Xem Nhiều 1/2023 #️ Sự Khác Biệt Giữa Virus, Spyware Và Malware # Top 3 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 1/2023 # Sự Khác Biệt Giữa Virus, Spyware Và Malware # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Khác Biệt Giữa Virus, Spyware Và Malware mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

 

20110217-virus.JPG

Một trong những mối đe dọa lớn nhất của Virus là nhân rộng. Một con Virus tấn công khi người dùng khởi động một chương trình bị nhiễm virus hoặc khởi động từ một đĩa bị nhiễm virus. Virus giữ một thông tin thấp và ẩn, để lây lan rộng rãi mà không bị phát hiện. Hầu hết, mã virus lây nhiễm đơn giản từ chương trình mới hoặc từ ổ đĩa. Cuối cùng, vào một ngày xác định hoặc một thời gian xác định, virus phá hoại, lúc này chúng có nhiều khả năng ăn cắp thông tin hoặc thực hiện một DDoS(Distributed Denial of Service) tấn công vào một trang web lớn mà chính ta là người gián tiếp.

          Worms cũng tương tự như virus, nhưng chúng không yêu cầu người dùng khởi động chương trình bị nhiễm. Đơn giản chỉ cần đặt các bản sao chính của nó vào sâu bên trong máy tính khác và sau đó chạy bản sao. Năm 1988, con sâu Morris, được xem như là một bằng chứng của khái niệm đơn giản này, gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến Internet vừa chớm nở. Trong khi đó nó trông như không có gì là độc hại, nó chỉ nhân bản các bản sao của nó dẫn tới hút một lượng lớn băng thông.  

20110217-troy.jpg

Cảnh trong phim Cuộc Chiến thành Troy.

        Chắc các bạn từng nghe hoặc từng xem “Cuộc Chiến thành Troy”. Chúng đánh lừa bằng cách che giấu các chiến binh bên trong con ngựa gỗ để tràn vào thành Troy mà không bị phát hiện. Trojan là chương trình che giấu mã độc trong một ứng dụng bất kỳ. Các trò chơi, tiện ích, hoặc ứng dụng khác thường thực hiện nhiệm vụ của nó, nhưng sớm hay muộn nó có hại. Nó ăn cắp thông tin từ người dùng và gửi cho người khác. Đây là loại mối đe dọa lây lan khi người dùng vô tình hoặc từ những trang web chia sẻ nó với người khác. 

        Công nghệ Rootkit trong hệ điều hành ẩn các thành phần của chương trình độc hại. Khi một chương trình bảo mật truy vấn Windows để có được danh sách các tập tin, rootkit loại bỏ các tập tin riêng từ danh sách. Rootkit cũng có thể ẩn các mục trong Registry. 

        Một số chương trình độc hại tồn tại nhằm hỗ trợ các phần mềm độc hại khác. Các chương trình nhỏ có xu hướng trở nên nhỏ bé và không phô trương bản thân, nhưng chúng có thể trở thành một kênh một dòng ổn định của phần mềm độc hại khác vào máy tính của bạn. Nó nhận hướng dẫn từ xa của chủ nó, như là một con bot, để xác định phần mềm độc hại nó sẽ phân phối. Chủ sở hữu trả tiền các tác giả phần mềm độc hại khác cho dịch vụ phân phối. 

        Với ransomware, nó giữ quyền điều khiển máy tính của bạn hoặc dữ liệu của bạn để đòi tiền chuộc. Trong hình thức phổ biến nhất là mối đe dọa ransomware sẽ mã hóa các tài liệu của bạn và nhu cầu thanh toán trước khi nó giải mã chúng. Đây là loại phần mềm độc hại và tương đối phổ biến đơn giản bởi vì các thủ phạm có thể nhìn thấy được, đủ để nhận được khoản thanh toán. 

        Scareware, một loại phần mềm chuyên bắt nạt. Không phải tất cả các chương trình chống virus là là an toàn. Một số thực sự là hàng giả, chương trình giả mạo không bảo vệ an ninh của bạn mà tìm cách làm hại đến tài khoản của bạn, số dư ngân hàng của bạn. Chúng làm việc một cách chăm chỉ để bạn có thể trả tiền đăng ký, do đó chúng thường được gọi là phần mềm bắt nạt. Nếu bạn đăng ký, bạn sẽ lãng phí cả tiền của bạn và đưa thông tin thẻ tín dụng của bạn với kẻ gian. 

