Xem Nhiều 2/2023 #️ Tìm Hiểu Một Số Phương Pháp Dạy Học Ngoại Ngữ Trong Lịch Sử # Top 10 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tìm Hiểu Một Số Phương Pháp Dạy Học Ngoại Ngữ Trong Lịch Sử # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Một Số Phương Pháp Dạy Học Ngoại Ngữ Trong Lịch Sử mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lịch sử dạy học ngoại ngữ đã trải qua nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp Ngữ pháp-Dịch, phương pháp Nghe-Nhìn, phương pháp Nghe – Nói, phương pháp Giao tiếp, v.v.

Phương pháp này có tên tiêng Anh là “Grammar – Translation Method” hay còn gọi là phương pháp Truyền thống được áp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam vào những năm 1970 cho đến tận những năm 1990. Nếu theo phương pháp này, chương trình tập trung chủ yếu vào phát triển kỹ năng đọc hiểu, học thuộc lòng từ vựng, dịch văn bản, viết luận (composition) và phân tích ngôn ngữ (học để nắm chắc quy tắc ngôn ngữ). Quy trình thực hiện:Các bài khóa (texts) được biên soạn và chia ra thành từng đoạn ngắn. Việc giảng giải quy tắc ngôn ngữ là cơ bản. Học sinh được học về ngữ pháp rất kỹ trên cơ sở các hiện tượng ngữ pháp cơ bản được rút ra từ các bài khóa. Để kiểm tra sự thông hiểu về nội dung bài khóa (nội dung văn hóa, đất nước học nói chung) và các quy tắc ngôn ngữ, HS bắt buộc phải dịch các bài khóa sang tiếng mẹ đẻ. HS không được phép mắc lỗi ngôn ngữ, nếu có phải sửa ngay.

– HS được rèn luyện rất kỹ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn.

– HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn văn hay hoặc bài khóa mẫu.

– HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản.

– Không giúp HS “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thầy; nghĩa là người thầy giảng giải, nói nhiều, HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thầy và bạn bè.

– Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều – HS hoàn toàn bị động, không có cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kỹ năng nói của HS bị hạn chế nhiều.

Phương pháp Nghe – Nói

Phương pháp Nghe – Nói (Audiolingual Method or Audio-Oral Method) nhấn mạnh vào việc dạy kỹ năng nói và kỹ năng nghe trước kỹ năng đọc và kỹ năng viết. Khác với phương pháp Ngữ pháp – Dịch, phương pháp này đáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hình thành và phát triển cả bốn kỹ năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trước đọc và viết. Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học. Phương pháp Nghe-Nói không cho phép việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếng Anh trong quá trình dạy học. Khi thực hiện, người ta nhấn mạnh việc phát triển hai kỹ năng nói và nghe là chủ yếu. Việc dạy học thông qua thực hành cấu trúc câu (structures) và qua các bài tập ứng dụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những điểm giống nhau (so với tiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các qui tắc ngôn ngữ. Yêu cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ: các bài/mẩu đối thoại mẫu (dialogues) có chứa cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn ngữ cần truyền đạt. HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quen ngôn ngữ theo các hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực hành thêm một số bài tập cấu trúc (thay thế, bổ sung, chuyển đổi …). …

– Có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS. HS cảm thấy phấn khởi và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo giáo viên, ví dụ: HS làm theo lệnh của GV hoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản.

– HS có trình độ ngoại ngữ cao rất dễ nhàm chán với phương pháp này nếu không có sự điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết.

– HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ là khó. Các em không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (các mẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự nhiên vì tuy HS có khả năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, song các em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương tự trong giao tiếp thực; tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dù sau một thời gian dài học tập.

Phương pháp Giao tiếp

Phương pháp Giao tiếp hay Đường hướng Giao tiếp ((Communicative Approach) được xem như phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biến nhất và hiệu quả nhất hiện nay. Hầu hết các giáo trình, SGK phổ thông tiếng Anh trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đều được biên soạn dựa theo quan điểm của phương pháp này. Qua đó, coi mục tiêu cuối cùng của dạy học ngoại ngữ là phát triển kỹ năng giao tiếp/kỹ năng ngôn ngữ (linguistic skills), năng lực giao tiếp (communicative competence). Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xã hội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn ngữ, và tính đến ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, hay nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp (intention of communication). Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năng ngôn ngữ (language function). Như vậy, theo Phương pháp Giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giao tiếp. Mục đích cuối cùng của người học ngoại ngữ không chỉ tiếp thu và nắm chắc kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) mà cần phải đạt được năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp. Vì vậy, các tài liệu dạy học hiện đều hướng đến giúp người học có thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữkhác nhau, chẳng hạn như xin phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày tỏ sự quan tâm, thích thú hoặc không thích v.v …. Hơn nữa, để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ thích hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks).

Với phương pháp này, trong giờ dạy giáo viên thực hiện theo 5 bước:

+ Giới thiệu ngữ liệu (presentation)

+ Thực hành bài tập (Exercises)

+ Hoạt động giao tiếp (Communicative activities)

+ Đánh giá (Evaluation)

+ Củng cố (Consolidation).

Phương pháp Giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp khác là nó bao trùm mọi phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ: đó là các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố ngoài ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi hình thành và phát triển bốn kỹ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học. Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp. Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có khả năng sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp.

Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển 4 kỹ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy học, trong đó kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) không được quan tâm một cách thích đáng. Kết quả là một số HS cảm thấy khó có thể “giao tiếp” vì HS làm sao có thể nghe, nói, đọc, viết được một khi các em không nắm chắc hệ thống qui tắc ngôn ngữ. Mặt khác, theo quan điểm của phương pháp này, quan hệ giữa ý định giao tiếp (bao gồm các hành động lời nói hay là các chức năng ngôn ngữ học được) và hiện thực là quá phức tạp, không rõ ràng. Nói cách khác, người ta khó có thể lựa chọn các phát ngôn theo chức năng phù hợp với nhu cầu giao tiếp thực tế đa dạng và rất phức tạp.

Trong quá trình dạy học, giáo viên giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức thực hiện; HS đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học; tức là phải phát huy cao độ tính tích cực của các em trong luyện tập thực hành. Ở trường THCS (lớp 8 và lớp 9), HS cần tập trung rèn luyện sâu từng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Muốn thực hiện được, cá nhân HS phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi, và cần lưu ý rằng độ lưu loát/trôi chảy (fluency) trong giai đoạn này là rất quan trọng. Điều kiện tối thiểu để HS thực hành kỹ năng ngôn ngữ là mỗi lớp học không quá đông (khoảng 35 HS/lớp); có đầy đủ thiết bị nghe nhìn, băng/đĩa CD, tranh tình huống. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập nên nhấn mạnh vào 4 kỹ năng, và một phần nhỏ kiến thức ngôn ngữ. Kiểm tra kỹ năng ngôn ngữ luôn luôn được ưu tiên trong bất kỹ hình thức nào.

Để thực hiện thành công giờ dạy theo phương pháp này, giáo viên cần:

+ Giảm tối đa thời gian nói của mình trên lớp, tăng thời gian sử dụng ngôn ngữ cho HS.

+ Dạy học theo cách gợi mở – GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìm ra lời giải đáp hoặc con đ­ường đi của mình.

+ Khai thác kiến thức sẵn có/kiến thức nền về văn hoá, xã hội cũng như­ ngôn ngữ của HS trong luyện tập ngôn ngữ.

+ Có thái độ tích cực đối với lỗi ngôn ngữ của HS. Chấp nhận lỗi như­ một phần tất yếu trong quá trình học ngoại ngữ, giúp HS học tập được từ chính lỗi của bản thân và bạn bè.

+ Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập (product) mà còn chú trọng đến cả quá trình (process) luyện tập và phương pháp học tập của HS.

– She asked me what my name was, and where I came from. – She asked me if I spoke any other languages.

Bước tiếp theo, GV cho HS luyện tập qua việc yêu cầu HS đọc bảng danh sách câu hỏi trực tiếp (thi vấn đáp tiếng Anh) của ban giám khảo để so sánh và xác định với các câu hỏi gián tiếp trong bài đối thoại (phần b.); sau đó HS luyện tập đối thoại trực tiếp theo cặp (đóng vai Lan và người giám khảo). Mục đích là củng cố hình thái loại câu hỏi trực tiếp cho HS trước khi cho các em luyện tập đổi sang câu hỏi gián tiếp.

Bước tiếp theo là hoạt động giao tiếp mang tính tự do hơn. GV có thể yêu cầu HS dựa vào bài đối thoại giữa Lan và người giám khảo để đóng vai Lan và Paola tập nói lại nội dung các câu hỏi trực tiếp đó ở dạng câu hỏi gián tiếp (như bài đối thoại trong phần giới thiệu ngữ liệu).

Để tăng cường giao tiếp ở mức hoàn toàn tự do (mang tính sáng tạo), GV có thể yêu cầu HS luyện tập phỏng vấn theo cặp theo các tình huống do giáo viên gợi ý; sau đó HS đại diện cho mỗi cặp tường thuật lại các câu hỏi ở dạng gián tiếp.

Nguyễn Đức An @ 10:26 24/08/2012 Số lượt xem: 259

Lịch Sử Phương Pháp Giảng Dạy Ngoại Ngữ

25.05.2020

Trong lịch sử phương pháp giảng dạy ngoại ngữ (PPGDNN) giảng dạy tiếng luôn gắn liền với các trào lưu trong ngôn ngữ học, tâm lí học và sư phạm học. Theo Celce-Murcia (1991) thì PPGDNN luôn dựa vào ba hòn đá tảng: bản chất ngôn ngữ (giảng dạy tiếng và ngôn ngữ học), bản chất người học (giảng dạy tiếng và tâm lí học), và mục đích giảng dạy và học tập (mục đích của cá nhân và nhu cầu xã hội).

