Xem Nhiều 2/2023 #️ Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus # Top 8 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bác sĩ Paul McKay, người đang nghiên cứu một loại vắc-xin cho chủng coronavirus 2019-nCoV mới, chụp một bức ảnh với vi khuẩn chứa coronavirus tại Trường Y khoa Đại học Hoàng gia (ICSM) tại Luân Đôn vào ngày 10 tháng 2 năm 2020. (Ảnh: Getty)

Sự khác biệt giữa nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus

Những hiểu biết về vi khuẩn và virus giúp chúng ta hiểu rõ cách thức chúng có thể gây hại cho con người để biết cách phòng ngừa, chiến đấu với chúng một cách hợp lý và hiệu quả…

Nhiễm trùng xảy ra khi một sinh vật lạ xâm nhập vào cơ thể người và gây hại. Mặc dù vi khuẩn và virus đều có thể gây nhiễm trùng từ nhẹ đến nghiêm trọng, nhưng chúng là hai loại vi sinh vật hoàn toàn khác nhau. 

Do phương pháp điều trị vi khuẩn và virus không thể thay thế cho nhau, do đó xác định rõ nhiễm trùng do vi khuẩn hay virus là rất quan trọng. Chúng ta có thể gây ra tình trạng đề kháng kháng sinh nếu điều trị nhầm kháng sinh cho các trưởng hợp nhiễm virus. 

Sự khác biệt về mặt vi sinh

Vi khuẩn và virus quá nhỏ để có thể nhìn thấy bằng mắt thường và chỉ có thể nhìn được dưới kính hiển vi. Chúng có thể gây ra các triệu chứng tương tự và thường có cùng con đường lây lan. Tuy nhiên, cấu trúc và cách tồn tại của chúng lại khác nhau.

Virus có kích thước từ đường kính khoảng 20 đến 400 nanomet. Hàng tỷ virus có thể chỉ  vừa trên đầu của một cục pin. Virus có hình que, tròn, xoắn ốc v.v. Nó không thể tự sinh sản ngoài cơ thể sống khác. Nó chỉ là một hạt ngủ đông có chứa axit nucleic, hoặc DNA hoặc RNA, được bao quanh bởi vỏ protein và đôi khi là các chất béo gọi là lipid. 

Vi khuẩn có kích thước lớn hơn virus từ 10 đến 100 lần. Vi khuẩn có hình dạng tương tự, nhưng nó có thể tồn tại độc lập. Vi khuẩn chỉ mang một bộ nhiễm sắc thể, chúng nhân bản với cùng một vật liệu di truyền. 

Coronavirus được đặt tên theo hình dáng của chúng, ‘’thân răng’’ hoặc ‘’vương miện’’. (Ảnh: Pixabay)

Vi khuẩn sống chung với con người

Vi khuẩn tồn tại trong khắp cơ thể của chúng ta, bao gồm da, ruột và màng nhầy. Trên thực tế, cơ thể chúng ta chứa các tế bào vi khuẩn nhiều hơn ít nhất 10 lần so với tế bào của chính chúng ta. Chỉ riêng vi khuẩn trong đường tiêu hóa của con người đã bao gồm ít nhất 10 nghìn tỷ sinh vật, đại diện cho hơn 1.000 loài, được cho là ngăn chặn ruột bị các sinh vật gây bệnh xâm chiếm. 

Đại đa số các vi khuẩn cộng sinh dai dẳng trong cộng đồng phức tạp trong và trên bề mặt cơ thể chúng ta. Trong nhiều trường hợp, các vi khuẩn có được lợi ích mà không gây hại cho chúng ta, trong các trường hợp khác, cả vật chủ và vi khuẩn đều có lợi. Ví dụ vi khuẩn giúp tổng hợp vitamin, phá vỡ thức ăn thành các chất dinh dưỡng có thể hấp thụ và kích thích hệ thống miễn dịch của chúng ta.

Chỉ một số ít vi khuẩn gây hại khi hàng rào bảo vệ cơ thể bị phá vỡ như trầy xước, lở loét, vết thương do phẫu thuật v.v hay do hệ miễn dịch bị suy yếu. 

Virus chính là những thực thể sinh học dồi dào nhất từ trước tới nay trên Trái Đất. Chúng có thể xâm nhiễm lên tất cả các dạng tế bào bao gồm của động vật, thực vật, vi khuẩn, vi khuẩn cổ và nấm. Tuy nhiên, những loại khác nhau của virus thì chỉ có thể lây nhiễm trên một phạm vi giới hạn những vật chủ khác nhau, và nhiều loại có tính đặc hiệu loài. 

Một số virus, ví dụ như virus đậu mùa, chỉ có thể nhiễm vào một loài duy nhất – trong trường hợp này là con người, và vì thế chúng được nói rằng có “biên độ vật chủ” (host range) hẹp. 

Những virus khác, ví dụ như virus dại, có thể lây lan trên nhiều loài động vật có vú, và do vậy có biên độ rộng. Virus mà chỉ lây nhiễm vào thực vật thì vô hại với động vật, và hầu hết virus mà xâm nhiễm lên các động vật khác thì vô hại với con người. 