        Các loại này không loại trừ lẫn nhau. Ví dụ, một mối đe dọa duy nhất có thể theo kiểu virus, ăn cắp thông tin cá nhân của bạn giống như phần mềm gián điệp, và sử dụng công nghệ rootkit để ẩn thân từ phần mềm chống virus của bạn. Scareware cũng có thể là một loại Trojan, và nó cũng có thể ăn cắp dữ liệu cá nhân. 

        Bất kỳ chương trình có mục đích là có hại là một chương trình phần mềm độc hại, tinh tế và đơn giản. Chúng ta đang mắc kẹt với các từ ngữ về antivirus. Chỉ cần nhớ rằng việc chống virus sẽ bảo vệ bạn chống lại bất kỳ và tất cả các phần mềm độc hại khác.

Theo XHTT

Nguồn Quantrimang

Sự Khác Biệt Giữa Virus Và Worm

Sự Khác Biệt Giữa Virus Và Worm

Virus và Worm đều là những phẩn mềm nguy hiểm gây thiệt hại về mặt kinh tế hay phá hũy dữ liệu của người dùng. Theo thống kê hàng năm mỗi người dân thiệt hại hơn một triệu VND (tổng thiệt hại cả nước trong năm 2010 do virus và sâu máy tính khoảng 5900 tỉ đồng – theo số liệu khảo sát của BKAV) do các tác động mà virus đem lại, nếu như tính cả chi phí phải bỏ ra để mua những phần mềm diệt virus thì số thiệt hại này có lẽ còn lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, về mặt cơ bản thì giữa chúng có những khác biệt cơ bản mà các bạn cần phân biệt trong các câu hỏi hay tình huống nêu ra ở kì thi chứng chỉ CEH đó là bản thân các chương trình virus không tự mình lây lan mà chỉ nhiễm vào các ứng dụng có khả năng thực thì, sau đó lây lên các máy tính khác khi người dùng sao chép hay di chuyển những tập tin này bằng USB, email hay trò chơi điện tử … Trong khi đó Worm hay sâu máy tính có thể tự mình tìm kiếm những điểm yếu của các máy tính khác ở trên mạng để lây nhiễm. Morris là sâu máy tính đầu tiên xuất hiện trên mạng internet vào ngày 2 tháng 11 năm 1988 từ học viện MIT, còn các thế hệ sâu máy tính ngày nay thường tấn công vào các mạng xã hội ví dụ như sâu máy tính lan truyền qua mạng Twitter.

Phân Loại Virus

Virus được phân loại dựa trên đối tượng và cách thức mà chúng lây nhiễm. Một virus máy tính có thể lây nhiễm vào các thành phần sau đây của hệ thống :

System sector

Tập tin

Macros (như MS Word macro)

Các tập tin hay hàm thư viên của hệ thống như DLL, INI

Disk cluster

Tập tin BAT

Mã nguồn ứng dụng

Polymorphic là loại virus mã hóa mã nguồn của chúng theo nhiều cách khác nhau để qua mặt chương trình dò tìm.

Stealth là virus che dấu các đặc điểm nhận dạng của chúng như thay đổi thời gian mà tập tin được tạo để ngăn không cho các chương trình antivirus phát hiện có những tập tin mới trên hệ thống.

Fast & Slow Infector là dạng virus sử dụng cơ chế lây lan thật nhanh hay thật chậm để tránh bị phát hiện.

Armored là loại virus sử dụng các kỹ thuật mã hóa để tránh bị dò tìm.

Multipartie là một loại virus cao cấp có thể chia tiến trình lây nhiễm thành nhiều giai đoạn.

Cavity (space-filler) các virus dạng này tự chèn chúng vào các phần trống của tập tin.

Tunneling là virus được gởi thông qua những giao thức hay được mã hóa để ngăn ngừa sự phát hiện cũng như qua mặt firewall.

Camouflage là dạng virus giả danh như là một chương trình khác nhằm đánh lừa người sử dụng.

NTFS & Active Directory các virus dạng này chuyên tấn công vào các hệ thống tập tin NTFS của Windows hay tấn công trực tiếp vào Active Directory.