Phương pháp giảng dạy là phạm trù cơ bản trong giáo học pháp, thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong khoa học sư phạm thì nó là phương thức nhận thức, là cách thức nghiên cứu và giải quyết tình huống. Trong PPGDNN nó có nghĩa hẹp hơn: là mô hình tổng hợp hoá quá trình dạy học dựa trên một trong các hướng tiếp cận cụ thể, điển hình cho các phương hướng cụ thể, có thể là việc sử dụng tài liệu giảng dạy, lựa chọn thủ pháp giảng dạy, phương thức tương tác giữa giáo viên và học viên. Dựa trên khái niệm của Anthony (1963) Richards và Rodgers (1986) nhìn nhận phương pháp như một cái ô bao trùm ba cấp độ: lí thuyết (approach – lối tiếp cận), xử lí (design – thiết kế) và ứng dụng thực tế (procedure – qui trình). Các tác giả trên đã giúp chúng ta định hình được cấu trúc của phương pháp bao gồm vai trò giáo viên và học viên, loại hình chương trình, đặc trưng tổ chức quá trình đào tạo và các ngữ liệu giảng dạy.

Trong quá trình phát triển, hơn một thế kỉ qua, ngành PPGDNN được biết đến các phương pháp phổ biến như: Phương pháp dịch-ngữ pháp (Grammar-Translation Method), Phương pháp trực tiếp (Direct Method), Phương pháp nghe khẩu ngữ (Audiolingualism, audiolingual method, mim-mem method), Phương pháp nghe nhìn, còn gọi là phương pháp cấu trúc toàn cầu (Audiovisual Method / Structural-Global Method), Phương pháp giảng dạy tiếng theo tình huống, còn gọi là lối tiếp cận bằng lời (Situational Language Teaching – SLT/ The Oral Approach), Phương pháp/ lối tiếp cận tự nhiên (Natural Method / Natural Approach), và Phương pháp giao tiếp, còn gọi là giảng dạy tiếng giao tiếp (Communicative Method/ Communicative Language Teaching (CLT). Cũng cần bổ sung rằng, về thuật ngữ, các nhà phương pháp học có những cách gọi khác nhau. Chẳng hạn, Celce-Murcia (1991) thì đồng nhất gọi chúng là Lối tiếp cận (LTC), ví dụ, LTC dịch-ngữ pháp, LTC trực tiếp, LTC đọc, LTC nghe ngôn ngữ, LTC Tình huống, LTC nhận thức, LTC hiểu và LTC ảnh hưởng nhân văn trong khi đó Richards và Rodgers (1986) lại dùng cả hai thuật ngữ là phương pháp (Phương pháp dịch ngữ pháp) và lối tiếp cận (LTC giao tiếp,LTC tự nhiên).

1. Phương pháp dịch ngữ pháp.

Phương pháp này hiểu ngôn ngữ như những hệ thống. Lối tiếp cận của phương pháp này là lối tiếp cận nhận thức trong giảng dạy, trong thời kì đầu (thế kỉ 19), nó được sử dụng rộng rãi ở châu Âu để dạy các ngôn ngữ La-tinh và Hi Lạp, sau này là các thứ tiếng Đức, Pháp, Anh.

Mục đích giảng dạy của phương pháp này là để đọc các tác phẩm văn học. Ngoại ngữ được nhìn nhận như một bộ môn giáo dục toàn diện với vai trò chủ đạo là phát triển trí tuệ và tư duy lô gic của người học.

Phương pháp này chú trọng vào văn viết. Các hình thức giao tiếp bằng lời thường chỉ dùng với mục đích công cụ giảng dạy.

Ưu điểm cơ bản của phương pháp này là học viên được học các tác phẩm văn học nguyên tác, ngữ pháp được học qua tình huống cụ thể, tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ giảng dạy và là đối tượng so sánh đối chiếu của học viên. Tuy nhiên, khi học ngoại ngữ, học viên chủ yếu nghiên cứu các cấu trúc ngữ pháp và chuyên tâm vào dịch nhưng hầu như không dùng được ngoại ngữ để giao tiếp.

2. Phương pháp trực tiếp

Ưu điểm chính của phương pháp này là học viên có nhiều điều kiện tiếp xúc bằng ngoại ngữ. Đồng thời họ cũng có thể ứng dụng được ngôn ngữ đã học vào các giao tiếp thực tế. Tuy nhiên, người quản lí luôn gặp trở ngại về vấn đề tuyển mộ giáo viên.

3.Phương pháp đọc hiểu.

Xuất hiện vào những năm 1930 khi hầu hết các cơ sở đào tạo tiếng không có khả năng tuyển mộ những giáo viên đạt yêu cầu. Với phương pháp đọc hiểu, giáo viên không cần phải biết nói giỏi mà chỉ cần có kiến thức từ vựng, ngữ pháp tốt bởi phương pháp này chỉ chú trọng vào kĩ năng đọc. Từ vựng là vấn đề then chốt. Các hiện tượng ngữ pháp chỉ được đề cập nếu trợ giúp quá trình đọc hiểu.

4.Phương pháp nghe nói khẩu ngữ.

          Người ta nhanh chóng nhận ra được những bất cập của phương pháp đọc vốn chỉ chú trọng vào một kĩ năng mà hoàn toàn bỏ qua nghe-nói. Trong những năm 1940 phương pháp nghe khẩu ngữ bắt đầu hình thành, dựa trên những đặc điểm của ngôn ngữ học cấu trúc và tâm lí học hành vi, và nhanh chóng chiếm ưu thế ở Mỹ khi nhu cầu học ngoại ngữ nhanh đặt ra đối với các lính chiến Hoa Kì. Cũng theo Celce-Murcia thì với phương pháp này, bài học bắt đầu bằng một mẩu hội thoại với trọng tâm kĩ năng theo trật tự: nghe, nói (cơ bản, cần thiết), đọc, viết (chưa cần thiết). Điều đó có nghĩa là chú trọng vào nghe nói – theo đúng tên gọi của nó. Với phương pháp này, ngữ âm rất quan trọng, ngữ pháp giảng dạy theo cấu trúc và luật ngữ pháp dạy theo phương pháp qui nạp. Học viên có thể bắt chước và học thuộc lòng. Giáo viên chỉ cần nắm vững một lượng từ vựng hay cấu trúc hạn chế trong chương trình giảng dạy vì mọi hoạt động và ngữ liệu trên lớp đều được giám sát chặt chẽ.

5.Phương pháp tình huống

Charles Curran (1972) tiếp thu tư tưởng giáo dục của Carl Rodgers (dẫn theo Brown, 1994:59) trong mô hình giáo dục “học tư vấn” coi người học trong lớp là một nhóm nhỏ chứ không phải là một lớp lớn với những cá nhân khác nhau, với từng khả năng riêng và hoàn cảnh riêng. Do đó, người học, giống như những bệnh nhân, cần thiết phải được “trị liệu” riêng bệnh, có nghĩa là giảng dạy theo các cách khác nhau. Với phương pháp này giáo viên đóng vai trò tư vấn viên, học viên là người cộng tác (Rodgers, 2001). Học viên, thường ngồi đối diện với nhau trong một nhóm nhỏ theo cộng đồng ngôn ngữ, tranh luận bằng tiếng mẹ đẻ trước, sau đó bằng ngoại ngữ, giáo viên có thể dịch những câu nói đó của học viên sang ngoại ngữ, sau đó học viên nhắc lại lời giáo viên. Phương pháp này chú ý tới tính xã hội trong giảng dạy và tính nhân văn, đồng thời duy trì bầu không khí thân thiện, thoải mái trong lớp học. Tuy nhiên nó thể hiện vô số những khiếm khuyết như chương trình giảng dạy lộn xộn, thiếu tính hệ thống và có thể gây khó khăn cho nhà quản lí khi tìm kiếm giáo viên, vừa biết ngoại ngữ của học viên, vừa phải được đào tạo kĩ càng bộ môn tâm lí học, mới có thể thực hiện tốt vai trò tư vấn khi sử dụng phương pháp này.

7. Phương pháp học tiếng thư giãn. Còn gọi là phương pháp Lozanov

          Gattegno phát triển phương pháp này năm 1972 với niềm tin vững chắc rằng người học tiếng cần phải học độc lập, tự giác, biết cộng tác với các thành viên khác trong lớp học để giải quyết tình huống. Quá trình học, theo Gattegno, là quá trình tìm kiếm, phát hiện – một xu hướng phổ biến của những năm 1960, giáo viên thuần tuý là người hỗ trợ nhưng hầu hết giữ trạng thái im lặng với những que tính (Cuisinere Rods) màu dài ngắn khác nhau, với các bảng ngữ âm, ngữ pháp dán tường. Học viên tự phát âm, chỉnh sửa lời nói của mình theo chỉ dẫn bằng hành động của giáo viên (trong trường hợp cần thiết). Richard & Rodgers (1986:99) tóm tắt phương pháp này như là phương pháp có khả năng thúc đẩy quá trình học nếu người học sáng tạo chứ không phải thuần tuý học thuộc lòng hay nhắc lại những gì phải học. Đồng thời, học viên được tiến hành xử lí tình huống những ngữ liệu phải học. Tuy nhiên, với phương pháp này, vai trò của giáo viên trên lớp dường như bị lu mờ và giao tiếp tích cực bằng lời của giáo viên bị hạn chế.