Tuy nhiên, khi virus “biến thể” và lây từ động vật sang người, thì chúng thường có thể gây nên các căn bệnh nguy hiểm. Ví dụ virus HIV-1 lây từ loài tinh tinh sang người, các virus trong họ Corona như SARS, MERS hay SARS-CoV 2 có nguồn gốc từ dơi v.v

SARS-CoV, chủng Virus Corona từng gây ám ảnh cho người dân toàn cầu… (CDC)

Cách thức xâm nhập của virus và vi khuẩn

Virus hoạt động khi xâm nhập vào tế bào chủ thích hợp thông qua một loại chìa khóa chuyên biệt gắn trên vỏ ngoài của nó, chiếm quyền điều khiển bộ máy trao đổi chất của tế bào để tạo ra các bản sao của chính nó. Sau đó làm vỡ và thoát ra khỏi tế bào để lây nhiễm tế bào khác. 

Tương tự muốn làm cho chúng ta bị bệnh, vi khuẩn phải gắn vào vị trí mục tiêu mà chúng đang cố gắng lây nhiễm để không bị đánh bật và nhân lên nhanh chóng. Chúng giết chết các tế bào và mô hoàn toàn, ngoài ra còn tạo ra độc tố có thể làm tê liệt, phá hủy các tế bào trao đổi chất.

Các “ngõ vào” của vi khuẩn và virus

Vi khuẩn và virus xâm nhập vào cơ thể người với 4 con đường tương tự nhau: 

Lây qua tiếp xúc: trực tiếp với dịch cơ thể, máu, thực phẩm ô nhiễm, nước bẩn v.v. , các vết trầy xước, vết thương hở, gián tiếp qua bề mặt có chứa vi khuẩn hay virus.

Qua giọt bắn có chứa virus hay vi khuẩn qua hắt hơi, ho hoặc nói chuyện. SARS, bệnh lao và cúm là những ví dụ về các bệnh lây truyền qua đường truyền giọt bắn trong không khí.

Qua không khí bay hơi hoặc các hạt bụi có chứa vi sinh vật lơ lửng trong không khí trong một khoảng thời gian. 

Thông qua các trung gian truyền bệnh như: muỗi, bọ chét, ve, chuột, ốc sên và chó v.v.

Nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus

Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn và virus gây nhiễm virus.

Điều quan trọng là phải biết liệu vi khuẩn hay virus gây ra nhiễm trùng, bởi vì phương pháp điều trị khác nhau. Trong một số trường hợp, có thể khó xác định liệu vi khuẩn hoặc virus gây ra các triệu chứng của bạn. Nhiều bệnh – như viêm phổi, viêm màng não và tiêu chảy – đều có thể do vi khuẩn hoặc virus gây ra.

Một số ví dụ về nhiễm virus

Cảm lạnh thông thường, chủ yếu gây ra bởi coronavirus và adenovirus.

Viêm não và viêm màng não, do enterovirus và virus herpes gây ra.

Mụn cóc và nhiễm trùng da, gây ra bởi virus papilloma ở người (HPV) và virus herpes simplex (HSV).

Các virus khác bao gồm: Virus Zika, virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV),  viêm gan C, bệnh bại liệt, cúm, Bệnh sốt xuất huyết, Cúm lợn, Ebola, Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV), SARS-CoV 2 v.v

Một số bệnh do vi khuẩn gây chết người. Một số ví dụ về các bệnh gây ra do vi khuẩn như: dịch tả, bạch hầu, kiết lỵ, bệnh dịch hạch, viêm phổi, bệnh lao, thương hàn, sốt phát ban v.v 

Để phân biệt nhiễm khuẩn do vi khuẩn và do virus, các bác sĩ cần khám bệnh và có thể cần các xét nghiệm sinh hóa và lấy mẫu nước tiểu, phân hay máu của bạn để làm xét nghiệm “nuôi cấy” để có các khuẩn lạc xác định được dưới kính hiển vi.

Điều trị nhiễm vi khuẩn khác với virus

Các bác sĩ thường điều trị nhiễm vi khuẩn bằng kháng sinh. Chúng có thể tiêu diệt vi khuẩn hoặc làm ngừng sự nhân lên của chúng. Nhưng từ khi vấn đề kháng kháng sinh gia tăng, kháng sinh có lẽ chỉ nên được kê đơn cho các nhiễm khuẩn nghiêm trọng. Hãy nhớ rằng: thuốc kháng sinh không có tác dụng đối với nhiễm virus.

Việc điều trị nhiễm virus có thể bao gồm:

Điều trị triệu chứng: chẳng hạn như mật ong để giảm ho và chất lỏng ấm như súp gà nhằm giảm khô miệng.

Hạ sốt bằng Paracetamol.

Thuốc kháng virus làm ngừng sự sinh sản virus như các thuốc cho HIV / AIDS và Herpes.

Ngăn ngừa nhiễm trùng từ lúc mới sinh ra, chẳng hạn như các vắc-xin cho cúm và viêm gan.

