong doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định về kinh tế – xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp.

2. Kiểm toán

Là một hoạt động kiểm tra đặc biệt nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và các quy định hiện hành.

Sự khác nhau giữ kế toán và kiểm toán

Kế toán là đi từ cái chi tiết đến tổng hợp còn kiểm toán thì bắt đầu từ những cai tổng hợp mà kế toán cung cấp để đi đến cái chi tiết để xác minh những thứ mà kế toán cung cấp.

Kế toán làm ra số liệu , kiểm toán kiểm tra tính chính xác , trung thực của số liệu đó và đưa ra ý kiến , kiến nghị để điều chỉnh giúp hệ thống kiểm soát nội bộ của kế toán được cải thiện hơn

Báo cáo kế toán nếu đi kèm cùng báo cáo kiểm toán thì được tin tưởng hơn nhưng một báo cáo kế toán không bao giờ phản ánh chính xác tình hình tài chính của một công ty. Kiểm toán chỉ dựa trên số liệu của kế toán nên cũng chỉ tương đối thôi.

Sự giống nhau về kế toán và kiểm toán

Cả hai diều thuộc lĩnh vực về kế toán tài chính.

Điều làm việc trên những con số và dữ liệu từ nhiều đối tượng cung cấp, và sau đó tổng hợp lại thành một báo cáo tài chính để thuyết trình với người yêu cầu báo cáo.

Có kế toán thì mới có kiểm toán, kiểm toán cũng là từ cái gốc kế toán mà ra. Kiểm toán viên làm việc trên các số liệu do kế toán cung cấp và mục tiêu cuối cùng là đưa ra ý kiến đánh giá các thông tin mà kế toán đã lập ra.

Mục đích của việc học kế toán và kiểm toán

Khóa học kiểm toán cung cấp các kiến thức cơ bản về bản chất, chức năng, đối tượng, phương pháp của kiểm toán, các loại kiểm toán, các khái niệm và quy trình cơ bản sử dụng trong việc chuẩn bị, thực hiện và hoàn thành một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, tổ chức công tác kiểm toán và bộ máy kiểm toán trong các loại hình kiểm toán khác nhau.

Phân loại kiểm toán theo chức năng

Theo chức năng hay theo đối tượng kiểm toán thì kiểm toán gồm: Kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ.

Kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán hoạt động

Kiểm toán tuân thủ

Kiểm toán tuân thủ là việc xem xét tính tuân thủ các thủ tục, nguyên tắc , các qui định pháp lý của nhà nước, của cơ quan có thẩm quyền hoặc những nội qui tự đề ra của đơn vị. Các nội dung về kiểm toán tuân thủ có thể gồm các lĩnh vực như kiểm toán về tính tuân thủ các luật thuế; chế độ chính sách tiền lương; kiểm toán việc thực thi theo các thủ tục đã thoả thuận…. Kiểm toán viên không chịu trách nhiệm ngăn ngừa những hành vi vi phạm mà chỉ tiến hành việc xem xét việc thực hiện những qui định pháp lý của đơn vị, đồng thời đề xuất những giải pháp, xử lý khi phát hiện các hành vi vi phạm luật định.

Phân loại kiểm toán theo chủ thể kiểm toán

Căn cứ theo chủ thể kiểm toán có kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ.

Kiểm toán độc lập

Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ tư vấn được pháp luật thừa nhận và quản lý chặt chẽ. Quan hệ giữa các chủ thể kiểm toán (kiểm toán viên/tổ chức kiểm toán và đơn vị kinh tế được kiểm toán) là quan hệ mua bán dịch vụ, đơn vị kinh tế được kiểm toán trả phí dịch vụ cho các kiểm toán viên theo thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán. Các kiểm toán viên độc lập là những người hội đủ các tiêu chuẩn theo chuẩn mực kiểm toán và các qui định pháp lý về hành nghề kiểm toán.

Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính, thực hiện các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán. Ngoài ra, tuỳ từng thời kỳ kinh tế và yêu cầu cụ thể của khách hàng, kiểm toán viên độc lập còn thực hiện các dịch vụ khác như kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và đặc biệt là kiểm toán các quyết toán giá trị công trình xây dựng cơ bản hoàn thành, xác định giá trị vốn góp.

Hoạt động kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán rất phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển, vì thế hoạt động kiểm toán nói chung thường được coi là hoạt động kiểm toán độc lập. Trong hoạt động kiểm toán độc lập thì kiểm toán báo cáo tài chính là chủ yếu, theo đó đề cập về kiểm toán độc lập tức là kiểm toán độc lập báo cáo tài chính.

Kiểm toán Nhà nước

Nếu kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ và thu phí thì kiểm toán nhà nước lại là công việc kiểm toán do cơ quan kiểm toán nhà nước tiến hành theo luật định và không thu phí kiểm toán.

