Xem Nhiều 12/2022 #️ Tìm Hiểu Cơ Bản Về Docker / 2023 # Top 12 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 12/2022 # Tìm Hiểu Cơ Bản Về Docker / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Cơ Bản Về Docker / 2023 mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Docker là nền tảng cung cấp cho các công cụ, service để các developers, adminsystems có thể phát triển, thực thi, chạy các ứng dụng với containers. Hay nói một cách khác nó là một nền tảng để cung cấp cách để building, deploy và chạy các ứng dụng một cách dễ dàng trên nền tảng ảo hóa – “Build once, run anywhere”. Hay nói một cách dễ hiểu như sau: Khi chúng ta muốn chạy app thì chúng ta phải thiết lập môi trường chạy cho nó. Thay vì chúng ta sẽ đi cài môi trường chạy cho nó thì chúng ta sẽ chạy docker.

Một số lợi ích khi dùng docker:

Flexible: Hầu hết những ứng dụng phức tạp đều có thể container được.

Lightweight: Docker Container rất nhẹ và nhanh, chúng ta có thể tạo và chạy docker container trong vài giây, nhanh hơn rất nhiều so với VMs.

Interchangeable: Chúng ta có thể triển khai các bản cập nhật, nâng cấp một cách nhanh chóng.

Portable: Chúng ta có thể tạo Container dưới local, triển khai nó trên cloud và chạy nó ở mọi nơi.

Scalable: Chúng ta có thể tăng số lượng và tự động phát hành những bản sao container.

Stackable: Chúng ta có thể stack các service nhanh chóng.

Sự khác biệt giữa Docker và Hypervisors.

Docker: Chạy độc lập trên Host OS và có thể chạy trên bất cứ hệ điều hành nào. Thời gian khởi động và làm trong cho ứng dụng chạy được tương đối nhanh. Các container chạy như một tiến trình độc lập, chiếm ít tài nguyên của Host Machine.

Sự khác biệt giữa Docker Image và Docker Container.

Docker Image: là một package bao gồm nhiều thứ cần thiết để chạy một ứng dụng như mã nguồn, thư viện, các biến môi trường và các file cấu hình. Các bạn cứ hiểu nó như là một template, thường thì chúng ta hay lên Hub Docker để sử dụng image trên đó hoặc có thể tự build một image riêng cho mình. Một image được build lên sẽ dựa vào những tập câu lệnh trong file Dockerfile mình sẽ đề cập sau.

Docker Container: Nếu như Docker Image được coi như là class thì Docker Container được coi là instance của Image. Chúng ta có thể create, start, stop,… container.

Làm thế nào để tạp ra một Docker Image từ Dockerfile.

Trước hết chúng mình cần xem Dockerfile nó là cái gì? Thì thực chất nó là một tập tin chứa các câu lệnh liên tiếp để tạo ra một Docker Image. Đâyl à một ví dụ về Dockerfile.

# Use an official Python runtime as a parent image FROM python: 2.7 -slim # Name author MAINTAINER NguyenHoang # Set the working directory to /app WORKDIR /app # Copy the current directory contents into the container at /app ADD . /app # Install any needed packages specified in chúng tôi RUN pip install --trusted-host chúng tôi -r chúng tôi # Make port 80 available to the world outside this container EXPOSE 80 # Define environment variable ENV NAME World # Run chúng tôi when the container launches CMD [ "python" , "app.py" ]

Sau đó các bạn sẽ tạo 1 file text với nội dung như sau:

Sau đó chúng ta sẽ chạy lệnh docker build . thì nó sẽ hiện ra đoạn lệnh này thì build thành công

Vậy qua những phần mình tím hiểu rất cơ bản về Docker ở trên cũng mong rằng có ích cho các bạn. Cảm ơn các bạn đã đọc bài viết của mình.

https://docs.docker.com/get-started/

All Rights Reserved

Tìm Hiểu Docker Swarm Với Ví Dụ Cơ Bản / 2023

Tại sao cần Docker Swarm ?

Trong quá trình phát triển, quản lý, scale cũng như deploy project của bạn với việc dùng lệnh của Docker để deploy thì ban đầu project nhỏ chỉ cần chạy một host(vps) nên không có vấn đề gì cả. Tuy nhiên khi project đó vì một số yêu cầu hoặc lý do gì đó phải cần thêm nhiều host hoặc rất nhiều host(vps). Lúc này bạn khó có thể quản lý, scale và cũng không thể nào dùng lệnh để đi deploy lên từng con host(vps) điều đó rất vật vã. Biết được nỗi lòng đó Docker đã phát triển thêm cho ta cái gọi là Docker Swarm.

Docker Swarm là gì ?

Docker Swarm là công cụ native clustering cho Docker. Cho phép ta có thể gom một số Docker host lại với nhau thành dạng cụm (cluster) và ta có xem nó như một máy chủ Docker ảo (virtual Docker host) duy nhất. Và một Swarm là một cluster của một hoặc nhiều Docker Engine đang chạy. Và Swarm mode cung cấp cho ta các tính năng để quản lý và điều phối cluster.

Tính năng Docker Swarm

Cluster management integrated with Docker Engine: Quản lý cluster với Docker Engine bằng việc sử dụng Docker CLI để tạo swarm.

Decentralized design: Docker Swarm được thiết kế dạng phân cấp. Thay vì xử lý sự khác biệt giữa các roles của node tại thời điểm triển khai, Docker Engine xử lý bất kỳ chuyên môn hoá nào khi runtime. Bạn có thể triển khai cả hai loại node: managers và worker bằng Docker Engine.

Declarative service model: Docker Engine sử dụng phương thức khai báo để cho phép bạn define trạng thái mong muốn của các dịch vụ khác nhau trong stack ứng dụng của bạn. VD: Bạn có thể mô tả ứng dụng bao gồm: web front-end với service message queueing và database back-end.

Scaling: Đối với mỗi service bạn có thể khai báo số lượng task mà bạn muốn run. Khi bạn scale up hoặc down thì swarm manager sẽ tự động thêm hoặc xoá task để duy trì trạng thái mong muốn.

Desired state reconciliation: Hãy hình dung bạn thiết lập một service run 10 replicas của một container và một worker machine (host/vps) đang giữ 2 trong số 10 replicas đó gặp sự cố bị crash, lúc này swarm manager sẽ tiến hành tạo thêm 2 replicas mới để thay để cho 2 replicas đã bị crash đó và tiến hành chuyển 2 replicas mới này cho các worker đang run.

