Xem Nhiều 2/2023 #️ Sự Khác Biệt Giữa Phương Pháp Phát Triển Phần Mềm Truyền Thống Và Nhanh Nhẹn (Công Nghệ) # Top 7 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Sự Khác Biệt Giữa Phương Pháp Phát Triển Phần Mềm Truyền Thống Và Nhanh Nhẹn (Công Nghệ) # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Khác Biệt Giữa Phương Pháp Phát Triển Phần Mềm Truyền Thống Và Nhanh Nhẹn (Công Nghệ) mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phương pháp phát triển phần mềm Agile vs truyền thống

Có một số phương pháp phát triển phần mềm khác nhau được sử dụng trong ngành công nghiệp phần mềm ngày nay. Phương pháp phát triển thác nước là một trong những phương pháp phát triển phần mềm sớm nhất. V-Model, RUP và một số phương pháp lặp tuyến tính, lặp và kết hợp tuyến tính khác, xuất hiện sau phương pháp thác nước, nhằm xóa sạch nhiều vấn đề của phương pháp thác nước. Tất cả các phương pháp trước đó được gọi là Phương pháp phát triển phần mềm truyền thống. Mô hình Agile là một mô hình phát triển phần mềm gần đây được giới thiệu để giải quyết các thiếu sót được tìm thấy trong các mô hình truyền thống. Trọng tâm chính của Agile là kết hợp thử nghiệm càng sớm càng tốt và phát hành phiên bản hoạt động của sản phẩm từ rất sớm, bằng cách chia nhỏ hệ thống thành các phần phụ rất nhỏ và có thể quản lý được.

Phương pháp phát triển phần mềm truyền thống là gì?

Các phương pháp phần mềm như phương pháp Waterfall, V-Model và RUP được gọi là các phương pháp phát triển phần mềm truyền thống. Phương pháp thác nước là một trong những mô hình phát triển phần mềm sớm nhất. Như tên cho thấy, đây là một quá trình tuần tự trong đó tiến trình chảy qua một số giai đoạn (phân tích yêu cầu, thiết kế, phát triển, thử nghiệm và thực hiện) từ trên xuống dưới, tương tự như một thác nước. V-Model được coi là một phần mở rộng của mô hình phát triển phần mềm Waterfall. Mô hình V sử dụng cùng mối quan hệ giữa các pha được xác định trong mô hình Thác nước. Nhưng thay vì giảm tuyến tính (như mô hình Waterfall), Mô hình V bước xuống theo đường chéo và sau đó di chuyển lên (sau giai đoạn mã hóa), tạo thành hình dạng của chữ V. RUP (Quy trình hợp nhất Rational) là một khung quy trình có thể thích ứng (không phải một quy trình cụ thể), có thể được tùy chỉnh bởi tổ chức phát triển theo nhu cầu của họ. Hơi giống với thác nước, nó có các giai đoạn cố định như khởi đầu, xây dựng, xây dựng và chuyển tiếp. Nhưng không giống như thác nước, RUP là một quá trình lặp đi lặp lại.

Nhanh nhẹn là gì?

Agile là một phương pháp phát triển phần mềm rất gần đây (hay chính xác hơn là một nhóm các phương pháp) dựa trên tuyên ngôn nhanh. Điều này đã được phát triển để giải quyết một số thiếu sót trong phương pháp phát triển phần mềm truyền thống. Các phương pháp nhanh nhẹn dựa trên việc ưu tiên cao cho sự tham gia của khách hàng sớm trong chu kỳ phát triển. Nó khuyến nghị kết hợp kiểm tra bởi khách hàng sớm và thường xuyên nhất có thể. Kiểm tra được thực hiện tại mỗi điểm khi có phiên bản ổn định. Nền tảng của Agile dựa trên việc bắt đầu thử nghiệm từ khi bắt đầu dự án và tiếp tục trong suốt đến cuối dự án. Lập trình Scrum và Extreme là hai trong số các biến thể phổ biến nhất của phương thức Agile.

Giá trị quan trọng của Agile là chất lượng của Wap là trách nhiệm của nhóm, điều này nhấn mạnh rằng chất lượng của phần mềm là trách nhiệm của cả nhóm (không chỉ nhóm thử nghiệm). Một khía cạnh quan trọng khác của Agile là chia nhỏ phần mềm thành các phần có thể quản lý nhỏ hơn và cung cấp chúng cho khách hàng rất nhanh. Cung cấp một sản phẩm làm việc là một điều quan trọng nhất. Sau đó, nhóm tiếp tục cải tiến phần mềm và cung cấp liên tục ở mỗi bước chính. Điều này đạt được bằng cách có các chu kỳ phát hành rất ngắn (được gọi là chạy nước rút trong Scrum) và nhận phản hồi để cải thiện vào cuối mỗi chu kỳ. Những người đóng góp không có nhiều tương tác của nhóm như nhà phát triển và người thử nghiệm trong các phương thức trước đó, giờ đây hoạt động cùng nhau trong mô hình Agile.