Nói cách khác là chờ đợi sức sống của virus trong cơ thể rút lui và biến mất – cách nhìn này chính là bắt đầu thoát ly khỏi mặt ngoài của sự vật, và tiếp cận với bản chất ở bên trong. (Ảnh: Shutterstock)

Tầm quan trọng của hệ miễn dịch

Bệnh, thường chỉ xảy ra ở một tỷ lệ nhỏ người nhiễm khuẩn. Quan trọng là hệ miễn dịch của bạn có đủ “khỏe” để đánh bật tác nhân gây bệnh xâm nhập cơ thể.

Để đáp ứng được với nhiễm trùng, hệ thống miễn dịch của bạn phải hoạt động. Các tế bào bạch cầu, kháng thể và các cơ chế khác hoạt động để loại bỏ kẻ xâm lược. Thật vậy, rất nhiều triệu chứng khiến một người mắc phải khi bị nhiễm như sốt, khó chịu, đau đầu, phát ban là do các hoạt động của hệ thống miễn dịch đang cố gắng loại bỏ nhiễm trùng khỏi cơ thể.

Nếu hệ miễn dịch hoạt động tốt, bạn có thể đang nhiễm khuẩn mà không có triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài, hoặc triệu chứng nhẹ và tự hết. 

Nếu hệ miễn dịch yếu hay nồng độ vi sinh vật quá nhiều, chúng có thể tránh và sống sót sau cuộc tấn công của hệ thống miễn dịch. Đôi khi chúng kích hoạt hệ miễn dịch hoạt động thái quá dẫn đến việc tiết ra các hóa chất nội sinh, không chỉ giết vi khuẩn mà giết luôn cả tế bào và mô lành. 

Điều này có thể giải thích tại sao Coronavirus mới chủ yếu gây bệnh nặng trên nhóm những người già hay có bệnh nền, hoặc suy giảm hệ miễn dịch. 

Những hiểu biết về vi khuẩn và virus giúp chúng ta hiểu rõ cách mà chúng có thể gây hại cho con người cũng như cách thức  phòng ngừa và chiến đấu với chúng một cách hợp lý và hiệu quả. 

Mỹ Tâm

Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Trùng Do Vi Khuẩn Và Virus

Vi khuẩn và virus có thể gây ra nhiều bệnh nhiễm trùng phổ biến. Nhưng sự khác biệt giữa hai loại sinh vật truyền nhiễm này là gì?

Vi khuẩn là những vi sinh vật nhỏ bé được tạo thành từ một tế bào. Chúng rất đa dạng, và có thể có nhiều hình dạng và đặc điểm cấu trúc. Vi khuẩn có thể sống trong hầu hết mọi môi trường có thể tưởng tượng được, kể cả trong hoặc trên cơ thể con người.mChỉ một số ít vi khuẩn gây nhiễm trùng ở người. Những vi khuẩn này được gọi là vi khuẩn gây bệnh.

Virus là một loại vi sinh vật nhỏ bé khác, mặc dù chúng thậm chí còn nhỏ hơn vi khuẩn. Giống như vi khuẩn, chúng rất đa dạng, có nhiều hình dạng và tính năng. Virus là ký sinh trùng. Điều đó có nghĩa là chúng đòi hỏi các tế bào sống hoặc mô để phát triển. Virus có thể xâm chiếm các tế bào trong cơ thể bạn, sử dụng các thành phần của tế bào để phát triển và nhân lên. Một số virus thậm chí giết chết tế bào chủ như là một phần của vòng đời của chúng.

2. Nhiễm khuẩn lây lan như thế nào?

Nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn truyền nhiễm, có nghĩa là chúng có thể lây từ người sang người. Có nhiều cách có thể xảy ra, bao gồm:

– Tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm vi khuẩn, bao gồm chạm và hôn.

– Tiếp xúc với chất dịch cơ thể của người bị nhiễm bệnh, đặc biệt là sau khi quan hệ tình dục, hoặc khi người nhiễm bệnh ho hoặc hắt hơi.

– Lây truyền từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh.

– Tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm, chẳng hạn như tay nắm cửa hoặc tay cầm vòi, sau đó chạm vào mặt, mũi hoặc miệng của bạn.

Ngoài việc lây lan từ người sang người, nhiễm trùng vi khuẩn cũng có thể lây lan qua vết cắn của côn trùng bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, tiêu thụ thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng.

3. Nhiễm khuẩn phổ biến là gì?

Một số ví dụ về nhiễm khuẩn bao gồm:

– Viêm họng liên cầu khuẩn.

– Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI).

– Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn.

– Bệnh da liễu.

– Bệnh lao.

– Viêm màng não do vi khuẩn.

– Viêm mô tế bào.

– Bệnh Lyme.

– Uốn ván.

4. Nhiễm virus lây lan như thế nào?

Giống như nhiễm trùng do vi khuẩn, nhiều bệnh nhiễm virus cũng dễ lây lan. Chúng có thể lây từ người này sang người khác theo nhiều cách giống nhau, bao gồm:

– Tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm virus.

