Xem Nhiều 11/2022 #️ Tìm Hiểu Về Gốm Nhật Truyền Thống ( Phần 2) / 2023 # Top 17 Trend | Sansangdethanhcong.com

Xem Nhiều 11/2022 # Tìm Hiểu Về Gốm Nhật Truyền Thống ( Phần 2) / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Về Gốm Nhật Truyền Thống ( Phần 2) / 2023 mới nhất trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bizen được sản xuất ở phía Tây Nhật Bản, gần với Okayama, đây là một trong những phong cách nổi tiếng của gốm sứ Nhật Bản. Chúng ta có thể biết đến một vài sản phẩm Bizen trong nhà như những bình, ly tách và lọ đựng sake hoặc shochu. Dòng gốm này tối màu, có bề mặt gồ ghề, khi các món ăn được để trong đó sẽ tạo cho chúng ta cảm giác ấm áp hơn, nhất là vào mùa thu và mùa đông.

Lịch sử:

Bizen là một trong sáu lò nung cổ xưa ở Nhật Bản, và đã trở thành một trung tâm sản xuất gốm hoạt động trong suốt hơn một nghìn năm. Thời kỳ đầu đồ Bizen nhìn khá khác. Trong suốt thời kỳ Kamakura (1185 -1333) dòng gốm này đã phát triển để có được hình dạng giống như hiện tại của nó, một loại đồ gốm dày, bền và tiện dụng.

Gốm Bizen (Bizen goma). Kỹ thuật:

Vẻ đẹp của Bizen đến từ đất sét, màu sắc dao động từ màu đỏ của đất sét sang mầu nâu đậm. Điều mà nó trở nên độc đáo đó là trong suốt lịch sử, đồ gốm Bizen không tráng men và chưa từng có trang trí. Trong suốt quá trình nung, người thợ gốm khéo léo điều chỉnh nhiệt độ bằng cách lần lượt xen kẽ việc nạp thêm nhiệt lượng rồi lại để cho mát đi. Phương pháp nung này sẽ mang tới cho sản phẩm những thay đổi về màu sắc hoặc là nguyên màu đất sét và được gọi là Higawari – sự thay đổi hay “sự biến đổi của lửa”. Đây là kỹ thuật khó và đã bị thất truyền. Những sản phẩm được sản xuất trong vùng Edo đều có màu đồng nhất và đặc điểm chung được coi trọng của chúng là sự ứng dụng thực tế hơn là yếu tố nghệ thuật. Đến thế kỷ 20, sau suốt thời gian dài một số ít các thợ gốm tài ba đã quyết tâm làm nhiều thử nghiệm cũng như có nhiều sai sót, thì kỹ thuật Higawari đã được phục hồi trở lại.Những người thợ gốm dùng loại gỗ mềm, như gỗ thông để nung gốm và gỗ này sẽ chế xuất ra loại tro mềm, mịn. Loại tro sáng này sẽ bị gió lò hút và bám vào đồ gốm trong quá trình nung và tạo ra một loại men sáng. Trong một số trường hợp, ngẫu nhiên tro bay và dính vào những điểm tối thì sẽ tạo ra những mẫu hình hấp dẫn trên bề mặt. Chúng cho kết quả mô hình giống như những hạt mè, những sản phẩm này được gọi là Bizen goma.

2.Gốm Iga: Lịch sử:

Gốm Iga được sản xuất ở thị trấn Iga, thuộc quận Mie, phía Nam Nagoya. Đây là lò gốm lâu đời nhất với những mẫu vật có niên đại từ sau thời Nara (710-794). Gốm Iga được đánh giá là đỉnh cao trong suốt thời kỳ Momoyama (1573-1600) cùng với sự phát triển nghệ thuật trà wabi của Sen-no Rikyu. Những lò gốm ở Mino của Furuta Oribe cũng bao gồm cả những sản phẩm gốm Iga, điều này giúp cho việc nâng cao hơn nữa giá trị của gốm bản địa trong nghệ thuật trà đạo. Sau này với vai trò đặc biệt là một người nghệ sĩ và là bậc thầy về nghệ thuật trà đạo Kobori Enshu tới thăm Iga và điều đó thể hiện tầm nhìn rộng của ông về đồ gốm Iga.