Multi-host networking: Bạn có thể chỉ định một overlay network cho các services của mình. Swarm manager sẽ tự động gán địa chỉ IP cho các container trên overlay network khi nó khởi tạo và cập nhật application.

Service discovery: Swarm manager node gán mỗi service trong swarm một DNS duy nhất và bạn có thể truy vấn được thông qua DNS này.

Load balancing: Có thể expose các port cho các services tới load balance để giao tiếp với bên ngoài.

Secure by default: Các service giao tiếp với nhau thông qua giao thức bảo mật TLS. Bạn có thể tuỳ chỉnh sử dụng chứng chỉ ký tự root hoặc chứng chỉ từ một custom root CA.

Rolling updates: Swarm giúp bạn update image của service một cách hoàn toàn tự động. Swarm manager giúp bạn kiểm soát độ trễ giữa service deploy tới các node khác nhau và bạn có thể rolling back bất cứ lúc nào.

Kiến trúc Swarm

Bao gồm các Manager và các Worker. Người dùng có thể khai báo trạng thái mong muốn của nhiều service để chạy trong Swarm sử dụng YAML files.

Swarm: là một cluster của một hoặc nhiều Docker Engine đang run (cụ thể ở đây là các node) trong chế độ Swarm, thay vì phải chạy các container bằng câu lệnh thì ta sẽ thiết lập các services để phân bổ các bản replicas tới các node.

Node: Một node là một máy vật lý hay máy ảo đang run phiên bản Docker Engine trong chế độ Swarm. Node sẽ gồm hai loại: Manager Node và Worker Node.

Manager Node: Là node nhận các define service từ user, nó quản lý và điều phối các task đến các node Worker. Theo mặc định node Manager cũng được coi là node Worker.

Worker Node: là node nhận và thực thi các task từ node Manager.

Service: Một service xác định image của container và số lượng các replicas (bản sao) mong muốn khởi chạy trong swarm.

Task: là một tác vụ mà node worker phải thực hiện. Tác vụ này sẽ do node Manager phân bổ xuống. Một task mang một Docker Container và các lệnh để chạy bên container.

Làm việc với Docker Swarm

Trong phần này ta sẽ tiến hành thực hành với Docker Swarm thông qua demo nhỏ. Đầu tiên ta cần 4 máy ảo (vps ảo) để tạo các máy ảo ta sử dụng câu lệnh sau:

Trong đó:

Tạo machine(máy ảo) cho swarm manager:

$ docker-machine create manager

Tiếp đến là các machine cho swarm worker lần lượt là : worker1, worker2, worker3.

$ docker-machine create worker1 $ docker-machine create worker2 $ docker-machine create worker3

Sau khi tạo xong ta kiểm tra list machine:

$ docker-machine ls

Bây giờ ta sử dụng lệnh inspect thử xem thông tin của một machine

$ docker-machine inspect manager

Dễ thấy một số thông tin cơ bản về machine như: địa chỉ IP, MachineName (tên do ta đặt), SSHKey để có thể truy cập vào machine thông qua SSHKey này, thông tin về CPU ( 1 CPU), Memory ( 1GB), ….

Ở đây:

Và để quay lại host local:

Kiểm tra list node hiện đang có trong swarm

$ docker node ls

Những node (machine/vps) là manager thì mới có xem list này và dấu * cho biết bạn đang ở node manager nào trong swarm. Ở đây ta chỉ có một node manager và node này đang ở status Ready. OK ! vậy là xong nhiệm vụ ở con manager.

Trong đó:

host: Địa chỉ ip của con manager.

port: Cổng port của con manager.

Để lấy thông tin về token thì trên con manager của swarm đó ta sử dụng lệnh

Trên hai con worker2 và worker3 ta cũng làm tương tự

Lưu ý: một node worker chỉ có thể join vào một swarm.

Trên node manager ta kiểm tra lại list node MANAGER STATUS. Điều này cho ta biết chúng là node worker.

Vậy là ta đã tạo thành công 3 con worker và 1 con manager và gom chúng thành một swarm (cluster).

Một câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao ở đây ta không tận dụng cái swarm mà ta đã tạo ra ở Phần 3 tại máy host local ( Docker Desktop for Mac) và coi nó như một node manager để join các node khác vào swarm này mà lại tạo ra thêm một machine để làm node manager chi cho phí tài nguyên như thế ? Thì câu trả lời nằm ở Phần 3 (đã có nói rất rõ) trên phiên bản Docker Desktop for Mac không thể mở luồng định tuyến tới các machine nên việc ta cố gắng join các node (machine/vps) vào swarm với manager swarm là host local là vô tác dụng. Đây cũng chính là điểm yếu khi triển khai networking trên OSX.

Bây giờ ta tiếp tục tạo ra service và các replicas cũng như deploy trên node manager.

Để làm được điều này ta cần config file docker-compose.yml:

version: '3' services: webreactjs: image: quanphamptit/docker-swarm-demo:webreactjs_1 build: . ports: - 3000:3000 restart: always networks: - my-net deploy: mode: replicated replicas: 3 servergo: image: quanphamptit/docker-swarm-demo:servergo_1 build: . ports: - 8080:8080 restart: always networks: - my-net deploy: mode: replicated replicas: 3 networks: my-net: driver: overlay

và copy file chúng tôi mà ta đã config qua bên con manager:

$ docker-machine scp filesource name-machine:/path-docker-machine/

Trong demo này:

$ docker-machine scp ~/Workspace/gocode/docker-swarm-demo/docker-compose.yml manager:/home/docker/docker-compose.yml

Trong đó:

Trên Docker Hub

Vậy là ta đã push thành công 2 image và giờ ta cần deploy stack :

$ docker stack deploy -c chúng tôi swarm-demo-app

Kiểm tra list services:

Ngoài ra bạn có thể tạo service dùng lệnh với cú pháp như sau:

Trong đó:

Và ta có thể thay đổi số container của cluster một cách nhanh chóng bằng câu lệnh sau:

Trong đó :

$ curl http://192.168.99.103:8080/api/v1/foods?id=2

Điều này có nghĩa là khi ta gửi các request đến các node trong swarm. Các node này có thể chứa một hoặc nhiều replicas của các service hoặc không hề chứa cái replicas nào cả thì Routing mesh của swarm sẽ chuyển tiếp các request đó đi qua ingress network tới Swarm Load Balancer, bộ balancer này sẽ phân bổ request tới các container của các service ở các machine( host/vps của manager và worker) cùng chung một mạng swarm. Bạn có thể xem hình sau để hiểu rõ hơn:

Thử lại với các request khác:

Ở đây :

Kiểm tra lại list node và service trên node manager

Tiếp tục kiểm tra trên từng service

Tại đây ta đã thấy điều mới lạ đó. Khi worker1 bị Shutdown thì lúc này swarm manager sẽ tiến hành tạo thêm 1 replicas mới để thay để cho 1 replicas đã bị Shutdown đó và tiến hành chuyển 1 replicas mới này cho các worker đang run (cụ thể là worker3). Đây cũng chính là tính năng Desired state reconciliation, Scaling đã được nói rõ trong phần Tính năng Docker Swarm.