– Tiếp xúc với chất dịch cơ thể của người bị nhiễm virus.

– Lây truyền từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh.

– Tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm.

Ngoài ra, tương tự như nhiễm trùng do vi khuẩn, nhiễm virus có thể lây lan qua vết cắn của côn trùng bị nhiễm bệnh hoặc thông qua việc tiêu thụ thực phẩm hoặc nước đã bị ô nhiễm.

5. Nhiễm virus phổ biến là gì?

Một số ví dụ về nhiễm virus bao gồm:

– Cúm.

– Cảm lạnh thông thường.

– Viêm dạ dày ruột.

– Thủy đậu.

– Bệnh sởi.

– Viêm màng não do virus.

– Mụn cóc.

– Virus gây suy giảm miễn dịch ở người.

– Viêm gan virus.

– Virus zika.

– Siêu vi trùng Tây sông Nile.

6. Là vi khuẩn hay virus gây cảm lạnh?

Cảm lạnh có thể gây nghẹt hoặc chảy nước mũi, đau họng và sốt thấp, nhưng là do vi khuẩn hoặc virus gây cảm lạnh?

Cảm lạnh thông thường được gây ra bởi một số loại vi-rút khác nhau, mặc dù các loại virut tê giác thường là thủ phạm. Bạn không thể làm gì nhiều để điều trị cảm lạnh ngoại trừ chờ đợi và sử dụng thuốc không kê đơn (OTC) để giúp giảm các triệu chứng của bạn.

Trong một số trường hợp, nhiễm trùng thứ cấp có thể phát triển trong hoặc sau khi bị cảm lạnh. Các ví dụ phổ biến về nhiễm khuẩn thứ cấp bao gồm:

– Viêm xoang.

– Nhiễm trùng tai.

– Viêm phổi.

Bạn có thể đã bị nhiễm vi khuẩn nếu:

– Các triệu chứng kéo dài hơn 10 đến 14 ngày.

– Các triệu chứng tiếp tục trở nên tồi tệ hơn là cải thiện trong vài ngày.

– Bạn bị sốt cao hơn bình thường khi bị cảm lạnh.

7. Bạn có thể sử dụng màu sắc chất nhầy để xác định xem đó có phải là nhiễm trùng do vi khuẩn hay virus không?

Bạn nên tránh sử dụng màu sắc chất nhầy để xác định xem bạn có bị nhiễm virus hay vi khuẩn hay không.

Có một niềm tin từ lâu rằng chất nhầy màu xanh lá cây cho thấy nhiễm trùng do vi khuẩn cần kháng sinh. Trên thực tế, chất nhầy màu xanh lá cây thực sự được gây ra bởi các chất được giải phóng bởi các tế bào miễn dịch của bạn để đáp ứng với kẻ xâm lược.

Bạn có thể có chất nhầy màu xanh lá cây do nhiều thứ, bao gồm virus, vi khuẩn hoặc thậm chí là dị ứng theo mùa.

8. Rối loạn tiêu hóa do vi khuẩn hay virus?

Khi bạn gặp các triệu chứng như buồn nôn, tiêu chảy hoặc chuột rút bụng, bạn có khả năng bị rối loạn tiêu hóa . Nhưng đó có phải là do nhiễm virus hay vi khuẩn?

– Viêm dạ dày ruột là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa. Nguyên nhân là do tiếp xúc với phân hoặc chất nôn từ người bị nhiễm trùng.

– Ngộ độc thực phẩm là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa do tiêu thụ thực phẩm hoặc chất lỏng bị ô nhiễm.

Viêm dạ dày ruột và ngộ độc thực phẩm có thể do cả virus và vi khuẩn. Bất kể nguyên nhân là gì, nhiều lần các triệu chứng của bạn sẽ biến mất trong một hoặc hai ngày với sự chăm sóc tốt tại nhà.

Tuy nhiên, các triệu chứng kéo dài hơn ba ngày, gây tiêu chảy ra máu, hoặc dẫn đến mất nước nghiêm trọng có thể chỉ ra nhiễm trùng nặng hơn cần được điều trị y tế kịp thời.

9. Làm thế nào chẩn đoán được nhiễm trùng?

Đôi khi bác sĩ có thể chẩn đoán tình trạng của bạn dựa trên tiền sử bệnh và các triệu chứng của bạn.

Ví dụ, các tình trạng như sởi hoặc thủy đậu có các triệu chứng rất đặc trưng có thể được chẩn đoán bằng một kiểm tra thể chất đơn giản.

Ngoài ra, nếu có dịch bệnh hiện tại của một bệnh cụ thể, bác sĩ sẽ đưa yếu tố đó vào chẩn đoán. Một ví dụ là cúm, gây ra dịch bệnh theo mùa trong những tháng lạnh hàng năm.

Nếu bác sĩ của bạn muốn biết loại sinh vật nào có thể gây ra tình trạng của bạn, họ có thể lấy một mẫu để nuôi cấy. Các mẫu có thể được sử dụng để nuôi cấy thay đổi theo điều kiện nghi ngờ, nhưng có thể bao gồm:

– Máu.