Tuy nhiên, sau những năm đầu của thể kỷ 17, những nhà cầm quyền địa phương ở Iga đã dung túng và cấu kết cùng với gia tộc Tokugawa (là gia tộc lãnh chúa phong kiến hùng mạnh ở Nhật Bản), chúng đánh thuế rất cao nhằm mục đích ngưng hoạt động của các lò gốm. Cuối thời Edo khi các lò gốm bắt đầu hoạt động trở lại, họ hướng tới việc sản xuất những đồ gốm tiện dụng hơn bằng việc tận dụng ưu thế chịu nhiệt cao của đất sét vùng Iga. Vào cuối thế kỷ 19, là thời kỳ người ta bị thu hút trở lại với vẻ đẹp thô ráp của gốm Iga, đây là nguyên do của việc tái khám phá và phục hồi lại những kỹ thuật chế tác đã bị thất truyền trong suốt thời kỳ Edo. Rất nhiều những nghệ nhân có tay nghề cao đã vô cùng khó khăn để duy trì nghề truyền thống, những sản phẩm gốm Iga ngày nay kết hợp từ sự rung động cùng việc bảo tồn những sự ngẫu nhiên và đồng thời với đó là sự thăng hoa trên sản phẩm gốm, điều này thể hiện sự khao khát mong muốn những sản phẩm Iga ngày nay giống như chúng đã được 500 tuổi vậy.

Kỹ thuật:

Vẻ đẹp hấp dẫn và đáng chú ý của gốm Iga là sự gồ ghề, nặng nề đầy khỏe khoắn. Với nhiều người dòng gốm Iga là hình ảnh thu nhỏ của gốm sứ Nhật Bản. Từ sự kết hợp tuyệt vời giữa bàn tay của những người thợ gốm cùng với đất sét, Iga dường như được sinh ra chứ không phải là được làm ra. Đồ gốm Iga, không có gì là bí ẩn. Bạn có thể nhìn thấy và cảm nhận trên đất sét, những thao tác chuyển động của người thợ gốm được tạo ra vô tình hay ngẫu nhiên trên sản phẩm và được phủ lên bởi lớp men tro trong suốt.

Bên cạnh vẻ đẹp của nó, Iga còn được biết tới là loại gốm được sử dụng hữu ích nhất trong gian bếp của người Nhật.Chất lượng nổi tiếng nhất của gốm Iga – yaki là khả năng chịu nhiệt cao một cách tuyệt vời và không bị nứt vỡ khi thời tiết thay đổi nhiệt độ đột ngột. Chính điều này đã nảy sinh ra ý tưởng dùng đồ gốm làm đồ nấu bếp, chẳng hạn như là dùng làm nồi lẩu, đồ dùng nấu súp và các loại đĩa đựng đồ ăn của lẩu và đồ dùng khác nhau để làm các loại cơm. Độ bền của đồ gốm Iga là nhờ sự thừa hưởng từ đất sét, loại đất này chỉ có ở vùng Iga. Thị trấn này nằm trong khu vực đã từng là lòng hồ Biwa, đây là nơi dồi dào những nguyên liệu hữu cơ tự nhiên đã được hình thành qua gần 4 triệu năm thủy sinh. Khi đất sét được cho vào lò, sự đốt cháy này sẽ tạo thành những chiếc túi khí có hình dáng tự nhiên, điều này giúp cho đất sét vẫn thở và giữ được nhiệt. Những thợ gốm tráng một lớp mỏng men đen cho những loại sản phẩm nồi lẩu Iga hay nồi nấu cơm. Gần đây, trong kỹ thuật nấu ăn của phương Tây cũng đã sử dụng đồ dùng nấu bếp Iga, như chảo rán, gạt tàn, thậm chí là dùng để nấu cả món mỳ sợi tuyệt hảo của Ma-rốc. Iga-mono và Nagatani-en và những sản phảm nồi đất nung cao cấp của gốm Iga.

3. Gốm sứ Imari:

Imari là một trong những phong cách gốm linh hoạt nhất và rất phổ biến trong ẩm thực của người Nhật. Cho dù, đó là đồ gốm xuất khẩu nhiều màu, gốm vùng Arita trắng và xanh hay là Nabeshima thanh lịch. Đồ gốm Imari được sử dùng hàng ngày trong gian bếp của người Nhật. Tên Imari được đặt từ sau khi có những con tàu xuất phát từ bến cảng Imari chuyên chở đồ đồ gốm sứ sang các nước Châu Âu, Imari là tên chung thường sử dụng để gọi cho cả hai là đồ sứ Nhật Bản trong nước và đồ sứ xuất khẩu.

