Xem Nhiều 2/2023 #️ Tìm Hiểu Dram Và Sram , So Sánh Dram Và Sram # Top 7 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tìm Hiểu Dram Và Sram , So Sánh Dram Và Sram # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Dram Và Sram , So Sánh Dram Và Sram mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

RAM động (DRAM: Dynamic RAM) là loại chip nhớ được dùng trong hầu hết các bộ nhớ chính ở các máy tính hiện đại. Lợi thế chính của DRAM là mật độ rất dày đặc, có nghĩa là bạn có thể gói nhiều bit vào trong một con chip rất nhỏ, không tốn kém và bạn có thể mua số lượng lớn bộ nhớ với giá cả phải chăng.

DRAM

Các tế bảo bộ nhớ trong một chip DRAM là các tụ điện nhỏ xíu giữ lại năng lượng điện biểu thị cho một bit. Vấn đề với DRAM là nó động – đó là, các nội dung của nó có thể bị thay đổi. Với mỗi gõ phím hay mỗi nhấp chuột các nội dung của RAM thay đổi. Và toàn bộ nội dung của RAM bị mất hết khi hệ thống phá huỷ. Cũng vậy do thiết kế, nó phải được làm mới liên tục; mặt khác những năng lượng điện ở các tụ điện bộ nhớ riêng biệt sẽ cạn và dữ liệu sẽ bị mất. Làm mới xảy ra khi bộ điều khiển bộ nhớ hệ thống có một thời gian nghỉ ngắn và truy cập tất cả các dòng dữ liệu trong những chip nhớ. Thời gian làm mới tiêu chuẩn là 15ms (triệu giây), có nghĩa là cứ mỗi 15 triệu giây, tất cả các hàng trong bộ nhớ được tự động đọc để làm mới dữ liệu.

Làm mới bộ nhớ không may cũng tách thời gian bộ xử lý khỏi những công việc khác, vì mỗi chu kỳ làm mới lại cần vài chu kỳ CPU để hoàn thành. Trong hệ thống cũ, chu kỳ làm mới có thể mất đến 10% hoặc hơn tổng số thời gian của CPU, nhưng với hệ thống ngày nay đang chạy trong hàng đa-gigahertz, việc làm mới trên bây giờ trong trình tự một phần nhỏ của một phần trăm hoặc ít hơn của tổng số thời gian của CPU. Một số hệ thống cho phép thay đổi tham số định thời gian làm mới thông qua CMOS Setup. Thời gian giữa các chu kỳ làm mới được biết đến như tREF và được diễn đạt không phải trong triệu giây, mà trong những chu kỳ đồng hồ.

Quan trọng là nhận biết được ràng gia tăng thời gian giữa các chu kỳ làm mới (tREF) để tăng tốc độ hệ thống có thể để một số tế bảo bộ nhớ sớm tiêu hao, gây ra những lỗi bộ nhớ nhỏ ngẫu nhiên.

Lỗi nhỏ là một lỗi dữ liệu không gây ra do chip khiếm khuyết. Để tránh những lỗi nhỏ, thường an toàn hơn bạn nên cài định thời gian làm mới theo kế hoạch hoặc mặc định. Bởi vì việc làm mới tiêu thụ ít hơn 1% toàn bộ băng thông hệ thống hiện đại, thay đổi tỷ lệ làm mới có ảnh hưởng chút ít đến sự thực thi. Hầu như tốt nhất là dùng những thiết lập tự động hay mặc định cho bất kỷ định thời gian bộ nhớ nào trong BIOS Setup.

Nhiều hệ thống hiện đại không cho phép thay đổi định thời gian bộ nhớ và được vĩnh viễn đặt ở chế độ tự động, ở chế độ tự động, các bo mạch chủ đọc những tham số định thời gian ngoài ROM nhận dạng theo chuỗi (SPD: serial presence detect) được tim thấy trên module bộ nhớ và thiết lập những tốc độ chu kỳ phù hợp.

DRAM sử dụng duy nhất một bóng bán dẫn và một cặp tụ điện cho mỗi bit, điều này làm cho chúng rất dầy đặc, cung cấp nhiều dung lượng bộ nhớ cho mỗi chip hơn bất kỳ loại bộ nhớ nào khác. Hiện tại, chip DRAM có khả năng mật độ lên đến 4Gb (512MB) mỗi chip, mà tại một điểm bóng bán dẫn cho bit yêu cầu ít nhất 4 tỷ bóng bán dẫn. Bóng bán dẫn đếm trong những chip nhớ thì nhiều hơn trong bộ xử lý, bởi vì trong một chip nhớ các bóng bán dẫn và tụ điện được sắp xếp nhất quán trong một (thường là hình vuông) lưới những kiến trúc lặp đi lặp lại đơn giản, không giống như bộ xử lý là mạch phức tạp hơn nhiều về những kiến trúc và yếu tố khac nhau tương kết trong kiếu bất quy tắc cao.