– Chất nhầy hoặc đờm.

– Nước tiểu.

– Da.

– Dịch não tủy.

Khi một vi sinh vật được nuôi cấy, nó cho phép bác sĩ xác định những gì gây ra tình trạng của bạn. Trong trường hợp nhiễm vi khuẩn, nó cũng có thể giúp họ xác định loại kháng sinh nào có thể hữu ích trong việc điều trị tình trạng của bạn.

10. Những bệnh nhiễm trùng được điều trị bằng kháng sinh?

Thuốc kháng sinh là thuốc dùng để điều trị nhiễm khuẩn. Có nhiều loại kháng sinh khác nhau, nhưng tất cả chúng đều có tác dụng ngăn vi khuẩn phát triển và phân chia hiệu quả. Chúng không hiệu quả chống lại nhiễm virus.

Mặc dù thực tế là bạn chỉ nên dùng kháng sinh khi bị nhiễm vi khuẩn, nhưng kháng sinh thường được yêu cầu cho nhiễm virus. Điều này là nguy hiểm vì kê đơn kháng sinh quá mức có thể dẫn đến kháng kháng sinh.

Kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn thích nghi để có thể kháng một số loại kháng sinh. Nó có thể làm cho nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn khó điều trị hơn.

Nếu bạn được kê đơn thuốc kháng sinh khi bị nhiễm vi khuẩn, hãy uống toàn bộ quá trình kháng sinh – ngay cả khi bạn bắt đầu cảm thấy khỏe hơn sau vài ngày. Bỏ qua liều có thể ngăn chặn tất cả các vi khuẩn gây bệnh khỏi bị giết.

11. Nhiễm virus được điều trị như thế nào?

Không có điều trị cụ thể cho nhiều bệnh nhiễm virus. Điều trị thường tập trung vào việc giảm các triệu chứng trong khi cơ thể bạn hoạt động để loại bỏ nhiễm trùng. Điều này có thể bao gồm những thứ như:

– Uống nước để ngăn ngừa mất nước.

– Nghỉ ngơi nhiều.

– Sử dụng thuốc giảm đau OTC như acetaminophen (Tylenol) hoặc ibuprofen (Motrin, Advil) để giảm đau, đau và sốt.

– Dùng thuốc thông mũi OTC để giúp chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi.

– Viên ngậm để giúp giảm đau họng.

12. Thuốc kháng vi-rút

Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể kê toa thuốc kháng vi-rút để giúp điều trị tình trạng của bạn.

Thuốc kháng vi-rút ức chế vòng đời của virus theo một cách nào đó. Một số ví dụ bao gồm các loại thuốc như oseltamivir (Tamiflu) trong điều trị nhiễm cúm hoặc valacyclovir (Valtrex) đối với nhiễm virus herpes simplex hoặc herpes zoster (bệnh zona)

13. Làm thế nào để ngăn ngừa nhiễm trùng?

Hãy chắc chắn rửa tay trước khi ăn, sau khi sử dụng phòng tắm, và trước và sau khi xử lý thực phẩm.

Tránh chạm vào mặt, miệng hoặc mũi nếu tay bạn không sạch. Không dùng chung vật dụng cá nhân như dụng cụ ăn uống, ly uống nước hoặc bàn chải đánh răng.

Vô số vắc xin có sẵn để giúp ngăn ngừa các bệnh do virus và vi khuẩn khác nhau. Ví dụ về các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin bao gồm: sởi, uốn ván, cúm, bệnh ho gà.

Đừng ra ngoài nếu bạn bị bệnh

Ở nhà nếu bạn bị bệnh để giúp ngăn ngừa lây nhiễm. Nếu bạn phải ra ngoài, rửa tay thường xuyên và hắt hơi hoặc ho vào khuỷu tay hoặc vào khăn giấy. Hãy chắc chắn để vứt bỏ bất kỳ mô được sử dụng.

Thực hành tình dục an toàn

Sử dụng bao cao su có thể giúp ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs).

Hãy chắc chắn rằng thức ăn được nấu chín kỹ

Hãy chắc chắn rằng tất cả các loại thịt được nấu đến nhiệt độ thích hợp. Hãy chắc chắn rửa kỹ bất kỳ trái cây hoặc rau sống trước khi ăn. Đừng để đồ ăn thừa ở nhiệt độ phòng. Thay vào đó, làm lạnh chúng kịp thời.

Bảo vệ chống lại côn trùng

Hãy chắc chắn sử dụng các thành phần có chứa thuốc chống côn trùng như DEET hoặc picaridin nếu bạn đang ở bên ngoài nơi côn trùng như muỗi và ve thường gặp. Mặc quần dài và áo sơ mi dài tay, nếu có thể.

Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn Và Virus

* Tôi nôm na hiểu rằng virus nguy hiểm hơn vi khuẩn nhưng chưa biết tường tận về hai loại “vi” gây nên dịch bệnh này. Xin quý báo giải thích. (Trần Mỹ Nữ, Thanh Khê, Đà Nẵng).