Gốm sứ Imari. Lịch sử:

Hầu hết đồ gốm Imari được sản xuất ở gần thị trấn Arita, vùng Kyushu. Người ta nói rằng, gia tộc Takeo đã mang Risampei – một trong những thợ gốm Triều Tiên tới vùng Kyushu, năm 1616 người thợ gốm này đã tìm ra loại đất sét để làm đồ sứ và bắt đầu chế tác ra sản phẩm gốm men màu trắng – xanh mang phong cách đồ gốm Triều Tiên (do chịu ảnh hưởng của gốm thời Minh – Trung Hoa). Thời kỳ đầu Imari mang nét đặc trưng của phong cảnh, núi non và những họa tiết đậm chất Trung Hoa như rồng và hoa mẫu đơn có màu xanh coban sáng và sau đó phủ lớp men trắng lên trên, kỹ thuật này được biết đúng cách gọi là sometsuke (nghĩa là “ứng dụng chất màu”). Muộn hơn, những mẫu thiết kế và những phong cách hội họa với các họa tiết trang trí có xu hướng trừu tượng hơn mà chỉ duy nhất Nhật mới có. Thời gian đầu, chỉ có giới quý tộc mới sử dụng đồ Imari vì nó vô cùng đắt; về sau, phương pháp sản xuất được cải tiến cho nên giá cả giảm xuống, chính vì thế mà tầng lớp trung lưu cũng có đủ khả năng để dùng sản phẩm.

(Còn tiếp phần 3) Người dịch: Nguyễn Thị Lan

Tìm Hiểu Gốm Truyền Thống Nhật Bản (Phần 1) / 2023

Hideyoshi là bậc thầy về quân sự, tài ba và dũng cảm, nhưng trong thế giới nghệ thuật trà ông lại chỉ là một học trò. Bậc thầy về Trà đạo, là Sen-no Rikyu, người đã phát minh ra trà wabi, và đặt làm những bát trà wabi sabi, hầu hết chúng được làm với kỹ thuật nhẹ lửa và không tráng men. Những bát này được Chojiro – thợ gốm bậc thầy người Triều Tiên làm ra, những sản phẩm đó cũng là điểm nhấn rực rỡ và trở nên hoàn hảo trên “con đường phát triển của đồ gốm dùng để uống trà” – qua nhiều thế kỷ những sản phẩm gốm đã trở thành một phần trong tâm hồn của trà đạo.

Sen-no Riyku cho rằng con đường của trà nên được phổ biến tới dân chúng. Tầm ảnh hưởng của ông vượt xa trên cả Hideyoshi, uy thế ấy tác động đáng kể tới đời sống thẩm mỹ, những ý tưởng của ông định hình giúp chúng ta nhận biết được nghệ thuật Nhật Bản ngày nay – bởi sự phổ biến và nét rất văn hóa của nó.

Trong không khí của sự sáng tạo, đổi mới và phát triển mạnh mẽ. Người thợ gốm và bậc thầy của trà là Furuta Oribe đã có phát minh táo bạo bằng việc vẽ tự do các loại hình với nhiều họa tiết màu nâu và tráng lớp men xanh mờ, việc làm này đặt nền móng hình thành nên phong cách Oribe và vẫn tiếp tục phổ biến cho tới ngày nay. Đây là thời kỳ đánh dấu sự quay trở lại của dòng gốm Nhật Bản, ở thời kỳ này gốm bản địa được ưa chuộng hơn sản phẩm gốm nhập khẩu.