Bóng bán dẫn cho mỗi tế bảo bit DRAM đọc tình trạng nạp năng lượng của tụ điện kế cận. Nếu tụ điện được nạp, tế bảo được đọc để chứa a 1: không nạp là a 0. Các tụ điện nhỏ liên tục hết điện, đó là lý do tại sao bộ nhớ phải được làm mới thường xuyên. Ngay cả khi nguồn điện bị gián đoạn, hoặc bất cứ điều gì cản trở chu trình làm mới, có thể dẫn tới một tế bảo bộ nhớ DRAM mất đi sự nạp điện và dữ liệu cũng vậy. Nếu điều này xảy ra trong hệ thống đang chạy, nó có thể dẫn đến màn hình màu xanh, lỗi bảo vệ toàn bộ hệ thống, các tập tin hỏng, và bất kỳ số hệ thống sụp đổ.

DRAM được sử dụng trong các hệ thống máy tính vì rẻ và các chip có thể được đóng gói với mật độ dày đặc, nên nhiều dung lượng bộ nhớ có thể tích hợp trong một không gian nhỏ. Thật không may, DRAM cũng chậm, điển hình là chậm hơn bộ xử lý. Vì lý do này, nhiều loại kiến trúc DRAM đã được phát triển để cải tiến tốc độ.

Bộ nhớ đệm: SRAM

Một loại bộ nhớ khác biệt rõ rệt nhanh hơn đáng kể so với hầu hết các loại DRAM. SRAM viết tắt của RAM tĩnh (static RAM), được đặt tên như vậy là vì nó không cần những tốc độ làm mới định kỳ như DRAM. Do cách SRAM được thiết kế, không chỉ những tốc độ làm mới không cần thiết mà còn SRAM chạy nhanh hơn DRAM nhiều, nhiều khả năng bắt kịp tốc độ những bộ xử lý hiện đại.

Bộ nhớ SRAM sẵn sàng trong 2ns (nano giây) số lần truy cập hoặc ít hơn, do đó, nó có thể theo kịp tốc độ bộ xử lý 2.2GHz hoặc nhanh hơn. Điều này do cách thiết kế của SRAM, bó sáu bóng bán dẫn cho môi bit lưu trữ. Việc sử dụng các bóng bán dẫn không có các tụ điện nghĩa là không cần thiết những tốc độ làm mới bởi vì không có tụ điện nên không mất thời gian nạp điện. Miễn là có nguồn điện. SRAM sẽ ghi nhớ những gì được lưu giữ. Với những thuộc tính này, tại sao chúng ta không sử dụng SRAM cho tất cả các bộ nhớ hệ thống?

So sánh DRAM VÀ SRAM 

So với DRAM, SRAM nhanh hơn nhưng có mật độ thấp hơn đắt tiền hơn. Mật độ thấp hơn có nghĩa là các chip SRAM về mặt vật lý lớn hơn và lưu trữ ít bit hơn. Số lượng bóng bán dẫn cao và thiết kế bó nghĩa là chip SRAM về mặt vật lý lớn hơn và san xuất chúng tốn kém hơn chip DRAM. Ví dụ, một chip DRAM mật độ cao có thể chứa tới 4Gb (512MB) RAM, trong khi chip SRAM với cùng kích cỡ vật lý chỉ có thể chứa 72Mb (9MB). Chi phí cao và sự khống chế về mặt vật lý đã ngăn SRAM trở thành bộ nhớ chính trong hệ thống máy tính cá nhân.

Báng 6.1. So sánh DRAM và SRAM

Loại Tốc độ Mật độ Chi phí

DRAM Chậm Cao Thấp

SRAM Nhanh Thấp Cao

Mặc dù SRAM quá đắt cho máy tính cá nhân sử dụng như là bộ nhớ chính, các nhà thiết kế máy tính đã tìm thấy một cách dùng SRAM để cải thiện đáng kể hiệu suất máy tính. Hơn là tiêu tiền cho toàn bộ RAM thành SRAM có thể chạy đủ nhanh phù hợp với bộ xử lý, thiết kế một lượng nhỏ SRAM tốc độ cao, được dùng như bộ nhớ đệm (cache memory), mang lại hiệu quả chi phí nhiều hơn. Bộ nhớ đệm SRAM chạy ở tốc độ gần hoặc thậm chí bằng với bộ xử lý và là bộ nhớ mà từ đó bộ xử lý thường trực tiếp đọc và ghi vào. Trong quá trình đọc, các dữ liệu trong bộ nhớ đệm tốc độ cao sẽ được các bộ nhớ chính tốc độ thấp hơn hay DRAM cung cấp lại trước đó. Cho đến cuối những năm 1990. DRAM được giới hạn về tốc độ khoảng 60ns (16MHz). Để chuyển đổi thời gian truy cập từ nano giây sang MHz, sử dụng công thức sau đây:

1 / nanoseconds × 1000 = MHz

Tương tự như vậy, để chuyển đổi từ MHz sang nano giây, dùng công thức đảo ngược sau:

1 / MHz × 1000 = nanoseconds

Ngày nay chúng ta có bộ nhớ chạy nhanh hơn 1 GHz (1 nano giây), nhưng cho đến cuối những năm 1990 DRAM bị hạn chế tốc độ khoảng 60ns (16MHz). Cho đến khi bộ xử lý tại ngưỡng 16MHz, DRAM vẫn hoàn toàn bắt kịp bộ xử lý và bo mạch chủ nghĩa là không cần bộ nhớ đệm. Tuy nhiên ngay khi bộ xử lý vượt ngưỡng 16MHz, DRAM không còn bắt kịp nữa và bộ nhớ đệm SRAM bắt đầu xâm nhập vào thiết kế hệ thống máy tính cá nhân. Điều này xảy ra cuối những năm 1986 và 1987 với sự xuất hiện lần đầu hệ thống bộ xử lý 386 chạy ở tốc độ 16MHz đến 20MHz hoặc nhanh hơn. Chúng trong số những hệ thống máy tính đầu tiên để tận dụng cái được gọi là bộ nhớ đệm (cache memory), tầng đệm tốc độ cao cấu thành do các SRAM trực tiếp cung cấp dữ liệu cho bộ xử lý. Do bộ nhớ đệm có thể chạy cùng tốc độ với bộ xử lý, nó hoạt động như một tầng đệm giữa bộ xử lý và DRAM chậm hơn trong hệ thống. Bộ điều khiển bộ nhớ đệm đoán trước được các nhu cầu bộ nhớ của bộ xử lý và nạp trước dữ liệu vào bộ nhớ đệm tốc độ cao. Sau đó khi bộ xử lý gọi ra một địa chỉ bộ nhớ, dữ liệu có thể được truy lục từ bộ nhớ đệm tốc độ cao hơn là từ bộ nhớ chính tốc độ thấp.

Hiệu quả bộ nhớ đệm được diễn tả như là hit ratio. Đây là tỉ lệ bộ nhớ đệm đạt ngưỡng tổng số lượt truy cập vào bộ nhớ. Một hít xảy ra khi dữ liệu mà bộ xử lý cần đã được nạp trước vào bộ nhớ đệm từ bộ nhớ chính, có nghĩa là bộ xử lý có thể đọc nó được từ bộ nhớ đệm. Cache Miss là khi bộ điều khiển bộ nhớ đệm không đoán được nhu cầu về địa chỉ cụ thể và các dữ liệu yêu cầu không được nạp sẵn vào bộ nhớ đệm. Trong trường hợp đó, bộ xử lý phải lấy dữ liệu từ bộ nhớ chính tốc độ chậm, thay vì từ bộ nhớ đệm nhanh hơn. Bất cứ lúc nào khi bộ xử lý đọc dữ liệu từ bộ nhớ chính, bộ xử lý phải chờ lâu hơn do bộ nhớ chính quay vòng tròn theo chu kỳ tốc độ chậm hơn chu kỳ của bộ xử lý. Như một ví dụ nếu bộ xử lý với bộ nhớ đệm trên khuôn trọn vẹn đang chạy ở tốc đò 3600MHz (3.6GHz) trên một bus 1,333MHz, cả bộ xử lý và bộ nhớ đệm sẽ quay vòng ở mức 0.28ns, trong khi bộ nhớ chính nhiều khả năng sẽ quay vòng chậm hơn 5 lần ở mức 0.75ns (1.333MHz). Vì vậy. mỗi khi bộ xử lý 3.6GHz đọc dữ liệu từ bộ nhớ chính, nó sẽ thực sự bị chậm xuống chỉ còn 1.333MHz! Việc chậm lại sẽ kết thúc bằng việc bộ xử lý thực thi cái được gọi là các tình trạng chờ (wait State), là những chu kỳ mà trong đó không có ai được thực hiện; bộ xử lý về cơ bàn sẽ phải chờ đợi rất lâu để bộ nhớ chính tốc độ chậm gửi trở lại dữ liệu mong muốn. Hiển nhiên là bạn không muốn bộ xử lý máy chậm, nên chức năng và thiết kế bộ nhớ đệm trở nên rất quan trọng khi tốc độ hệ thống gia tăng.

Để giảm thiểu việc bộ xử lý bị buộc phải đọc dữ liệu từ bộ nhớ chính chậm chạp, hai hoặc ba tầng của bộ nhớ đệm thường tồn tại trong một hệ thống hiện đại, gọi là cấp 1 (L1: Level 1), Cấp 2 (L2: Level 2) và cấp 3 (L3: Level 3). Bộ nhớ đệm L1 cùng được gọi là bộ nhớ đệm bên trong (internal) hay toàn phần (integral) do nó luôn được dựng trực tiếp vào bộ xử lý như phần từ của khuôn bộ xử lý (chip thô). Cũng chính vì điều này, bộ nhớ đệm L1 luôn chạy cùng tốc độ nhân bộ xử lý và là bộ nhớ đệm nhanh nhất trong bất kỳ hệ thống nào. Tất cả các bộ xử lý 486 và cao hơn đều tích hợp bộ nhớ đệm L1, làm cho chúng nhanh hơn đáng kể so với các bộ xử lý trước. Bộ nhớ đệm L2 đầu tiên được gọi là bộ nhớ đệm ngoài (external) do nó ở bên ngoài chip xử lý khi nó xuất hiện đầu tiên. Khởi đầu, điều này có nghĩa là nó được gắn trên bo mạch chủ, như với tất cả các dòng hệ thống 386, 486 và Pentium thế hệ thứ nhất. Trong những hệ thống này, bộ nhớ đệm L2 chạy với tốc độ bo mạch chủ và tốc độ bus CPU vì nó được lắp đặt trên bo mạch chủ và kết nối với bus CPU. Bạn thường tìm thấy bộ nhớ đệm L2 ngay cạnh socket bộ xử lý ở hệ thống Pentium và hệ thống trước đó.