9. Phương pháp hoàn toàn bằng hành động.

          James Asher phát triển phương pháp này năm 1977 dựa trên lí thuyết ngôn ngữ học cấu trúc, chủ nghĩa hành vi trong tâm lí học và xu hướng nhân văn trong giảng dạy, theo nguyên tắc của phương pháp tự nhiên. Theo phương pháp này, quá trình học ngoại ngữ cũng giống như quá trình cảm thụ tiếng mẹ đẻ của trẻ em, chúng cũng trải qua thời kì “im lặng”, có nghĩa là cảm nhận âm thanh, những kết cấu phức tạp trước khi biết nói. Hiểu cấu trúc được tiến hành dễ dàng hơn nếu học viên được cảm nhận bằng những hành động cụ thể của những người xung quanh. Những cấu trúc được sử dụng hầu hết là ở dạng mệnh lệnh thức. Học viên nghe “lệnh” như “giơ tay trái lên”, “hãy sờ vào mũi người bên phải”, “đừng đưa chân trái ra phía trước”, “người mặc áo vàng bên cạnh cửa sỗ hãy đi về phía góc trái trên của lớp học” v.v. và hành động theo hiệu lệnh. Phương pháp này tỏ ra đặc biệt hiệu quả đối với trình độ sơ cấp, khá phù hợp với trẻ em học tiếng nhưng có nhiều hạn chế với trình độ nâng cao, và nhiều phiền toái cho học viên lớn tuổi. Một mặt, phương pháp này tạo ra sự an toàn tinh thần cho học viên “chưa cần nói khi chưa sẵn sàng” thì nó vẫn là phương pháp học thụ động, chưa khuyến khích phát triển ngữ năng giao tiếp ở mức độ tự nhiên và cũng khá cứng nhắc bởi trật tự tiến hành kĩ năng nghe trước nói sau trong học tiếng.

10. Phương pháp giao tiếp.

          Hymes (1972), một nhà ngôn ngữ học nhân chủng cùng với Halliday (1973) coi ngôn ngữ hành chức chủ yếu với tư cách là chức năng giao tiếp. Mục đích học và giảng dạy của phương pháp này là đạt được ngữ năng giao tiếp, có nghĩa là đạt được “khả năng không chỉ ứng dụng luật ngữ pháp để hình thành câu đúng mà còn biết dùng đúng lúc, đúng nơi, đúng đối tượng” (Richards và Platt, 1992:65), nói cách khác, thoả mãn được ba yêu cầu: trôi chảy (fluency), chính xác (accuracy), và phù hợp (appropriacy). Với những mục tiêu nổi trội như vậy, hiện nay nó đang giữ vị trí độc tôn trong lịch sử giáo dục nói chung và ngôn ngữnóiriêng.

          Nhìn chung, sẽ dễ dàng chấp nhận nhận định: không có một phương pháp tối ưu cho tất cả mọi trường hợp. Mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm nhất định. Giáo viên cần có khả năng lựa chọn, tổng hợp và khai thác để sử dụng hài hoà các phương pháp sao cho phù hợp với đối tượng giảng dạy.

Bài viết của cô Trần Thị Lan – ĐHHN

Chuyên Đề Sử Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học “Nhằm Phát Huy Tính Tích Cực Và Tư Duy Học Sinh Trong Dạy Học Lịch Sử Thcs)