Sự khác biệt giữa Phương pháp phát triển phần mềm truyền thống và Agile là gì?

Mặc dù phương pháp Agile dựa trên sự phát triển lặp lại như một số phương pháp truyền thống, phương pháp Agile và truyền thống có những khác biệt chính. Các phương pháp truyền thống sử dụng lập kế hoạch làm cơ chế kiểm soát của họ, trong khi các mô hình Agile sử dụng phản hồi từ người dùng làm cơ chế kiểm soát chính. Agile có thể được gọi là phương pháp lấy con người làm trung tâm hơn các phương pháp truyền thống. Mô hình Agile cung cấp phiên bản hoạt động của sản phẩm từ rất sớm so với các phương pháp truyền thống để khách hàng có thể sớm nhận ra một số lợi ích. Thời gian chu kỳ thử nghiệm của Agile tương đối ngắn so với các phương pháp truyền thống, bởi vì thử nghiệm được thực hiện song song với phát triển. Hầu hết các mô hình truyền thống rất cứng nhắc và tương đối kém linh hoạt hơn mô hình Agile. Vì tất cả những ưu điểm này, Agile được ưa chuộng hơn các phương pháp truyền thống tại thời điểm này.

Phương Pháp Phát Triển Phần Mềm: Truyền Thống Và Agile

Published on

Phương pháp phát triển phần mềm: Truyền thống và Agile. Cảm ơn anh Ngô Trung Việt chọn lọc, biên dịch và giới thiệu tới cộng đồng.

1. Phương pháp phát triển phần mềm : truyền thống và Agile Anthony Lattanze Câu hỏi đầu tiên trong tâm trí nhiều người có thể là: Khuôn khổ qui trình phát triển phần mềm là gì? Tất nhiên, câu trả lời cho điều này là “Điều này là tuỳ.” Qui trình phát triển là nghi thức chung mà các tổ chức tuân theo để phát triển sản phẩm. Trong khi điều này là áp dụng được nói chung cho bất kì miền chế tạo nào, chúng ta có thể an toàn mà nói rằng qui trình phát triển là nghi thức hay thủ tục chung mà các tổ chức tuân theo để phát triển hệ thống dùng nhiều phần mềm và sản phẩm. Trong phần lớn các năm 1980 cho tới nay, sự hội tụ của các cộng đồng cải tiến qui trình đã từng dồn vào qui trình phát triển phần mềm, cho dù sản phẩm và hệ thống tiến hoá nhiều hơn chỉ phần mềm. Mô hình thác đổ từ Khái MLISTD 2167 Phân niệm hệ tích yêu Phân thống cầu hệ tích yêu Thiết kế thống sơ bộ Thiết kế cầu phần chi tiết Viết mã mềm và kiểm thử đơn Kiểm thử triển vị khai Lẫn lộn chung khác là thuật ngữ vòng đời phần mềm, điều thường được dùng một cách đồng nghĩa để chỉ qui trình phát triển phần mềm. Vòng đời phần mềm có xu hướng rất trừu tượng, mô tả các giai đoạn chung của các dự án phát triển phần mềm. Vòng đời phần mềm còn nhiều hơn phát triển hệ thống hay sản phẩm; nó nói tới con đường từ cái nôi tới nấm mồ mà các yêu cầu được thu thập và phân tích, và phần mềm được phát triển, kiểm thử, triển khải, bảo trì, và cuối cùng cho nghỉ việc. Mô hình vòng đời tương tự, có tên là V-mô hình (Forsberg et al., 1996), tồn tại trong cộng đồng kĩ nghệ hệ thống. Tổ chức tạm thời chung của những pha tổng quát này thường định nghĩa loại vòng đời phần mềm mà một tổ chức dùng. Được tổ chức theo cách này, vòng đời có thể là thác đổ, và theo cách khác nó có thể là lặp hay xoáy ốc. Những vòng đời đa dạng này được mô tả trong Hình 1. Mỗi một trong những vòng đời này phục vụ cho các hoàn cảnh phát triển hệ thống và doanh nghiệp khác nhau. Qui trình thác đổ có thể được dùng trong những tình huống mà các yêu cầu sản phẩm hay hệ thống và các công nghệ được hiểu rõ. Các vòng đời lặp hay xoáy ốc thường được dùng trong hoàn cảnh doanh nghiệp nơi các yêu cầu là biến động, công nghệ không được hiểu rõ, hay cả hai. Theo lí thuyết, việc lặp giúp nhận diện và kiểm soát rủi ro do các yêu cầu biến động hay công nghệ thách thức sớm hơn là cách tiếp cận thác đổ giúp. Các vòng đời phát triển phần mềm lặp dường như là được ưa chuộng nhất ngày nay. 1