Các chuyên gia bảo mật thường ví cơ sở dữ liệu nhận dạng dựa trên các signature (chữ kí) như là “máu” của các chương trình diệt virus. Vì vậy, hacker đã tìm cách viết ra các kịch bản hay virus xóa đi các đặc trưng nhận dạng của chúng nhằm qua mặt các ứng dụng antivirus, trong trường hợp này các ứng dụng quét virus phải sử dụng cơ chế nhận dạng dựa trên hành vi để phát hiện các hoạt động bất thường của chương trình nguy hiểm. Cũng như các biện pháp phòng chống trojan / backdoor để bảo vệ và phòng chống bị lây nhiễm virus chúng ta cần sử dụng các chương trình quét virus mạnh được cập nhật đầy đủ. Không sử dụng các chương trình thiêu tin cậy như bản crack, chương trình patch hay những phần mềm trôi nỗi trên mạng internet. Nên quét virus và thường xuyên. Cập nhật đầy đủ các bản vá hệ thống để hạn chế không cho chương trình nguye hiểm và các hacker khai thac từ xa.

Dưới Đây Là Các Bước Dò Tìm Và Gỡ Bỏ Virus

Dò tìm các hành vi bất thường của hệ thống như các cảnh báo lỗi, tìm kiếm trong event view…

Dò tìm các tiến trình với những công cụ như chúng tôi chúng tôi chúng tôi … nhằm phát hiện các dịch vụ bất thường trên hệ thống.

Dò tìm các payload của virus trên các tập tin bị nhiễm hay bị thay thế.

Cô lập các thành phần bị nhiễm để tránh sự lây lan sang các hệ thống khác và tiến hành quét virus các hệ thống này trên những chương trình diệt virus được cập nhật đây đủ.

Tổng Kết

Trong chương này các bạn đã tìm hiểu về virus và worm, mỗi loại có những điểm khác biệt đặc trưng nhưng cả hai đều là các ứng dụng gây ảnh hưởng đến sự vận hành của hệ thống một khi bị lây nhiễm. Vì vậy chúng ta cần có các biện pháp phòng tránh cũng như áp dụng quy trình diệt thích hợp để nâng cao tính an toàn cho hệ thống. Nguồn gốc của sự lây nhiễm virus hay worm thường do máy tính hay chương trình thiếu các bản cập nhật hay bản vá lỗi, cài đặt và sử dụng các chương trình không có nguồn gốc rõ ràng cũng như bất cẩn trong việc thiết lập các chính sách an ninh, và trên hết các bạn cần nâng cao nhận thức về an toàn thông tin cho người dùng, đặc biệt là kiến thức về virus và sâu máy tính.

Sự Khác Nhau Giữa Virus

Dù virus, vi khuẩn và ký sinh trùng đều có khả năng gây bệnh, cách chúng truyền bệnh cho con người rất khác nhau.

Virus có khả năng gây bệnh truyền nhiễm đối với con người và động vật, một số loại thậm chí còn có khả năng lây bệnh từ động vật sang người và ngược lại. Vòng đời virus có hai giai đoạn. Khi chúng ở ngoài tế bào, chúng được gọi là những hạt virion vô sinh. Khi lọt vào tế bào, chúng lợi dụng bộ máy của tế bào để nhân bản. Một số nhà khoa học cho rằng, virus tồn tại ở dạng hữu sinh khi ở trong tế bào.

Ký sinh trùng – kẻ ăn bám cơ thể chúng ta

Dù tiếp xúc với các phân tử virus hàng ngày, không phải lúc nào chúng ta cũng nhiễm bệnh, do hệ miễn dịch có thể giải quyết phần lớn các loại virus này. Chúng ta chỉ ốm khi lần đầu tiên tiếp xúc với virus mới hoặc bị phơi nhiễm với một số lượng lớn virus. Đó là lý do các cơ quan y tế luôn khuyến khích tiêm chủng cúm định kỳ hàng năm. Các chủng cúm thông thường có thể thay đổi mỗi năm, và khả năng miễn dịch từ lần nhiễm bệnh trước đó hoặc qua vắc-xin không thể bảo vệ chúng ta trong trường hợp tiếp xúc với chủng đã biến đổi.

Khả năng lây lan và tái tạo nhanh chóng làm cho một số loại virus trở thành tác nhân gây bệnh đáng sợ, đến mức được coi là vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ngoài ra, một số virus giết người một cách từ từ, điển hình là virus bệnh dại với thời gian ủ bệnh dài (1 – 3 tháng). Tuy bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin, khi các triệu chứng xuất hiện, người bệnh gần như chắc chắn tử vong.