Cuối thế kỷ 17, đánh dấu sự phục hưng của thẩm mỹ Nhật Bản và là sự nở rộ về nghệ thuật, Ogata Kenzan, người thợ gốm được sùng kính nhất trong lịch sử Nhật Bản, xưởng gốm của ông được bắt đầu hình thành ở Narutakivà mở rộng ra Kyoto. Ông sớm chuyển xưởng gốm của mình tới vùng trung tâm của Kyoto, và trở nên thịnh vượng ở nơi đây. Ông là em trai của nghệ sĩ Rimpa nổi tiếng Ogata Korin, từ gốm sứ nhập khẩu cổ điển ông đã tạo ra phiên bản gốm Nhật bằng việc ông tự do vẽ thêm lên đó những họa tiết trang trí và những kiểu dáng được phỏng theo từ các bức tranh, những cái quạt và đồ sơn mài. Lấy cảm hứng từ những bức tranh của anh trai (trên thực tế, Korin thường thiết kế những bát trà cho em trai của ông) và trong mỗi một sản phẩm gốm là sự hoàn thiện của một bức tranh, tuy thế nó sẽ trở nên sống động hơn nữa khi đồ ăn được bày biện một cách khéo léo trên đó.

Kế tiếp tới thời Minh Trị (1868 – 1918) cùng với việc mở cửa giao thương với phương Tây, gốm sứ Nhật Bản khi đó được làm bằng tay, thô xơ, không hoàn hảo và bị yếu thế trong một thế giới đã trở nên hiện đại hơn. Một vài gia đình Nhật đã theo phong cách của phương Tây, họ ưa thích những loại bàn ghế trong các bữa ăn truyền thống. Đi kèm với phong cách phương Tây là những loại gốm sứ như gốm Trung Hoa và thời gian đầu chúng được nhập khẩu vào Nhật.

Trong khi đó trên khắp Nhật Bản các thợ gốm chuyên sản xuất các loại đĩa gia dụng hàng ngày đã trở nên khó kiếm sống bằng nghề của họ, có rất nhiều người đã từ bỏ công việc này và chuyển sang chăn nuôi hoặc làm nghề khác. Nghề gốm truyền thống phong phú của Nhật có nguy cơ biến mất.

Vào những năm 1920, chịu ảnh hưởng bởi phòng trào nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ của Anh qua các tác phẩm của William Morris, Yanagi Soetsumột nhà sưu tập đồ gốm dân gian và nghệ thuật đã cố gắng để đảo ngược xu hướng khi đó. Ông cùng những thợ gốm Kawai Kanjiro, Hamada Shoji đã hình thành phong trào Mingei (thuật ngữ này do Soetsu phát minh ra) nó có nghĩa là “nghệ thuật của nhân dân”. Cho đến ngày nay cuốn sách “Nghệ nhân vô danh” – The Unknown Craftsman của ông vẫn là một tác phẩm kinh điển, ở đó ghi lại những kỷ niệm khiêm tốn, nghề làm gốm dân gian vô danh cùng những tư tưởng lớn.

Đưa các sản phẩm vào lò nung

Vào thời kỳ Đại chính (1912-1926) – dưới sự trị vì của Nhật hoàng Taisho, với sự trùng hợp một cách hoàn hảo giữa sự quan tâm trở lại của người Nhật về nghệ thuật gốm và nhờ có phong trào Mingei, gốm truyền thống Nhật Bản một lần nữa được phục hồi và được giới tri thức đánh giá cao trong dòng gốm dân gian.

Nhật Bản ngày nay đã có một ngành công nghiệp gốm sứ vững mạnh. Việc kiếm sống được nhờ nghề gốm không chỉ có những người thợ gốm của những dòng họ danh tiếng; mà còn cả những người thợ gốm trẻ họ tách ra làm việc độc lập, họ tự điều hành phát triển bằng tài năng và sự sáng tạo của mình.

Bắt đầu những hành trình về gốm sứ Nhật, xin giới thiệu thêm các phong cách của các dòng gốm ở Nhật, trong đó là việc giới thiệu ngắn gọn về lịch sử của chúng, bao gồm các dòng gốm Bizen, Iga, Raku, Mimpei, …. (còn tiếp phần 2)

Người dịch: Nguyễn Thị Lan (phòng Bảo quản)

Bản gốc: chúng tôi Ảnh: mingei.com

Tìm Hiểu Về Tiền Nhật Bản (Phần 2: Tiền Giấy) / 2023

Bộ Tài chính đã ban hành cả tiền giấy yên lẫn sên (hiện giờ đã không còn tồn tại) vào thị trường vào năm 1869, nhưng những đồng yên lưu hành hiện nay là phiên bản được tung ra sau Thế chiến II. Giữa những năm 1945 và 1951, những thế lực đồng minh chiếm đóng cùng với nước Úc đã tung ra tờ tiền yên với định giá nhỏ hơn so với Ngân hàng Nhật Bản. Tờ tiền như đang lưu thông hiện hành được biết là Phiên bản D, được đưa vào lưu thông từ năm 2004, tương đương năm Heisei 16 Nhật Bản.