– Khác biệt đầu tiên giữa hai loại “vi” này là về tên gọi.

Vi khuẩn [微菌] là cách gọi Hán Nôm của bacterium (số nhiều là bacteria) – từ gốc tiếng Anh và tiếng Latinh chỉ một nhóm (giới hoặc vực) vi sinh vật nhân sơ đơn bào có kích thước rất nhỏ; một số thuộc loại ký sinh trùng. Vi khuẩn còn được gọi là vi trùng. Chữ trùng tương đương với chữ khuẩn trong các cụm từ chỉ phân loại hình thái như: “Tụ cầu trùng” = “tụ cầu khuẩn”; “trực trùng” = “trực khuẩn”…

Hình ảnh SARS-CoV-2 gây nên Covid-19 (ảnh trái) và vi khuẩn chúng tôi gây nên bệnh tiêu chảy. Nguồn: Internet

Virus – từ gốc tiếng Pháp (trong bài này chúng tôi thống nhất dùng từ virus) là một tác nhân truyền nhiễm chỉ nhân lên được khi ở bên trong tế bào sống của một sinh vật khác. Virus còn được gọi là siêu vi, siêu vi khuẩn hay siêu vi trùng. Chính cách gọi này làm nhiều người nhầm lẫn rằng “vi” trong virus và “vi” trong siêu vi, vi khuẩn, vi trùng có “họ hàng” với nhau.

Giữa vi khuẩn và virus, về mặt kích cỡ, nguồn gốc và tác hại lên cơ thể người có sự khác biệt cơ bản. Virus là dạng sống nhỏ nhất và đơn giản nhất; chúng nhỏ hơn vi khuẩn từ 10 tới 100 lần. Vi khuẩn là sinh vật đơn bào sống cả bên trong lẫn bên ngoài tế bào khác. Chúng có thể tồn tại mà không cần tới tế bào túc chủ. Còn virus, chỉ có thể ký sinh nội bào, nghĩa là chúng xâm nhập vào tế bào chủ và sống bên trong tế bào. Virus thay đổi vật liệu di truyền của tế bào chủ để khiến chúng (tế bào chủ) không hoạt động bình thường và để virus tự nhân lên.

Virus và vi khuẩn có sự khác biệt trong sinh sản.

Virus cần tới một vật chủ sống (thực vật hay động vật) để nhân lên, trong khi hầu hết vi khuẩn có thể phát triển trên những bề mặt không có sự sống.

Vi khuẩn có đủ bào quan (thành phần cấu trúc hợp thành tế bào) để phát triển và nhân lên và thường sinh sản vô tính.

Ngược lại, virus thường chỉ chứa thông tin – DNA hoặc RNA, bao quanh bởi lớp vỏ protein. Chúng cần bào quan của tế bào chủ để sản sinh. Phần “chân” của virus sẽ bám vào bề mặt tế bào và rồi vật liệu di truyền bên trong virus sẽ được truyền vào tế bào. Nói cách khác, virus không thực sự “sống”, chỉ cơ bản là thông tin (DNA hay RNA) trôi nổi cho tới khi chúng gặp vật chủ phù hợp.

Vi khuẩn là sinh vật sống nên có thể sử dụng cả vắc-xin và kháng sinh để phòng ngừa và tiêu diệt. Virus, về cơ bản, không phải sinh vật sống, bởi chúng cơ bản ở trong tình trạng “ngủ đông”. Khi virus xâm nhập vào cơ thể người, nó sẽ bị hệ miễn dịch tiêu diệt nếu bị nhận diện là kẻ xâm nhập trước khi tiếp xúc được với một tế bào. Nếu không bị tiêu diệt, quá trình lây nhiễm sẽ bắt đầu. Khi đó, virus chỉ hoạt động nhờ DNA hoặc RNA nên rất khó bị nhận diện. Dùng kháng sinh diệt virus cũng sẽ diệt luôn tế bào chủ.

Vì vậy, để tiêu diệt virus, người ta sử dụng các thuốc kháng virus, chứ không phải thuốc kháng sinh. Tiêm vaccine là cách phòng, chống virus tốt nhất.

Theo bài viết “Bác bỏ 15 hiểu lầm về virus SARS-CoV-2 và bệnh Covid-19” đăng trên Báo điện tử Dân trí (dantri.com.vn), thuốc kháng sinh chỉ có tác dụng với vi khuẩn, chứ không có tác dụng với virus. Mà SARS-CoV-2 là một loại virus. Tuy nhiên nếu bạn phải nhập viện do Covid-19 gây ra bởi SARS-CoV-2 thì bạn vẫn có thể phải dùng thuốc kháng sinh để điều trị các tình huống nhiễm trùng do vi khuẩn.

ĐNCT

Bệnh Nhiễm Trùng (Do Vi Khuẩn Và Virus) Là Gì?