2. Xác định mục tiêu, phương án và ràng buộc, Đánh giá phương án nhận diện và giảm Phân tích nhẹ rủi ro rủi ro Phân tích rủi ro Phân tích rủi ro Bản mẫu 1 2 3 Lập kế hoạch yêu cầu Thiết kế Viết mã Lập kế hoạch phát triển Kiểm thử Phát triển và trắc nghiệm lần lặp sản phẩm tiếp Lập kế hoạch V- mô hình kĩ nghệ hệ thống cổ điển Yêu cầu hệ thống Kiểm thử hệ thống Yêu cầu phần mềm Kiểm thử chấp nhận Thiết kế sơ bộ Kiểm thử tích hợp Thiết kế chi tiết Phân tích và thiết kế Kiểm thử cấu phần Kiểm thử đơn vị Xây dựng Hình 1 Mô hình vòng đời tổng quát. 2 Kiểm thử và tích hợp Mô hình xoáy ốc của Boehm

3. Tuy nhiên, trong thực hành, nếu người ta xem xét kĩ càng điều tổ chức thực sự làm khi nó xây dựng hệ thống dùng nhiều phần mềm, một tổ hợp của vòng đời lặp và thác đổ thường được dùng. Một khi thiết kế kiến trúc ổn định, thời kì không chắc chắn qua đi, và cách tiếp cận hướng thác đổ trực tiếp hơn có thể được lấy, hay những lần lặp khác nhau có thể được dùng để xây dựng và triển khai các phiên bản đa dạng của sản phẩm hay hệ thống. Các khuôn khổ qui trình phần mềm cung cấp nhiều chi tiết hơn các mô hình vòng đời tổng quát cung cấp, nhưng dầu vậy vẫn cần được làm thể nghiệm hay điều chỉnh cho các dự án và các tổ chức đặc biệt. Các khuôn khổ qui trình phần mềm tổ hợp các mô hình vòng đời phần mềm tổng quát, nhưng qui định các vai trò, trách nhiệm, vật phẩm, thủ tục, phương pháp, vân vân mà phải được tạo ra khi tuân theo khuôn khổ qui trình này. Các tổ chức thường bắt đầu với một khuôn khổ qui trình phần mềm và điều chỉnh nó theo qui trình phát triển phần mềm đặc biệt của họ. Các qui trình phần mềm của tổ chức được làm thể nghiệm là các khuôn khổ qui trình đặc biệt hơn nhiều và mô tả đặc biệt điều được làm, điều được sản xuất ra, và bởi ai. Các qui trình phần mềm của tổ chức có thể xác định các vai trò đặc biệt, trách nhiệm, vật phẩm, thủ tục, dạng thức tài liệu, khuôn mẫu, chuẩn, vân vân. Xem xét kĩ lưỡng hơn về qui trình phát triển của tổ chức, chúng ta thấy rằng không có một sự liên tục của các hoạt động mà khêu gợi yêu cầu, phân tích các yêu cầu, và làm tài liệu các yêu cầu, thiết kế, vân vân mãi cho tới khi hệ thống hay sản phẩm chạy ra. Xây dựng hệ thống phức tạp dùng nhiều phần mềm không giống như chế tạo theo dây chuyền lắp ráp, điều ít nhiều là sự liên tục của các chất liệu thô đi vào từ đầu này của nhà máy chế tạo và sản phẩm chạy ra từ đầu kia. Các qui trình được tổ chức dùng để phát triển hệ thống dùng nhiều phần mềm giống nhiều với tập các qui trình tách rời nhưng có tương hỗ mà được dùng cùng nhau để phát triển sản phẩm hay hệ thống. Qui trình nặng cân so với nhẹ cân Các cộng đồng cải tiến qui trình truyền thống có nguồn gốc ở trong các mô hình vòng đời thác đổ, cải tiến chất lượng toàn bộ, mô hình hoá trưởng thành năng lực, ISO 9000, Six Sigma, và những vấn đề khác. Nhiều trong các phong trào này bắt đầu từ đầu những năm 1980 khi nhu cầu về phần mềm liên tục mất kiểm soát, và thất bại dự án tăng lên là qui tắc. Điều đó là hiển nhiên bởi việc đưa người thông minh vào một phòng để chọc ngoáy mã trong 12 giờ một ngày sẽ không tất yếu đưa tới hệ thống với chức năng và thuộc tính đặc tính chất lượng mong muốn. Truyền thống dùng các khuôn khổ qui trình để hướng dẫn công việc của người thiết kế và người phát triển, và để cải tiến thực hành, vẫn diễn ra ngày nay. Tính mau lẹ ngày nay là mục nóng trong qui trình phát triển phần mềm. Nếu từ mau lẹ (agile) không xuất hiện trong tiêu đều hay tiêu đề con của một khuôn khổ qui trình, dường như là nó bị khinh rẻ bởi thế hệ mới các kĩ sư xem như “trường phái cổ” và “quá nặng cân.” Tương tự, những người thuần khiết từ các cộng đồng qui trình truyền thống dường như hơi chút nghi ngờ về phong trào qui trình nhẹ cân. Trong thực hành, các cực đoan thường không bao giờ là câu trả lời tốt nhất, và đây chắc chắn là trường hợp trong các tranh cãi qui trình nặng cân và nhẹ cân vẫn nổi lên dữ dội ngày nay. Các cộng đồng cải tiến qui trình truyền thống có xu hướng lấy tài liệu làm trọng tâm và tuỳ thuộc vào các qui trình tổ chức được cấu trúc cao, được xác định nghiêm ngặt, và được tuân theo trung thành để xây dựng hệ thống dùng nhiều phần mềm. Khẳng định là ở chỗ các hệ thống được xây dựng theo cách này có chiều chi phí, lịch biểu và chất lượng sản phẩm dự đoán được nhiều hơn – và có nhiều dữ liệu để hỗ trợ cho khẳng định này. 3