Trong sự quan tâm cải tiến tốc độ, các thiết kế bộ xử lý sau này của Intel và AMD bao gồm bộ nhớ đệm L2 như là phần tử của bộ xử lý. Trong tất cả các bộ xử lý cuối năm 1999 (và một số kiểu trước đó), bộ nhớ đệm L2 được kết hợp trực tiếp như là một phần của khuôn bộ xử lý như bộ nhớ đệm L1. Ở các chip với L2 trên khuôn, bộ nhớ đệm chạy cùng tốc độ nhân bộ xử lý và hiệu quả hơn rất nhiều. Ngược lại, hầu hết các bộ xử lý từ năm 1999 và các dòng trước đó có tích hợp L2 thì bộ nhớ đệm L2 lại trong con chip rời bên ngoài nhân bộ xử lý. Bộ nhớ đệm L2 này chỉ chạy ở một nửa hoặc một phần ba tốc độ nhân bộ xử lý. Tốc độ bộ nhớ đệm rất quan trọng, nên hệ thống có bộ nhớ đệm L2 trên bo mạch chủ là chậm nhất. Bao gồm L2 bên trong bộ xử lý làm nó chạy nhanh hơn và gắn chúng trực tiếp ngay khuôn bộ xử lý (thay vì các chip bên ngoài khuôn) là nhanh nhất. Bất kỳ chip nào có bộ nhớ đệm L2 tốc độ nhân trên khuôn đều có thuận lợi hiệu suất hơn hẳn chip thông thường.

Bộ nhớ đệm L3 vừa được giới thiệu trong một số bộ xử lí từ năm 2001. Bộ xử lý PC để bàn đầu tiên có bộ nhớ đệm L3 là Pentium 4 Extreme Edition, một chip cao cấp được giới thiệu vào cuối 2003 với bộ nhớ đệm L3 trên khuôn 2MB. Mặc dù có vè tại thời điểm giới thiệu bộ nhớ đệm L3 trong Pentium 4 Extreme Edition là sự báo hiệu bộ nhớ đệm L3 phổ biến lan rộng trong những bộ xử lý máy tính để bàn. các phiên bản sau của Pentium 4 Extreme Edition (cũng như người kế vị của nó, Pentium Extreme Edition) không còn bao aồm bộ nhớ đệm L3. Thay vào đó, kích cỡ bộ nhớ đệm L2 lớn hơn được sử dụng để cải thiện hiệu suất. Bộ nhớ đệm L3 trở lại với bộ xử lý PC năm 2007 với AMD Phenom và năm 2008 với Intel Core i7, cả hai đều có 4 nhân trong một khuôn. L3 đặc biệt phù hợp với bộ xử lý có bốn hay nhiều nhân bởi vì nó cung cấp một bộ nhớ đệm trên khuôn mà tất cả các nhân có thể chia sẻ. Tôi trông đợi bộ nhớ đệm L3 trở thành chuẩn mực trong các bộ xử lý đa nhân tương lai.

Mấu chốt để hiếu về bộ nhớ đệm và bộ nhớ chính là vị trí lắp đặt của chúng trong toàn bộ kiến trúc hệ thống.

Sự Khác Biệt Giữa Sram Và Dram

RAM và DRAM là các chế độ của RAM mạch tích hợp trong đó SRAM sử dụng bóng bán dẫn và chốt trong xây dựng trong khi DRAM sử dụng tụ điện và bóng bán dẫn. Chúng có thể được phân biệt theo nhiều cách, chẳng hạn như SRAM tương đối nhanh hơn DRAM; do đó SRAM được sử dụng cho bộ nhớ đệm trong khi DRAM được sử dụng cho bộ nhớ chính.

RAM (Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên) là một loại bộ nhớ cần nguồn điện liên tục để giữ lại dữ liệu trong đó, một khi nguồn điện bị gián đoạn, dữ liệu sẽ bị mất, đó là lý do tại sao nó được gọi là bộ nhớ dễ bay hơi . Đọc và ghi trong RAM rất dễ dàng và nhanh chóng và được thực hiện thông qua các tín hiệu điện.

Biểu đồ so sánh

Định nghĩa của SRAM

SRAM (Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên tĩnh) được tạo thành từ công nghệ CMOS và sử dụng sáu bóng bán dẫn. Cấu trúc của nó bao gồm hai bộ biến tần ghép chéo để lưu trữ dữ liệu (nhị phân) tương tự như flip-flop và thêm hai bóng bán dẫn để kiểm soát truy cập. Nó tương đối nhanh hơn các loại RAM khác như DRAM. Nó tiêu thụ ít năng lượng hơn. SRAM có thể giữ dữ liệu miễn là nguồn được cung cấp cho nó.

Làm việc của SRAM cho một tế bào riêng lẻ:

Để tạo trạng thái logic ổn định, bốn bóng bán dẫn (T1, T2, T3, T4) được tổ chức theo cách kết nối chéo. Để tạo trạng thái logic 1, nút C1 cao và C2 thấp; ở trạng thái này, T1 và T4 tắt, và T2 và T3 được bật. Đối với trạng thái logic 0, đường giao nhau C1 thấp và C2 cao; ở trạng thái đã cho, T1 và T4 được bật và T2 và T3 tắt. Cả hai trạng thái đều ổn định cho đến khi điện áp dòng điện một chiều (dc) được áp dụng.