và tự mình lập một đề cương chi tiết để củng cố khắc sâu kiến thức đã hoc. Ví dụ : Sau khi dạy xong phần: LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI (Từ giữa thế kỉ XVI đến năm 1917).( Lịch sử lớp 8) Giáo viên yêu cầu học sinh lập bảng thống kê về sự kiện chính của lịch sử thế giới cận đại theo mẫu sau: THỜI GIAN SỰ KIỆN KẾT QUẢ Tháng 8-1566 Cách mạng Hà Lan Lật đổ ách thống trị của vương quốc Tây Ban Nha Qua bảng thống kê trên giúp các em nhận biết được những sự kiện chính của lịch sử thế giới cận đại và kết quả của từng sự kiên đó. Muốn lập được bảng thống kê trên đòi hỏi học sinh phải tự đọc sách lắng nghe bài học trên lớp từ đó rèn luyện cho các em thói quen học tập ở nhà thông qua sách giáo khoa. Muốn làm tốt khâu này, giáo viên phải thường xuyên đánh giá, cho điểm khuyến khích tuyên dương những học sinh tích cực, uốn nắn những học sinh lười làm bài tập có như thế mới nắm bắt được tinh thần và thái độ học tập của các em. B- PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ DUY CHO HỌC SINH: Mỗi câu hỏi sử dụng trong tiêt học Lịch sử nên áp dụng trong các khoảng thời gian khác nhau như kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới trong khi giảng dạy củng cố tùy theo kiến thức của từng bài mà giáo viên có thể nêu cho phù hợp với nội dung cần truyền đạt nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy. a/ Nêu câu hỏi đặt vấn đề ( sử dụng trong giới thiệu vào bài) Trước khi bước vào bài mới, giáo viên nên nêu ngay câu hỏi định hướng nhận thức cho học sinh. Các câu hỏi nêu vấn đề đưa ra vào đầu giờ nhằm thu hút sự chú ý, huy động các năng lực nhận thức của học sinh vào việc theo dõi bài giảng để tìm câu trả lời . Những câu hỏi này là những vấn đề cơ bản của bài học mà học sinh phải nắm. Đương nhiên, khi đặt câu hỏi không yêu cầu học sinh trả lời ngay mà chỉ sau khi giáo viên đã cung cấp đầy đủ sự kiện thì học sinh mới trả lời được. Ví dụ : Khi dạy bài : Nhật Bản giữa TK XIX đầu TK XX( Lịch sử 8 SGK trang 66) Giáo viên dẫn dắt và nêu câu hỏi: Cuối TK XIX đầu TK XX ,trong khi hầu hết các nước ở Châu Á đều trở thành thuộc địa và phụ thuộc vào các nước TB phương tây thì NB vẫn giữ được độc lập và còn phát triển kinh tế nhanh chóng trở thành ĐQCN .Tại sao như vậy ?Điều gì đã đưa nước Nhật có những chuyển biến to lớn đó ? Chúng ta cùng giải đáp vấn đề này qua tiết học hôm nay . * Hoặc khi dạy bài 2: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII (lịch sử lớp 8 sách giáo khoa trang 10) để học sinh nắm rõ hơn về ý nghĩa của cách mạng tư sản Pháp là một cuộc cách mạng triệt để chúng ta có thể đặt câu hỏi: Chúng ta đã được nghiên cứu về các cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới, nhưng tất cả các cuộc cách mạng tư sản đó đều không triệt để. Vậy một cuộc cách mạng như thế nào thì được xem là cách mạng triệt để? Chúng ta sẻ đi vào nghiên cứu bài "Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII". Trong quá trình dạy học, chúng ta vẫn tuân thủ trình tự cấu tạo của sách giáo khoa, song cần khai thác nhấn mạnh, giúp học sinh trả lời câu hỏi nêu trên. Học sinh trả lời được câu hỏi này tức là đã nắm và hiểu được kiến thức chủ yếu của bài. b/ Xây dựng hệ thống câu hỏi ở trên lớp: Trong quá trình giảng dạy ở trên lớp, giáo viên còn phải biết đặt câu hỏi và giúp học sinh giải quyết các câu hỏi có tính chất nhận thức kiến thức. Một hệ thống câu hỏi tốt nêu ra trong qúa trình giảng dạy phải phù hợp với khả năng của các em, kích thích tư duy phát triển. Đồng thời tạo ra mối liên hệ bên trong của học sinh và giữa học sinh với giáo viên. Tức là mỗi câu hỏi đưa ra, mỗi học sinh và cả giáo viên phải thấy rõ vì sao trả lời được? Vì sao không trả lời được? Câu hỏi quá khó hay chưa đủ sự kiện, tư liệu để các em trả lời. Trong sách giáo khoa, thường sau mỗi mục, mỗi bài có từ 1 đến 3 câu hỏi, những câu hỏi này là cơ sở để giáo viên xác định kiến thức trong sách, đồng thời bổ sung để xây dựng hệ thống câu hỏi của bài. Câu hỏi phải có sự chuẩn bị từ khi sọan giáo án, phải có dự kiến nêu ra lúc nào? Học sinh sẽ trả lời như thế nào? Đáp án ra sao? Rõ ràng việc sử dụng câu hỏi trong dạy học còn là một nghệ thuật. Những câu hỏi đặt ra bắt buộc học sinh phải suy nghĩ, phải kích thích được lòng ham hiểu biết, trí thông minh, sáng tạo của học sinh. Đặc biệt là giúp học sinh yếu kém tích cực hoạt động và dần dần hình thành kiến thức cơ bản cho các em qua hệ thống câu hỏi, từ đó các em có hứng thú học tập và xây dựng bài hơn. Thông thường trong quá trình giảng dạy chúng ta thường đặt ra nhiều loại câu hỏi, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các kiến thức lịch sử, có các loại câu hỏi.Cụ thể: Ví dụ: * Tại sao nói, ngay sau khi ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở vào tình thế " Ngàn cân treo sợi tóc"? ( Bài 24 SGK Lịch Sử 9 trang 96 ). * Tại sao Nguyễn Tất Thành lại ra đi tìm đường cứu nước? Hướng đi của Người có gì mới so với các nhà yêu nước chống Pháp trước đó? ( Bài 30 SGK Lịch Sử 8 trang 148). * Tại sao nói từ năm 1858 đến năm 1884 là quá trình triều đình Huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng toàn bộ trước quân xâm lược (bài 25 lịch sử lớp 8 trang 124). Thường thì những câu hỏi này khó đối với học sinh, nó đòi hỏi các em phải biết phân tích, đánh giá, biết bày tỏ thái độ của mình đối với sự kiện, hiện tượng lịch sử . Học sinh rất ngại trả lời những câu hỏi này, tuy nhiên giáo viên cần kiên trì đưa thêm những câu hỏi gợi mở giúp các em trả lời câu hỏi của mình. Ví dụ: * Khi dạy bài 23 - Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt Nam Dân Chủ cộng hòa.( Lịch sử lớp 9 trang 92) Câu hỏi nhận thức: Tại sao khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, Đảng ta quyết định Tổng khởi nghĩa dành chính quyền trong toàn quốc? Để trả lời được câu hỏi này giáo viên có thể nêu câu hỏi gợi mở: Chủ trương khởi nghĩa vũ trang đề ra trong hội nghị TW lần thứ VIII ( tháng 5- 1941) là gì? Các yếu tố ( về thời cơ cách mạng ) đã xuất hiện đầy đủ ở nước ta lúc bấy giờ chưa? * Loại câu hỏi tìm hiểu kết quả, nguyên nhân dẫn đến kết quả đó và ý nghĩa lịch sử của sự kiện với dạng câu hỏi này thường thì dùng cho đối tượng học sinh trung bình, yếu để các em tự phát hiện và chiếm lĩnh được kiến thức cơ bản và giúp các em hoạt động liên tục trong quá trình học tập. Lịch sử chính là quá trình phát triển liên tục, đan xen nhau giữa các sự kiện hoặc một hiện tượng hay một quá trình lịch sử nào đó. Cần cho học sinh thấy rõ được kết quả của sự vận động đó, nguyên nhân thắng lợi hay thất bại và ảnh hưởng của nó đối với quá trình phát triển lịch sử. Ví dụ : * Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và khởi nghĩa Nam Kì( Lịch sử 9 trang 82). * Em hãy nêu ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3.2 1930 (Lịch sử 9 trang71). * Trình bày ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thành công của cách mạng tháng Tám năm 1945.(lịch sử 9 trang 94). * Trình bày ý nghĩa lịch sử của cách mạng tư sản Pháp 1789 -1794 (lịch sử 8 trang 17). Để trả lời những câu hỏi này, học sinh dựa vào SGK để trả lời bằng ngôn ngữ của mình chứ không lặp lại nguyên văn trong sách giáo khoa . Ví dụ: * Khi học bài 29 " Cả nước trực tiếp chiến đấu chống Mĩ cứu nước ( 1965 - 1973)" ( Lịch sử 9 trang 142) Có câu hỏi : Chiến lược " Chiến tranh cục bộ"và "chiến tranh đặc biệt" của Mĩ ở Miền Nam có điểm gì giống nhau và khác nhau? * Khi dạy bài 9: Nhật Bản ( Lịch sử 9 trang36) giáo viên nêu câu hỏi: so sánh sự giống nhau và khác nhau trong chính sách đối ngoại của Mĩ và Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2? * So sánh hoàn cảnh, nội dung, tác dụng của chính sách cộng sản thời chiến với chính sách kinh tế mới của Lê Nin và Đảng Bôn sê vích.(lịch sử 8 trang 82). Tóm lại :Các loại câu hỏi nêu trên tạo thành một hệ thống câu hỏi hoàn chỉnh, giúp cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử phát hiện ra nguyên nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của một sự kiện hay một quá trình lịch sử. Những câu hỏi đó giáo viên vận dụng nhuần nhuyễn trong các tiết dạy không chỉ cho các em biết được các sự kiện mà đi sâu hiểu bản chất của sự kiện, nó không chỉ đòi hỏi học sinh nhớ các sự kiện lịch sử cơ bản mà phải suy nghĩ nhận thức sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử c. Sử dụng câu hỏi để liên hệ thực tế và giáo dục tư tưởng cho học sinh. Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề là một yêu cầu trong dạy học hiện nay. Và thực tế dạng câu hỏi này mang lại hiệu quả cao trong dạy học. Câu hỏi dạng này có không gian sử dụng rộng. Nó được sử dụng rất hiệu quả khi đặt học sinh vào tình huống có vấn đề với những câu hỏi có vấn đề vì đã "đụng" vào sự tò mò của HS. Việc giáo dục tư tưởng cho HS phải được tiến hành trong từng bài học. Giáo viên có thể nêu ra các tình huống có vấn đề cũng có thể liên hệ kiến thức đang học với hiện tại để thực hiện ý đồ của mình. Khi thực hiện việc giáo dục tư tưởng cho HS, giáo viên phải để cho HS tự thể hiện ý kiến của mình. Có thể cho HS đặt mình vào tình huống để nêu lên ý kiến. Ý kiến của HS có thể phù hợp cũng có thể không phù hợp với quan điểm dạy học. Trong trường hợp đó giáo viên cần định hướng, giải thích cho HS hiểu vấn đề. Ví dụ: Khi dạy bài : Nhật Bản giữa TK XIX đầu TK XX( Lịch sử 8 SGK trang 66) Sau khi dạy phần II: Nhật Bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc: Giáo viên có thể nêu câu hỏi: Những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản hiện nay? Giáo viên gợi ý để học sinh trình bày những hiểu biết của mình về chính sách đối ngoại của Nhật để từ đó ta hướng đến việc liên hệ thực tế về mối quan hệ Việt Nam với Nhật Bản hiện nay. Ví dụ . Sau khi kể cho HS nghe chuyện về thái hậu Dương Vân Nga ở bài 9 - Nước Đại Cồ Việt thời Đinh - Tiền Lê (mục 2 - Tổ chức chính quyền thời Tiền Lê (Lịch sử 7 trang 29)), giáo viên có thể đặt câu hỏi: nếu em làThái hậu thì trong trường hợp đó em có làm như Thái hậu hay không? Thái hậu làm như vậy có chấp nhận được không? Trong trường hợp này giáo viên không chỉ cho một HS thể hiện ý kiến mà nên cho nhiều học sinh thể hiện ý kiến và giải thích tại sao lại làm như vậy. Trên cơ sở đó giáo viên cho HS thấy việc làm của Thái hậu là phù hợp, bà biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, bà tuy là phụ nữ nhưng có tầm nhìn xa. Đó là điều đáng quý, đáng trân trọng, ... Hoặc khi dạy: mục 2 - Luật pháp và quân đội( bài 10 Lịch sử 7 trang 37)Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước khi nói về sách lược "Ngụ binh ư nông" có thể đặt câu hỏi: quân đội ta ngày nay có thực hiện chiến lược này hay không? Sau khi cho HS thể hiện ý kiến, giáo viên có thể liên hệ đến việc thực hiện chế độ Quân nhân dự bị, việc cho học quân sự ở cấp THPT, cao đẳng, đại học của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Từ đó HS sẽ thấy được sự tiếp nối truyền thống của ông cha ta, đó là một điều nên làm. Ví dụ . Khi dạy bài 18 - Cuộc kháng chiến của nhà Hồ và phong trào khởi nghĩa chống quân Minh đầu thế kỉ XV, ở mục 1 - Cuộc xâm lược của quân Minh và sự thất bại của nhà Hồ(Lịch sử 7 trang 82). Để làm rõ việc tại sao nhà Hồ lại thất bại dù rất cố gắng chống giặc. Giáo viên có thể đặt câu hỏi nêu vấn đề: Nhà Hồ tuy có nhiều chính sách quốc phòng rất hay nhưng lại dễ dàng bị quân Minh, một đội quân không mạnh bằng Mông Cổ đè bẹp trong lúc đó quân Trần lại chiến thắng một đội quân hùng mạnh vào bậc nhất thế giới lúc bấy giờ? Hoặc câu: Theo em cách đánh giặc của nhà Trần và nhà Hồ có gì khác nhau? Từ đó giáo viên cho HS thấy được giá trị của tinh thần đoàn kết, vai trò của nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Giáo viên cũng có thể liên hệ đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này.... Trong bất cứ bài lịch sử nào giáo viên cũng đưa ra được câu hỏi nêu vấn đề và giáo dục tư tưởng cho HS. Điều quan trọng là giáo viên phải vận dụng đúng lúc, đúng chỗ mới mang lại hiệu quả cao. Tóm lại, sử dụng câu hỏi trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là một trong những biện pháp quan trọng, rất có ưu thế để phát triển tư duy cho học sinh. Trong thực tế dạy học ở trường THCS nhiều giáo viên đã có kinh nghiệm và thành công trong việc sử dụng hệ thống câu hỏi. Nhìn chung để sử dụng tốt các câu hỏi trong quá trình dạy học chúng ta cần lưu ý mấy điểm sau: Thứ nhất : Câu hỏi và bài tập phải vừa sức và phù hợp với từng đối tượng. Tránh trường hợp đặt câu hỏi quá khó và vượt quá khả năng tư duy của học sinh, đồng thời câu hỏi cũng không quá đơn giản. Giáo viên cũng cần khắc phục tình trạng chưa cung cấp sự kiện lịch sử đã học mà đặt câu hỏi, cách đặt câu hỏi như thế trái với đặc trưng bộ môn, buộc học sinh phải nhìn vào SGK để trả lời chứ không hoàn toàn tự suy nghĩ tìm kiến thức. Thứ ba: Triệt để khai thác nội dung các câu hỏi sách giáo khoa và các câu hỏi được sáng tạo trong quá trình soạn giảng của giáo viên, những câu hỏi đó phải đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng, đồng thời phát huy được tư duy, rèn luyện được các kĩ năng học tập cho các em. Khi hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi cần lưu ý các em chú ý các vấn đề sau: - Đọc kĩ câu hỏi. - Tìm hiểu nội dung câu hỏi và yêu cầu đặt ra cần giải quyết. - Vận dụng kiến thức, cần sưu tầm tài liệu làm cơ sở cho việc suy nghĩ và giải quyết vấn đề nêu ra trong câu hỏi. - Tự kiểm tra câu trả lời có đúng và chính xác không? Cần động viên khuyến khích học sinh tích cực trả lời. Sau đó đánh giá nhận xét cho điểm, khen ngợi các học sinh tích cực, uốn nắn học sinh thụ động chưa tích cực. C. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ DUY CHO HỌC SINH: a/ Đối với hình vẽ, tranh, ảnh Để cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với chương trình giáo dục ở bộ môn Lịch sử, thiết bị các trường học đã trang bị khá đầy đủ các loại dụng cụ trực quan, chủ yếu là các loại sau: - Hình vẽ, tranh, ảnh. - Mô hình. - Bản đồ, biểu đồ. Đối với các loại phương tiện này thì người giáo viên giảng dạy môn Lịch Sử cần có phương pháp sử dụng để việc dạy học đem lại hiệu quả cao. a.1/ Đối với hình vẽ - Có thể là hình vẽ được giáo viên chuẩn bị trước ( như hình vẽ minh hoạ các sự kiện lịch sử , ...) - Đối với hình vẽ: Ta cần cho học sinh tiến hành theo các bước sau: - Đọc tên và cho biết các sự kiện lịch sử trên hình vẽ . -Tìm hiểu mốc thời gian diễn ra sự kiện lịch sử, địa phương diễn ra sự kiện đó. - Rút ra nguyên nhân, ý nghĩa, bài học lịch sử từ sự kiện đó. a.2/ Tranh ảnh Lịch sử * Cách sử dụng có hiệu quả Đọc tên bức tranh, xác định xem bức tranh đó thể hiện điều gì ? Ở đâu ? -Tường thuật lại diễn biến của sự kiện lịch sử. -Rút ra được nguyên nhân ý nghĩa và bài học lịch sử. Từ đó giáo dục lòng yêu nước, biết ơn các anh hùng của dân tộc..... Vì vậy, hình vẽ, tranh ảnh trong SGK, một phần của đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học có ý nghĩa hết sức to lớn, là nguồn kiến thức giúp cho học sinh tư duy thông qua quan sát miêu tả tranh ảnh, giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng diễn đạt, phân tích tranh ảnh để nhận biết ý nghĩa sự kiện lịch sử. Ví dụ : Khi dạy phần lịch sử Việt Nam (lịch sử lớp 8) Bài 29:Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế,xã hội ở Việt Nam (SGK trang 137) Cần cho học sinh quan sát tranh ảnh về hình ảnh người công nhân và nông dân trong thời kì Pháp thuộc từ đó cho học sinh hình dung ra bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ cuộc sống của người nông dân cơ cực trăm bề, từ đó giáo dục học sinh căm ghét chế độ bốc lột của thực dân Pháp. b) Sử dụng chân dung các nhân vật lịch sử: Cho nên Trong quá trình dạy học lịch sử việc cho học sinh quan sát chân dung của các nhân vật lịch sử là rất quan trọng. Giúp cho học sinh nhận biết chân dung thật của nhân vật lịch sử, qua đó có cái nhìn thiết thực tỏ lòng kính trọng, mến phục tài năng phẩm chất tốt đẹp của các vị anh hùng dân tộc, các nhân vật lịch sử thế giới. Ví dụ : Khi dạy bài 30(Lịch sử 8) Phong trào yêu nước chống Pháp từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918. (SGK trang 143) Cần cho học sinh quan sát chân dung của một số sĩ phu yêu nước. Phong trào Đông Du (chân dung của Phan Bội Châu). Phong trào Duy Tân (chân dung của Phan Châu Trinh). Để học sinh nhận biết hình ảnh thật của một số sĩ phu yêu nước của dân tộc ta đầu thế kỉ XX-đến năm 1918 Hoặc khi dạy bài: Nhật Bản giữa TK XIX đầu TK XX( Lịch sử 8 SGK trang 66) - Giáo viên giới thiệu cho học sinh xem ảnh tướng quân Sô- Gun - Cần cho học sinh quan sát ảnh của Thiên Hoàng Minh Trị. Giáo viên có thể nêu câu hỏi: "Thiên Hoàng Minh Trị là người như thế nào ? Ông có vai trò gì đối với cuộc cải cách duy tân Minh Trị ? ".... để học sinh tìm hiểu một nhân vật nổi tiếng của nước Nhật trong thời điểm này, là người có công lao to lớn đối với đất nước Nhật. Nhờ công lao của ông mà nước Nhật đã thoát khỏi sự xâm lược của Tư bản phương Tây. c. Bản đồ, lược đồ * Bản đồ Việc học lịch sử nhất thiết phải có bản đồ: " Có bản đồ là có Lịch Sử ". Vậy học Lịch Sử nhất thiết phải có bản đồ. Bản đồ vừa là phương tiện giúp các em khai thác kiến thức và là nguồn tri thức Lịch Sử phong phú, nội dung Lịch Sử đã được mã hoá trở thành một thứ ngôn ngữ đặc biệt, đó là ngôn ngữ bản đồ. Thông qua việc sử dụng bản đồ giáo viên hướng dẫn học sinh rèn luyện được các kỹ năng bản đồ như: - Đọc tên bản đồ để biết đối tượng, sự kiện Lịch sử được thể hiện trên bản đồ là gì. - Hiểu bản đồ, đọc được bản chú giải để biết được cái mà người ta thể hiện đối tượng đó trên bản đồ như thế nào? Bằng các ký hiệu gì ? Bằng màu sắc gì ? ... - Xác định vị trí, phương hướng của các địa điểm trên bản đồ. * Lược đồ Trong giảng dạy Địa lý có nhiều loại lược đồ nhưng đối với môn Lịch Sử thì các em mới chỉ làm quen với một số loại lược đồ như: " Khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Cuộc kháng chiến lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba chống quân Mông Nguyên....Chiến thắng Bạch Đằng, Khởi nghĩa Lam Sơn " . - Đối với loại lược đồ này ta cần cho học sinh nắm được yếu tố nào được thể hiện trên lược đồ. - Đặc điểm của các yếu tố thông qua lược đồ giúp học sinh nhận xét, phân tích. - Bước đầu tập cho h