4. Mặc dầu những kiểu các khuôn khổ qui trình truyền thống này đã đóng góp lớn cho cải tiến cách các hệ thống được xây dựng, chúng thường nặng nề nhiều hơn cần thiết trong nhiều tình huống và hoàn cảnh doanh nghiệp. Nhiều trong những khuôn khổ này về nguồn gốc được tạo ra với các dự án lớn của bộ quốc phòng Mĩ trong tâm trí và thường quá tốn kém và rắc rối để cho các tổ chức nhỏ có thể theo được trong xây dựng hệ thống và sản phẩm dùng nhiều phần mềm. Một biện luận khác, mới gần đây là ở chỗ các qui trình nghiêm ngặt có xu hướng làm xơ cứng tính sáng tạo của tổ chức, và có bằng chứng từ các trường hợp nghiên cứu của các tổ chức đa dạng để gợi ý rằng có tính đúng đắn nào đó cho luận cứ này. Một ví dụ tuyệt vời là trường hợp nghiên cứu (Hindo, 2007) mô tả cho thành công nổi bật của công ti 3M trong khả năng của nó để lợi dụng phát kiến công nghệ. Tổ hợp của phát minh doanh nghiệp và cấu trúc công ti lớn thường là sự trộn lẫn bất thường. Các công ti lớn điển hình thấy khó phát kiến, và các công ti nhỏ thường thấy khó đạt tới sản xuất qui mô lớn, dự đoán được, có chi phí-hiệu quả. Tuy nhiên, 3M là công ti đã 100 năm đã tận hưởng danh tiếng là một trong những công ti phát kiến nhất trên thế giới trên hành tinh này, với nhiều thu nhập của nó dựa trên các công nghệ phát kiến mới được phát triển bên trong 3M. Thành công này đã được qui cho môi trường khuyến khích nhận rủi ro và sự dung thứ nào đó cho thất bại như chất xúc tác cho khám phá. Bên trong tổ chức nghiên cứu và phát triển của 3M, các qui trình cực nhẹ cân cho phép các kĩ sư được tự do khám phá các ý tưởng mà không bị nặng gánh hay bị gây sức ép của việc đáp ứng cách đo thống kê và các mục đích hay hạn chót thời gian đưa ra thị trường. Một kĩ sư nghiên cứu của 3M khẳng định rằng 5,000 ý tưởng phải được khảo sát để tìm ra một ý tưởng sẽ sinh lời. Mặc cho bản ghi theo dõi về phát kiến, thay đổi trong cấp quản lí điều hành nảy sinh trong những thay đổi nền tảng cho nghiêng về nhẹ cân và các qui trình phát triển ở 3M. Ông CEO mới, người chủ trương mạnh mẽ về quản lí chất lượng toàn bộ (TQM) và Six Sigma – các khuôn khổ qui trình được dựa vào, đã quyết định thể chế hoá kiểm soát qui trình nghiêm ngặt để đo, quản lí, và cải tiến qui trình phát kiến của 3M. Qui trình kiểm điểm pha nghiêm ngặt được thể chế hoá để thúc đẩy nghiên cứu có hứa hẹn. Dưới qui trình này, nếu một dự án nghiên cứu không cho thấy dẫn đến sản phẩm sinh lời sau khi kiểm điểm, dự án này bị cắt bỏ. Mục đích của loại kiểm soát qui trình này là để tăng tốc, hệ thống hoá, và dịch chuyển phát kiến thành sản phẩm sinh lời được cho thị trường. Mục đích của cấp quản lí là làm phát kiến thành dự đoán được nhiều hơn và có chi phí-hiệu quả. Tuy nhiên, phát kiến và khám phá cần qui trình hỗn độn và không dự đoán được nơi cách đo thống kê thô không cho biết được toàn thể câu chuyện về phát kiến thành công. Chẳng hạn, Post-It Notes đã được phát minh tại 3M là ví dụ cổ điển về chất dính bị thất bại đã tìm thấy thành công trong ứng dụng hoàn toàn không được lập kế hoạch trong Post-It Notes. Post-It Notes đã được dùng một thời gian dài trong các phòng thí nghiệm của 3M trước khi ai đó trong tổ chức này đã hứng khởi đưa nó ra thị trường như một sản phẩm cho người tiêu thụ. Dựa trên mục đích nghiên cứu gốc, điều đã dự định để phát triển chất dính mới, con số thống kê đã chỉ ra chương trình nghiên cứu này là thất bại. Tuy nhiên, thực tại là ở chỗ Post-It Notes khéo léo đã làm nảy sinh thu nhập hàng tỉ đô la cho công ti 3M. Theo các kĩ sư ở 3M, dưới chế độ mới về nghiên cứu có kiểm soát, được giám sát chặt chẽ, chất dính cho Post-It Notes chắc đã bị cắt bỏ từ lâu trước khi Post-It Notes được phát minh và tiềm năng thương mại của nó được khảo sát. Dưới các qui trình mới, dự án nghiên cứu bị cắt bỏ, cái không cho kết quả trong khung thời gian nhất quán với các con số thống kê và bên trong khuôn khổ qui trình được xác định nghiêm ngặt. Mặc dầu thu nhập từ chế tạo sản phẩm hiện có tăng trưởng dưới kiểm soát qui trình nghiêm ngặt, thu nhập từ phát kiến mới tụt thẳng xuống. Việc áp dụng kiểm soát qui trình nghiêm ngặt cho các chức năng nghiên cứu và phát triển làm xơ cứng hiệu quả tính sáng tạo. Thất bại không được dung thứ, vì nó là xấu theo thống kế, và các chi phí khảo sát không 4