Vậy vấn đề nảy sinh ở đây khi toàn bộ node worker bị die thì điều gì sẽ xảy ra sau đó ?

Trong trường hợp này node manager cũng sẽ tiến hành thêm các replicas để đảm bảo đủ số replicas mà ta đã config (mong muốn) và chạy trên chính con manager này ( nghĩa là node manager sẽ đóng vai trò là node worker luôn). Và nếu con manager này die luôn thì mọi chuyện coi như chấm hết !!.

All Rights Reserved

Docker Là Gì? Tìm Hiểu Thêm Kiến Thức Về Docker / 2023

Docker là gì?

Docker là một nền tảng để cung cấp cách để building, deploying và running ứng dụng dễ dàng hơn bằng cách sử dụng các containers (trên nền tảng ảo hóa). Ban đầu viết bằng Python, hiện tại đã chuyển sang Golang.

Container trong Docker là gì?

Các containers cho phép lập trình viên đóng gói một ứng dụng với tất cả các phần cần thiết, chẳng hạn như thư viện và các phụ thuộc khác, và gói tất cả ra dưới dạng một package.

Bằng cách đó, nhờ vào container, ứng dụng sẽ chạy trên mọi máy Linux khác bất kể mọi cài đặt tùy chỉnh mà máy có thể có khác với máy được sử dụng để viết code.

Theo một cách nào đó, Docker khá giống virtual machine. Nhưng tại sao Docker lại phát triển, phổ biến nhanh chóng? Đây là những nguyên nhân:

Tính dễ ứng dụng: Docker rất dễ cho mọi người sử dụng từ lập trình viên, sys admin… nó tận dụng lợi thế của container để build, test nhanh chóng. Có thể đóng gói ứng dụng trên laptop của họ và chạy trên public cloud, private cloud… Câu thần chú là “Build once, run anywhere”.

Tốc độ: Docker container rất nhẹ và nhanh, bạn có thể tạo và chạy docker container trong vài giây.

Môi trường chạy và khả năng mở rộng: Bạn có thể chia nhỏ những chức năng của ứng dụng thành các container riêng lẻ. Ví dụng Database chạy trên một container và Redis cache có thể chạy trên một container khác trong khi ứng dụng chúng tôi lại chạy trên một cái khác nữa. Với Docker, rất dễ để liên kết các container với nhau để tạo thành một ứng dụng, làm cho nó dễ dàng scale, update các thành phần độc lập với nhau.

Docker Engine : là thành phần chính của Docker, như một công cụ để đóng gói ứng dụng

Docker Hub : là một “github for docker images”. Trên DockerHub có hàng ngàn public images được tạo bởi cộng đồng cho phép bạn dễ dàng tìm thấy những image mà bạn cần. Và chỉ cần pull về và sử dụng với một số config mà bạn mong muốn.

Images: là một khuôn mẫu để tạo một container. Thường thì image sẽ dựa trên 1 image có sẵn với những tùy chỉnh thêm. Ví dụ bạn build 1 image dựa trên image Centos mẫu có sẵn để chạy Nginx và những tùy chỉnh, cấu hình để ứng dụng web của bạn có thể chạy được. Bạn có thể tự build một image riêng cho mình hoặc sử dụng những image được chia sẽ từ cộng đồng Docker Hub. Một image sẽ được build dựa trên những chỉ dẫn của Dockerfile.

Container: là một instance của một image. Bạn có thể create, start, stop, move or delete container dựa trên Docker API hoặc Docker CLI.

Docker Client: là một công cụ giúp người dùng giao tiếp với Docker host.

Docker Daemon: lắng nghe các yêu cầu từ Docker Client để quản lý các đối tượng như Container, Image, Network và Volumes thông qua REST API. Các Docker Daemon cũng giao tiếp với nhau để quản lý các Docker Service.

Dockerfile: là một tập tin bao gồm các chỉ dẫn để build một image .

Volumes: là phần dữ liệu được tạo ra khi container được khởi tạo.

Quy trình thực thi của một hệ thống sử dụng Docker

Build

Đầu tiên tạo một dockerfile, trong dockerfile này chính là code của chúng ta. Dockerfile này sẽ được Build tại một máy tính đã cài đặt Docker Engine. Sau khi build ta sẽ có được Container, trong Container này chứa ứng dụng kèm bộ thư viện của chúng ta.

Push

Sau khi có được Container, chúng ta thực hiện push Container này lên cloud và lưu tại đó.

Pull, Run

Nếu một máy tính khác muốn sử dụng Container chúng ta thì bắt buộc máy phải thực hiện việc Pull container này về máy, tất nhiên máy này cũng phải cài Docker Engine. Sau đó thực hiện Run Container này.

Vậy khi nào sử dụng Docker?

Triển khai kiến trúc Microservices.

Khi xây dựng ứng dụng và cần scale một cách linh hoạt.

Khi bạn muốn không tốn khá nhiều thời gian để config máy local và server cùng một môi trường để chạy được ứng dụng. Bạn chỉ cần build 1 lần chạy ở nhiều nơi mà thôi.

Sản phẩm của công ty bạn cần một cách tiếp cận mới về xây dựng, đẩy lên server, thực thi ứng dụng một cách nhanh chóng dễ dàng.