Một Số Phương Pháp Phát Huy Hứng Thú Của Học Sinh Trong Học Lịch Sử Ở Thcs

Việc chuấn bị bài là quan trọng và cần thiết, giúp học sinh hệ thống lại kiến thức cũ, nắm được các ý chính của bài mới trước khi học do đó khi lên lớp các em sẽ chủ động tiếp thu kiến thức và tham gia vào bài học tích cực, tự giác như mình cùng trao đổi với thầy cô chứ không thụ động ngồi tiếp thu kiến thức một chiều nên dể nắm được kiến thức cơ bản của bài học, nhớ lâu, nhớ kĩ nội dung hơn và thích thú học bộ môn lịch sử hơn… Giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện như sau:

+ Ôn lại kiến thức đã học: học sinh xem vở ghi chép để ôn thật kĩ lại những kiến thức đã học một cách có hệ thống, phần nào, ý nào chưa hiểu hoặc hiểu chưa rõ học sinh có thể xem lại sách giáo khoa, các sách tham khảo hoặc hỏi bạn bè, thầy cô giải đáp.

+ Làm bài tập: Sau khi đã nắm vững kiến thức đã học các em đem sách giáo khoa và sách bài tập ra làm, cách làm bài tập như sau: các em đọc câu hỏi và tự trả lời các câu hỏi ở mức độ nhớ và hiểu, không cần ghi ra vở bài tập. Học sinh chỉ làm ra vở các bài tập mà giáo viên giao (bài tập vận dụng) có dạng câu hỏi như: Giải thích vì sao…? Tại sao nói…? Lập bảng thống kê…

Để có một tiết dạy thành công phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó cần thiết phải có sự chuẩn bị rất kĩ của giáo viên, cụ thể như sau:

+ Giáo viên phải xác định mục tiêu bài học, phù hợp với Chuẩn kiến thức, kỹ năng về kiến thức, về kĩ năng và về tư tưởng tình cảm.

+ Giáo viên tiến hành thiết kế bài dạy: việc thiết kế một bài dạy, một tiết dạy là việc làm thường xuyên của mỗi giáo viên, trong quá trình thiết kế giáo án, giáo viên thực hiện đầy đủ các bước theo quy trình của một tiết soạn giáo án. Tuy nhiên, cần chú ý một số điểm như sau:

Một là: Bám sát Chuẩn kiến thức kĩ năng để thiết kế bài giảng đạt được mục tiêu bài dạy, dạy học không lệ thuộc hoàn toàn vào sách giáo khoa, việc khai thác sâu kiến thức, kĩ năng phải phù hợp với khả năng của học sinh.

Hai là: Giáo viên cần xác định được kiến thức trọng tâm, cơ bản của bài, kiến thức truyền đạt phải đảm bảo tính chính xác, khoa học.