Vắc-xin là cách phòng chống virus tốt nhất. Vắc-xin kích hoạt phản ứng miễn dịch, cho phép cơ thể phản ứng hiệu quả hơn khi nhiễm bệnh. Vắc-xin cũng làm giảm độ nguy hiểm của nhiều loại virus có thể gây chết người như bệnh sởi, rubella, cúm và bệnh đậu mùa. Ngoài ra, rửa tay và che mũi khi hắt hơi là những cách giúp hạn chế virus lây lan.

Một số vi khuẩn có lợi cho chúng ta, cung cấp hệ thống bảo vệ chống các tác nhân gây bệnh và giúp ích cho quá trình tiêu hóa đường ruột. Tuy nhiên, một số loại không lành tính như vậy. Các loại vi khuẩn chuyên gây bệnh phổ biến là nhiễm khuẩn tụ cầu (Staphylococcus aureus), ngộ độc (Clostridium botulinum), bệnh lậu (Neisseria gonorrhoeae), loét dạ dày (Helicobacter pylori), bạch hầu (Corynebacterium diphtheriae) và bệnh dịch hạch (Yersinia pestis).

Độc tố vi khuẩn sản xuất sẽ xâm nhập vào các tế bào hoặc mạch máu, hoặc cạnh tranh chất dinh dưỡng với vật chủ, từ đó dẫn đến nguy cơ mắc bệnh. Các phương pháp điều trị phải phụ thuộc vào cách thức vi khuẩn gây bệnh. Ví dụ, trong trường hợp ngộ độc, người mắc bệnh khi ăn phải thực phẩm nhiễm độc hoặc các bào tử vi khuẩn C. botulinum. Khi bệnh nhân hấp thụ độc tố, các triệu chứng sẽ xuất hiện trong vòng 6 – 36 giờ. Nếu nuốt phải bào tử, các triệu chứng này chỉ xuất hiện sau một tuần.

Chăm sóc hỗ trợ là phương pháp điều trị chính nhằm ngăn chặn hoặc làm giảm các biến chứng và duy trì sức khỏe bệnh nhân. Các loại kháng sinh điều trị nhiễm trùng bằng cách tiêu diệt vi khuẩn, nhưng đối với ngộ độc, vi khuẩn khi bị tiêu diệt có thể tiết ra nhiều độc tố khiến bệnh trầm trọng hơn. Các bác sĩ điều trị độc tố bằng cách dùng thuốc kháng độc hoặc khiến bệnh nhân ói mửa. Ngày nay, do sự lạm dụng và sử dụng sai kháng sinh, vi khuẩn kháng thuốc ngày càng tăng. Vào năm 2013, khoảng 480.000 trường hợp mắc bệnh lao kháng thuốc (MDR-TB).

Sử dụng thay phiên các loại kháng sinh khác nhau có thể làm giảm nguy cơ kháng thuốc. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang phát triển một số phương pháp khác, như sử dụng virus kháng khuẩn phage (một loại virus giết chết vi khuẩn) hay enzyme có khả năng phá hủy bộ gene của vi khuẩn kháng thuốc. Trong thực tế, virus kháng khuẩn đang được sử dụng rộng rãi ở Đông Âu.

Các vắc-xin dành cho vi khuẩn như vắc-xin DPT chống bạch hầu, ho gà và uốn ván đang được sử dụng phổ biến. Ngoài ra, nhiều giải pháp đơn giản có thể giúp ngăn chặn vi khuẩn gây bệnh như rửa tay đúng cách, khử trùng bề mặt các dụng cụ, sử dụng nước sạch và nấu ăn với nhiệt độ thích hợp để loại bỏ vi khuẩn.

Ký sinh trùng, nhóm thứ ba trong bộ ba mầm bệnh, là tên gọi chung cho nhiều sinh vật đa dạng, sống trong hoặc trên cơ thể vật chủ và ăn bám vật chủ đó, bao gồm con người. Ký sinh trùng bao gồm sinh vật đơn bào như protozoa, hoặc sinh vật lớn hơn như giun hoặc bọ ve. Ký sinh trùng đơn bào có nhiều điểm chung với các tế bào cơ thể người hơn so với các loại vi khuẩn. Ký sinh trùng có ở khắp nơi, đóng một vai trò quan trọng và phức tạp trong hệ sinh thái.

