Top #10 ❤️ Ca Dao Tục Ngữ Về Phương Pháp Luận Siêu Hình Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

Thủ Thuật Kiểm Tra Sai Lệch Dữ Liệu Trong Bảng Dữ Liệu Lớn Của Excel

Di Truyền Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen

So Sánh Thì Hiện Tại Đơn Và Thì Hiện Tại Tiếp Diễn

So Sánh Mô Hình Quản Lý Công Mới (Hành Chính Phát Triển) Với Mô Hình Hành Chính Truyền Thống

So Sánh Hộ Chiếu Và Visa

2. Ca dao và dân ca:

– Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

dân ca không rõ.

Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

“Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

Hay:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

B. Thời kỳ xuất hiện:

So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

1. Nội dung của tục ngữ:

Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

VD:

Quá mù ra mưa

Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

Cái sảy nảy cái ung

Cõng rắn cắn gà nhà

2. Hình thức của tục ngữ:

Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

Làm phúc phải tội

Gà què ăn quẩn cối xay

Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

No nên bụt, đói nên ma

Bút sa, gà chết

Có tật giật mình

Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

May tay hơn hay thuốc

Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

Hoặc thể lục bát

Cá tươi thì xem lấy mang

Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

3. Nội dung của ca dao:

Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

Tuyệt mù khói toả ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

Đôi ta như lửa mới nhen

Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

Mặt nạc đóm dày

Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

Trên trời có đám mây vàng

Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

vd:

Tôi lấy chân khoả lại

Tôi lấy bàn khoả lại

hay:

Thấy những lời kêu trách

Nghe những lời kêu trách

Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

VD:

Trai:

Tiết thanh nhàn thong thả

Muốn thăm hỏi vài câu

Cuốc thánh thót kêu sầu

Gió phảng phất mùa sâu

Nhớ trong sách đã lâu:

Chuyện “Tư mã phượng cầu”

Thương thì mũi tìm trâu

Trâu đâu tìm chạc mũi

Gái:

Trời mở rộng phong quang

Giã ơn trời mở rộng phong quang

Em đánh tiếng đua sang

Đêm tàn canh vò võ

Tay em cầm con bấc đỏ

Mong bỏ đĩa dầu đầy

Mời bạn ở lại đây

Đôi ta giở lời rày

Tình đó với nghĩa đây

Trai:

Giống như đọi nác đầy

Bưng nhẩn nhẩn trên tay

Không khuy sơ một hột

Gió nỏ triềng một hột

Công đôi ta thề thốt

Kể đã mấy niên rồi

Lòng đã quyết lứa đôi

Ngãi đã quyết thề bồi

Nhất ngôn nói hẳn lời

Đừng bốn chốn ba nơi

Đừng trăn gió chào mời

Trăng nhiều trăng rạng rỡ

Trăn nhiều đèn rạng rỡ

Gái:

Em đã có chồng rồi

Em đã có lứa rồi

Vung úp đã vừa nồi

Đũa ghép đã thành đôi

Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

Tôi lấy chân khoả lại

Tôi lấy bàn khoả lại

Trai:

Têm một quả trầu không

Bỏ vô hộp con rồng

Đi băng nội băng đồng

Qua năm bảy khúc sông

Qua chín mười đỗi đồng

Nghe tin em đã có chồng

Anh quăng lắc vô bụi

Bạn gạt tùa vô bụi.

Anh thương em một tháng hai kỳ

Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

Năm rộn mà chầy

Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

Xuân qua rồi hè /đến

Thu đã muộn, đông rồi

Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

Sang lập xuân vũ thuỷ

Đêm em nằm em nghĩ

Nghĩ kinh trập, xuân phân,

Lòng tưởng sự ái ân

Sang thanh minh, cốc vũ

Đêm dêm nằm nỏ ngủ

Nhớ bạn mãi thường thường

Tiết lập hạ nhớ thương

Bước sang tuần tiểu mãn

Trông ra ngoài chán chán

Tiết mang hiện lại gần

Người đập đất, gánh phân

Để mùa màng gặt hái

Anh thương em mãi mãi

Sang hạ chí tiết hè

Em nghe tiếng sầu ve

Em buồn trong gia sự

Bạn buồn trong gia sự

***

Tiết tiểu thử, đại thử

Trời nắng sốt lắm thay!