Tìm Hiểu Cơ Bản Về Đạo Phật / 2023

– Bạn có thể trở thành Phật tử nếu bạn tự nguyện hướng về giác ngộ, nghĩa là muốn kính thờ Phật làm Thầy, sống theo đạo lý vi diệu, lợi ích của Phật (Dharma) và muốn được sự hướng dẫn của các vị tu hành chơn chánh và hòa hợp với các bạn đồng đạo. Rõ ràng hơn, Phật tử là người có lý tưởng giác ngộ luôn luôn cố gắng tu hành theo 5 giới sau đây: 1-Không giết hại, nghĩa là tôn trọng sự sống con người. 2 – Không trộm cướp, nghĩa là tôn trọng tài sản của kẻ khác. 3 – Không tà hạnh, nghĩa là tôn trọng hạnh phúc gia đình mình và gia đình người. 4 – Không dối trá, nghĩa là tôn trọng sự thật. 5 – Không uống những thứ làm say loạn, nghĩa là giữ gìn tâm trí bình tĩnh và sáng suốt. Năm điều tu học nầy không những có ý nghĩa trong đời sống cá nhân, gia đình mà còn có ý nghĩa trong cuộc sống tập thể và xã hội.

– Niềm tin (sađhâ) của Phật tử khác hẳn “Ðức tin” của những người theo các tôn giáo khác. Phật tử luôn luôn sáng suốt trong vấn đề chấp nhận và thực hành Ðạo Phật. Phật tử kính thờ Phật với quan niệm Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn, đầy đủ từ bi, trí tuệ và hùng lực. Ðối với Phật tử, tượng Phật không phải là một ngẫu tượng (idole) mà là biểu trưng lý tưởng giác ngộ, hình ảnh Chơn, Thiện, Mỹ. Sự kính lễ tượng Phật của Phật tử khác xa hành động quỳ lụy, sợ sệt trước những hình tượng của tín đồ đa thần giáo (polythéisme) hay nhất thần giáo (monothéisme). Phật tử quan niệm đạo lý của Phật là “ngón tay chỉ mặt trăng”; người tìm đạo phải nương theo ngón tay đạo lý để thấy được mặt trăng chân lý. Họ tìm hiểu chín chắn và phán đoán phân minh những lời dạy của Phật trước khi chấp nhận và áp dụng. Chính Phật khuyến khích họ điều đó. Chủ nghĩa tín điều (dogmatisme) không có trong đạo Phật. Ðối với Tăng Ni, Phật tử không hề xem các vị ấy là những người thay mặt Phật để tha tội hay ban phước. Họ kính trọng các vị ấy vì xem các vị ấy như là gương mẫu đạo hạnh và là người dìu dắt họ trên con đường Ðạo.

– Ðức Phật (Buddha) là danh từ chung chỉ các bậc giác ngộ hoàn toàn. Ðức Phật mà chúng ta kính thờ vốn là thái tử Tất Ðạt Ða (Siddhattha), con vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Gia (Mâyâ). Quê hương của Ngài là tiểu bang thuộc dòng họ Thích Ca (Sâkya), về phía bắc Ấn Ðộ mà kinh đô là Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), nằm trên bờ sông Rohini dưới chân Hy mã lạp sơn, là vùng Terai của nước Nepal ngày nay. Vua và hoàng hậu đều là những người đức độ, song thường buồn lo vì không có con nối nghiệp. Nhân một ngày lễ lớn, hoàng hậu Ma Gia trai giới trọn ngày và cùng vua phân phát tiền vật cho dân nghèo. Ðêm ấy, trong khi an giấc, hoàng hậu mộng thấy con voi trắng sáu ngà, vòi ngậm cành sen trắng từ cao đi xuống, tiến đến gần rồi chui vào bên mình phía tay phải của hoàng hậu. Các nhà đoán mộng danh tiếng đoán rằng hoàng hậu sẽ sanh thái tử xuất chúng. Hoàng gia rất đỗi vui mừng và hoàng hậu thụ thai từ đó. Thời tiết đến, hoàng hậu theo tục lệ xin vua trở về nhà cha mẹ để sinh. Khi đi ngang qua vườn Lâm tỳ ni (Lumbini), hoàng hậu dừng chân ngắm xem hoa lá, và trong lúc đưa tay vịn một cành hoa thì hạ sanh thái tử. Hôm ấy là ngày trăng tròn tháng Vesakha (tháng tư ta) cách đây hơn 2500 năm. Tin mừng thái tử ra đời vang khắp bốn phương. Ðạo sĩ A-tư-đà (Asita) tìm đến hoàng cung và vào thăm thái tử. Nhìn thấy những tướng tốt nơi thái tử, đạo sĩ vô cùng mừng rỡ, nhưng sau đó lại buồn khóc. Vua rất lo ngại và gạn hỏi nguyên do, thì đạo sĩ thưa: “Tâu bệ hạ, thái tử là bậc xuất chúng: nếu ở đời sẽ là minh vương (cakkavattin), nếu tu hành sẽ thành Phật. Tôi mừng là vì một đấng giác ngộ đã ra đời. Tôi buồn là vì đã già, tôi sẽ không còn sống cho tới ngày được nghe lời giáo hóa của Ngài”. Hoàng hậu Ma Gia từ trần sau khi thái tử sanh ra được bảy ngày. Em hoàng hậu, bà Ma-Ha-Ba-Xà-Bà-Ðề nuôi dưỡng thái tử. Thái tử rất thông minh tuấn tú: văn chương, võ nghệ đều tinh thông hơn người. Nhưng thái tử thường tỏ vẻ không vui với cuộc sống chung quanh.