Nội dung của Kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp hành các chính sách luật lệ và các chế độ của Nhà nước và đánh giá sự hữu hiệu, hiệu quả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước. Cơ quan kiểm toán nhà nước là một tổ chức trong bộ máy quản lý của Nhà nước. Kiểm toán viên Nhà nước là các viên chức Nhà nước.

Kiểm toán nhà nước nhận xét, đánh giá và xác nhận việc chấp hành các chính sách, chế độ tài chính, kế toán ở đơn vị. Bên cạnh đó kiểm toán Nhà nước còn có quyền góp ý và yêu cầu các đơn vị được kiểm toán sửa chữa sai phạm và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý tài chính kế toán cần thiết.

Kiểm toán nội bộ

Là loại kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành theo yêu cầu của Giám đốc doanh nghiệp hoặc thủ trưởng đơn vị. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 610 thì kiểm toán nội bộ “Là bộ phận kiểm soát trong đơn vị, thực hiện kiểm tra vì lợi ích của đơn vị này. Trong số các công việc thực hiện, chủ yếu gồm kiểm tra, đánh giá và kiểm soát tính thích đáng và hiệu quả của các hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”

Chức năng của kiểm toán nội bộ bao gồm kiểm tra, xác nhân và đánh giá. Nội dung kiểm toán có thể một số hoặc các nội dung như kiểm toán báo cáo tài chính; kiểm toán báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp và các đơn vị thành viên; kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Trên thực tế phạm vi của kiểm toán nội bộ thay đổi và tuỳ thuộc vào qui mô, cơ cấu của đơn vị cũng như yêu cầu của các nhà quản lý doanh nghiệp.

Kết luận

Tóm lại, các loại kiểm toán nêu trên dù được xét trên góc độ nào (theo chức năng kiểm toán hay theo đối tượng kiểm toán) thì mục đích của kiểm toán vẫn là đưa ra ý kiến nhận xét một cách độc lập, khách quan về đối tượng kiểm toán. Chúng đều không làm tăng thêm các thông tin kinh tế mà chỉ đảm bảo từ nguồn độc lập, hợp lý rằng các thông tin kinh tế đó đã được lập có dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực đã được thiết lập và có trình bày một cách trung thực, hợp lý hay không.

Sự Khác Biệt Giữa Kế Toán Tài Chính Và Kế Toán Quản Trị

Kế toán, đề cập đến quá trình ghi lại, phân loại và tóm tắt bằng thuật ngữ tiền tệ, các giao dịch và sự kiện kinh doanh và diễn giải kết quả. Nó được sử dụng bởi các thực thể để theo dõi các giao dịch tài chính của họ. Kế toán tài chính và kế toán quản trị là hai ngành kế toán. Kế toán tài chính nhấn mạnh vào việc đưa ra một cái nhìn chân thực và công bằng về tình hình tài chính của công ty cho các bên khác nhau.

Ngược lại, kế toán quản trị nhằm cung cấp cả thông tin định tính và định lượng cho các nhà quản lý, để hỗ trợ họ trong việc ra quyết định và do đó tối đa hóa lợi nhuận. Đoạn trích bài viết này được tạo ra để giúp bạn tìm hiểu sự khác biệt đáng kể giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị.

Biểu đồ so sánh

Định nghĩa kế toán tài chính

Thông thường, các báo cáo dựa trên kế toán tài chính được chuẩn bị cho một năm kế toán, để cho phép người dùng so sánh về tình hình tài chính, lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của công ty trong một giai đoạn cụ thể. Không chỉ các bên ngoài mà quản lý nội bộ cũng có được thông tin để dự báo, lập kế hoạch và ra quyết định.

Định nghĩa kế toán quản trị

Kế toán quản trị, còn được gọi là Kế toán quản trị là kế toán cho các nhà quản lý giúp ban quản lý của tổ chức xây dựng chính sách và dự báo, lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động kinh doanh hàng ngày của tổ chức. Cả thông tin định lượng và định tính đều được kế toán quản lý nắm bắt và phân tích.

Sự khác biệt chính giữa Kế toán tài chính và Kế toán quản trị

Các điểm sau đây giải thích sự khác biệt chính giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị:

Kế toán tài chính là một nhánh của kế toán theo dõi tất cả các thông tin tài chính của đơn vị. Kế toán quản trị là chi nhánh kế toán ghi lại và báo cáo cả thông tin tài chính và phi tài chính của một thực thể.

Người sử dụng kế toán tài chính là cả quản lý nội bộ của công ty và các bên bên ngoài trong khi người sử dụng kế toán quản trị chỉ là quản lý nội bộ.

Kế toán tài chính sẽ được báo cáo công khai trong khi Kế toán quản trị dành cho việc sử dụng của tổ chức và do đó nó rất bí mật.