Ký sinh trùng cũng có thể gây ra nhiều bệnh, đặc biệt ở nước đang phát triển. Trong nhiều trường hợp, bệnh nhiễm ký sinh trùng thường đi kèm điều kiện vệ sinh thiếu thốn và đói nghèo. Bệnh sốt rét cứ 30 giây lại giết chết trẻ em và 90% ca nhiễm bệnh tập trung ở châu Phi. Đây là bệnh do ký sinh trùng gây chết người nhiều nhất, dù có nhiều tiến bộ trong việc ngăn chặn bệnh dịch này. Những bệnh do ký sinh trùng phổ biến khác như bệnh Leishmaniasis, bệnh giun chỉ và bệnh phù chân voi.

Nhiều ký sinh trùng truyền qua muỗi và các loại côn trùng. Với tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng, nhiều bệnh ký sinh trùng đang lan rộng đến các khu vực phía bắc.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu chưa tìm ra vắc-xin phòng bệnh ký sinh ở người, nhưng nhiều loại thuốc hiện nay có thể chống lại ký sinh trùng. Ví dụ, giải Nobel Y học 2015 được trao cho các nhà khoa học có công phát triển thuốc phòng chống ký sinh trùng (Ivermectin dùng cho giun và Artemisinin để điều trị bệnh sốt rét).

Sự Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn (Bacteria) Và Siêu Vi Trùng (Viruses).

Thứ sáu – 28/04/2017 10:34

Virus và Vi khuẩn đều là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu khi hệ miễn dịch của con người bị suy yếu. Chúng ta nên biết rõ sự khác nhau giữa Virus và Vi khuẩn để có cách phòng và điều trị bệnh hợp lý khi bị bệnh do Vi khuẩn, hoặc Virus gây ra.

Virus chỉ có thể sống và phát triển được khi xâm nhập vào bên trong tế bào của sinh vật khác (người, động vật, và cây cỏ) và khi ra khỏi ký chủ, vào môi trường ngoài (nước, không khí…) chúng sẽ không sống được lâu.

Ngày nay, khoa học đã phát hiện có khoảng 2.000 loài Virus khác nhau, trong đó có khoảng 300 loài có khả năng gây bệnh cho người như: AIDS, viêm gan B và C, sốt xuất huyết, bại liệt, bệnh dại, đậu mùa, cúm…

Khác với Vi khuẩn, Virus đánh vào hệ miễn dịch của cơ thể nên điều trị bằng kháng sinh không có tác dụng, mà chỉ có thể chống lại bằng cách tiêm vaccin.

Riêng các loại Virus gây cúm, vì chúng biến chủng rất nhanh, nên vaccin chế từ Virus năm này lại không hữu hiệu với cùng Virus ấy cho năm tới. Vì thế các loại vaccin hiện có không ngừa được Virus cúm A (H1N1).

Khi thời tiết chuyển mùa hay trở lạnh, sẽ là điều kiện thuận lợi để Virus gây bệnh.

4. Tại sao thuốc kháng sinh (antibiotic) không điều trị được bệnh do Virus gây ra ?

Năm 1928, tại Bệnh viện Saint Mary (London), Alexander Plemming phát hiện ra chất kháng sinh (antibiotic) diệt khuẩn, và đặt tên là penicillin.

Loại kháng sinh này được tìm ra từ nấm Penicillium notatum. Sau đó có rất nhiều nhà Nghiên cứu về kháng sinh penicillin và đến năm 1943, dự án sản xuất penicillin mới được Chính phủ Mỹ chấp nhận, và từ đây kháng sinh penicillin chính thức ra đời, cứu sống được vô vàn người mắc bệnh nhiễm khuẩn.

Từ penicillin, nhiều nhà Nghiên cứu đã tìm tòi ra vô vàn các loại kháng sinh khác nhau, và đã xếp chúng thành nhiều nhóm, dựa vào cấu tạo và cơ chế tác dụng đối với Vi khuẩn.

Kháng sinh (Antibiotic) đối với Virus thì như thế nào?

Do cấu tạo Virus hoàn toàn khác biệt với tế bào Vi khuẩn và nó không phải là một tế bào hoàn chỉnh bởi cấu tạo đơn giản hơn rất nhiều so với tế bào Vi khuẩn chỉ là bộ gen (hoặc DNA hoặc RNA) bao quanh là lớp vỏ protein chứa nhiều kháng nguyên, vì vậy được gọi là “phi tế bào”.