Ngay lúc bẩy tuổi, một hôm thái tử được đưa ra ngoài đồng để dự lễ khai mùa đầu xuân. Trời nắng, thái tử ngồi dưới gốc cây để xem lễ. Ngoài ruộng, vua cha tay cầm tay cày nạm ngọc, đi sau đôi bò mập mạnh. Lưỡi cày làm vung lên những tảng đất mun. Những con trùng đứt khúc, ướm máu bày ra, đàn chim nhẩy bay theo luống đất vừa cày, tranh nhau mổ ăn những con trùng đang quằn quại và tìm nơi ẩn trốn. Qua cảnh tượng ấy, thái tử thấy rõ sự thật cay đắng về cuộc đời và suy ngẫm sâu sắc về nó. Dự lễ về, như không còn thiết với cảnh sống hoa lệ của hoàng cung, thái tử trở nên trầm tư hơn trước. Vua cha nhớ lại lời đoán của đạo sĩ A-Tư-Ðà (Asita), sợ thái tử sẽ xuất gia tu hành nên tìm mọi cách làm cho thái tử khuây khỏa và vui say với cảnh sống vua chúa. Vua xây cho thái tử thêm ba cung điện tráng lệ, thích hợp với ba mùa: hè, mưa và đông và cưới công chúa Da-Du-Ðà-La (Yasodharâ) cho thái tử lúc 16 tuổi. Cung vàng, điện ngọc và tình yêu của vợ hiền vẫn không làm vơi những băn khoăn và thắc mắc về cuộc đời nơi thái tử. Ðể hiểu rõ cuộc sống của con người, thái tử xin phép vua cha dạo chơi ngoài thành. Lần thứ nhất, thái tử rất ngạc nhiên khi thấy một người già gầy còm, hổn hển, đi từng bước với cây gậy một cách khó nhọc. Lần thứ hai, thái tử thấy người bệnh nằm rên la bên vệ đường. Lần thứ ba, người chết đang được mang ra bãi tha ma để hỏa táng. Ba cảnh tượng ấy làm ngài buồn hơn và suy nghĩ nhiều. Rất nhiều lần thái tử hỏi các giáo sư về nguyên nhân khổ đau và phương pháp diệt đau khổ. Song những câu trả lời của họ đều đầy thần quyền và thiếu lý lẽ về cuộc đời không thỏa mãn thái tử. Chính trong lần dạo chơi thứ tư, khi thái tử gặp một vị tu hành với phong độ giải thoát, tự tại, thái tử có ý định rời bỏ cuộc sống vua chúa để tìm chân lý. Trong những ngày miên man với ý nghĩ ra đi, thì thái tử được tin công chúa Da-Du-Ðà-La sinh con trai: La Hầu La (Râhula). Tin này làm vững thêm ý chí của thái tử vì từ nay đã có người nối nghiệp thì vua cha sẽ bớt buồn phiền. Lúc này thái tử đã 29 tuổi. Khuya hôm ấy, sau buổi yến tiệc linh đình, nhân lúc quân hầu, thị nữ ngủ say, thái tử cùng với người hầu cận Xa-Nặc (Chandaka) và ngựa Kiền trắc (Kanthaka) ra đi sau khi lặng lẽ từ biệt vợ con. Sáng ra, khi đến bờ sông Anôma, thái tử xuống ngựa, đổi áo gấm lấy áo thường, dùng gươm cắt tóc, rồi trao ngựa, đồ trang sức cho Xa-Nặc và bảo trở về thưa với vua cha và công chúa về mục đích ra đi của ngài.

– Sau khi giác ngộ, với lòng từ bi và sự minh xác rằng con người có thể hướng thiện và hướng thượng, Phật đi bộ sang Sarnath (Bénarès) để giáo hóa cho năm người bạn cùng tu khổ hạnh ngày trước. Phật giảng cho họ biết rằng muốn thấy được chân lý, phải xa lìa hai cách sống thái quá: đắm say vật dục và hủy hoại thân thể, sáng suốt nhận rõ và thực hiện bốn chân lý cao thượng: sự khổ (dukkha), Nhân của khổ (samudaya), sự tiêu diệt của khổ (nirodha) và con đường đưa đến khổ diệt (magga). Buổi giảng thứ hai, Phật bác bỏ quan niệm sai lầm về linh hồn bất tử hay bản ngã thường còn làm chủ thể của sự sống và nói rõ con người là một tổng hợp liên tục của vật chất (rupa) và tinh thần (nâma); do đó, con người xấu ác si mê có thể trở thành tốt lành, giác ngộ. Nhờ sự hướng dẫn sáng suốt của Phật mà tăng đoàn (sangha) càng ngày càng đông: Khi tăng đoàn đã đông, Phật khuyến khích mỗi người đi mỗi ngả để truyền bá đạo lý. Cùng với tăng đoàn, Phật cũng đi khắp lưu vực sông Hằng giáo hóa cho mọi người, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo. Những ai có khả năng xuất gia tu hành và dìu dắt kẻ khác đều được thâu nhận vào tăng đoàn. Những người muốn hướng thiện song còn bận bịu với gia đình và xã hội đều được chấp nhận làm Phật tử tại gia. Phật phá bỏ những tín ngưỡng thần linh vu vơ, chỉ rõ sai lầm trong cách nhận định chân lý, cải tạo những tập tục xấu hại như giết hại súc vật để cúng tế, cầu đảo. Phật cũng mạnh dạn chống đối chế độ giai cấp lạ kỳ bất công có nguồn gốc từ kinh điển Bàlamôn. Suốt 45 năm, từ làng này qua làng khác, Phật tận lực khai sáng cho con người thấy rõ sự thật của cuộc đời và làm cho con người nhận thấy khả năng quý báu nơi chính mình để họ dành lại quyền tạo hóa và hướng về nẻo giác ngộ cao đẹp. Trên đường giáo hóa, vào đêm rằm tháng Vesak, Phật dừng nghỉ tại rừng Câu thi na (Kusinarâ), làng Kasia. Sau khi khuyên dạy đệ tử lần cuối cùng: “Vạn vật giả hợp đều hoại diệt, phải tinh tấn để thực hiện lý tưởng”, Phật an nhiên viên tịch (parinirvâna) vào năm 80 tuổi.

– Không! Ðức Phật không phải là thần linh hay sứ giả của thần linh. Ngài là một người thức tỉnh (Bồ tát) đã tu hành trong nhiều kiếp và đến đời cuối cùng, với thân người, Ngài đạt đến quả vị giác ngộ hoàn toàn. Có thể nói Ngài là một người nhưng không phải là người thường mà là một “siêu nhân”: người thông đạt chân lý (Như lai, Tathâgata), Phật là một bậc thầy: “Các người hãy tự mình cố gắng, Như Lai chỉ là người chỉ đường” (Pháp cú, 276) Lời dạy của Phật là ánh sáng, là tình thương rất cần cho chúng ta, những kẻ đang sống trong bóng tối và hận thù. Không có gì quý báu hơn sự ra đời của Phật vì muôn nghìn năm mới có một lần.

– Qua đạo phong cao đệp, lời dạy như thật của Phật được ghi chép trong kinh điển, chúng ta biết rõ ngài là bậc giác ngộ hoàn toàn. Hành động và lời nói của Phật đượm màu từ, bi, hỷ, xả. Ðạo lý của Phật phản ảnh được sự thật nơi con người và vũ trụ. Nếu so sánh Phật với người thường và với các vị giáo chủ, triết gia khác, chúng ta thấy rõ sự giác ngộ hoàn toàn nơi Phật. Có thể xem Phật là đóa sen trắng: “Như hoa sen tinh khiết, đáng nhìn, Sinh từ bùn mà không dính bùn, Ta không bị ô nhiễm vì cuộc đời, Vì thế, này Bà la môn, ta là Phật”. (An,II,39).