5. bị trói buộc mà các con số thống kê đã chỉ ra sẽ không dẫn tới sản phẩm sinh lời đã bị khử bỏ. Về truyền thống, 3M đã là nơi các nhà nghiên cứu được cho phạm vi rộng để theo đuổi nghiên cứu tới chỗ nó đưa tới. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu giỏi nhất đã bỏ 3M để tìm đồng cỏ xanh tươi hơn nơi họ có thể theo đuổi chương trình nghiên cứu của họ trong môi trường không bị trói buộc. Hiệu quả của những thay đổi này là đáng ngạc nhiên. Năm 2004, 3M được xếp hạng thứ nhất trên danh sách các công ti phát kiến nhất của Boston Consulting Group. Nó đã tụt xuống thứ hai trong năm 2005, thứ ba trong năm 2006, và xuống thứ bẩy trong năm 2007. Trước khi chấp nhận kiểm soát qui trình nghiêm ngặt, một phần ba các sản phẩm của 3M đã dựa trên phát kiến mới. Sau khi chấp nhận kiểm soát qui trình nghiêm ngặt, con số này tụt xuống một phần tư. Theo trường hợp nghiên cứu này, kiểm soát qui trình nghiêm ngặt dường như phục vụ cho việc chế tạo các sản phẩm đã thiết lập tốt, nhưng tác động nghiêm trọng tới các tổ chức nghiên cứu và phát kiến bên trong 3M. Với một công ti như 3M, không phát kiến trong phân đoạn thị trường của nó có thể là án tử hình chậm. Xu hướng tiêu cực này tại 3M gần đây đã được CEO mới đề cập tới, người đã loại bỏ nhiều sự cứng nhắc trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển bên trong 3M và đã thiết lập lại nhiều thực hành trước đây. Điều này đề cập tới câu hỏi: Tại sao các tổ chức cứ nhấn mạnh vào những cực đoan: nhẹ cân hay nặng cân, kiểm soát cao hay kiểm soát mặc kệ cho làm? Dường như là không có chỗ cho cả hai hay mảnh đất ở giữa. Trường hợp nghiên cứu này (và những trường hợp tương tự) sẽ dường như chỉ ra rằng kiểm soát cao, các qui trình nặng cân có thể có chỗ trong sản xuất thường lệ và môi trường chế tạo, nhưng không có chỗ trong môi trường động, hướng phát kiến. Sao không áp dụng cả hai? Sự nổi dậy nhỏ chống lại các khuôn khổ qui trình hướng thác đổ nguyên khối đã bắt đầu từ giữa những năm 1980, đặc biệt trong các tổ chức năng động nhỏ hơn. Nhưng cho dù các tổ chức này nhận ra rằng họ quá cần các qui trình có kỉ luật hơn nào đó, và vấn đề chọc ngoáy hệ thống không thể thức có thể là đơn thuốc cho thảm hoạ. Điều này dẫn tới việc thám hiểm các khuôn khổ qui trình thay thế mà có thể cung cấp đủ qui trình cho các tổ chức năng động, nhỏ hơn trong xây dựng hệ thống dùng nhiều phần mềm. Một xem xét quan trọng khác của nhiều người nghiên cứu là tạo ra khuôn khổ qui trình đảm đương được mà có thể dễ dàng được chấp nhận và rẻ. Phải tốn kém nhiều tiền, nỗ lực, thời gian, và tài nguyên để phát triển, thể chế hoá, dịch chuyển, đo và bảo trì các khuôn khổ qui trình kiểm soát cao, nặng cân. Những chi phí này đã là, và vẫn là vấn đề chính cho các tổ chức công nghệ cao nhỏ hơn. Một khuôn khổ qui trình đã nổi lên vào giữa những năm 1980 làm thay đổi cách các kĩ sư nghĩ về các khuôn khổ qui trình phát triển. Phát triển ứng dụng nhanh (RAD) bùng nở trên khung cảnh công nghệ vào những năm 1980 và là ông tổ của khuôn khổ qui trình agile (uyển chuyển) điều sinh sôi nảy nở ngày nay (Martin, 1991). Mặc dầu chỉ có một đám nhỏ những tín đồ và phần lớn không được các cộng đồng thời đó về qui trình trên máy tính lớn tin tưởng, RAD đã gieo hạt mầm mà vẫn đem lại kết quả ngày nay. Tại lõi của nó, RAD đã dùng mô hình vòng đời xoáy ốc mà đã được Boehm lí thuyết hoá trong bài báo bước ngoặt của ông ấy (Boehm, 1986). Tuy nhiên, RAD đã vận hành hoá khái niệm này trong một khuôn khổ cụ thể hơn mà các tổ chức có thể làm thể nghiệm và duy trì một cách nhanh chóng, dễ dàng và rẻ. Trong suốt cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các mô hình như Mô hình trưởng thành năng lực (Paulk et al., 1995) đã chi phối, nhưng các khuôn khổ qui trình nhẹ cân dần dần và vững chắc thu được mảnh đất và nhiều uy tín hơn. Dịch chuyển này từ các khuôn khổ qui trình nặng cân sang nhẹ cân có thể được qui cho sự kiện là những nhà sản xuất và tiêu thụ phần mềm lớn nhất trên toàn thế giới trong những năm 1980 là chính phủ Mĩ, và nói riêng là Bộ quốc phòng Mĩ. Hệ thống dùng nhiều phần mềm thường phức tạp, siêu qui mô và được xây dựng bởi lực lượng lao động phân bố cao. Điều này cần việc dùng các qui trình rất 5