Tờ 1000 yên

Điểm nổi bật nhất của tờ tiền xanh này là người đàn ông bảnh bao với mái tóc bồng bềnh, Hideyo Noguchi. Được biết tới là một nhà vật lý học và vi khuẩn học, Noguchi đã tới Mỹ vào năm 1900, và lịch sử về ông từ đấy chỉ có thể miêu tả gói gọn trong từ “huy hoàng”. Ông đã tìm ra rằng vi sinh vật chính là nguyên nhân gây ra bệnh giang mai, nhưng sau đó có khá nhiều bằng chứng cho thấy để tìm ra điều này ông đã làm những thí nghiệm trên người. (Đây là chuyên khá phổ biến thời bấy giờ.). Dù đã thất bại sau nhiều lần lọt vào đề củ cho giải Nobel, Noguchi đã chuyển sang nghiên cứu vắc-xin cho căn bệnh sốt vàng tại Trung Mỹ. Tuy ông đã thất bại trong việc này nhưng lại tình cờ tìm ra vắc-xin cho bệnh trùng xoắn móc câu leptospitosis. Sau khi rời Trung Mỹ, chúng ta có thể tưởng tượng đó là là một khoảng đen trong trí óc ông, ông lại nỗ lực một lần nữa để tìm ra vắc-xin sốt vàng, lần này thì ông đã tới Ghana. Ông trở thành một người khá lập dị khi chỉ thực hiện những thí nghiệm của mình vào ban đêm để tránh không phải gặp những nhà nghiên cứu khác vào ban ngày. Tuy nhiên không may là việc thí nghiệm cũng dẫn tới một kết cục có thể đoán trước, ông đã bị nhiễm chính căn bệnh sốt vàng này và qua đời tại Lagos.

Mặt sau của tờ 1000 yên có vẻ bình lặng hơn: góc nhìn núi Phú Sĩ từ hồ Mototsu tại tỉnh Yamanashi, được vẽ dựa trên một bức ảnh của nghệ sĩ Nhật đầu thế kỉ 20 là Koyo Okada.

Tờ 2000 yên

Nói nhanh một chút về đồng tiền khá mới được lưu hành trên thị trường này, đồng 2000 yên lần đầu được ban hành vào năm 2000 để kỉ niệm Hội nghĩ thượng đỉnh G8 lần thứ 26 được tổ chức tại Okinawa. Trẻn tờ tiền là hình ảnh cổng Shureimon, một cánh cổng khổng lồ của thành Shuri tại Naha, Okinawa. Mặt sau là hình ảnh một cảnh trong Câu truyện của Genji, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Nhật Bản và có lẽ là một trong những tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới. Cuốn này phổ biến từ thế kỉ 12 và hầu hết người Nhật nào cũng từng đọc nó.

Tác giả của cuốn tiểu thuyết, cũng được minh họa trên tờ tiền, được biết tới với bút danh Murasaki Shikibu. Bà là một thị nữ người Nhật sống vào khoảng thế kỉ 10 và 11, thời Heian. Murasaki là một phụ nữ khác thường so với những phụ nữ thời ấy – bà đọc và viết được tiếng Trung, cũng như giỏi trong những lĩnh vực khác như 1 phụ nữ truyền thống, ấy là âm nhạc, thư pháp, và thơ ca. Murasaki cũng là người góp phần vào công cuộc phát triển ngôn ngữ viết trong tiếng Nhật, mặc dù vậy không ai thật sự biết rõ bà là ai.

Tờ 5000 yên

Mặt sau của tờ tiền màu tím xinh đẹp này là hình ảnh những bông hoa diên vỹ Nhật lấy từ kakitsubata-zu của Ogata Korin – Bức bình phong Hoa diên vỹ, một trong những di sản văn hóa nghệ thuật quốc gia có giá trị nhất của Nhật. Trên bức bình phong byoubu của Korin, vẽ lên những bông hoa diên vỹ tím vươn lên khỏi mặt nước dựa trên bài thơ tanka trong tập thơ Câu chuyện của Ise, và được cho là bức vẽ truyền nhiều cảm hứng cho Vincent Van Gogh.