– Cốt tủy của Ðạo Phật là đạo lý Duyên khởi (paticcasamuppada). Ðạo lý này nói rõ sự tương quan tương duyên của tất cả hiện tượng vật lý và tâm lý. Sự hiện hữu của thế giới chỉ là tương quan đồng thời của nhận thức chủ quan và đối tượng khách quan. Sự vật ngoài ta và trong ta vốn sinh diệt biến chuyển theo quy luật nhân quả mà không hề tiêu diệt hoàn toàn: ấy là tương quan khác thời. Nói cách khác, sự vật vốn là vô ngã (insubstanciel), nghĩa là không có “bản thể độc lập” (substance indépendante), mà là tổng hợp của nhiều điều kiện và “vô thường” (impermanent) nghĩa là luôn luôn thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Bài kệ sau đây tóm tắt ý nghĩa đạo lý Duyên khởi: “Cái này có thì cái kia có Cái này sanh thì cái kia sanh Cái này không thì cái kia không Cái này diệt thì cái kia diệt”. Ðạo lý Duyên khởi chống phá ba lý thuyết sai lệch sau đây: 1. Túc mạng luận: tất cả đều do hành động đời trước (Ðịnh mệnh luận) 2. Thần ý luận: tất cả do thần linh sáng tạo và cai quản. 3. Ngẫu nhiên luận: sự vật có ra là tình cờ hay may rủi mà không do nhân duyên. Dựa trên đạo lý Duyên khởi, Phật trình bày sự thật về con người và vũ trụ một cách như thật. Nếu nhìn sự vật đúng theo đạo lý Duyên khởi thì chúng ta sẽ thấy rõ sự thật mà không bị sai lầm theo ba lý thuyết trên.

a) Vô ngã (anattâ) . Ảo tưởng về sự thay đổi nơi sự vật gây ra ảo tuởng về bản chất thường còn nơi sự vật hay linh hồn bất tử nơi con người. Trong thật tế, sự vật và con người liên tục biến chuyển từ trạng thái này qua trạng thái khác chứ không hề có sự thay đổi hình thể bên ngoài mà bản chất hay linh hồn vẫn tồn tại. Không có bản chất của một cái bàn, ngoài cái bàn ; cũng như không có linh hồn ngoài sự sống con người. Cái bàn là một tổng hợp của gỗ, đinh, sơn, nhân công… Người là tổng hợp của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Không hề có bản chất độc lập thường còn của cái bàn hay linh hồn bất tử của con người. Chính tánh cách liên tục của hành động có cố ý (karma) của con người làm cho con người hiện hữu (sẽ giải rõ hơn ở phần tái sanh). Bảo rằng có bản chất thường còn nơi sự vật hay linh hồn bất tử nơi con người là quan niệm sai lầm gây ra bởi sự quan sát cẩu thả hay sự mê chấp theo tín điều. Hiểu đạo lý Vô ngã tức là giác ngộ sự thật qua chiều ngang của sự vật (không gian). b) Vô thường (anicca) . Vũ trụ là một thác nước chẩy xiết chứ không phải là vũng nước đọng. Sự vật sinh diệt, diệt sinh không ngừng như những ngọn sóng nhô lên hạ xuống trên mặt biển. Người cũng vậy, sống chết từng ngày từng phút. Tuy vô thường song sự vật và con người không hề bị tiêu diệt mà biến đổi từ trạng thái này qua trạng thái khác và không có sự cách biệt quá rõ ràng giữa những trạng thái khác nhau trong dòng liên tục. Nói cách khác, sự vật và con người không hề “là” mà luôn luôn “trở nên”. Không những không thể có “một con suối” để chúng ta có thể tắm hai lần, mà cũng không có “một con người” để có thể tắm hai lần trên một dòng suối. Quan niệm về bản chất của thời gian qua những ý niệm trước hay sau về một sự vật đồng nhất là một quan niệm rất quen thuộc nhưng cũng rất sai lầm. Hiểu đạo lý vô thường tức là giác ngộ sự thật qua chiều dọc của sự vật (thời gian).