Ra ngồi tựa cột cây

Anh với em than thở

Bạn với mình than thở

***

Tiết lập thu, xử thử

Ai diều sáo mặc ai

Vàng lác đác giếng tây

Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

Nhớ mãi người bạn cộ

***

Vừa đến tiết bạch lộ

Bầy chim trắng bay sang

Cây heo hắt lá vàng

Sang thu phân hàn lộ.

***

Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

Tiết sương giáng lại kề

Trông bạn cũ ta về

Sang lập đông giá rét

Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

Trời giá rét lắm thay

Sang đông chí cấy cày

Dạ bồi hồi nhớ bạn

Tiết tiểu hàn chưa dạn

Đã bước sang đại hàn

Dạ tưởng nhớ người ngoan

Vừa năm cùng tháng tận

Vừa cuối mùa cuối tận.

***

Phận lại ngồi trách phận

Phận nỏ giám trách phận

Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

Hát dạo

Bấy lâu thức nhắp mơ màng

Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

*

Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

Nghe tin anh cũng vội mừng

Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

*

Bấy lâu anh mức chi nhà

Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

*

Đồn rằng cá uốn thân vây

Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

*

Chốn này vui vẻ, tưng bừng

Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

*

Đêm khuya trời tạnh sương im

Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

*

Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

Hình như có khách viễn phương tới nhà

*

Đi qua nghe tiếng em reo,

Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

*

Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

*

Đi ngang thấy búp hoa đa`o

Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

*

Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

*

Lạ lùng anh mới tới đây,

Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

*

Đến đây vàng cũng như son

Ai ai thời cũng như con một nhà

Khi nháy mắt, khi nhện sa

Khi chuột rích trong nhà

Khi khách kêu ngoài ngõ

Tay em đưa go đủng đỉnh

Tay em chìa khoá động đào

Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

*

Mừng rằng bạn đến chơi nhà

Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

Hát hỏi

Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

*

Em chưa có chồng, em mới đến đây

Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

Em về đục núi lòn qua,

Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

*

Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

Hai ta tình nặng nghĩa dày,

Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

*

– Đến đây hỏi khác tương phùng

Chim chi một cánh bay cùng nước non?

-Tương phùng nhắn với tương tri,

Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

*

– Lá gì không nhánh, không ngành?

Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

– Lá thư không nhánh, không ngành,

Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

*

– Nghe tin anh hoc có tài

Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

– Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

*

– Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

– Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

*

Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

– Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

*

Nhớ em nhất nhật một ngày

Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

– Chờ em nửa tháng ni rồi

Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

*

– Nghe tin anh giỏi, anh tài

Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

– Thiên thai là của nàng Kiều

Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

Lê Thị Thu Hoài @ 12:57 03/03/2012

Số lượt xem: 20816

Phân Biệt Tục Ngữ, Thành Ngữ Và Ca Dao

Áo Dài Việt Nam Và Áo Dài Sườn Xám Khác Nhau Như Thế Nào?

Nêu Những Điểm Chung Và Riêng Của Cách Mạng Tư Sản Anh Thế Kỉ Xvii, Chiến Tranh Giành Độc Lập Của Các Thuộc Địa Anh Ở Bắc Mĩ Và Cách Mạng Tư Sản Pháp Cuối Thế Kỉ Xviii (Có Thể Lập Bảng So Sánh, Hệ Thống Kiến Thức…)

Biến Toàn Cục Và Biến Cục Bộ Trong C#

Biến Cục Bộ Và Biến Toàn Cục

Phân Biệt Tục Ngữ, Thành Ngữ Và Ca Dao

Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

Thủ Thuật Kiểm Tra Sai Lệch Dữ Liệu Trong Bảng Dữ Liệu Lớn Của Excel

Di Truyền Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen

So Sánh Thì Hiện Tại Đơn Và Thì Hiện Tại Tiếp Diễn

So Sánh Mô Hình Quản Lý Công Mới (Hành Chính Phát Triển) Với Mô Hình Hành Chính Truyền Thống

Về hình thức ngữ pháp , mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh. Có thể nói một cách hình ảnh: thành ngữ ngang hàng với từ. Thành ngữ là anh, từ đơn độc là em.

Vì thành ngữ qua thời gian đã được tập hợp thành cụm. VD: “Áo rách, quần manh”,

“Ăn trắng, mặc trơn”, “Ăn trên, ngồi trốc”, “Dốt đặc cán mai”, “Cá bể, chim ngàn” “Bụng đói, cật rét”….đều là thành ngữ. Còn “Chó cắn áo rách”, “Bệnh quỷ thuốc tiên”, “Người chửa, cửa mả”… là tục ngữ.