Dòng địa chỉ SRAM được vận hành để mở và đóng công tắc và để điều khiển các bóng bán dẫn T5 và T6 cho phép đọc và ghi. Đối với hoạt động đọc, tín hiệu được áp dụng cho các dòng địa chỉ này sau đó bật lên T5 và T6 và giá trị bit được đọc từ dòng B. Đối với hoạt động ghi, tín hiệu được sử dụng cho dòng bit B và bổ sung của nó được áp dụng cho B ‘ .

Định nghĩa về DRAM

DRAM (Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động) cũng là một loại RAM được xây dựng bằng cách sử dụng các tụ điện và một vài bóng bán dẫn. Tụ được sử dụng để lưu trữ dữ liệu trong đó giá trị bit 1 biểu thị rằng tụ được tích điện và giá trị bit 0 có nghĩa là tụ bị phóng điện. Tụ điện có xu hướng phóng điện, dẫn đến rò rỉ điện tích.

Thuật ngữ động chỉ ra rằng các điện tích liên tục bị rò rỉ ngay cả khi có nguồn điện được cung cấp liên tục, đó là lý do khiến nó tiêu thụ nhiều năng lượng hơn. Để giữ lại dữ liệu trong một thời gian dài, nó cần phải được làm mới nhiều lần, đòi hỏi phải có thêm mạch làm mới. Do sạc rò rỉ, DRAM sẽ mất dữ liệu ngay cả khi bật nguồn. DRAM có sẵn với số lượng công suất cao hơn và ít tốn kém hơn. Nó chỉ cần một bóng bán dẫn duy nhất cho khối bộ nhớ duy nhất.

Làm việc của tế bào DRAM điển hình:

Tại thời điểm đọc và ghi giá trị bit từ ô, dòng địa chỉ được kích hoạt. Transitor có trong mạch hoạt động như một công tắc được đóng (cho phép dòng điện chạy) nếu một điện áp được đặt vào dòng địa chỉ và mở (không có dòng điện) nếu không có điện áp nào được đặt vào dòng địa chỉ. Đối với hoạt động ghi, tín hiệu điện áp được sử dụng cho đường bit trong đó điện áp cao hiển thị 1 và điện áp thấp cho biết 0. Sau đó, tín hiệu được sử dụng cho đường địa chỉ cho phép truyền điện tích đến tụ điện.

Khi dòng địa chỉ được chọn để thực hiện thao tác đọc, bóng bán dẫn sẽ bật và điện tích được lưu trên tụ được cung cấp trên một dòng bit và tới bộ khuếch đại cảm giác.

Sự khác biệt chính giữa SRAM và DRAM

SRAM là bộ nhớ trên chip có thời gian truy cập nhỏ trong khi DRAM là bộ nhớ ngoài chip có thời gian truy cập lớn. Do đó SRAM nhanh hơn DRAM.

DRAM có sẵn trong dung lượng lưu trữ lớn hơn trong khi SRAM có kích thước nhỏ hơn .

SRAM là đắt tiền trong khi DRAM là giá rẻ .

Bộ nhớ cache là một ứng dụng của SRAM. Ngược lại, DRAM được sử dụng trong bộ nhớ chính .

DRAM rất đậm đặc . Đối với, SRAM là hiếm hơn .

Việc xây dựng SRAM rất phức tạp do sử dụng một số lượng lớn các bóng bán dẫn. Ngược lại, DRAM rất đơn giản để thiết kế và thực hiện.

Trong SRAM, một khối bộ nhớ duy nhất cần sáu bóng bán dẫn trong khi DRAM chỉ cần một bóng bán dẫn cho một khối bộ nhớ.

DRAM được đặt tên là động, bởi vì nó sử dụng tụ điện tạo ra dòng rò do chất điện môi được sử dụng bên trong tụ để tách các tấm dẫn điện không phải là một chất cách điện hoàn hảo do đó cần có mạch làm mới điện. Mặt khác, không có vấn đề rò rỉ điện tích trong SRAM.

Tiêu thụ điện năng cao hơn trong DRAM so với SRAM. SRAM hoạt động theo nguyên tắc thay đổi hướng của dòng điện thông qua các công tắc trong khi DRAM hoạt động để giữ các khoản phí.

Phần kết luận

DRAM là hậu duệ của SRAM. DRAM được nghĩ ra để khắc phục những nhược điểm của SRAM; các nhà thiết kế đã giảm các thành phần bộ nhớ được sử dụng trong một bit bộ nhớ giúp giảm đáng kể chi phí DRAM và tăng diện tích lưu trữ. Nhưng, DRAM chậm và tiêu thụ nhiều năng lượng hơn SRAM, nó cần được làm mới thường xuyên trong vài mili giây để giữ lại các khoản phí

Tìm Hiểu Và So Sánh Card Màn Hình

Card màn hình còn có tên gọi là card đồ họa là một thiết bị chuyên xử lý hình ảnh hiển thị trên màn hình máy tính gồm độ tương phản, độ phân giải, màu sắc. Cấu tạo từ bộ nhớ và bộ xử lý đồ họa.

Bộ xử lý đồ họa (Graphic Processing Unit – GPU) là bộ phận chủ chốt quan trọng, quyết định hiệu năng của card đồ họa, có chức năng xử lý các vấn đề hình ảnh của máy tính. Những hoạt động trên máy tính như học tập, chơi game, vẽ đồ họa, giải trí xem video,…đạt hiệu quả cao hay không.