Do cấu tạo đặc biệt đó nên bắt buộc Virus phải sống ký sinh bên trong tế bào ký chủ mà nó xâm nhiễm, bởi vì Virus không có hệ thống enzym hoàn chỉnh, nên không thể tự tạo ra năng lượng cho mình, hoặc tự sinh sôi nảy nở được.

Do đó, để tồn tại và phát triển thì Virus phải xâm nhập vào trong các tế bào khác (tế bào ký chủ) và “gửi” các vật liệu di truyền của mình.

Khi vào cơ thể, lớp vỏ protein bị loại bỏ, chỉ hoạt động bởi ARN hoặc ADN của nó, không có cách gì để nhận biết được. Hơn nữa, kháng sinh diệt được Vi khuẩn, vì Vi khuẩn ký sinh ngoài tế bào, nên kháng sinh có thể diệt nguyên Vi khuẩn, còn Virus nằm trong vật chất di truyền của tế bào ký chủ, cho nên nếu kháng sinh diệt Virus thì đồng nghĩa với diệt cả tế bào của ký chủ (người, hoặc động vật).

Vì vậy, nếu thuốc kháng sinh muốn tấn công Virus, sẽ phải biết chọn lọc không tấn công vào các bộ phận “tầm gửi” này (tức là không tấn công vào tế bào ký chủ) và đây thực sự là cản trở cực lớn.

Hơn thế nữa, Virus còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.

Để thay vì dùng kháng sinh không có tác dụng đối với Virus, các nhà Khoa học đã nghiên cứu thành công một số thuốc diệt Virus dựa trên cơ sở sự hiểu biết về cấu trúc, và cơ chế xâm nhiễm, nhân lên trong tế bào ký chủ của Virus.

Tuy vậy, Virus luôn thay đổi hình dạng, và do đó luôn có khả năng kháng lại thuốc, đó là những điều bất lợi cho việc dùng thuốc tiêu diệt chúng.

5. Virus và Vi khuẩn lây lan như thế nào ?

– Một người bị lạnh có thể lây nhiễm Vi khuẩn, hoặc Virus bằng cách ho, hoặc hắt hơi.

– Vi khuẩn, hoặc Virus có thể được lây lan bằng cách chạm, hoặc bắt tay với người khác.

– Chạm vào thức ăn với bàn tay bẩn, cũng sẽ cho phép Virus, hoặc Vi khuẩn từ ngoài lây lan tới ruột.

-Lây qua dịch cơ thể: như máu, nước bọt, và tinh dịch, có thể chứa các vi sinh vật, ví dụ bằng cách tiêm, hoặc quan hệ tình dục (đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do Virus như viêm gan, hoặc AIDS).-

Virus lây lan theo nhiều cách; Virus thực vật thường được truyền từ cây này sang cây khác qua những loài .Những sinh vật mang mầm bệnh như vậy được gọi là những côn trùng hút nhựa cây như rệp vừng;trong khi Virus động vật lại có thể được truyền đi nhờ những vector. côn trùng hút máu

Virus cúm lan truyền thông qua ho, và hắt hơi. Norovirus và rotavirus, nguyên nhân chính của bệnh viêm dạ dày-ruột siêu vi, lây lan qua đường phân-miệng, và truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc, cũng như xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn, hay nước uống.

HIV là một trong vài loại Virus lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục, và tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh.Mỗi Virus chỉ có thể xâm nhiễm vào một số dạng tế bào vật chủ nhất định, gọi là “biên độ vật chủ” ( host range ); biên độ này có thể rất hẹp hoặc rất rộng, tùy vào số lượng những sinh vật khác nhau, mà Virus có khả năng lây nhiễm.

Sự xâm nhập của Virus trong động vật đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch nhằm loại bỏ Virus xâm nhiễm. Những phản ứng miễn dịch cũng có thể được tạo ra bởi vaccin, giúp tạo ra miễn dịch thu được nhân tạo đối với một Virus xâm nhiễm nhất định.

Tuy nhiên, một số Virus, bao gồm những loại gây ra AIDS và viêm gan siêu vi, lại có thể trốn tránh những phản ứng trên, và gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính. Đa số các chất kháng sinh không có hiệu quả đối với Virus, dù vậy cũng đã có những loại thuốc kháng Virus được phát triển.