Hầu hết những câu thành ngữ, tục ngữ đầu do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có những câu rút ra từ các thi phẩm phổ biến, hoặc rút từ ca dao, dân ca ra. Có người nói tục ngữ là ngạn ngữ (nghĩa là lời nói đã lưu hành từ xưa) (Chữ ngạn có nghĩa là lời nói của người xưa).

Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, sản xuất… Nó là những câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫn con người ta trong sự nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời. Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và xã hội, hay dựa theo trí thức để nhận xét về con người và vũ trụ. Trong tục ngữ có cả thành ngữ :

“Chồng yêu, xỏ chân lỗ mũi“, thì ” xỏ chân lỗ mũi ” là thành ngữ.

2. Ca dao và dân ca:

– Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và dân ca không rõ.

Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm. Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương, còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào, thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

“Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

Hay:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga. Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được.

Nội dung của dân ca cũng như nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh. Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca): tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh, tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang “.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca: 1. Nội dung của tục ngữ

Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

VD:

Quá mù ra mưa

Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

Cái sảy nảy cái ung

Cõng rắn cắn gà nhà

… 2. Hình thức của tục ngữ

Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

Làm phúc phải tội

Gà què ăn quẩn cối xay

Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

No nên bụt, đói nên ma

Bút sa, gà chết

Có tật giật mình

Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

May tay hơn hay thuốc

Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

Hoặc thể lục bát

Cá tươi thì xem lấy mang

Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

3. Nội dung của ca dao

Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắm thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

Tuyệt mù khói toả ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

4. Hình thức nghệ thuật của ca dao

Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú. Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao nói:

Đôi ta như lửa mới nhen

Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

Mặt nạc đóm dày

Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn

Ca dao ngoài nghệ thuật cụ thể hoá, còn có nghệ thuật nhân cách hoá, dùng vật vô tri để gán cho những tâm tư, tình cảm con người.

Thuyền ơi có nhớ bến chăng

Bến thời một dạ khăng khăng đợi thuyền

Một số thể cổ điển của ca dao:

Thể phú: Là trình bày, diễn tả…

Đường lên xứ lạng bao xa

Cách một trái núi với ba quãng đồng

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ

Em chớ thấy anh lắm bạn mà ngờ

Bụng anh vẫn phẳng như tờ giấy phong…

Thể tỉ: là so sánh, người ta thường mượn một cái khác để ngụ ý, so sánh, hay gửi gắm tâm sự của mình. Đây là phương pháp nghệ thuật chủ yếu trong sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm. So sánh cũng là một lối cụ thể hoá những cái trừu tượng, làm cho lời thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết. So sánh trực tiếp:

Gối mền, gối chiếu không êm

Gối lụa không mềm bằng gối tay em

Lối tỉ gián tiếp, tức nghệ thuật ẩn dụ, một phương pháp nghệ thuật tế nhị hơn:

Trăm năm đành lỗi hẹn hò

Cây đa, bến cũ, con đò khác đưa

….

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

– Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

– Đan sàng thiếp cũng xin vâng

Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?

……….

Thể hứng: Ca dao còn một phương pháp nghệ thuật độc đáo nữa là cách biểu lộ cảm xúc đối với ngoại cảnh, mở đầu cho sự biểu lộ tâm tình. Hứng là do cảm xúc mà nảy nở tình cảm, có thể là vui, cũng có thể là buồn:

Cơm trắng ăn với chả chim

Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no Trên trời có đám mây vàng

Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

Tags: Văn học, Văn hóa Việt

Áo Dài Việt Nam Và Áo Dài Sườn Xám Khác Nhau Như Thế Nào?

Nêu Những Điểm Chung Và Riêng Của Cách Mạng Tư Sản Anh Thế Kỉ Xvii, Chiến Tranh Giành Độc Lập Của Các Thuộc Địa Anh Ở Bắc Mĩ Và Cách Mạng Tư Sản Pháp Cuối Thế Kỉ Xviii (Có Thể Lập Bảng So Sánh, Hệ Thống Kiến Thức…)

Biến Toàn Cục Và Biến Cục Bộ Trong C#

Biến Cục Bộ Và Biến Toàn Cục

Sự Khác Biệt Giữa Bán Buôn Và Bán Lẻ

Sự Khác Nhau Giữa Ca Dao Và Tục Ngữ, Thành Ngữ 2022

Ca Dao Tục Ngữ Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ

So Sánh Nhãn Hiệu Và Tên Thương Mại

Sự Khác Nhau Giữa Notepad, Wordpad Và Word

Những Điểm Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Các Xã Hội Ở Nông Thôn Và Thành Phố Là Gì?