– Ðối với cuộc đời, Phật chủ trương cuộc sống của loài người vốn không hoàn toàn và có nhiều khổ đau, nhất là không chắc thật và thường thay đổi, và do đó cần phải thay đổi cuộc sống đau khổ thành cuộc sống an lành. Phật có nói: “Ta chỉ dạy một điều: Khổ và Khổ diệt”. Thái độ ấy được diễn tả qua bốn chân lý cao đệp sau đây: A. Khổ (dukkha) a. Ðau khổ thông thường như khổ vì sinh, già, bịnh, chết; khổ vì sống với oán thù, vì xa lìa người thân yêu, vì không thỏa mãn những điều mong muốn. b. Ðau khổ do lầm tưởng cuộc đời là thường còn, trong khi cuộc đời là biến chuyển. c. Ðau khổ do lầm tưởng cuộc đời là chắc thật, trong khi cuộc đời là giả hợp. Nghĩa thứ nhất rất dễ hiểu. Song phải hiểu nó trong những thể hiện cụ thể nơi con người và trong cuộc sống qua nhiều khía cạnh khác nhau. Hai nghĩa sau mang nhiều tính chất triết lý, song cũng có thể tìm thấy nơi đời sống hàng ngày… Cuộc đời là khổ, bởi vì cuộc đời vốn là vô ngã, vô thường, nhất là vì con người với vô minh, luôn luôn hiểu lầm rằng cuộc đời là thật có và thường còn cho nên bằng mọi cách cố thỏa mãn tánh tham lam và lòng hờn giận của mình; do đó gây thêm phiền não cho mình và cho người. Ví dụ, khi thấy nguời thân từ trần, chúng ta quá buồn phiền đến nỗi mất trí. Sự buồn phiền này, một phần lớn do lầm tưởng rằng người thân ấy là cái gì chắc thật và không bao giờ chết. Nỗi khổ của chúng sanh không những là nhiều mà còn kéo dài từ đời này qua kiếp khác. B. Nhân khổ (samudaya). Ðau khổ của loài người không do định mệnh hoặc thần linh, hoặc rủi may, mà do chính con người hay chúng sinh gây ra với tất cả hành động thúc đẩy bởi ái dục (tanhâ). Có ba thứ ái dục: a. Ái dục thỏa mãn dục lạc. b. Ái dục mở rộng cái ta. c. Ái dục phá hoại điều mình không thích. Ái dục do vô minh (không sáng suốt) thúc đẩy. Vô minh và Ái dục là nguyên nhân chủ yếu của đau khổ. Không nên hiểu Ái dục một cách trừu tượng mà phải hiểu qua sự thể hiện của nó trong mọi sinh hoạt của con người hay chúng sinh trong phạm vi chính trị, kinh tế, xã hội… và ngay cả trong phạm vi tôn giáo. Ví dụ, Ái dục có thể thể hiện trong chính trị độc tài, áp bức, trong kinh tế bóc lột, trong xã hội thối nát. Trong nhiều trường hợp, nên tìm hiểu Ái dục phát xuất từ người nào hay tập thể nào để tránh lầm lẫn người phát sinh Ái dục và nạn nhân của Ái dục. Sự thể hiện của Ái dục qua hành động gọi là Nghiệp (Karma). Vì hầu hết hành động của loài người đều do Vô minh và Ái dục thúc đẩy, nhưng chỉ những hành động có cố ý (cetanà) của thân, miệng, ý mới trở thành sức mạnh sáng tạo cuộc sống riêng (biệt nghiệp) và chung của con người (cộng nghiệp). Chúng ta gặt hái những gì chúng ta đã gieo trồng. Hành động lành ích cho chúng ta những kết quả tốt đệp. Hành động xấu hại khiến chúng ta chịu lấy kết quả khổ đau. Luật nhân quả tự nó đã có sự “thưởng phạt”, vì thế không cần thêm một đấng thiêng liêng nào khác để thưởng phạt nữa. Luật nhân quả diễn biến liên tục trong thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai mà không bị giới hạn trong hiện tại. Do dó, có những quả báo đến ngay sau khi gây nhân, và cũng có những quả báo sẽ đến sau một thời gian, dài hay ngắn, tùy theo nghiệp nhân mạnh hay yếu. Ðạo Phật cũng không hề nói đến “lương tâm” do trời phú cho, vì lương tâm chỉ là một tâm thái do kinh nghiệm về điều lành trong quá khứ mà có. Vì thế có những người không có hoặc mất cả lương tâm. Có hai thứ nghiệp có ảnh hưởng đến đời sống của con người: Biệt nghiệp (hành động cá nhân) và Cộng nghiệp (hành động của tập thể). Biệt nghiệp ảnh hưởng nhiều đến đời sống cá nhân. Cộng nghiệp ảnh hưởng nhiều đến đời sống gia đình và xã hội. Tuy nhiên kết quả của cộng nghiệp và biệt nghiệp không hề tách rời nhau. Cá nhân thiếu sáng suốt, không tự chủ, yếu hèn thì sẽ bị cộng nghiệp chi phối. Trường hợp biệt nghiệp chi phối tập tể, gia đình và nhất là xã hội có thể có nhưng rất hiếm. Do đó muốn cải tạo cuộc sống cá nhân hay cộng đồng xã hội thì không những chỉ cải tạo biệt nghiệp mà còn phải cải tạo cộng nghiệp. Tu dưỡng nhĩa là chuyển nghiệp, theo nghĩa hệp là cải tạo cá nhân bằn cách thay đổi biệt nghiệp, theo nghĩa rộng là cải tạo gia đình và xã hội bằng cách đổi cộng nghiệp. Tu dưỡng còn có nghĩa là thay đổi cuộc sống si mê ràng buộc thành cuộc sống giác ngộ giải thoát, thay đổi cuộc sống khổ đau thành cuộc sống an lành cho hiện tại và tương lai. Tin tưởng nghiệp như là sức mạnh tiền định, không thể chuyển đổi: “Kiếp xưa đã vụng đường tu, kiếp này quyết phải đền bù mới xong” là tin tưởng của ngoại đạo có chủ trương Túc mạng luận mà không phải là nhận thức đúng đắn theo đạo lý Duyên khởi và Nghiệp của đạo Phật. C. Khổ diệt (Nirodha). Sự tiêu diệt của khổ đau hay là an lành khi nguyên nhân đau khổ (Vô minh và Ái dục) bị tiêu diệt. Sự an lành có thể thực hiện ngay ở đây và bây giờ. Sự tiêu diệt của khổ đau cũng gọi là Niết bàn (Nirvâna). Niết bàn là mục đích của Phật tử. Ước mong cao nhất của Phật tử là thực hiện Niết Bàn, vì “Niết Bàn là sự an lành tuyệt đối”. Muốn biết rõ nước mát, lạnh thế nào phải tự uống nước. Cũng vậy, muốn biết Niết bàn an lành như thế nào, cách tốt nhất là phải tu dưỡng và thực hiện Niết bàn. Tất cả sự diễn tả về Niết bàn của Phật hay của người khác chỉ là những khái niệm hết sức trừu tượng về Niết bàn đối với chúng ta. Tham lam, giận hờn, si mê là sức mạnh gây ra đau khổ. Nếu ba căn này bị tiêu diệt thì khổ đau không còn và an lành thể hiện. Ngài Buddhaghosa trong Visuddhimagga có kể một câu chuyện để chứng minh rằng Niết bàn không phải là “hư vô diệt tịch”: “Có một làng nọ, từ lâu bị bọn cướp quấy phá. Dân làng điêu đứng khổ sở. Một hôm, làng được quân lính nhà vua về lùng bắt và giết sạch bọn cướp. Từ đó dân làng được yên ổn làm ăn”. Ý nghĩa của ví dụ là tham, sân, si bị tiêu diệt thì con người được an lành chứ không có nghĩa là sự sống của con người cũng bị tiêu diệt. Hơn nữa, Niết bàn có hai mức độ: Niết bàn toàn phần nơi các bậc giác ngộ hoàn toàn và Niết bàn từng phần nơi những người đang tu dưỡng. Từ Niết bàn từng phần đến Niết bàn toàn phần có bốn phẩm vị gọi là bốn quả: 1. Dự lưu (vào dòng): tức là người trừ được sự chấp có ta, nghi ngờ, mê tín lễ nghi và giới điều. 2. Nhất lai (sanh lại một lần): tức là người trừ bớt được một phần của tham dục và tàn bạo. 3. Bất lai (không sanh lại): tức là người trừ hết năm điều trên. 4. A la hán (vô sanh): tức là người trừ thêm năm điều nữa: tham muốn sanh cõi sắc, tham muốn sanh cõi vô sắc, kiêu ngạo, loạn động và vô minh. Niết bàn trong đời sống hiện tại gọi là Niết bàn còn dư thừa và sau khi thân này chết đi gọi là Niết bàn không dư thừa hay là Niết bàn trọn vẹn (parinirânâ). Những điều trình bày trên cho chúng ta thấy Niết bàn là an lành mà trong ngay đời này chúng ta có thể thực hiện và an hưởng chứ không phải chỉ là những gì cho đời sau. D. Con đường đưa đến khổ diệt (magga). Con đường đưa đến khổ diệt là sự tu dưỡng theo giới (sila): những qui tắc sống khôn ngoan và cao đẹp, định (samâdhi): những phương pháp tập trung và huấn luyện tâm trí và Tuệ (pannâ): những cách thức khai sáng trí tuệ để nhìn sự vật đúng như thật. Ba điều học này được giải rộng trong con đường chánh gồm tám nẻo (bát chánh đạo): 1. Chánh kiến: hiểu biết đúng đắn sự thật của cuộc đời, nhất là hiểu rõ bốn chân lý theo hai hệ thống đau khổ và an lành. 2. Chánh tư duy: suy nghĩ những điều cao đẹp cởi mở, từ thiện và thân hữu. 3. Chánh ngữ: lời nói chân thật, hòa ái. 4. Chánh nghiệp: làm những việc lành ích cho mình và cho người. 5. Chánh mạng: nuôi sống thân mạng với nghề nghiệp lương thiện. 6. Chánh tinh tấn: siêng năng trong chiều hướng tiến bộ, tu dưỡng bản thân và phục vụ chúng sanh. 7. Chánh niệm: ý thức và kiểm soát động tác của thân, miệng, ý, nhớ rõ các pháp lành. 8. Chánh định: tĩnh tâm, cải tạo tư tưởng và trau dồi trí tuệ. Ý nghĩa của con đường chính gồm tám nẻo có thể tóm tắt trong bài kệ sau đây: “Không làm mọi điều ác Thành tựu các hạnh lành Tâm ý giữ trong sạch Chính lời chư Phật dạy” (Pháp cú, 183)