Ba là: Thiết kế các hoạt động học tập, các dạng câu hỏi, bài tập nhằm phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng cho học sinh với các hình thức đa dạng, phong phú phù hợp với bài học, với đối tượng học sinh và với điều kiện của trường, lớp…

Bốn là: Thiết kế rõ ràng mục tiêu cần đạt được của từng phần, từng mục; nhiệm vụ cụ thể của học sinh, của giáo viên và thời lượng của từng phần khoảng bao nhiêu phút, tránh sa đà, mất nhiều thời gian cho mục này còn mục khác do hết thời gian nên chỉ dạy qua loa…

Năm là: Sử dụng các phương pháp, phương tiện, tài liệu, thiết bị… có chọn lọc một cách hợp lí, linh hoạt, phù hợp với nội dung, tính chất, thời lượng của bài học…

Ví dụ: Khi dạy bài 14 Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông- Nguyên (thế kỉ XIII), giáo viên cho học sinh tìm hiểu về Trần Hưng Đạo:

Trần Hưng Đạo (1231? – 1300), tên thật là Trần Quốc Tuấn. Hiệu là Hưng Đạo Vương là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc ta thời Trần. Quê quán: làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định). Ông có dung mạo khôi ngô, tài trí cả văn lẫn võ, lại là tôn thất nhà Trần, do đó trong cả ba lần quân Nguyên- Mông tấn công Đại Việt, Ông đều được vua Trần cử làm tướng ra trận. Đặc biệt ở kháng chiến chống Nguyên- Mông lần thứ hai và ba, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc Công Tiết Chế, thống lĩnh quân đội cả nước. Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt đã lập nên nhiều chiến công vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng, Vạn Kiếp đuổi quân Nguyên- Mông ra khỏi đất nước.

Trần Hưng Đạo là nhà văn hóa lớn, Ông có cống hiến trên nhiều lĩnh vực: Ông là nhà chiến lược, nhà chỉ huy xuất sắc, Ông có công khai sinh ra nền khoa học quân sự nước ta, là tác giả của các bộ binh thư nổi tiếng: Binh thư yếu lược, Vạn kiếp tông bí truyền thư. Ông còn là tác giả của Hịch tướng sĩ…

Một số câu nói nổi tiếng của Trần Hưng Đạo:

– Bệ hạ muốn hàng xin trước hãy chém đầu thần đi đã.

– Khoan thư sức dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước.

Trần Hưng Đạo mất ngày 20 tháng 8 năm Canh tý (1300). Sau khi Ông mất, triều đình phong tặng là Thái sư Thượng Phụ Quốc công Nhân vũ Hưng Đạo Vương. Nhân dân vô cùng thương tiếc người anh hùng dân tộc đã lập đền thờ Ông trên nền Vương phủ gọi là đền Kiếp Bạc. Người dân Đại Việt kính trọng vinh danh Ông là Đức thánh Trần…

Trong các bài giảng lịch sử, khi nói đến một sự kiện lịch sử nào đó thì không thể không gắn với địa điểm – nơi xảy ra các sự kiện lịch sử trước đây – Di tích lịch sử. Tuy nhiên do nhiều sự kiện đã diễn ra lâu lắm rồi nên di tích không còn nguyên vẹn nữa hoặc do các di tích ở xa địa phương học sinh ở, các em khó có thể hình dung được nên giáo viên cần giới thiệu, mô tả lại cho học sinh hiểu quan cảnh nơi diễn ra các sự kiện lịch sử để các em đang học mà như đang chứng kiến sự kiện lịch sử đã diễn ra, cảnh tượng hào hùng, bi tráng được hiện về trong kí ức các em, giúp giờ học có hồn, học sinh hứng thú theo dõi bài học, từ đó giáo dục học sinh lòng yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, cố gắng học tập để sau này góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…

Ví dụ: Khi dạy về Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 (Bài 27, sử 6), giáo viên kết hợp mô tả vị trí diễn ra trận đánh: Sông Bạch Đằng có tên Nôm là sông Rừng vì hai bên bờ sông toàn là rừng rậm nên rất thuận lợi cho việc dấu quân mai phục. Sông có hải lưu thấp, độ đốc không cao do đó thủy triều lên – xuống chênh lệch nhau lớn. Khi thủy triều lên lòng sông rộng mênh mông đến hàng nghìn mét, sâu hơn chục mét. Dựa vào địa thế hiểm yếu của sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã xây dựng trận địa cọc ngầm, bố trí hai đạo quân bộ mai phục hai bên bờ. Từ cửa sông ngược lên phía trên có đạo thủy quân mạnh mai phục do Ngô Quyền trực tiếp chỉ huy. Khi nước triều từ từ dâng lên cũng là lúc quân Nam Hán kéo vào vùng biển nước ta, Ngô Quyền cho một đội binh thuyền nhẹ ra đánh nhử quân Nam Hán vào trận địa phục kích có bãi cọc, sau đó vờ thua, giặc đuổi theo vượt qua bãi cọc ngầm mà không biết. Khi nước triều bắt đầu rút, Ngô Quyền chỉ huy đại quân ta từ ba phía đổ ra đánh. Quân Nam Hán rối loạn tháo chạy ra biển, thuyền giặc to, cồng kềnh, nặng nề phải chèn nhau xít lại theo luồng nước chảy xiết, các hàng cọc như những mũi chông khổng lồ ngăn cản chúng, nhiều chiếc lao vào cọc vỡ tan tành. Đạo quân thủy của Ngô Quyền gồm những chiếc thuyền nhỏ, nhẹ nhàng luồn lách xông ra tấn công vào đội hình giặc ở giữa sông, tất cả các đạo quân thủy bộ của ta xông ra tiêu diệt địch. Quân Nam Hán không còn lối thoát, phía trước bị chặn bởi hàng cọc, phía sau bị quân ta tấn công mạnh. Chỉ trong một thời gian giao chiến ngắn cả đoàn thuyền giặc vỡ tan tành. Quân địch phần bị giết, phần chết đuối, thiệt hại đến quá nửa. Lưu Hoằng Tháo cũng bị thiệt mạng trong đám loạn quân… Trận Bạch Đằng kết thúc hoàn toàn thắng lợi.

Giáo viên có thể sử dụng nhiều loại tư liệu lịch sử để dạy học như: các Văn kiện, các Hiệp ước, Tuyên ngôn, tài liệu trích trong các tác phẩm của C.Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh… để làm phong phú các sự kiện lịch sử đang học; để phân tích, chứng minh cho học sinh hiểu một sự kiện lịch sử, một quá trình lịch sử… Tuy nhiên cần trích dẫn, sử dụng cho phù hợp với nội dung và mục tiêu của bài; tránh quá tải, ôm đồm; Cần động viên, khích lệ học sinh tích cực trong việc sưu tầm và sử dụng tư liệu để gây hứng thú và nâng cao hiệu quả học tập.

Khác với các bộ môn khoa học tự nhiên, có thể tính toán bằng các số thực, làm các thí nghiệm trực tiếp… môn khoa học lịch sử tìm hiểu những gì đã xảy ra trong quá khứ nên học sinh không thể trực tiếp quan sát các sự kiện lịch sử đó đã diễn ra hay đang diễn ra. Vì vậy sử dụng giáo cụ trực quan trong dạy học lịch sử sẽ góp phần tạo nên biểu tượng lịch sử cho học sinh, giúp giờ học sinh động hơn, gây hứng thú học tập cho học sinh. (học sinh rất thích được quan sát các đồ dùng trực quan, có em không chỉ quan sát mà còn xin cô cho em sờ các hiện vật phục chế trong bộ đồ dùng phục chế- lịch sử lớp 6). Qua các đồ dùng trực quan học sinh dể hình dung ra cái “Ngày xưa xa”, “Ngày xưa gần” như thế nào? Tránh “hiện đại hóa” lịch sử. Có nhiều loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử như:

Ví dụ: Khi dạy về Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 (Bài 27, sử 9), giáo viên cho học sinh xem phim tư liệu, hoặc quan sát một số tranh ảnh học sinh sẽ thấy được sự tài trí của người chỉ huy Võ Nguyên Giáp, sự đoàn kết đồng lòng của quân và dân ta trong kháng chiến, tinh thần dũng cảm chiến đấu, sự gian khổ, mất mát, hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh chúng ta mới đem lại chiến thắng vẻ vang, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Các em có thể tự hào về quá khứ của dân tộc, càng yêu hơn giang sơn gấm vóc của mình, căm ghét chiến tranh, yêu hòa bình và có ý thức giữ gìn hòa bình, an ninh đất nước…

– Đồ dùng trực quan quy ước: lược đồ, sơ đồ, đồ thị, niên biểu. Trong đó, lược đồ giúp học sinh xác định địa điểm các sự kiện trong thời gian không gian nhất định, giúp các em hiểu rõ các sự kiện, hiện tượng lịch sử; Niên biểu hệ thống lại các sự kiện quan trọng theo trình tự thời gian; Sơ đồ, đồ thị hệ thống lại kiến thức cơ bản, nêu mối quan hệ giữa các sự kiện…

Ví dụ: Khi dạy về Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 (bài 14, sử 7):

– Giáo viên trình bày: Biết giặc sẽ rút về nước theo 2 đường thủy, bộ: quân bộ theo đường Lạng Sơn, quân thủy theo đường Sông Bạch Đằng. Vậy Trần Hưng Đạo có kế hoạch gì?

– Học sinh dựa vào sách giáo khoa trả lời: Nhận thấy thời cơ tiêu diệt quân Nguyên, giải phóng đất nước đã tới vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã quyết định mở cuộc phản công và bố trí trận địa mai phục ở sông Bạch Đằng.

– Giáo viên hỏi: Vì sao Trần Hưng Đạo đã chọn và mai phục ở sông Bạch Đằng?