Card màn hình laptop hay trên máy tính để bàn không có khả năng thay thế hoặc không tháo rời vì Card Onboard được tích hợp trực tiếp trên bo mạch chủ. Card rời là một thiết bị hoạt động độc lập, card rời laptop được hàn vào bo mạch chủ nên không thể tháo rời như đối với card rời trên máy tính để bàn.

Đây là loại card sử dụng sức mạnh của CPU và bộ nhớ RAM, tích hợp sẵn trên main (bo mạch chủ), chi tiết hơn là được trang bị trên bộ vi xử lý trung tâm và bộ não điều khiển máy tính hoạt động khi mở ứng dụng hoặc chơi game.

Mặc dù card onboard xử lý đồ họa không bằng card rời nếu so sánh card đồ họa trong cùng cấp độ, nhưng sẽ giúp bạn tiết kiệm chi phí đáng kể. Hiện nay và trong tương lai, với sự phát triển của CPU thế hệ mới với công nghệ tiên tiến, hiện đại, sức mạnh của Card onboard ngày càng gia tăng. Bộ xử lý đồ họa tích hợp sẽ dễ dàng khi thưởng thức bộ phim HD và thiết lập trò chơi 3D.

Hãy thử so sánh card màn hình để tìm hiểu những ưu, nhược điểm của mỗi loại card

– Ưu điểm:

+ Ít xảy ra lỗi trong quá trình hoạt động bởi thiết kế ưu việt cho Mainboard dựa vào Chipset.

+ Phần cứng hiếm khi bị xung đột;

+ Hoạt động ổn định, mượt mà và trơn tru.

– Nhược điểm:

+ Do hoạt động chung với RAM máy tính nên mức hao tổn tài nguyên sẽ lớn hơn mức card rời. Nếu RAM quá nóng so sẽ khiến máy tính bị treo hay hay đơ.

+ Ứng dụng nặng có yêu cầu xử lý đồ họa cao sẽ khó có khả năng hoạt động.

+ Khi hoạt động các phần mềm dung lượng lớn sẽ làm dẫn đến tình trạng máy bi treo.

+ Card rời có thể hỗ trợ trò chơi game và ứng dụng có yêu cầu xử lý đồ họa cao.

+ Sử dụng độc lập với khe cắm riêng.

– Nhược điểm

+ Giá thành cao hơn so với card onboard;

+ Hệ thống tản nhiệt không tốt của card rời nên sẽ xảy ra hiện tượng nóng máy tính. Card rời sẽ phải điều chỉnh tự động tần suất hoạt động giảm để hạ nhiệt dẫn đến hiệu suất hoạt động sẽ giảm. Do vậy, khi mua card rời nên xem xét hệ thống tản nhiệt hoạt động đủ tốt để làm mát hiệu quả cho card.

Do card màn hình là thiết bị quyết định quan trọng đến hiệu năng của hệ thống, cần chú ý khi lựa chọn card màn hình chơi game.

Card đồ họa sẽ có những phiên bản khác nhau, do các hãng sản xuất quyết định để sử dụng chung cho chipset đồ họa. Sự chênh lệch giá cả sẽ từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng.

Xung nhịp từ các dòng OC cho đến series Strix của Asus, Xtreme của Gigabyte, Lightning của MSI. Do vậy, cần lựa chọn về hiệu năng và giá cả với dòng OC, sự hoạt động sẽ ổn định với việc ép xung sẵn.

Khi lựa chọn card màn hình để chơi game đồ họa cao thì cần tìm loại tương thích với phần cứng của máy tính.

Bộ nhớ băng thông lớn là lựa chọn tối ưu của các game thủ khi mua card màn hình mới, nếu đang sử dụng bộ nhớ 4K có dung lượng lớn. Nếu đang sử dụng màn hình hiển thị 1080×1920 hoặc lớn hơn thì nên tìm loại card đồ họa cao cấp.

Bộ nhớ băng thông càng lớn thì bạn sẽ tốn thêm các khoản chi phí, ví dụ DDR3 bằng ½ GDDR5 và sử dụng loại 4GB DDR3

Nếu đang sở hữu CPU dual-core như Athlon X2, Pentium, Sempron,…bạn cần trang bị card màn hình đủ mạnh để hoạt động hiệu quả.

Nếu lựa chọn card có sự tương thích với máy tính sẽ phát huy tối đa hiệu suất hoạt động. Lưu ý về khả năng cung cấp của nguồn điện đủ tải trọng hay số lượng và loại chấu cắm cho card hoạt động

Để an toàn, bạn nên lựa chọn những loại card màn hình tiêu hao ít năng lượng bằng cách xem chỉ số thông tin trên card.

Do hiệu suất làm việc liên tục và thường xuyên của card sẽ sinh nhiệt làm nóng GPU, vì vậy cần có hệ thống tản nhiệt hoạt động hiệu quả, không gây tiếng ồn tích hợp bên trong card.

Dựa vào bảng xếp hạng card màn hình sẽ có các phân khúc giá card màn hình từ thấp đến cao như sau:

– Card dưới 4 triệu đồng: gồm những loại card tiêu chuẩn, có hiệu suất hoạt động thấp như dòng sản phẩm AMD R7 24/250/260260x, nvidia 730/740/750 Ti.