Tờ 10,000 yên

Nếu bạn có một tờ tiền này, thì xin chúc mừng, nó không đơn giản chỉ là có thể mua được cho bạn và người thân yêu được một bữa tối ngon lành đâu, mà bạn đang nắm trong tay bức chân dung của một trong những nhà sáng lập ra nước Nhật hiện đại, Yukichi Fukuzawa. Fukuzawa là một tác gia, nhà văn, thầy giáo, người phiên dịch, nhà báo, nhà vận động quyền công dân và nhà ngoại giao. Lịch sử chỉ im lặng mỗi khi người đàn ông này cần thời gian để ngủ mà thôi. Fukuzawa bắt đầu con đường học thuật của mình với tiếng Hà Lan, rồi ông cũng đã lập nên một ngôi trường dạy ngôn ngữ này tại Edo (Tokyo hiện nay) vào năm 1858. Nhưng rồi tiếng Hà Lan dần bị thất sủng trong những thứ ngôn ngữ giao thương tại Nhật Bản. Sau chuyến cập bến của Con tàu Đen của Matthew C. Perry vào giữa những năm 1800, ông đã nhận ra rằng những nhà buôn châu Âu đã hầu hết chuyển qua sử dụng tiếng Anh. Và ông đã tự học tiếng Anh mà gần như không có sự trợ giúp bên ngoài nào. Ông nhận nhiện vụ ngoại giao đầu tiên dưới thời Shogun Tokugawa là chuyến công du tới Mỹ, xuất bản cuốn từ điển Anh – Nhật đầu tiên năm 1860 và là một trong những người đầu tiên lập nên Đại sự quán Nhật tại châu Âu. Khi trở lại, ông đã xuất bản 10 phần của cuốn sách “Những điều của Phương Tây” vào giữa năm 1867-1870, trở thành một nhà chwusc trách lỗi lạc nhất về Tây Phương thời bấy giờ. Năm 1890, ngôi trường tiếng Hà Lan mà ông lập nên tại Tokyo bắt đầu mở lớp tuyển sinh hệ đại học, chính là Đại học Keio bây giờ. Để tương xứng với những điều này, mặt sau của tờ tiền là biểu tượng Phượng hoàng, đại diện cho sự đức hạnh và thanh nhã.

100 yên500 yên1000 yên5000 yên

0.8 cái cơm nắm0.73 cốc đồ uống không cồn

4 cái cơm nắm3.6 cốc đồ uống không cồn

8 cái cơm nắm7.3 cốc đồ uống không cồn

40 cái cơm nắm36.5 cốc đồ uống không cồn

100 yên2 phút gọi điện thoại trả trước. 500 yên1 chai bia hoặc 1 bao thuốc lá, hoặc 2 onigiri và 1 lon soda 330mL 1000 yên1 combo đồ ăn nhanh hoặc mua vé tàu địa phương. 5000 yênMột bữa ăn cho 2 người tại một nhà hàng tầm trung, hoặc 2 vé xem phim nước ngoài cộng thêm 2 combo đồ ăn nhanh 10000 yên Một bữa ăn cho 2 người tại một nhà hàng tầm trung, và 2 vé phim nước ngoài, 2 ly cà phê, 1L sữa và 1 ổ bánh mỳ.

Theo Japan Cheapo

Tìm Hiểu Gốm Sứ Cổ Nhật Bản Và Các Dòng Gốm Phổ Biến / 2023

Đồ gốm sứ là một trong những hình thức thủ mỹ nghệ lâu đời của Nhật Bản. Gốm sứ cổ Nhật Bản có lịch sử lâu đời nhất trên thế giới gần 10.000 năm trước công nguyên. Một trong những lý do khiến gốm sứ Nhật Bản phát triển là vì nghệ thuật uống trà đòi hỏi sự trang trọng trong việc sử dụng bình trà và ly cốc

Từ thế kỷ thứ 4, gốm sứ cổ Nhật Bản du nhập phong cách từ Trung Quốc và Hàn Quốc sau đó chuyển thể thành nét riêng của Nhật Bản. Bước sang thế kỷ 17, Nhật Bản bắt đầu công nghiệp hóa ngành gốm và xuất khẩu sang thế giới