Sự Khác Biệt Giữa Thành Thị, Ngoại Ô Và Nông Thôn Là Gì?

1. Tục ngữ và Thành ngữ:

– Tục ngữ: Là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm,

một luân lý, có khi là một sự phê phán.

– Thành ngữ: Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều người

đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn

Về hình thức ngữ pháp , mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh.

Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh.

Có thể nói một cách hình ảnh: thành ngữ ngang hàng với từ. Thành ngữ là anh, từ đơn độc là em.

Vì thành ngữ qua thời gian đã được tập hợp thành cụm. VD: “Áo rách, quần manh”,

“Ăn trắng, mặc trơn”, “Ăn trên, ngồi trốc”, “Dốt đặc cán mai”, “Cá bể, chim ngàn” “Bụng đói, cật rét”….

đều là thành ngữ. Còn “Chó cắn áo rách”, “Bệnh quỷ thuốc tiên”, “Người chửa, cửa mả”…

đều là tục ngữ.

Hầu hết những câu thành ngữ, tục ngữ đầu do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có những câu

rút ra từ các thi phẩm phổ biến, hoặc rút từ ca dao, dân ca ra. Có người nói tục ngữ là ngạn ngữ

(nghĩa là lời nói đã lưu hành từ xưa) (Chữ ngạn có nghĩa là lời nói của người xưa).

Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, sản xuất… Nó là những

câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫn con người ta trong sự

nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời. Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một

số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và xã hội,

hay dựa theo trí thức để nhận xét về con người và vũ trụ. Trong tục ngữ có cả thành ngữ :

“Chồng yêu, xỏ chân lỗ mũi“, thì ” xỏ chân lỗ mũi ” là thành ngữ.

2. Ca dao và dân ca:

– Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

dân ca không rõ.

Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

“Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

Hay:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

B. Thời kỳ xuất hiện:

So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

1. Nội dung của tục ngữ:

Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

VD:

Quá mù ra mưa

Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

Cái sảy nảy cái ung

Cõng rắn cắn gà nhà

2. Hình thức của tục ngữ:

Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

Làm phúc phải tội

Gà què ăn quẩn cối xay

Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

No nên bụt, đói nên ma

Bút sa, gà chết

Có tật giật mình

Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

May tay hơn hay thuốc

Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

Hoặc thể lục bát

Cá tươi thì xem lấy mang

Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

3. Nội dung của ca dao:

Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

Tuyệt mù khói toả ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

Đôi ta như lửa mới nhen

Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

Mặt nạc đóm dày

Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

Trên trời có đám mây vàng

Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

vd:

Tôi lấy chân khoả lại

Tôi lấy bàn khoả lại

hay:

Thấy những lời kêu trách

Nghe những lời kêu trách

Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

VD:

Trai:

Tiết thanh nhàn thong thả

Muốn thăm hỏi vài câu

Cuốc thánh thót kêu sầu

Gió phảng phất mùa sâu

Nhớ trong sách đã lâu:

Chuyện “Tư mã phượng cầu”

Thương thì mũi tìm trâu

Trâu đâu tìm chạc mũi

Gái:

Trời mở rộng phong quang

Giã ơn trời mở rộng phong quang

Em đánh tiếng đua sang

Đêm tàn canh vò võ

Tay em cầm con bấc đỏ

Mong bỏ đĩa dầu đầy

Mời bạn ở lại đây

Đôi ta giở lời rày

Tình đó với nghĩa đây

Trai:

Giống như đọi nác đầy

Bưng nhẩn nhẩn trên tay

Không khuy sơ một hột

Gió nỏ triềng một hột

Công đôi ta thề thốt

Kể đã mấy niên rồi

Lòng đã quyết lứa đôi

Ngãi đã quyết thề bồi

Nhất ngôn nói hẳn lời

Đừng bốn chốn ba nơi

Đừng trăn gió chào mời

Trăng nhiều trăng rạng rỡ

Trăn nhiều đèn rạng rỡ

Gái:

Em đã có chồng rồi

Em đã có lứa rồi

Vung úp đã vừa nồi

Đũa ghép đã thành đôi

Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

Tôi lấy chân khoả lại

Tôi lấy bàn khoả lại

Trai:

Têm một quả trầu không

Bỏ vô hộp con rồng

Đi băng nội băng đồng

Qua năm bảy khúc sông

Qua chín mười đỗi đồng

Nghe tin em đã có chồng

Anh quăng lắc vô bụi

Bạn gạt tùa vô bụi.