Vi khuẩn và virus đều là những vi sinh vật gây bệnh mà mắt thường không nhận biết được, dẫn đến việc nhiễm trùng cho cơ thể. Tuy đường lây nhiễm giữa vi khuẩn và virus tương tự nhau, triệu chứng bệnh nhiều khi cũng rất khó phân biệt nhưng do khác biệt về cấu tạo của hai loại vi sinh này nên cách điều trị của hai loại nhiễm trùng này hoàn toàn khác nhau.

Nhiễm trùng (vi khuẩn và virus) là bệnh gì?

Nhiễm trùng là tình trạng tấn công và tăng rất nhanh của các vi sinh vật như vi khuẩn, virus, ký sinh trùng vốn thường không tồn tại ở trong cơ thể.

Nhiễm trùng có thể tại một vị trí cố định hoặc đi theo đường máu lan khắp cơ thể. Tuy nhiên, một số vi sinh vật tự nhiên sống trong cơ thể không được coi là nhiễm trùng, ví dụ như vi khuẩn thường trú trong miệng và ruột.

Vi khuẩn và virus không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Chúng có thể gây ra các triệu chứng tương tự nhau và thường lây lan theo những đường giống nhau, nhưng đây cũng là điểm tương đồng duy nhất giữa vi khuẩn và virus.

Việc phân biệt giữa vi khuẩn và virus rất quan trọng cho cả chẩn đoán và điều trị bệnh:

Vi khuẩn là một thể duy nhất, nhưng chúng là tế bào rất phức tạp và có thể tự tồn tại bên trong hoặc bên ngoài cơ thể;

Hầu hết các vi khuẩn không có hại. Trong thực tế, có nhiều vi khuẩn thường trú trên da và trong cơ thể của chúng ta, đặc biệt là trong ruột giúp tiêu hóa thức ăn;

Virus nhỏ hơn và có cấu tạo không phải là tế bào. Không giống như vi khuẩn, chúng cần một vật chủ như con người hay động vật để nhân lên. Virus gây nhiễm trùng bằng cách nhập và nhân bên trong các tế bào khỏe mạnh của vật chủ.

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus) là gì?

Các triệu chứng phổ biến của bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus) là ho và hắt hơi, sốt, viêm, nôn mửa, tiêu chảy, mệt mỏi và chuột rút. Tất cả các phản ứng trên là cách mà hệ thống miễn dịch cố gắng loại bỏ sinh vật gây bệnh.

Tuy nhiên, bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và virus không giống nhau ở nhiều khía cạnh quan trọng khác, hầu hết trong số đó là do sự khác biệt về cấu trúc của sinh vật và cách chúng phản ứng với thuốc.

Bạn có thể gặp các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

Khi nào bạn cần phải gặp bác sĩ?

Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nêu trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ của bạn. Cơ địa của mỗi người là khác nhau. Vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sĩ để lựa chọn được phương án thích hợp nhất.

Nguyên nhân nào gây ra bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus)?

Nhiễm vi khuẩn và nhiễm virus có nhiều điểm chung. Chúng cũng có thể lây lan bằng cách tương tự nhau:

Ho và hắt hơi;

Tiếp xúc với người bị nhiễm, đặc biệt là thông qua hôn và quan hệ tình dục;

Tiếp xúc với các bề mặt, thực phẩm và nước bị ô nhiễm;

Tiếp xúc với sinh vật bị nhiễm bệnh, bao gồm cả vật nuôi và các loài côn trùng như bọ chét và ve.

Những ai thường mắc phải bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus)?

Nhiễm trùng (vi khuẩn và virus) là tình trạng sức khỏe rất phổ biến và có thể ảnh hưởng đến bệnh nhân ở mọi lứa tuổi. Bạn có thể kiểm soát bệnh này bằng cách giảm thiểu các yếu tố nguy cơ. Hãy tham khảo bác sĩ để biết thêm thông tin chi tiết.

Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ bị bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus)?

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây nhiễm trùng (vi khuẩn và virus), chẳng hạn như:

Người bị cảm lạnh

có thể lây nhiễm qua ho và/hoặc hắt hơi;

Vi khuẩn hoặc virus có thể được truyền thông qua bằng cách chạm hoặc bắt tay với một người khác;

Chạm tay vào thực phẩm bẩn cũng sẽ cho phép virus hoặc vi khuẩn lây lan vào ruột;

Dịch cơ thể, như máu, nước bọt và tinh dịch, có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh và truyền bệnh, ví dụ bằng cách tiêm hoặc quan hệ tình dục. Trường hợp nhiễm virus phổ biến và nặng nhất là

viêm gan a

AIDS

.

Điều trị nhiễm trùng

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của chuyên viên y tế, vậy nên tốt nhất là bạn hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ.

Những kỹ thuật y tế nào được dùng để chẩn đoán bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus)?

Ngoại trừ bệnh cảm lạnh không phải là một căn bệnh đe dọa tính mạng, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ nếu nghĩ rằng mình đang nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc virus.