Chỉ thông tin tiền tệ được chứa trong kế toán tài chính. Đối với điều này, kế toán quản trị chứa cả thông tin tiền tệ và phi tiền tệ như số lượng công nhân, số lượng nguyên liệu thô được sử dụng và bán, v.v.

Kế toán tài chính được thực hiện theo định dạng quy định, trong khi không có định dạng quy định cho Kế toán quản trị.

Kế toán tài chính tập trung vào việc cung cấp thông tin về chức năng kinh doanh của đơn vị cho người dùng, trong khi Kế toán quản trị tập trung vào việc cung cấp thông tin để giúp họ đánh giá hiệu suất và đưa ra kế hoạch cho tương lai.

Kế toán tài chính chủ yếu được thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể, thường là một năm. Mặt khác, kế toán quản trị được thực hiện theo nhu cầu của quản lý nói hàng quý, nửa năm, v.v.

Kế toán tài chính là phải cho bất kỳ công ty cho mục đích kiểm toán. Ngược lại, kế toán quản trị là tự nguyện, vì không có chỉnh sửa nào được thực hiện.

Thông tin kế toán tài chính là bắt buộc phải được công bố và kiểm toán bởi các kiểm toán viên theo luật định. Không giống như kế toán quản trị, không yêu cầu thông tin phải được công bố và kiểm toán, vì chúng chỉ dành cho sử dụng nội bộ.

Điểm tương đồng

Được sử dụng bởi Quản lý nội bộ.

Đánh giá hiệu suất.

Chi nhánh kế toán.

Trình bày vị trí của thực thể.

Phần kết luận

Kế toán tài chính và kế toán quản trị có ý nghĩa rất lớn, trên thực tế, chúng giúp tổ chức theo nhiều cách khác nhau. Vì kế toán tài chính rất hữu ích trong việc lưu giữ hồ sơ thích hợp của vô số giao dịch và so sánh hiệu suất của hai giai đoạn của một thực thể hoặc giữa hai thực thể, trong khi kế toán quản trị hữu ích trong việc phân tích hiệu suất, đưa ra chiến lược, đưa ra phán đoán hiệu quả và chuẩn bị các chính sách cho tương lai.

So Sánh Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Kế Toán Tài Chính Và Kế Toán Quản Trị

Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cập đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động, quá trình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Một bên phản ảnh tổng quát còn một bên phản ảnh cụ thể và chi tiết của sự tổng quát đó.

Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa trên nền tảng những ghi chép ban đầu của kế toán.

Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý và đều là công cụ quản lý doanh nghiệp.

Tóm lại, kế toán quản trị hay kế toán tài chính đều là kế toán nên chúng mang trong mình những chức năng của bộ phận kế toán nói chung. Do đối tượng sử dụng và mục đích cung cấp thông tin khác nhau nên chúng có những điểm khác nhau đáng kể.

Sự khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính

Về đối tượng sử dụng thông tin: Đối tượng của kế toán quản trị là các thành viên trong doanh nghiệp bao gồm: Ban giám đốc, Chủ sở hữu, Trưởng bộ phận,… Trong khi đối tượng của kế toán tài chính chủ yếu là ngoài doanh nghiệp bao gồm: Các cổ đông, Cơ quan thuế, Cơ quan quản lý tài chính,…

Về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin: kế toán tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế toán theo quy định pháp luật. Trái lại, do yêu cầu phải nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh đa dạng nên kế toán quản trị cần phải linh hoạt, nhanh chóng và phù hợp với từng quyết định của người quản trị, không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc hay chuẩn mực kế toán chung.

Về tính pháp lý của kế toán: Đối với kế toán tài chính hệ thống sổ sách, ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của kế toán tài chính đều phải tuân theo các quy định thống nhất nếu muốn được thừa nhận. Ngược lại, kế toán quản trị lại mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng doanh nghiệp phù hợp với đặc thù quản lý, yêu cầu quản lý, điều kiện và khả năng quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp.

Về đặc điểm của thông tin: Thông tin của kế toán tài chính là thông tin thực hiện về những nghiệp vụ đã phát sinh, được thu thập từ các chứng từ ban đầu về kế toán. Trong khi đó, thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm cho tương lai vì phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phương án cho một sự kiện hoặc một quá trình chưa xảy ra.

Về hình thức báo cáo sử dụng: Báo cáo được sử dụng trong kế toán tài chính là các Báo cáo tài chính phản ánh tổng quát về sản nghiệp, kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ gồm Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính. Còn báo cáo của kế toán quản trị đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của doanh nghiệp như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành, báo cáo nợ phải trả, báo cáo nhập xuất và tồn kho của hàng tồn kho…

Bạn đang xem bài viết Sự Khác Biệt Giữa Kế Toán Và Kiểm Toán trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!