Anh thương em một tháng hai kỳ

Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

Năm rộn mà chầy

Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

Xuân qua rồi hè /đến

Thu đã muộn, đông rồi

Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

Sang lập xuân vũ thuỷ

Đêm em nằm em nghĩ

Nghĩ kinh trập, xuân phân,

Lòng tưởng sự ái ân

Sang thanh minh, cốc vũ

Đêm dêm nằm nỏ ngủ

Nhớ bạn mãi thường thường

Tiết lập hạ nhớ thương

Bước sang tuần tiểu mãn

Trông ra ngoài chán chán

Tiết mang hiện lại gần

Người đập đất, gánh phân

Để mùa màng gặt hái

Anh thương em mãi mãi

Sang hạ chí tiết hè

Em nghe tiếng sầu ve

Em buồn trong gia sự

Bạn buồn trong gia sự

***

Tiết tiểu thử, đại thử

Trời nắng sốt lắm thay!

Ra ngồi tựa cột cây

Anh với em than thở

Bạn với mình than thở

***

Tiết lập thu, xử thử

Ai diều sáo mặc ai

Vàng lác đác giếng tây

Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

Nhớ mãi người bạn cộ

***

Vừa đến tiết bạch lộ

Bầy chim trắng bay sang

Cây heo hắt lá vàng

Sang thu phân hàn lộ.

***

Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

Tiết sương giáng lại kề

Trông bạn cũ ta về

Sang lập đông giá rét

Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

Trời giá rét lắm thay

Sang đông chí cấy cày

Dạ bồi hồi nhớ bạn

Tiết tiểu hàn chưa dạn

Đã bước sang đại hàn

Dạ tưởng nhớ người ngoan

Vừa năm cùng tháng tận

Vừa cuối mùa cuối tận.

***

Phận lại ngồi trách phận

Phận nỏ giám trách phận

Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

Hát dạo

Bấy lâu thức nhắp mơ màng

Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

*

Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

Nghe tin anh cũng vội mừng

Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

*

Bấy lâu anh mức chi nhà

Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

*

Đồn rằng cá uốn thân vây

Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

*

Chốn này vui vẻ, tưng bừng

Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

*

Đêm khuya trời tạnh sương im

Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

*

Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

Hình như có khách viễn phương tới nhà

*

Đi qua nghe tiếng em reo,

Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

*

Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

*

Đi ngang thấy búp hoa đa`o

Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

*

Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

*

Lạ lùng anh mới tới đây,

Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

*

Đến đây vàng cũng như son

Ai ai thời cũng như con một nhà

Hát mừng, hát chào

Khi nháy mắt, khi nhện sa

Khi chuột rích trong nhà

Khi khách kêu ngoài ngõ

Tay em đưa go đủng đỉnh

Tay em chìa khoá động đào

Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

*

Mừng rằng bạn đến chơi nhà

Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

Hát hỏi Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

*

Em chưa có chồng, em mới đến đây

Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

Em về đục núi lòn qua,

Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

*

Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

Hai ta tình nặng nghĩa dày,

Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

*

– Đến đây hỏi khác tương phùng

Chim chi một cánh bay cùng nước non?

-Tương phùng nhắn với tương tri,

Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

*

– Lá gì không nhánh, không ngành?

Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

– Lá thư không nhánh, không ngành,

Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

*

– Nghe tin anh hoc có tài

Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

– Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

*

– Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

– Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

*

Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

– Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

*

Nhớ em nhất nhật một ngày

Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

– Chờ em nửa tháng ni rồi

Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

*

– Nghe tin anh giỏi, anh tài

Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

– Thiên thai là của nàng Kiều

Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

Sự Khác Biệt Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ

Khi Người Việt “ném Đá” Áo Dài Việt

Sự Khác Biệt Giữa Data Analyst Và Business Analyst

Sự Khác Biệt Giữa Công Nghệ Và Khoa Học Dữ Liệu Là Gì?