– Luân hồi (samsàra) là sự sống chết nối tiếp nơi một chúng sanh. Như chúng ta biết, dòng nhân quả diễn biến một cách tương tục mà không bị hạn cuộc trong đời sống hiện tại. Do đó khi nào còn tham sống và gây nghiệp (karma) thì lúc đó chúng ta sau khi chết vẫn còn sinh trở lại và nhận lấy quả báo. Nói cách khác, sau khi thân xác nầy ngừng hoạt động, dòng sống vẫn còn tiếp diễn, mặc dù hình thái của sự sống ở giai đoạn sau không phải là hình thái của sự sống ở giai đoạn trước. Cần lưu ý, dòng sống này luôn luôn chuyển biến chứ không phải là có một linh hồn bất tử (âme éternelle) đi từ đời này qua đời khác như một lữ khách đi từ quán trọ này đến quán trọ kia. – Sự tái sinh (renaissance) theo đạo Phật, không có nghĩa là sự nhập xác (réincarnation) hay là sự nhất định sinh trở lại thế giới loài người nầy với “cái linh hồn xưa cũ không thay đổi”. Do nghiệp lực ác hay lành (sức mạnh của hành động có cố ý) mà sau khi xác thân nầy chết, một hình thái sống khác hoặc cao hơn loài người như các loài trời (deva) hoặc thấp hơn loài người như cầm thú, ma quỉ và các loài cực khổ sẽ hiện thành. Như vậy dòng suối cứ tiếp diễn trong trạng thái đổi thay như dòng nước chảy xiết. Chúng sinh sau thừa hưởng gia tài tốt hay xấu của chúng sinh trước. Hai hình thái sống của hai giai đoạn thời gian và hai hoàn cảnh “không giống nhau nhưng cũng không khác nhau” (na ca so na ca anno). Không có vấn đề con người trở thành trời hoặc thú, mà chính hành động của thân, miệng, ý (nghiệp) mang tính chất trời hay thú làm cho chúng sinh trở nên trời hay thú. Không những trong tương lai mà ngay cả hiện tại, chúng ta có thể trở thành thể này hay thể khác tùy theo hành động (nghiệp) của chúng ta. Ðạo lý luân hồi là câu trả lời cho câu hỏi “sau khi chết còn hay mất” hợp lý nhất, so với câu trả lời “sau khi chết, người ta sẽ sinh vào thiên đàng hay hỏa ngục và sống ở đó đời đời kiếp kiếp” và câu trả lời “không còn gì nữa sau khi chết”. Không có nghiệp thì không tái sanh như trường hợp các vị A-la-hán và Phật. Phật và A-la-hán là các bậc giải thoát: không có những hành động vì “cái ta”, không tạo nhận sống chết cho nên không còn sống chết. Giải thoát luân hồi là điều rất khó. Cho nên đối với chúng sinh chưa đủ sức giải thoát, Phật dạy cho họ những phương pháp tu dưỡng để khỏi sa đọa vào những cảnh giới xấu, khổ như súc sinh, ngạ quỉ và loài cực khổ và để sanh vào thế giới an lành như cảnh giới các loài trời hay ít nhất là để được sanh lại trong thế giới loài người, những nơi mà điều kiện sinh sống tương đối an vui và có thể giúp họ tiếp tục tiến bộ trên đường giác ngộ.

– Phần đông các tôn giáo đều giống nhau ở điểm giải thích về nguồn gốc của sự vật: chúa Allah, chúa Jéhova, Brahman, hoặc nhiều đấng thần linh khác. Trong khi đó, đức Phật im lặng trước câu hỏi về nguyên nhân của vũ trụ và của những câu hỏi siêu hình vô ích. Phật giải thích rằng sự vật có ra và tồn tại trong nguyên lý Duyên khởi, nghĩa là sự vật tương quan tương duyên với nhau mà có ra chứ không do ai sinh cả. Nguyên nhân đầu tiên của một hữu tình đã không tìm thấy được thì nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ lại càng không thể tìm thấy được. Bởi vì theo Phật, thời gian mà theo đó một hữu tình lưu chuyển thật là vô thỉ vô chung, không gian mà trong đó sự vật thành hoại thật là vô cùng vô tận. Hơn nữa, đạo Phật là đạo lý soi sáng cho con người thấy sự khổ đau, sự khuyết điểm, sự không vừa ý (dukkha) trong cuộc đời và chỉ bày cho con người những phương pháp tu dưỡng, cải tạo để thực hiện an lành (nirvâna) nNguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 16:27 21/07/2014 Số lượt xem: 1029

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Cơ Bản Về Docker / 2023 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!