6.Làm thế nào để tránh nhiễm trùng ?

– Rửa tay thật kỹ (thường là một trong những cách tốt nhất để tránh bị cảm cúm).

– Bắt tay với người bị cảm lạnh là nguy hiểm, do đó, tránh dụi mắt, hoặc mũi của bạn sau đó.

– Thức ăn phải được nấu chín, hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt.

– Rau, và thịt phải được lưu giữ riêng, và chuẩn bị trên thớt riêng biệt.

– Khi bị cảm cúm, hoặc hắt hơi, sổ mũi, cần chuẩn bị khăn giấy, khăn cá nhân để ngăn chặn đưa Virus, Vi khuẩn ra ngoài môi trường. Cần luyện thói quen ho vào cánh tay áo (nếu không có khăn giấy), và khạc nhổ vào giấy vệ sinh rồi gói lại cho vào thùng rác.

– Một số sinh vật bị giết khi thức ăn được nấu chín, nhưng chúng vẫn có thể để lại các chất độc hại có thể gây ra tiêu chảy và nôn mửa. Hạn chế ăn các thức ăn để qua đêm, vì dù đun sôi, Vi khuẩn có thể chết, nhưng độc tố gây bệnh do Vi khuẩn tạo ra trong thực phẩm vẫn còn.

– Việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục làm giảm khả năng lây lan bệnh qua đường tình dục.

– Giữ phong cách sống, và tinh thần tốt để có hệ miễn dịch khỏe mạnh.

7. Một số bệnh do Virus gây ra và cách phòng bệnh:

– Tiêu chảy do Virus: Bệnh tiêu chảy mùa đông do Rota Virus gây ra và thường chỉ kéo dài trong 3 – 7 ngày. Khi bị bệnh thường có biểu hiện sốt nhẹ, hơi mệt, nôn, tiêu chảy, ở trẻ em có quấy khóc… Người bệnh đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu vàng chanh, hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải.Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong, nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời.

– Sốt do Virus: Các triệu chứng sốt Virus điển hình là ban đầu sốt nhẹ khoảng 38 – 38,5 độ C, sau đó bùng lên sốt cao đến 39 độ C, hoặc cao hơn nữa. Nhiều người đau họng, ho hắng nhẹ, đau nhức mình mẩy, vã mồ hôi, mệt mỏi. Thường sau 5 – 6 ngày, bệnh sẽ tự khỏi.

Về điều trị, chỉ cần dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao, hoặc dùng các loại thuốc cảm để chữa triệu chứng đau nhức, sổ mũi, ho… Ngoài ra nên súc miệng nước muối, và nhỏ mũi thường xuyên. Không nên dùng kháng sinh.

Sốt Virus là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và công sở, nơi dùng điều hòa không khí. Do đó, người bị sốt Virus nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Nếu mệt nặng, nên nghỉ làm. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C, và bảo vệ sức khỏe. Để cơ thể có sức đề kháng tốt cần ăn uống phong phú, đủ dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu như cháo, súp… ngoài ra nên uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả…

8. Cách phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn và virus gây ra:

Bạn cần có một phong cách sống lành mạnh, tinh thần tích cực để giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh.

Vì khi hệ miễn dịch yếu thì Vi khuẩn, hoặc Virus nào cũng có thể tấn công bạn.

– Ăn tốt: đủ dinh dưỡng, cân bằng, hợp lý, tươi, sạch, an toàn.

-Uống đủ nước và đúng cách.

-Ngủ tốt: ngủ đúng giờ, phòng thoáng khí, đông ấm, hè mát, ngủ sâu giấc.

– Tập tốt: Tập thể dục và vận động hàng ngày, để thúc đẩy quá trình trao đổi chất và đào thải độc tố.

-Nghĩ tốt: suy nghĩ tích cực, lạc quan, để có sức khỏe tinh thần tốt.

-Môi trường sống tốt: xanh, sạch, đẹp.

– Học tốt: học các kiến thức chăm sóc, bảo vệ và phòng bệnh mỗi ngày.

– Làm tốt: Làm tốt công việc của bạn để có tài chính tốt bảo đảm cho bản thân và gia đình. ./.

Tác giả bài viết: Van Tran

Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

Bạn đang xem bài viết Sự Khác Biệt Giữa Virus, Spyware Và Malware trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!