Sự Khác Nhau Giữa Hệ Thống Olap Và Oltp?

Mối Liên Hệ Giữa Ca Dao Và Dân Ca

Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen

Public Administration Là Gì? Điểm Khác Của Hành Chính Công Với Tư

Sự Khác Biệt Giữa Hành Chính Công Và Tư Nhân

Sự Khác Nhau Giữa Hộ Chiếu Và Visa?

Sự Khác Nhau Giữa Hộ Chiếu Và Visa

Tục Ngữ – Ca Dao – Mối liên hệ giữa Ca Dao và Dân Ca Ðịnh Nghĩa Tục Ngữ – Ca Dao (bài do Julia Nguyễn cung cấp)

Ngâm Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau…

vân vân…

Ru Con:

Cái ngủ mày ngủ y y y cho à lâu

Mẹ mày đi cấy ý y a ruộng sâu

Chưa à về …

Hò Làm Việc

Bước tiến thứ hai là từ dân ca của lúc ngồi hay lúc nằm trong nhà tiến tới dân ca dùng trong công việc hàng ngày (tức là loại hò làm việc) như “hò dô ta”, “hò đẩy xe”, “hò chèo thuyền”, “hò cấy lúa”, “hò đạp nước”, “hò giã gạo” , “hò nện” v.v… Ở đây, dân ca không còn là bài hát tâm tình mà trở thành bài hát trợ sức làm việc, người hò (hò = hô to lên) bắt buộc phải tạo ra nhịp điệu (tiết tấu) của công việc. Dân ca không còn tính chất cá nhân mà mang tính chất tập thể, có giọng chính, giọng phụ, có hò cái, hò con. Ví dụ :

Hò Dô Ta:

Giọng chính (Hò cái) : Ta dô ta

Giọng phụ (Hò con) : Dô

Giọng chính (Hò cái) : Ta kéo gỗ

Giọng phụ (Hò con) : Dô

Giọng chính (Hò cái) : Gỗ làm đình

Giọng phụ (Hò con) : Dô

v.v…

Hò Nện

(công việc nện đất làm nền xây nhà)

Hò cái : Mời bạn hò khoan này

Hò con : Hụ là khoan

Hò cái : A lá khoan hò khoan là

Hò con : Hụ là khoan

Hò cái : Biết răng chừ

Hò con : Hụ là khoan

Hò cái : Cho tới tháng hai

Hò con : Hụ là khoan

Hò cái : Con gái làm ruộng

Hò con : Hụ là khoan

Hò cái : Con trai be bờ

Hò con : Hụ là khoan

Hò cái : A lá khoan hò khoan là

Hò con : Hụ là khoan…

v.v…

Hò Nghỉ Ngơi

Hò của người Việt Nam khi xưa không hẳn chỉ là “hò làm việc” (work song) mà còn là “hò nghỉ ngơi” (rest song) nữa. Làm việc đầu tắt mặt tối đến mấy thì cũng có lúc phải ngưng tay chứ. Ðây là lúc trai gái trao tình với nhau, và khi trao đổi câu hát như thế thì họ cũng gọi luôn là hò. Và chúng ta có “hò giao duyên”, “hát huê tình”, “hò chơi”, “hò đối đáp” v.v…

Hò Giao Duyên:

Gặp nhau đây mới đầu trăng gió

Hỏi một lời : đã có chồng chưa ?

mang tính chất địa phương và huê tình thì có : Hò Chơi

Ghe anh nhỏ mũi trảng lườn

Ở trên Gia Ðịnh xuống vườn thăm em…

(Xin chú ý: Hò Nghỉ Ngơi không giàu tiết tấu bằng Hò Làm Việc).

Hò Hội hay Hát Hội

Sau giai đoạn hát tâm tình, hát làm việc, hát nghỉ ngơi… dân ca Việt Nam bước tới giai đoạn hát đám, hát hội. Người dân đem nhau ra trước công chúng để thi hát với nhau trong những hội hè đình đám. Trước tiên là hình thức “hát soan” (túc là hát trong hội mùa xuân), “hát đúm” (túc là hát đám), “hát ví” v.v… Rồi có bàn tay nghệ sĩ (nghệ nhân) nhúng vào một loại hát cần phải phong phú hơn các loại chỉ có tính cách tự phát của người dân. Phải có tổ chức trong Hát Hội, ví dụ : “hát trống quân” cần cái trống đất để đệm cho người hát. Và tổ chức cao nhất của hát hội phải là “hát quan họ” vì người ta cần phải phát minh ra rất nhiều lối hát, điệu hát khác nhau.