– Học sinh trả lời: Sông Bạch Đằng có địa thế hiểm trở; Mực nước lên xuống cao rõ rệt; Tại đây, Ngô Quyền đã lãnh đạo quân dân ta chiến thắng quân Nam Hán năm 938.

– Giáo viên dựa vào lược đồ giới thiệu về sông Bạch Đằng, địa điểm bố trí trận địa phục kích, vị trí bãi cọc, trên bãi cọc có phủ cỏ để ngụy trang… và tường thuật diễn biến trận đánh trên sông Bạch Đằng hoặc yêu cầu học sinh khá- giỏi (có chuẩn bị trước) dựa vào lược đồ trình bày diễn biến trận Bạch Đằng tháng 4. 1288.

– Học sinh nêu kết quả và ý nghĩa của chiến thắng Bạch Đằng? (Kết quả: cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân Nguyên kết thúc thắng lợi vẻ vang; Ý nghĩa: chiến thắng Bạch Đằng là dấu son tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược lần thứ ba, tô thêm truyền thống đấu tranh mưu trí dũng cảm trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.)

Như vậy, giáo viên có thể sử dụng các đồ dùng trực quan hiện có trong sách giáo khoa, trong thư viện của nhà trường hoặc các loại đồ dùng do giáo viên và học sinh tự làm, tự sưu tầm được, kết hợp với lời giảng sinh động của giáo viên để giờ học hấp dẫn hơn, học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn đồng thời rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh, giúp học sinh nâng cao trình độ tư duy, khả năng thực hành, tránh “dạy chay”, “học vẹt”, biết sự kiện mà không hiểu lịch sử.

Ví dụ: Khi dạy bài 27 (sử 9) mục II.3. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, giáo viên có thể tích hợp với kiến thức môn địa lý, văn học, âm nhạc để dạy như:

+ Giáo viên kết hợp kiến thức địa lý để giới thiệu cho học sinh ví trí địa lý, địa hình, đặc điểm của vùng Tây Bắc nước ta, mô tả cho học sinh biết vị trí chiến lược quan trọng của tập đoàn cử điểm Điện Biên Phủ: Pháp- Mĩ xây dựng mạnh nhất Đông Dương, chúng cho rằng đây là “Pháo đài bất khả xâm phạm”…

+ Sau khi trình bày diễn biến, giáo viên tích hợp kiến thức văn học: yêu cầu học sinh nhắc lại bài thơ “Một chiều hè lịch sử” đã học thuộc lòng ở tiểu học, qua bài thơ học sinh sẽ nhớ sâu hơn thời gian, sự kiện chiến thắng vang dội của dân tộc ta ở Điện Biên Phủ, bài thơ như sau:

Cờ quyết chiến quyết thắng

Chiều mồng bảy tháng năm

+ Khi dạy đến đoạn kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, giáo viên cho học sinh nghe bài hát: Giải phóng Điện Biên của nhạc sĩ Đỗ Nhuận để học sinh hòa vào niềm vui chung của dân tộc, cảm nhận được niềm vui sướng, niềm tự hào của nhân dân ta khi chào đón bộ đội chiến thắng trở về “Giải phóng Điện Biên bộ đội ta tiến quân trở về giữa mùa hoa nở miền Tây Bắc tưng bừng vui…”

Tương tự như vậy giáo viên có thể vận dụng các kiến thức liên môn để dạy rất nhiều bài học lịch sử để giúp học sinh hiểu sâu hơn các sự kiện đang học, qua đó giáo dục tình cảm, đạo đức cho học sinh, giúp học sinh hứng thú hơn, học tập tích cực hơn như:

– Khi dạy bài 24 (sử 8), mục 1. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, giáo viên sử dụng bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu để khắc họa bức tranh loạn lạc của nhân dân ta do chiến tranh và sự hèn nhác của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn lúc đó…

– Khi dạy bài 2 (sử 6): Cách tính thời gian trong lịch sử giáo viên và học sinh sưu tầm, tìm hiểu về kiến thức địa lý để giải thích các hiện tượng tự nhiên, sự mọc, lặn, di chuyển của Mặt Trời, Mặt Trăng và làm ra lịch của người xưa. Đồng thời sử dụng kiến thức toán học để tính khoảng cách thời gian (theo thế kỉ và theo năm) của các sự kiện lịch sử đã xảy ra trước đây so với năm nay…

Giáo viên có thể vận dụng bản đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học bài mở đầu (giới thiệu cả chương trình lịch sử sẽ học); có thể vận dụng bản đồ tư duy vào dạy kiến thức mới (từng bài, từng mục); dùng trong tiết ôn tập (Hệ thống kiến thức cả chương); Hoặc có thể sử dụng bản đồ tư duy để củng cố, hệ thống hóa kiến thức, kiểm tra kiến thức cũ… Có thể vẽ bản đồ tư duy trong vở, trên bảng phụ, trên giấy khổ lớn, trên phần mềm powerpoin… Giáo viên hướng dẫn học sinh dùng từ khóa và ý chính; viết cụn từ ngắn gọn, dùng màu sắc, hình ảnh, số, mũi tên… để thể hiện. Không nên ghi dài dòng, không để mất quá nhiều thời gian vào việc vẽ bản đồ tư duy…

Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ tư duy trong dạy – học lịch sử từng bước như sau:

+ Cho học sinh quan sát, làm quen với một số bản đồ tư duy do giáo viên chuẩn bị đầy đủ, hoặc còn thiếu một số từ, một số nhánh yêu cầu học sinh điền vào theo gợi ý của giáo viên.

+ Cho học sinh tập đọc nội dung và tự vẽ bản đồ tư duy sau mỗi bài học.

Lịch sử với vô vàng các sự kiện, có nhiều sự kiện thường gắn liền với các nhân vật lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng và giữ nước. Kết hợp phương pháp kể chuyện lịch sử trong dạy học giúp học sinh nắm chắc kiến thức lịch sử đã và đang học trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông, các em hình dung được chân dung, tính cách của các nhân vật lịch sử, những con người rất đời thường, gần gũi, bình dị mà có những hành động, suy nghĩ, việc làm, phẩm chất cao cả, phi thường. Qua các câu chuyện lịch sử, với lời kể hấp dẫn, lôi cuốn của giáo viên, với những chi tiết li kì, hấp dẫn học sinh rất dể hiểu, dể nhớ kiến thức lịch sử, sẽ tạo nên một bức tranh giàu màu sắc, kích thích sự say mê, thích thú của học sinh trong học tập lịch sử, qua đó giáo dục lòng yêu nước, ý thức cống hiến, tinh thần hăng say học tập, lao động sáng tạo, hết lòng vì dân, vì nước để học sinh noi gương, học tập.

Có rất nhiều câu chuyện lịch sử hấp dẫn để kể cho học sinh như: Yết Kiêu dùi đắm thuyền giặc, Trần Quốc Toản – Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Ngô Quyền – Bãi cọc Bạch Đằng, Đinh Bộ Lĩnh – Cờ lau tập trận, Lý Công Uẩn – Thăng Long… Giáo viên có thể chọn lựa các mẫu chuyện phù hợp với nội dung và thời lượng của bài học nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh kể chuyện nếu các em biết…

Ví dụ: Khi dạy bài Phong trào cách mạng Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất (bài 15, sử 9), mục II. Phong trào dân tộc dân chủ công khai. Sách giáo khoa có nội dung: “Tháng 6.1924, tiếng bom của Phạm Hồng Thái tại Sa Điện (Quảng Châu- Trung Quốc) đã cổ vũ, thúc đẩy phong trào tiến lên, mở màng cho thời đại đấu tranh mới của dân tộc”. Như vậy để giúp học sinh hiểu rõ được vấn đề, nắm được nội dung bài và hứng thú học tập, giáo viên bằng cách kể chuyện lịch sử cuốn hút, kể cho các em nghe câu chuyện như sau:

Tháng 6. 1924 tổ chức Tâm Tâm xã (trí thức Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu) cử Phạm Hồng Thái và Lê Hồng Sơn giết toàn quyền Méc-lanh (tên trùm thực dân) ở Sa Điện (Quảng Châu).

Biết được Méc-lanh lúc bấy giờ đang trên chuyến công du sang Nhật để điều đình việc trục xuất các nhà cách mạng Việt Nam. Trên đường từ Nhật về Đông Dương Méc-lanh dừng lại thăm khu tô giới của Pháp ở Quảng Châu và định dự tiệc đêm 18.6.1924. Tổ chức Tâm tâm xã muốn giết viên thực dân này để gây thanh thế. Phạm Hồng Thái, được sự hỗ trợ của Lê Hồng Sơn, đã nhận nhiệm vụ thực hiện sứ mạng này. Sau khi viết bảng cáo trạng tố cáo tội ác của thực dân Pháp đem đến cho nhân dân toàn thế giới, Phạm Hồng Thái giả dạng kí giả vào Khách sạn Victoria tại tô giới Sa Điện ở Quảng Châu để ám sát Méc- lanh. Trong bữa tiệc ông đã quăng một quả lựu đạn được ngụy trang trong một chiếc máy ảnh vào giữa bàn tiệc. Vụ mưu sát không thành, Méc-lanh chỉ bị thương nhẹ và thoát chết, có năm doanh nhân Pháp chết. Phạm Hồng Thái thoát được khỏi khách sạn nhưng bị truy nã nên phải nhảy xuống dòng sông Châu Giang tự tử khi chỉ mới 28 tuổi. Sự kiện này đã làm chấn động thời sự trong vùng…