– Card từ 5 ~ 7 triệu đồng: là những loại card có tỷ lệ p/p hiệu quả cao, phù hợp với cho hoạt động chơi game cài đặt medium hoặc high có độ phân giải full HD.

– Card từ 8 ~ 10 triệu đồng: Dùng cho card thiết lập chế độ chơi game max với độ phân giải full HD. Có thể kể đến các linh kiện như AMD R9 290/290X390/390X.

– Card trên 10 triệu đồng: là sự lựa chọn tối ưu cho những game thủ muốn khám phá và trải nghiệm 4K với hiệu suất hoàn hảo, gồm các thiết bị AMD R9 Fury, Nvidia GTX 980/980tI/Titan X.

4.8 Thương hiệu card màn hình

“Tiền nào của nấy” nếu muốn sở hữu những loại thiết bị card màn hình đạt đầy đủ tiêu chí chất lượng, an toàn và hiệu quả hãy lựa chọn những linh kiện được sản xuất bởi các thương hiệu lớn như ASUS, GIGABYTE; Palit, HIS là những tên tuổi ít phổ biến.

Mặc dù trên bảng xếp hạng Card màn hình Nvidia đang vượt AMD về số lượng thị phần do áp dụng công nghệ tiên tiến nổi bật, nhưng nhìn vào bảng so sánh card đồ họa thì card AMD vẫn được nhiều tín đồ công nghệ đánh giá tốt.

Để quyết định lựa chọn loại Card đồ họa phù hợp với nhu cầu và mục đích sử dụng của bạn, hãy xem xét tỷ lệ P/P (Price/Performance tạm dịch là giá thành/hiệu năng). Tỷ lệ này được AMD thực hiện hiệu quả hơn Nvidia.

+ Dùng Card Radeon (AMD) hoặc GeFoce (Nvidia): nếu dung lượng và tốc độ trò chơi cao.

+ Sử dụng Card Quadro (Nvidia): nếu bạn cần làm Render video, phim hay thiết kế đồ họa.

6. Cách nhận biết máy tính bị lỗi do card màn hình

Khi máy tính bị lỗi, sẽ có những dấu hiệu sau để nhận biết đó là do lỗi của card màn hình:

– Xuất hiện 8 tiếng bíp liên tục với dòng laptop Dell, hoặc báo đèn Caplock hay chớp 3 với dòng Laptop HP;

– Màn hình bị treo logo táo hoặc bị trắng đối với Macbook;

– Đèn nguồn sáng và quạt nguồn vẫn hoạt động khi khởi động máy tính nhưng không hiển thị hình ảnh.

– Máy tính tự động thoát hoặc tắt nguồn khi mở phần mềm hay ứng dụng dung lượng lớn.

– Lỗi Dump xanh khi truy cập Window nhận card màn hình VGA;

– Xuất hiện các dải sọc ngang, dọc hoặc đốm trên màn hình; dẫn đến hình ảnh bị giật lag hoặc nhòe.

7.1 Cổng cắm card màn hình VGA

Khi bạn đang sử dụng máy tính bàn hãy kiểm tra vị trí cắm dây VGA, nếu được cắm vào card rời thì hiển nhiên máy tính đang sử dụng card màn hình rời. Trường hợp sử dụng laptop thì có thể kiểm tra tem card được dán trên máy tính.

Sử dụng chuột nhấn vào ứng dụng Desktop để kiểm tra thông tin, nếu đã chắc chắn cài đặt đầy đủ driver card màn hình. Nếu chưa cài đặt thì cách kiểm tra này không hiệu quả.

Trường hợp máy tính đang hoạt động với cả hai loại card rời và card onboard thì với những ứng dụng có dung lượng lớn máy tính sẽ sử dụng card rời, ngược lại với những ứng dụng nhẹ sẽ chuyển sang sử dụng card onboard để giảm tải hiệu suất, đảm bảo an toàn cho máy tính.

Nếu máy tính đang dùng card rời thì sẽ hiển thị thông tin tên hãng card trên dòng Device Type.

CPU-Z ngoài chức năng chủ yếu để kiểm tra cấu hình máy tính chuẩn xác thì còn có thể dùng để kiểm tra loại card màn hình mà máy tính đang sử dụng là loại card rời hay onboard hoặc sử dụng cả hai loại card màn hình.

Nếu bạn muốn chỉ sử dụng một trong hai card và vô hiệu hóa loại card kia đi thì có thể thực hiện cách đơn giản sau:

8. Những loại card màn hình tốt nhất hiện nay

8.1 Nvidia GeForce GTX Titan X

Đây là dòng siêu phẩm của Nvidia với phân giá cao cấp, trình làng vào năm 2013 và đến nay vẫn luôn dẫn đầu linh kiện card, được nhiều game thủ “ao ước”.

Titan X thuộc loại thiết bị đắt nhất do sở hữu tính năng và chất lượng vượt trội, hoạt động hoàn hảo không mắc lỗi và tương thích với mọi thiết bị khác, luôn đạt hiệu suất hoạt động tối đa tại bất cứ thời điểm nào.

