Xem Nhiều 2/2023 #️ Sự Khác Nhau Giữa ‘Prize’ Và ‘Award’ # Top 2 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Sự Khác Nhau Giữa ‘Prize’ Và ‘Award’ # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Khác Nhau Giữa ‘Prize’ Và ‘Award’ mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Award (n)

(1) Phần thưởng thường có tính cách tượng trưng (mề đay); (2) Tặng thưởng do hội đồng trọng tài hay giám khảo ban cho; án do quan toà quyết định (3) Học bổng trường đại học cấp cho.

The judge awarded him a 5-year sentence without parole=Quan toà tuyên án xử anh ta 5 năm tù không khoan hồng. Prizes will be awarded to the top three winners=Sẽ có ba giải thưởng cho ba người hàng đầu. Paltrow won the best actress award=Nữ tài tử Paltrow thắng giải diễn viên tài ba nhất.

An award-winning film=Phim được giải An award-winning book=Cuốn sách được giải thưởngAward winner=Người lãnh giải thưởng

Award (v)

The university awarded him a full scholarship (=granted)The judge awarded the judgment to the plaintiff=Chánh án phán cho nguyên đơn thắng kiện (decision made by a judge) The jury awarded damages to the plaintiff=Bồi thẩm đoàn bồi thường thiệt hại cho bên nguyên.The jury awarded a large sum to the small architectural firm=Ban giám khảo ban cho hãng kiến trúc nhỏ một giao kèo lớn.

Prize (n)

Prize money=tiền thưởng; tiền thâu được sau khi bán một chiếc tàu của bên địchFirst prize=giải hạng nhất trong cuộc xổ số Prize fight=trận đấu quyền AnhPrize fighter=võ sĩ quyền Anh A herd of prize cattle=đàn bò đáng được giải, good enough to win a prize

Prize-winning lottery ticket=vé xổ số trúng giải

Prize (v): coi trọng, coi là quí

He prized his freedom above all else=Anh ta coi tự do là quí hơn cả.

Prized (adj): extremely important.

Matsutake mushrooms are highly prized for their fragrance=Nấm Matsutale rất quí vì hương thơm của nó.

Tóm lại: Hai chữ prize và award có thể dùng chung trong nghĩa prize-winning book=cuốn sách được giải thưởng, hay award-winning film=cuốn phim được giải thưởng.

Nhưng award nếu là động từ thì có những nghĩa mà prize không có: (chánh án) tuyên án, cấp giao kèo, award a contract, (trường đại học) cấp học bổng, award a scholarship.

Prize nếu là tĩnh từ có nghĩa đáng được giải thưởng (prize cattle).

* Quý vị muốn nêu câu hỏi/ ý kiến/ thắc mắc, xin vui lòng vào trang Hỏi đáp Anh ngữ của đài VOA để biết thêm chi tiết.

Sự Khác Nhau Giữa Virus

Dù virus, vi khuẩn và ký sinh trùng đều có khả năng gây bệnh, cách chúng truyền bệnh cho con người rất khác nhau.

Virus có khả năng gây bệnh truyền nhiễm đối với con người và động vật, một số loại thậm chí còn có khả năng lây bệnh từ động vật sang người và ngược lại. Vòng đời virus có hai giai đoạn. Khi chúng ở ngoài tế bào, chúng được gọi là những hạt virion vô sinh. Khi lọt vào tế bào, chúng lợi dụng bộ máy của tế bào để nhân bản. Một số nhà khoa học cho rằng, virus tồn tại ở dạng hữu sinh khi ở trong tế bào.

Ký sinh trùng – kẻ ăn bám cơ thể chúng ta

Dù tiếp xúc với các phân tử virus hàng ngày, không phải lúc nào chúng ta cũng nhiễm bệnh, do hệ miễn dịch có thể giải quyết phần lớn các loại virus này. Chúng ta chỉ ốm khi lần đầu tiên tiếp xúc với virus mới hoặc bị phơi nhiễm với một số lượng lớn virus. Đó là lý do các cơ quan y tế luôn khuyến khích tiêm chủng cúm định kỳ hàng năm. Các chủng cúm thông thường có thể thay đổi mỗi năm, và khả năng miễn dịch từ lần nhiễm bệnh trước đó hoặc qua vắc-xin không thể bảo vệ chúng ta trong trường hợp tiếp xúc với chủng đã biến đổi.