Trong một số trường hợp, rất khó để xác định nguyên nhân chính xác gây ra bệnh nhiễm trùng bởi vì nhiều bệnh, bao gồm viêm phổi, viêm màng não, tiêu chảy có thể được gây ra bởi một loại vi khuẩn hoặc virus. Tuy nhiên, bác sĩ thường có thể xác định nguyên nhân qua bệnh sử và khám thực thể.

Đôi khi, bác sĩ có thể tiến hành xét nghiệm máu hoặc nước tiểu để chẩn đoán hoặc xét nghiệm cấu trúc của mô để xác định vi khuẩn hoặc virus. Thỉnh thoảng, bác sĩ có thể yêu cầu sinh thiết mô.

Những phương pháp nào dùng để điều trị bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus)?

Bệnh nhiễm trùng (do vi khuẩn và virus) là gì?

Các bác sĩ thường điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn bằng kháng sinh. Kháng sinh có thể diệt vi khuẩn hoặc ngăn chặn chúng nhân lên. Tuy nhiên, kể từ khi vi khuẩn kháng kháng sinh ngày càng tăng, các thuốc kháng sinh thế hệ mới nhất được chỉ định dùng cho các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng.

Điều trị nhiễm trùng do virus

Việc điều trị các bệnh nhiễm trùng do virus có thể bao gồm:

Kiểm soát các triệu chứng, chẳng hạn như dùng mật ong khi ho và các chất lỏng ấm như súp gà để bù nước;

Dùng

paracetamol

để giảm sốt;

Sử dụng thuốc kháng virus để ngăn chặn sự nhân lên của virus, chẳng hạn như thuốc chữa

HIV/AIDS

và các vết loét lạnh;

Ngăn ngừa nhiễm trùng từ ban đầu, chẳng hạn như tiêm các loại vắc xin phòng bệnh cúm và viêm gan.

Bạn cần ghi nhớ rằng thuốc kháng sinh sẽ không hiệu quả để điều trị nhiễm virus.

Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus)?

Bạn có thể kiểm soát bệnh này bằng các biện pháp sau đây:

Rửa tay kỹ (một trong những cách tốt nhất để tránh cảm lạnh);

Bắt tay với người bị cảm lạnh là yếu tố nguy hiểm, do vậy bạn tránh dụi mắt hoặc mũi ngay sau đó;

Thực phẩm cần được nấu chín hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt;

Các loại rau và thịt phải được lưu trữ riêng và chuẩn bị trên các thớt khác nhau;

Thịt nên được chế biến sạch sẽ;

Hãy nhớ rằng thức ăn có chứa những sinh vật vô hình không nhất thiết sẽ có mùi khó chịu;

Một số sinh vật chết khi thức ăn đã được nấu chín, nhưng chúng vẫn có thể để lại các chất độc hại gây tiêu chảy và nôn mửa;

Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục để làm giảm nguy cơ lây bệnh qua đường tình dục.

Nhiễm trùng là loại bệnh điều trị bằng kháng sinh. Để ngăn ngừa tình trạng gia tăng của các chủng loại vi khuẩn kháng thuốc, bạn không nên tự ý sử dụng thuốc kháng sinh mà không có toa chỉ định của bác sĩ và khi sử dụng thuốc nên tuân thủ đúng phác đồ điều trị: uống đúng loại thuốc, đúng liều lượng và đủ thời gian quy định. Còn đối với các bệnh truyền nhiễm do virus, phòng bệnh là phương pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả nhất.

Hiện tại, có nhiều bệnh gây ra do virus có thể phòng ngừa bằng cách tiêm vắc xin như viêm gan siêu vi A, B, cúm, viêm não Nhật Bản… Hãy liên hệ với bác sĩ để biết thêm thông tin về các bệnh có thể tiêm ngừa cũng như chủng ngừa đầy đủ cho bản thân và gia đình bạn.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất. Hãy chủ động quan tâm đến sức khỏe của bản thân và gia đình thông qua việc thăm khám, điều trị và sở hữu loại bảo hiểm sức khỏe phù hợp với nhu cầu.

Pacific Cross Việt Nam cung cấp các chương trình bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm du lịch phù hợp với từng yêu cầu và ngân sách của khách hàng. Cho dù là chương trình bảo hiểm cho cá nhân bạn, cho gia đình bạn hoặc doanh nghiệp của bạn, chúng tôi ở đây để đảm bảo rằng bạn nhận được sản phẩm bảo hiểm tốt nhất.

Nếu bạn chưa chắc chắn về chương trình bảo hiểm nào phù hợp với nhu cầu của mình, hãy sử dụng Chương trình Lựa Chọn Bảo Hiểm của chúng tôi hoặc liên hệ với chúng tôi để được tư vấn miễn phí qua email: inquiry@pacificcross.com.vn.

https://www.healthdirect.gov.au/bacterial-vs-viral-infection

http://www.webmd.com/a-to-z-guides/bacterial-and-viral-infections#2

http://www.netdoctor.co.uk/conditions/infections/a5560/viruses-and-bacteria/

Bạn đang xem bài viết Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Vi Khuẩn Và Nhiễm Virus trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!