11. Thay vì tạo ra lịch biểu đầy đủ trước thời gian, tôi thích dùng cách tiếp cận lặp bằng viết thiết lập lịch biểu một tuần vào mỗi lúc, nơi các thành viên tổ đều tham gia để cho tôi biết họ có thể hoàn thành được cái gì vào tuần đó. Một khi họ đã đạt tới một cột mốc, đó là lúc ước lượng và lập kế hoạch sang cột mốc tiếp. Việc cả tổ tham gia vào ước lượng lịch biểu là tốt hơn nhiều so với ước lượng riêng của các cá nhân. Tôi đòi hỏi từng thành viên tổ phải đưa ra ước lượng riêng của họ và dùng cách tiếp cận “Delphi băng rộng” hay cách tiếp cận trung bình để đi tới lịch biểu toàn thể. Khi bạn cho phép mọi người tạo ra ước lượng riêng của họ, họ có xu hướng theo dõi mình, đi theo mình, và cố gắng làm cho nó được hoàn thành thành công bởi vì ước lượng của họ là một phần công việc của họ. Bởi vì các dự án agile đều nhỏ, bạn phải tích hợp các công việc liên tục, không thành vấn đề bạn đang làm cái gì (mã, kiểm thử, tài liệu, kế hoạch). Bạn phải có người làm quản lí cấu hình phần mềm để giúp thiết lập cấu hình và phiên bản đúng cho phần mềm của bạn vì công việc thường xuyên thay đổi. Khi phiên bản cuối cùng được kiểm đưa vào, và tôi biết trạng thái nó tới trong nó và tôi không phải nghĩ về nó. Ai đó hỏi tôi, nếu agile là hoạt động toàn tổ, có thực sự cần người quản lí dự án không? Câu trả lời của tôi là dứt khoát “Có.” Tuy nhiên, vai trò của người quản lí dự án trong phương pháp agile mang nhiều tính người lãnh đạo và thầy kèm chứ KHÔNG kiểm soát như được dạy trong hầu hết các giáo trình quản lí dự án. Bạn càng cung cấp nhiều hướng dẫn và hỗ trợ cho tổ, họ sẽ càng có kết quả hơn. Bạn càng thực hành cách tiếp cận cộng tác này, bạn càng linh hoạt hơn như một người quản lí dự án, điều làm cho bạn thành người quản lí giỏi hơn. Bạn KHÔNG ra lệnh cho họ, bạn KHÔNG chỉ đạo họ, bạn KHÔNG chỉ huy họ, bạn KHÔNG đe doạ họ mà bạn là người hướng dẫn họ, ai đó mà họ tin cậy và ai đó giúp cho họ làm công việc của họ. Về căn bản, bạn là người lãnh đạo của họ và người lãnh đạo KHÔNG phải là ai đó có thẩm quyền trên họ mà là ai đó họ sẵn lòng đi theo. Dự án agile thành công có hai yếu tố then chốt: Người lãnh đạo là người quản lí dự án và tổ có kinh nghiệm và có kỉ luật. Không có hai yếu tố này, nó sẽ là khó. Câu hỏi của tôi là “Là người quản lí dự án, bạn có sẵn lòng thay đổi để trở thành người lãnh đạo giỏi hơn không?” và “Là thành viên tổ, bạn có đủ kinh nghiệm và kỉ luật để áp dụng phương pháp agile vào công việc của bạn không?” 11