Khả năng lây lan và tái tạo nhanh chóng làm cho một số loại virus trở thành tác nhân gây bệnh đáng sợ, đến mức được coi là vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ngoài ra, một số virus giết người một cách từ từ, điển hình là virus bệnh dại với thời gian ủ bệnh dài (1 – 3 tháng). Tuy bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin, khi các triệu chứng xuất hiện, người bệnh gần như chắc chắn tử vong.

Vắc-xin là cách phòng chống virus tốt nhất. Vắc-xin kích hoạt phản ứng miễn dịch, cho phép cơ thể phản ứng hiệu quả hơn khi nhiễm bệnh. Vắc-xin cũng làm giảm độ nguy hiểm của nhiều loại virus có thể gây chết người như bệnh sởi, rubella, cúm và bệnh đậu mùa. Ngoài ra, rửa tay và che mũi khi hắt hơi là những cách giúp hạn chế virus lây lan.

Một số vi khuẩn có lợi cho chúng ta, cung cấp hệ thống bảo vệ chống các tác nhân gây bệnh và giúp ích cho quá trình tiêu hóa đường ruột. Tuy nhiên, một số loại không lành tính như vậy. Các loại vi khuẩn chuyên gây bệnh phổ biến là nhiễm khuẩn tụ cầu (Staphylococcus aureus), ngộ độc (Clostridium botulinum), bệnh lậu (Neisseria gonorrhoeae), loét dạ dày (Helicobacter pylori), bạch hầu (Corynebacterium diphtheriae) và bệnh dịch hạch (Yersinia pestis).

Độc tố vi khuẩn sản xuất sẽ xâm nhập vào các tế bào hoặc mạch máu, hoặc cạnh tranh chất dinh dưỡng với vật chủ, từ đó dẫn đến nguy cơ mắc bệnh. Các phương pháp điều trị phải phụ thuộc vào cách thức vi khuẩn gây bệnh. Ví dụ, trong trường hợp ngộ độc, người mắc bệnh khi ăn phải thực phẩm nhiễm độc hoặc các bào tử vi khuẩn C. botulinum. Khi bệnh nhân hấp thụ độc tố, các triệu chứng sẽ xuất hiện trong vòng 6 – 36 giờ. Nếu nuốt phải bào tử, các triệu chứng này chỉ xuất hiện sau một tuần.

Chăm sóc hỗ trợ là phương pháp điều trị chính nhằm ngăn chặn hoặc làm giảm các biến chứng và duy trì sức khỏe bệnh nhân. Các loại kháng sinh điều trị nhiễm trùng bằng cách tiêu diệt vi khuẩn, nhưng đối với ngộ độc, vi khuẩn khi bị tiêu diệt có thể tiết ra nhiều độc tố khiến bệnh trầm trọng hơn. Các bác sĩ điều trị độc tố bằng cách dùng thuốc kháng độc hoặc khiến bệnh nhân ói mửa. Ngày nay, do sự lạm dụng và sử dụng sai kháng sinh, vi khuẩn kháng thuốc ngày càng tăng. Vào năm 2013, khoảng 480.000 trường hợp mắc bệnh lao kháng thuốc (MDR-TB).

Sử dụng thay phiên các loại kháng sinh khác nhau có thể làm giảm nguy cơ kháng thuốc. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang phát triển một số phương pháp khác, như sử dụng virus kháng khuẩn phage (một loại virus giết chết vi khuẩn) hay enzyme có khả năng phá hủy bộ gene của vi khuẩn kháng thuốc. Trong thực tế, virus kháng khuẩn đang được sử dụng rộng rãi ở Đông Âu.

Các vắc-xin dành cho vi khuẩn như vắc-xin DPT chống bạch hầu, ho gà và uốn ván đang được sử dụng phổ biến. Ngoài ra, nhiều giải pháp đơn giản có thể giúp ngăn chặn vi khuẩn gây bệnh như rửa tay đúng cách, khử trùng bề mặt các dụng cụ, sử dụng nước sạch và nấu ăn với nhiệt độ thích hợp để loại bỏ vi khuẩn.