Hai thái cực của gốm sứ cổ Nhật Bản

Đồ gốm Nhật Bản được phần thành 2 trường phái thẩm mỹ khác nhau

– Trường phái đơn giản: sản phẩm chủ yếu làm bằng đất nung, màu sắc đơn giản gần giống với màu của đất. Chủ yếu xuất phát từ thời kỳ đầu

– Trường phái nhiều màu sắc sang trọng: sản phẩm chủ yếu làm bằng sứ với trang trí phức tạp phát triển theo phong cách Trung Quốc nhưng vẫn mang màu sắc riêng của Nhật Bản

Các thời kỳ gốm sứ cổ Nhật Bản

Thời kỳ Jomon

Xuất hiện trong thời đại Jomon, đây là thời đầu của gốm Nhật từ thế kỷ 11 TCN. Sản phẩm chủ yếu được hình thành từ đất sét nung trong ngọn lửa mờ

Hình ảnh gốm sứ Jomon

Thời kỳ Yayoi

Xuất hiện từ thế kỷ thứ 4-3 TCN, sản phẩm cũng được làm từ đất nung tuy nhiên có hoa văn và độ tinh xảo cao hơn

Gốm thời Yayoi

Nhật bản phát triển kỹ thuật men chì tráng lên lớp gốm giúp cho sản phẩm trở nên tinh tế hơn và đẹp hơn. Dòng sản phẩm này xuất hiện từ năm 800-1200 sau CN

Hình ảnh gốm Sue

Thời kỳ Kamakura và Muromachi

Hai thời kỳ này kéo dài từ năm 1192 đến 1573, người Nhật viếng thăm Trung Quốc và học được những bí mật làm gốm, sau đó họ quay trợ lại Nhật và phát triển hàng trăm lò gốm tại Seto

Các sản phẩm được sử dụng vào mục đích phục vụ nghi lễ hoặc dùng trong trà đạo. Về hoa văn trang trí giai đoạn này chủ yếu theo trường phái đơn giản mộc mạc

Gốm thời kỳ Kamakura

Thời kỳ Azuchi-Momoyama

Thời kỳ này kéo dài không lâu chỉ từ 1573 đến 1600, các loại men ngọc dần dần được phát triển với màu chủ đạo là màu nâu sẫm, xanh lá cây và cam đỏ.

Các sản phẩm thời kỳ này được giới thượng lưu dùng trong trà đạo rất nhiều

Gốm thời kỳ Azuchi-Momoyama

Gốm sứ thời kỳ này được du nhập từ Hàn Quốc, Thời kỳ này phong cách trang trí có thể nhận ra đó là: đỏ, xanh lục nhạt, xanh dương nhạt, vàng hoặc đôi khi mạ vàng

Về hình dạng có thể thể thấy giai đoạn này thương xuyên xuất hiện hình bát giác hoặc hình vuông

Giai đoạn này người Nhật xuất khẩu phẩm của mình sang Châu Âu rất nhiều bởi tính thẩm mỹ được ưa chuộng tại thị trường này

Gốm sứ thời kỳ Edo

Giai đoạn từ thế kỷ 19 đến này

Kể từ giai đoạn này gốm sứ cổ Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn phát triển hiện đại mang lại giá trị xuất khẩu lớn cho Nhật Bản. Điển hình của gồm gốm giai đoạn này là Satsuma

Dòng gốm Satsuma với lớp men đa sắc tố phủ vàng mang lại thị hiếu cho người phương Tây vì vậy mà rất được ưa chuộng

Gốm sứ Nhật Bản thời nay

Gốm sứ cổ Nhật Bản có xuất phát từ rất xa xưa, thuở ban đầu người Nhật dùng đất sét để nung ra sản phẩm phẩm rất thô sơ. Về sau nhờ sự du nhập các phương pháp sản xuất men của Trung Quốc và Hàn Quốc, ngành gốm của Nhật Bản bắt đầu phát triển rầm rộ

Tuy du nhập từ nước ngoài nhưng sản phẩm lại mang họa tiết riêng của Nhật vì vậy mà rất được ưa chuông trên toàn thế giới

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Về Gốm Nhật Truyền Thống ( Phần 2) / 2023 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!