Trong Dân Ca Cổ Việt Nam, tổ chức Hát Quan Họ được coi là hình thức nghệ thuật cao nhất của lớp nông dân, phát sinh từ vùng Bắc Ninh, Bắc Việt. Nó không còn là loại ca hát giản dị hằng ngày dành riêng cho từng người mà trở thành trò tiêu khiển của đám đông và luôn luôn cần có bàn tay nghệ thuật làm cho nó thêm phong phú.

Hát Ví

(trong Hát Quan Họ)

Cô cả cô hai đó ơi !

Ở nhà tôi mới tới đây

Lạ thung lạ thổ tôi nay lạ nhà

Ba cô tôi lạ cả ba

Bốn cô lạ bốn biết là quen ai?

Ðến đây lạ cả bạn trai

Lạ cả bạn gái biết ai mà chào

Bây giờ biết nói làm sao

Biết ai quen thuộc mà vào trình thưa

Cô cả cô hai đó ơi !

Hát Trống Quân :

Trên trời (mà) có đám mây xanh

Dưới đất (thì) mây trắng

Chung quanh mây vàng

Thình thùng thình…

Ước gì (mà) anh lấy được nàng

Thì anh mua gạch Bát Tràng đem về xây

Thình thùng thình..

.

Hát Quan Họ

Mở đầu cuộc hát thi là những câu hát giản dị như bài Hát Mời Trầu :

Mời cô sơi miếng trầu nầy

Dù mặn dù nhạt dù cay dù nồng

Dù chẳng nên đạo vợ chồng

Ăn dăm ba miếng cho lòng anh vui

Rồi cuộc thi hát trở nên phứt tạp hơn với những bài hát có rất nhiều tính chất nghệ thuật như Ngồi Tựa Mạn Thuyền hay là Se Chỉ Luồn Kim…

Hát Thờ

Dân ca có mặt trong đời sống tình cảm, đời sống xã hội và có mặt luôn trong đời sống tâm linh của người dân nữa. Do đó ta có “Hát Chầu Văn”, “Hát Bóng”… là loại hát thờ. Không cần nói thì ta cũng thấy về phần nhạc thuật, người đàn, hát (cung văn), người đánh trống phải làm sao để người hầu bóng có thể bị thôi miên và lên đồng được.

Giọng Cờn

(Hát Bóng Cô) :

Ðằng vân giá võ về nơi Thủy Tề

Các quan vui trên ngàn dưới địa

Vui đền thờ qúy địa danh lam

Quần thần văn võ bá quan

Công đồng yến ẩm thạch bàn còn ghi…

Hát Rong

Dân Ca khi xưa còn là những tờ báo truyền miệng, đem chuyện vùng này tới vùng kia qua hình thức hát rong với lối “hát vè”, “hát xẩm”…

Vè Kể Chuyện Con Gái Mê Hát Bội

Nghe giống trống kỳ

Rủ nhau ra đi

Ðến làm chật chỗ

Lúc này không ngộ (hay)

Mới đánh đầu tuồng

Chạy thẳng vô buồng

Thấy hai chú tướng

Tướng này không sướng

Không bằng tướng kia

Ai về thì về

Tôi coi tới sáng..

Tục ngữ là câu nói có ý nghĩa, dễ nhớ vì có vần có điệu, lưu hành bằng cách truyền khẩu

Ca dao là dân ca tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy.

Dân ca là ca dao đã trở thành câu hát, bài hát, điệu hát.

Trích “Khái Quát về Dân Nhạc Dân Ca Việt Nam” – tác giả Phạm Duy

Sự Khác Nhau Giữa Ca Dao Và Tục Ngữ, Thành Ngữ

Hoán Dụ Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ

Hoán Dụ Là Gì? Các Kiểu Hoán Dụ? Sự Khác Nhau Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ

Sự Khác Nhau Giữa Dung Tích, Xi Lanh Và Công Suất?

Bàn Về Khái Niệm ‘dư Luận Xã Hội’

🌟 Home
🌟 Top