Ký sinh trùng, nhóm thứ ba trong bộ ba mầm bệnh, là tên gọi chung cho nhiều sinh vật đa dạng, sống trong hoặc trên cơ thể vật chủ và ăn bám vật chủ đó, bao gồm con người. Ký sinh trùng bao gồm sinh vật đơn bào như protozoa, hoặc sinh vật lớn hơn như giun hoặc bọ ve. Ký sinh trùng đơn bào có nhiều điểm chung với các tế bào cơ thể người hơn so với các loại vi khuẩn. Ký sinh trùng có ở khắp nơi, đóng một vai trò quan trọng và phức tạp trong hệ sinh thái.

Ký sinh trùng cũng có thể gây ra nhiều bệnh, đặc biệt ở nước đang phát triển. Trong nhiều trường hợp, bệnh nhiễm ký sinh trùng thường đi kèm điều kiện vệ sinh thiếu thốn và đói nghèo. Bệnh sốt rét cứ 30 giây lại giết chết trẻ em và 90% ca nhiễm bệnh tập trung ở châu Phi. Đây là bệnh do ký sinh trùng gây chết người nhiều nhất, dù có nhiều tiến bộ trong việc ngăn chặn bệnh dịch này. Những bệnh do ký sinh trùng phổ biến khác như bệnh Leishmaniasis, bệnh giun chỉ và bệnh phù chân voi.

Nhiều ký sinh trùng truyền qua muỗi và các loại côn trùng. Với tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng, nhiều bệnh ký sinh trùng đang lan rộng đến các khu vực phía bắc.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu chưa tìm ra vắc-xin phòng bệnh ký sinh ở người, nhưng nhiều loại thuốc hiện nay có thể chống lại ký sinh trùng. Ví dụ, giải Nobel Y học 2015 được trao cho các nhà khoa học có công phát triển thuốc phòng chống ký sinh trùng (Ivermectin dùng cho giun và Artemisinin để điều trị bệnh sốt rét).

Tìm Hiểu Sự Khác Nhau Giữa

Đây đều là hai thuật ngữ của ngành sản xuất nước hoa nhưng có phần làm cho người sử dụng bối rối. Vì vậy, việc tìm hiểu các thuật ngữ trong chế tạo và quảng bá sản phẩm nước hoa của ngành sản xuất sẽ có thể giúp các bạn tránh được sự nhầm lẫn.

“Parfum” là từ tiếng Pháp dành cho “perfume” nghĩa là “nước hoa”. Nhưng trong các thuật ngữ tiếp thị và sản xuất nước hoa, parfum biểu thị một dạng cô đặc hơn của một mùi hương đặc biệt nào đó.

“Perfume” là thuật ngữ chung biểu thị toàn cho bộ thế giới các mùi thơm và hương liệu. Các sản phẩm nước hoa được bán chủ yếu cho khách hàng dưới dạng eau de parfum, eau de toilette và eau de cologne. Các loại nước hoa này có sự khác nhau về nồng độ, độ bền mùi và giá bán.

Cách để không bị nhầm lẫn về sự khác biệt của hai thuật ngữ này

Các sản phẩm nước hoa bao gồm 3 thành phần: Dung môi thường là rượu, nước cất và tinh dầu thơm. Bản thân tinh dầu có thể chứa hàng chục chất thơm được chiết xuất từ hoa, vỏ cây, thảo mộc và động vật. Tinh dầu của nước hoa chiết xuất từ hoa, nồng độ tinh dầu càng cao thì nước hoa sẽ càng bền mùi. Hỗn hợp tinh dầu này hòa tan trong dung môi và dung dịch nước với nồng độ khác nhau. Hoạt động này quy định sản phẩm nước hoa đó là eau de parfum (EDP), eau de toilette (EDT), hay là eau de cologne (EDC).

Quy định về nồng độ nước hoa:

Nồng độ chung cho 3 loại nước hoa này là: 8 đến 15 % tinh dầu thơm với eau de parfum, 4 đến 10 % tinh dầu thơm với eau de toilette và 2 đến 5 % tinh dầu thơm với eau de cologne.