Sự Khác Biệt Chính Giữa Khoa Học Máy Tính Và Công Nghệ Phần Mềm Là Gì?

Sự khác biệt chính giữa khoa học máy tính và công nghệ phần mềm là gì?

Cảm ơn Caelen A2A!

Câu trả lời ngắn

Tôi phải nói rằng Kỹ thuật phần mềm nói chung là một thuật ngữ lỏng lẻo khi được sử dụng bởi thị trường doanh nghiệp và công việc (và hầu hết mọi người, bao gồm cả tôi). Tôi không đủ điều kiện nhất cho các chi tiết cụ thể về vấn đề này trong giới học thuật, nhưng từ những gì tôi biết về Kỹ thuật phần mềm với tư cách là môn học không phổ biến trong cộng đồng học thuật toàn cầu như CS.

Câu trả lời dài

Tôi cũng đã quen với một định nghĩa về Kỹ thuật Máy tính như một môn học về học thuật. Nó được định nghĩa là một tập hợp con của CS + Kỹ thuật điện, nhưng tôi không biết nếu điều đó được chấp nhận trên toàn cầu.

Mong rằng sẽ giúp. Trân trọng!

Tôi đã học Khoa học Máy tính (Cử nhân và Thạc sĩ) và bản mô tả công việc đầu tiên của tôi, ngay khi ra trường, là Kỹ sư phần mềm. Về cơ bản trong thế giới thực (tức là không có học thuật), nó không tạo ra nhiều khác biệt. Vấn đề là những gì bạn thực sự làm sau đó với bằng cấp của bạn.

Bạn có giải quyết các vấn đề về thuật toán, Machine Learning, AI, v.v. – đó là CS

Hoặc bạn tập trung nhiều hơn vào thiết kế hệ thống – ví dụ như thiết kế các giải pháp có thể mở rộng cho các hệ thống lớn. Các kỹ sư phần mềm cần suy nghĩ về các vấn đề như khả năng kiểm tra, hệ thống có thể sửa đổi, mã trực quan với một đường cong học tập dễ dàng, v.v.

Khoa học máy tính bao gồm nhiều chuyên ngành khác nhau, một trong số đó là Kỹ thuật phần mềm.

Kỹ thuật phần mềm, là một tập hợp con của ngành Khoa học Máy tính, nói về SDLC một cách chi tiết. Nó bao gồm thiết kế, phát triển, triển khai, thử nghiệm và bảo trì các hệ thống phần mềm.

svcministry.org © 2021

Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Giáo Dục Truyền Thống Và Phương Pháp Montessori

Những năm đầu đời của con luôn là giai đoạn khó khăn nhất đối với các bậc cha mẹ. Vì trong giai đoạn này con phát triển đồng thời cả: não bộ, hệ thống vận động, ngôn ngữ, tính cách,… từ chưa biết gì đến tự học hỏi và hoàn thiện bản thân. Cha mẹ cần giúp con từ bị động đến chủ động tiếp nhận thông tin về thế giới chung quanh. Giúp con tự khám phá khả năng đặc biệt của bản thân, tự hoàn thiện các kỹ năng cơ bản trong cuộc sống thường ngày. Qua đó giúp con phát triển toàn diện.

Cha mẹ đã biết về phương pháp giáo dục tốt nhất

trên thế giới 100 năm qua dành cho con chưa?

Những năm đầu đời của con luôn là giai đoạn khó khăn nhất đối với các bậc cha mẹ. Vì trong giai đoạn này con phát triển đồng thời cả: não bộ, hệ thống vận động, ngôn ngữ,  tính cách,… từ chưa biết gì đến tự học hỏi và hoàn thiện bản thân. Cha mẹ cần giúp con từ bị động đến chủ động tiếp nhận thông tin về thế giới chung quanh. Giúp con tự khám phá khả năng đặc biệt của bản thân, tự hoàn thiện các kỹ năng cơ bản trong cuộc sống thường ngày. Qua đó giúp con phát triển toàn diện.