Giá của linh kiện khoảng 27 triệu và đây là sản phẩm “đáng đồng tiền bát gạo”

Cũng thuộc dòng GTX của Nvidia, 970 là sản phẩm có mức giá tầm trung, được nhiều tín đồ công nghệ lựa chọn. Thiết kế GTX 970 xét về bên ngoài có tính thẩm mỹ cao, xét về chất lượng có độ bền lâu, thích hợp với những trò chơi có nền Maxwell sử dụng công nghệ 3D, cấu hình 1080p hoặc lên đến 1440p.

Ndivia GeForce GTX 970 có mức giá bán khoảng 12 triệu đồng.

AMD Radeon R9 290 có mức giá bán dao động trên 7,5 triệu đồng.

Điểm vượt trội của Nvidia GeForce GTX 770 là được trang bị hệ thống tản nhiệt làm mát cao cấp, mang lại sự hiệu năng êm, card luôn được làm mát trong quá trình hoạt động. GTX 770 có thiết kế đẹp mắt và nhỏ gọn, kế thừa xuất sắc phiên bản tiền nhiệm, hiệu suất mạnh ở khả năng ép xung cao và tốc độ xung nhịp ổn định.

Nvidia GeForce GTX 770 có mức giá khoảng 7 triệu đồng.

GTX 750 Ti có giá thành khá mềm khoảng trên 3 triệu đồng, có thể tìm mua tại những siêu thị hoặc cửa hàng điện máy, nhận được sự phản hồi tốt từ phía khách hàng.

Giá bán của 1050 Ti khá bình dân chỉ khoảng 4 triệu đồng.

Mức giá của Ryzen 5 2400 G APU khoảng gần 4 triệu, phù hợp với mọi đối tượng khách hàng.

Giá bán AMD RX 560 chỉ khoảng hơn 3 triệu đồng.

Nvidia GT 1030 có mức giá khá mềm chỉ khoảng hơn 2 triệu đồng.

Tìm Hiểu Ưu Và Nhược Điểm So Sánh Hệ Thống Thủy Lực Và Khí Nén

Sự giống nhau giữa khí nén và thủy lực

Cả hai lĩnh vực khí nén học và thủy lực học là những lĩnh vực của năng lượng. Khí nén học sử dụng khí nén dễ dàng như không khí hoặc khí gas tinh khiết phù hợp. Trong khi thủy lực học sử dụng các môi trường lỏng không tương thích như dầu.

Hầu hết các ứng dụng khí nén công nghiệp sử dụng áp suất khoảng 80 đến 100 pound trên mỗi inch vuông (550 đến 690 kPa). Các ứng dụng thủy lực thường sử dụng từ 1.000 đến 5.000 psi (6.9 đến 34.5 MPa). Nhưng các ứng dụng chuyên dụng có thể vượt quá 10.000 psi (69 MPa).

So sánh hệ thống thủy lực và khí nén

Hệ thống

Thủy Lực

Khí Nén

Nguồn năng lượng

Động cơ điện, động cơ đốt trong.

Động cơ điện, động cơ đốt trong.

Tích lũy năng lượng

Hạn chế (bộ tích lũy)

Tốt (bình chứa)

Hệ thống phân phối

Hạn chế

Tốt

Chi phí năng lượng

Trung bình

Cao nhất

Bộ dẫn động quay

Tốc độ thấp. Điều khiển tốt. Có thể dừng lại.

Phạm vi tốc độ rộng. Khó điều khiển tốc độ chính xác.

Bộ dẫn động tuyên tính

Cylinder. Lực rất cao.

Cylinder. Lực trung bình.

Điểu khiển lực

Dễ điều khiển lực cao.

Dễ điều khiển lực trung bình.

Nhược điểm

Nguy hiểm và dơ bẩn vì rò rỉ. Dễ bắt cháy.

Ổn

Ưu điểm của hệ thống điện khí nén

Được thiết kế dễ dàng bằng cách sử dụng các xi lanh tiêu chuẩn và các bộ phận khác. Hệ thống điện khí nén hoạt động thông qua việc kiểm soát tắt đơn giản.

Hệ thống điện khí nén thường có thời gian hoạt động dài và yêu cầu bảo trì ít. Do khí bị nén, nên thiết bị ít bị hư hỏng. Gas hấp thụ lực quá mức, trong khi chất lỏng trong thủy lực trực tiếp truyền lực.

Khí nén có thể được lưu trữ, vì vậy máy vẫn chạy trong một thời gian nếu mất điện. Đảm bảo an toàn có rất ít khả năng hỏa hoạn so với dầu thủy lực.

Hệ thống khí nén bao gồm: Xi lanh khí nén, Xylanh khí nén, Van điện từ, Van solenoid, Van khí nén, Bộ lọc khí nén, cảm biến, Bộ điều áp, Bộ lọc, Tra dầu, Ống dây SMC, Đầu nối, Co nối, Khử tĩnh điện, Đồng hồ áp suất, Máy sấy khí…

Video sản phẩm Ổn áp Litanda 10KVA  bán chạy nhất năm:

Phân phối ổn áp Litanda Lioa chính hãng:

Số 629 Phúc Diễn – Nam Từ Liêm – Hà Nội

Số 629 Trường Trinh – Tân Phú – TP. Hồ Chí Minh

Hotline : 0965.352.032

Website : Lioalitanda.vn

Email     : vietnamlitanda@gmail.com

5

/

5

(

12

bình chọn

)

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Dram Và Sram , So Sánh Dram Và Sram trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!