Các sản phẩm nước hoa cho nữ thường xuất hiện dưới dạng EDP và EDT. Còn các sản phẩm nước hoa cho nam lại thường xuất hiện dưới dạng EDT và EDC. Với quy định về nồng độ nước hoa này, nhiều nhà điều hành lại đưa ra một số sản phẩm nước hoa đi chệch “quy luật” nhằm làm nổi bật một thành phần quý hiếm và đắt tiền nào đó trong sản phẩm nước hoa. Ví dụ một số nước hoa có thể được bán dưới hình thức EDP ngay khi tỷ lệ phần trăm tinh dầu của dung dịch ở trong phạm vi của EDT. Hoặc đôi khi nước hoa nam đắt tiền có tỷ lệ phần trăm tinh dầu cao hơn so với các sản phẩm nước hoa EDT dành cho nữ.

Các sản phẩm nước hoa có nồng độ tinh dầu cao hơn sẽ có sự bền mùi nhất khi được xịt lên da. Độ bền mùi phụ thuộc vào các thành phần có trong tinh dầu thơm. Ví dụ nước hoa Eau de toilette có thể lưu mùi trên da vài giờ thì nước hoa eau de cologne sẽ lưu lại trên da mùi hương nhẹ trong một hoặc hai tiếng đồng hồ.

Sự khác nhau về giá bán được khá nhiều người quan tâm. Loại nước hoa đắt tiền nhất là các sản phẩm EDP có nồng độ tinh chất cao nhất, tiếp đến là EDT và đến EDC. Ngoài ra, các nhà sản xuất nước hoa cũng tạo ra các phiên bản hạn chế của các sản phẩm nước hoa cao cấp dành cho những khách hạng sang. Những mùi hương này chứa các phân tử thơm được chế tạo với phiên bản hạn chế và mỗi lọ nước hoa có thể trị giá lên đến hàng trăm đô la.

Tổng kết

Độ bền mùi và giá cả là hai yếu tố quan trọng tạo nên sự khác nhau của các dòng nước hoa.

Và khi tiếng Anh đang trở thành ngôn ngữ quốc tế thì thuật ngữ “Parfum” hay “Perfume” đều được dùng cho sản phẩm nước hoa. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng những dòng nước hoa chính hãng có tỉ lệ pha chế khác nhau được phân biệt theo thuật ngữ Parfum, do đó hãy lưu ý một chút khi đi mua nước hoa để lựa chọn được cho mình những mùi hương phù hợp nhất.

Hy vọng bạn sẽ không còn thắc mắc về khái niệm parfum là gì khi sau khi tìm hiểu những thông tin hữu ích trong bài viết này.

Sự Khác Nhau Giữa Look/ Seem/Appear

Sau seem và appear có thể dùng cấu trúc từ nguyên to + infinitive ( hoặc ở thì hoàn thành với các sự kiện đã diễn ra trong quá khứ). Nhưng  look không thể dùng theo cách này.

Ví dụ:

They appear to have run away from home. They cannot be traced.

I seem to have lost my way. Can you help me?

It seems to be some kind of jellyfish. Do not go near it.

They appear not to be at home. Nobody’s answering.

They do not appear to be at home. No one’s answering.

Mệnh đề that-clause có thể được dùng sau It seems… và It appears…, nhưng không dùng được với look.It looks... nối theo cấu trúc với mệnh đề as if / like:

It seems that I may have made a mistake in believing you did this.

It appears that you may be quite innocent of any crime.

It looks as if / like you won’t go to prison after all.

Khác biệt về nghĩa của appear / seem

+ Ấn tượng (impressions) / cảm xúc (emotions)

It seems a shame that we can’t take Kevin on holiday with us.

It doesn’t seem like a good idea to leave him here by himself.

It seems ridiculous that he has to stay here to look after the cat.

+ Các ví dụ khác:

They have the same surname, but they don’t appear / seem to be related.

She’s not getting any better. It seems / appears that she’s not been taking the medication.

Ngoại trừ seem thì look và appear đều có thể dùng như một ngoại động từ, chứ không chỉ với vai trò động từ liên kết. Ví dụ:

Cracks have suddenly appeared in the walls in our lounge.

Digital radios for less than £50 began to appear in the shops before the end of last year.

I’ve looked everywhere for my passport, but I can’t find it.

I’ve looked through all the drawers and through all my files.

He didn’t see me because he was looking the other way.

Lưu ý nữa là look được dùng rất nhiều trong các cụm động từ (phrasal verb). Ví dụ:

Could you look after the children this afternoon while I go shopping?