Học sinh THCS ở độ tuổi thiếu niên (khoản từ 11 đến 15 tuổi), các em rất hiếu động, thích thú khi được vui chơi. Nếu giáo viên biết cách tổ chức các trò chơi thì có thể biến một số nội dung thành “học mà chơi, chơi mà học”, làm được điều này sẽ giúp các em yêu lịch sử hơn, hứng thú học tập hơn, có một số cách tổ chức trò chơi trong dạy học lịch sử như sau:

Ví dụ: Khi dạy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước (Bài 30, sử 8), giáo viên có thể phân công cho một nhóm học sinh đóng vai câu chuyện “Hai bàn tay”: một bạn đóng vai Nguyễn Tất Thành, một bạn đóng vai anh Lê, một bạn dẫn chuyện. Với những nhân vật, những lời thoại sôi nổi, lời dẫn chuyện truyền cảm, sâu lắng giúp học sinh dể dàng hình dung ra được Người thanh niên yêu nước ấy dù khó khăn, gian khổ vẫn quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước…

Khi dạy bài 14 (sử 7), mục IV. Nguyên nhân thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông- Nguyên: giáo viên cho học sinh tìm hiểu nhiều nguyên nhân đồng thời liên hệ cho các em thấy được bên cạnh vua Trần Nhân Tông, các tướng giỏi như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư… còn có những người dân yêu nước, đánh giặc giỏi như Yết Kiêu. Giáo viên cho học sinh đóng vai truyện “Yết Kiêu dùi đắm thuyền giặc”: một em đóng Yết Kiêu, một em đóng vua Trần, vài em đóng giặc Nguyên Mông và một em dẫn chuyện… Qua đó giúp học sinh thấy được tinh thần yêu nước nồng nàng, ý chí kiên cường, bất khuất của các tầng lớp nhân dân ta trong chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc…

Với việc tổ chức các trò chơi như trên sẽ giúp học sinh hứng thú học tập, góp phần rèn luyện các kĩ năng cho học sinh. Sau mỗi lần tổ chức trò chơi, giáo viên để các em tự nhận xét, đánh giá và động viên, khích lệ các em bằng những tràng pháo tay, bằng những lời tuyên dương hoặc bằng hiện vật có giá trị tinh thần… Tuy nhiên cần chú ý đến mục tiêu, thời gian, nội dung, không sa đà, mất quá nhiều thời gian…

Công nghệ thông tin là các phương pháp, phương tiện, công cụ kĩ thuật hiện đại như máy vi tính, máy chiếu, viễn thông, mạng Internet, các phần mềm như powerpoint, Violet, LectureMaker… hỗ trợ việc dạy và học của giáo viên và học sinh.

Hiện nay tại trường THCS Trần Hưng Đạo và các trường trong huyện nhiều giáo viên đã ứng dụng tốt công nghệ thông tin vào soạn- giảng, nâng cao hiệu quả dạy học. Đa số học sinh rất thích được học những tiết dạy tại phòng máy chiếu. Tuy nhiên cần khắc phục một số hiện tượng như: Giáo viên trình chiếu quá nhanh- học sinh theo dõi không kịp nên không thể nắm được kiến thức cơ bản của bài; Sử dụng quá nhiều tranh ảnh, sơ đồ, video… mất nhiều thời gian lại chi phối sự tập trung của học sinh vào bài học; Kết hợp chưa tốt giữa giảng và ghi nên cùng một lúc đưa ra nhiều thông tin, học sinh phải nhìn- chép (lặp lại cách dạy truyền thống đọc- chép trước đây)…

– Tạo không khí vui vẻ trong lớp học: Để giúp học sinh hứng thú học tập giáo viên cần phải tạo không khí thật sự vui vẻ, thỏa mái để học sinh có điều kiện học tập tốt nhất, tiếp thu bài hiệu quả nhất. Giáo viên cần thực hiện linh hoạt các hình thức hoạt động học tập phong phú, đa dạng để học sinh tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học tập.

– Bài giảng truyền cảm, thu hút sự chú ý của học sinh: Môn lịch sử là môn học có tác động lớn đến tư tưởng, tình cảm của học sinh do đó giáo viên phải làm cho giờ dạy có hồn. Điều này phụ thuộc rất lớn vào lời nói, cử chỉ của giáo viên. Lời nói của giáo viên rõ ràng mạch lạc, ngắn gọn, dễ hiểu, trôi chảy, xúc cảm, cuốn hút, cử chỉ thân thiện… có lúc trầm, lúc bỗng, lúc sâu lắng, lúc sôi nổi, lúc giận dữ, có lúc lại hài hước… khơi dậy trong tâm hồn học sinh lòng tự hào dân tộc, sự biết ơn sâu sắc, tình yêu quê hương đất nước, yêu hơn những trang sử hào hùng của dân tộc… tránh giảng bài đều đều, khô khan, vô hồn, vô cảm gây sự nhàm chán cho học sinh.

– Quan tâm đến học sinh: Giáo viên tìm hiểu, quan tâm đến học sinh trong lớp, nắm được tâm sinh lý lứa tuổi học sinh để có sự ứng xử cho phù hợp, biết lắng nghe và thấu hiểu các em. Giáo viên phải quản lý lớp trong giờ dạy của mình. Biết khen đúng lúc để kích thích sự ham học của các em, tránh gây áp lực cho các em…

– Liên hệ thực tế giáo dục học sinh: Mỗi bài dạy là một nội dung, một sự kiện, một nhân vật lịch sử, cũng có thể là nhiều nội dung, nhiều sự kiện lịch sử, qua các sự kiện lịch sử giáo viên nên liên hệ thực tế để giáo dục học sinh, gắn học đi đôi với hành, giúp học sinh hiểu rõ hơn nội dung bài. Ví dụ như Trần Hưng Đạo đã từng nói “Khoan thư sức dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”, Bác Hồ cũng từng nói “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Ngày nay, Đảng và nhà nước ta kế thừa kinh nghiệm của các bậc tiền bối “Lấy dân làm gốc”, luôn sâu sát với quần chúng nhân dân, thực hiện nhà nước của dân, do dân và vì dân…

– Không ngừng làm mới bản thân: Học sinh ở tuổi mới lớn, tò mò, ham học hỏi… nếu giáo viên lúc nào cũng một phong cách thì rất dể gây nên sự nhàm chán đối với học sinh vì thế người giáo viên phải không ngừng làm mới mình, gây sự ngạc nhiên, sự bất ngờ, hứng thú cho học sinh, giúp học sinh khám phá những điều mới lạ, thú vị… tạo không khí vui vẻ, thân thiện để các em thấy được mỗi ngày đến trường là một ngày vui.

– Kích thích sự tò mò của học sinh: Mỗi bài học lịch sử là một câu chuyện hấp dẫn, nếu không biết khơi gợi sự chú ý của học sinh thì nó như một quyển sách cất kĩ trên giá sách, nếu có người giới thiệu sẽ thu hút được sự chú ý của học sinh nhất là ở cuối bài giảng giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài tiếp theo. Ví dụ: Khi dạy xong bài 9 (sử 7), giáo viên cho học sinh biết sau thời Đinh- Tiền Lê là sự thành lập nhà Lý, Vì sao Lý Công Uẩn được tôn lên làm vua? Vì sao Ông dời đô về Thăng Long (Hà Nội ngày nay)? Hoặc khi dạy xong bài 13 (sử 7), giáo viên yêu cầu học sinh về tìm hiểu bài 14, mục I. Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông Cổ (năm 1258), giáo viên giới thiệu qua: quân Mông Cổ rất mạnh, hiếu chiến, đã xâm lược nhiều nước từ châu Á đến châu Âu, lần này chúng đến xâm lược nước ta- một nước nhỏ bé ở khu vực Đông Nam Á, nhưng Vì sao quân Mông Cổ mạnh mà vẫn bị quân ta đánh bại?… với cách giới thiệu và nêu câu hỏi có vấn đề như vậy sẽ kích thích sự tò mò của học sinh, về nhà các em sẽ chủ động xem bài để thỏa mãn sự tò mò đó…

– Hướng dẫn cho học sinh tự học: Để giúp học sinh tích cực, chủ động hơn trong học tập, giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh tự học theo kiểu “Thầy thiết kế, trò thi công”, học sinh đào sâu, suy nghĩ tự tìm ra câu trả lời thì các em mới nhớ kĩ, nhớ lâu kiến thức đã học, tránh cách học truyền thụ một chiều, kém hiệu quả như trước đây “Thầy giảng, trò nghe, thầy đọc, trò chép”. Có thể hướng dẫn cho học sinh tự học một số nội dung trên lớp, tự học ở nhà, tự học trên sách, báo, trên Internet, trên các phương tiện thông tin đại chúng… vì môn lịch sử là một môn khoa học xã hội nên nguồn thông tin rất phong phú. Tuy nhiên cần hướng dẫn các em tiếp thu có chọn lọc các thông tin chính xác, khoa học.

– Phối hợp các phương pháp dạy học: Trong quá trình dạy học giáo viên cần phối hợp các phương pháp phù hợp với đặc trưng bộ môn để nâng cao hiệu quả giáo dục. Giáo viên cần nêu các câu hỏi có vấn đề để kích thích sự tích cực, đào sâu suy nghĩ của các em. Tổ chức cho các em làm việc theo nhóm để phát huy hiệu quả học tập. Sử dụng các câu hỏi đa dạng (cả tự luận và trắc nghiệm) phù hợp với các đối tượng học sinh. Giáo viên cần phải linh hoạt kết hợp các kỹ năng: hỏi – đáp, diễn giải, trình bày bảng, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học, nhận xét, phân tích, tổng hợp… trong giờ dạy.

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Một Số Phương Pháp Dạy Học Ngoại Ngữ Trong Lịch Sử trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!