Tại hệ thống trường học Wonderkids Montessori School, chúng tôi hiểu và muốn chia sẻ một phần trách nhiệm giáo dục con với quý cha mẹ. Chúng tôi áp dụng phương pháp giáo dục khoa học và hiệu quả nhất trong hơn 100 năm qua trên toàn thế giới  – Phương pháp Montessori – giúp tất cả các trẻ được phát triển theo cách tự nhiên nhất.

Phương pháp Montessori là gì?

Montessori là một phương pháp giáo dục được Tiến Sĩ Y Khoa Maria Montessori phát triển và được đặt tên theo họ của bà. Phương pháp này giúp con trưởng thành, tự hoàn thiện bản thân và các phẩm chất, kỹ năng trên nhiều phương diện – điều này có ý nghĩa quyết định đến tương lai của con sau này.

Nền tảng của phương pháp này dựa trên nhu cầu học tập, hoạt động tự nhiên của con trong môi trường sống hàng ngày, thể hiện qua việc con tự khám phá, vui chơi, suy nghĩ, giải quyết vấn đề,… Montessori được thiết kế chặt chẽ, tỉ mỉ để hỗ trợ con học mà chơi, chơi mà học đầy sinh động và vô cùng thực tế.

Sự khác biệt giữa phương pháp Montessori và phương pháp giáo dục truyền thống

Cùng là để giúp trẻ phát triển các kỹ năng và phẩm chất trong giai đoạn đầu đời, tuy nhiên Montessori không truyền đạt tri thức một chiều, không áp đạt vấn đề học thuật lên trẻ mà chú ý nhiều hơn đến sự phát triển mọi mặt của trẻ trên nhiều phương diện, giúp trẻ tự mình tìm và trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Điều mà các phương pháp giáo dục truyền thống không thể làm được.

Phương pháp Montessorri

Phương pháp truyền thống

Mục tiêu

Giúp trẻ phát triển toàn diện kỹ năng và phẩm chất

Tập trung vào tri thức xã hội

Trung tâm lớp học

Trẻ là trung tâm của lớp học

Giáo viên chỉ hỗ trợ, cùng làm việc với trẻ

Giáo viên là trung tâm và dẫn dắt lớp học

Quy mô lớp học

Gồm nhiều nhóm tuổi

Các trẻ cùng độ tuổi

Môi trường học

Dạy và học theo khả năng của từng trẻ, tự trẻ sẽ tìm ra bài học và khắc sâu nó.

Bài giảng được dạy theo tiến độ chung của toàn trường.

Giáo cụ

Tài liệu và giáo cụ giảng dạy đầy sinh động được chuẩn bị sẵn để trẻ tự khám phá (chơi, cảm nhận theo nhiều giác quan, suy nghĩ,…).

Tài liệu và giáo cụ ít, đơn giản, chỉ mô phỏng thực tế.

Hỗ trợ của giáo viên

Hướng dẫn từng trẻ theo tiến độ học tập và khả năng tự nhiên của trẻ đó

Hướng dẫn theo nhóm, đồng thời và không phân biệt

Phương pháp Montessori tôn trọng sự phát triển tự nhiên nhất của các con, hỗ trợ để con từng bước có được các kỹ năng và phẩm chất cần thiết trong cuộc sống. Giúp con phát triển toàn diện khả năng suy nghĩ độc lập, giải quyết vấn đề, làm việc cá nhân và nhóm, lòng yêu thương – nhân ái, đam mê học tập,… Giúp con hình thành các thói quen tốt, có kỹ năng tốt, phẩm chất tốt,… tiền đề để con phát triển trong tương lai.

Cha mẹ hãy giúp con có được cơ hội học tập một cách toàn diện nhất trong những năm tháng đầu đời đầy quan trọng này với phương pháp Montessori. – Phương pháp giáo dục hiệu quả nhất trong 100 qua trên thế giới.

Hệ thống trường mầm non Wonderkids Montessori School

CAMPUS TONG HUU DINH (MONTESSORI PROGRAM): 3A Tong Huu Dinh, Thao Dien Ward, District 2, HCM Phone: (028) 2253 4999 Email:montessori-office@wonderkids.edu.vn

CAMPUS PHU MY HUNG (MONTESSORI PROGRAM): 4-6 Street 20, My Gia 1, Tan Phu Ward, District 7, HCM Phone: (028) 5414 1416 Email: info@wms.edu.vn

CAMPUS XUAN THUY (BILINGUAL PROGRAM): 38 Xuan Thuy, Thao Dien Ward, District 2, HCMC Phone: (028) 2253 8512 Email: office38@wonderkids.edu.vn

CAMPUS TRUNG SON (BILINGUAL PROGRAM): 74 Lô K33 – Đường 11 KDC Him Lam – Bình Chánh – TP.HCM Phone: (028) 5431 7092 Email: office-trungson@wonderkids.edu.vn

Bạn đang xem bài viết Sự Khác Biệt Giữa Phương Pháp Phát Triển Phần Mềm Truyền Thống Và Nhanh Nhẹn (Công Nghệ) trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!