Could you look at my essay before I hand it in?

I’m looking for size 36 in light blue. Do you have it?

It’s been a hard year. I’m looking forward to a holiday now.

I’ve written a letter of complaint and they’ve promised to look into the matter.

Look out for me at the concert. I’ll probably be there by ten o’ clock.

Don’t you want to look round the school before enrolling your children?

He’s a wonderful role model for other players to look up to.

If you don’t know the meaning of these phrasal verbs, look them up in a dictionary.

Sự Khác Nhau Giữa Could &Amp; Was/Were Able To

Sự khác nhau giữa Could & Was/were able to Đôi khi could là dạng quá khứ của can. Chúng ta dùng could đặc biệt với: see hear smell taste feel remember understand – When we went into the house, we could smell burning. Khi chúng tôi đi vào căn nhà, chúng tôi có thể ngửi được mùi cháy. – She spoke in a very low voice, but I could understand what she said. Cô ấy đã nói giọng rất trầm, nhưng tôi có thể hiểu cô ấy nói gì. Chúng ta dùng could để diễn tả ai đó nói chung có khả năng hay được phép làm điều gì: – My grandfather could speak five languages. Ông tôi có thể nói được năm ngoại ngữ. – We were completely free. We could do what we wanted. (= we

Sự khác nhau giữa Could & Was/were able to

Đôi khi ” could” là dạng quá khứ của “can”. Chúng ta dùng ” could” đặc biệt với:

see hear smell

taste feel remember

understand

– When we went into the house, we could smell burning.

Khi chúng tôi đi vào căn nhà, chúng tôi có thể ngửi được mùi cháy.

– She spoke in a very low voice, but I could understand what she said.

Cô ấy đã nói giọng rất trầm, nhưng tôi có thể hiểu cô ấy nói gì.

Chúng ta dùng could để diễn tả ai đó nói chung có khả năng hay được phép làm điều gì:

– My grandfather could speak five languages.

Ông tôi có thể nói được năm ngoại ngữ.

– We were completely free. We could do what we wanted. (= we were allowed to do…)

Chúng ta đã hoàn toàn tự do. Chúng ta có thể làm những gì mà chúng ta muốn (= chúng ta đã được phép làm…)

Chúng ta dùng could để chỉ khả năng nói chung (general ability). Nhưng để đề cập tới một sự việc xảy ra trong một tình huống đặc biệt (particular situation), chúng ta dùng was/were able to… (không dùng could):

– The fire spread through the building quickly but everybody was able to escape or … everybody managed to escape (but not ‘ could escape’).

Ngọn lửa lan nhanh trong tòa nhà nhưng mọi người đã có thể chạy thoát được.

– They didn’t want to come with us at first but we managed to persuade them or … we were able to persuade them (but not ‘ could persuade’).

Lúc đầu họ không muốn đến nhưng sau đó chúng tôi đã thuyết phục được họ.

And here – Hãy so sánh

– Jack was an excellent tennis player. He could beat anybody. (= He had the general ability to beat anybody)

Jack là một vận động viên quần vợt cừ khôi. Anh ấy có thể đánh bại bất cứ ai. (= anh ấy có một khả năng nói chung là đánh bại bất cứ ai)

nhưng

– Jack and Alf had a game of tennis yesterday. Alf played very well but in the end Jack managed to beat him or… was able to beat him (= he managed to beat him in this particular game)

Jack và Alf đã thi đấu quần vợt với nhau ngày hôm qua. Alf đã chơi rất hay nhưng cuối cùng Jack đã có thể hạ được Alf. (= Jack đã thắng được anh ấy trong trận đấu đặc biệt này).

Dạng phủ định couldn’t (could not) có thể được dùng cho tất cả các trường hợp:

– My grandfather couldn’t swim.

Ông tôi không biết bơi.

– We tried hard but we couldn’t persuade them to come with us.

Chúng tôi đã cố gắng rất nhiều nhưng không thể nào thuyết phục họ đến với chúng tôi được.

– Alf played well but he couldn’t beat Jack.

Alf đã chơi rất hay nhưng không thể thắng được Jack.

Nguồn: Lopngoaingu.com

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (Lopngoaingu.com)

Bạn đang xem bài viết Sự Khác Nhau Giữa ‘Prize’ Và ‘Award’ trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!