Các Phương Pháp Chiết Xuất Dược Liệu

--- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Chiết Xuất Dược Liệu Là Gì ? Mục Đích, Quy Trình Và Các Phương Pháp Chiết Xuất Chiết Xuất 3C
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 10480:2014 (Iso 18609:2000) Về Dầu Mỡ Động Vật Và Thực Vật
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 6123:2007 (Iso 3596:2000) Về Dầu Mỡ Động Vật Và Thực Vật
  • Tiêu Chuẩn Việt Nam Tcvn 6123
  • Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Cổ Tức Trong Định Giá Doanh Nghiệp
  • Có nhiều cách phân loại, dựa vào những yếu tố khác nhau.

    * Dựa vào nhiệt độ, có các phương pháp chiết sau:

    – Chiết nguội (ở nhiệt độ thường).

    * Dựa vào chế độ làm việc có các phương pháp chiết sau:

    – Bán liên tục.

    * Dựa vào chiều chuyển động tương hỗ giữa hai pha, có các phương pháp:

    * Dựa vào áp suất làm việc, có các phương pháp chiết ở:

    – Áp suất thường (áp suất khí quyển).

    – Áp suất giảm (áp suất chân không).

    – Áp suất cao (làm việc có áp lực).

    * Dựa vào trạng thái làm việc của hai pha, có các phương pháp chiết sau:

    * Dựa vào những biện pháp kỹ thuật đặc biệt

    Có thể làm rút ngắn được thời gian chiết bằng các phương pháp chiết sau:

    – Phương pháp siêu âm.

    – Phương pháp tạo dòng xoáy.

    – Phương pháp mạch nhịp…

    4.2. Một số phương pháp chiết xuất

    4.2.1. Phương pháp chiết xuất gián đoạn

    Phương pháp ngâm là phương pháp đơn giản nhất và đã có từ thời cổ xưa.

    Sau khi chuẩn bị dược liệu, người ta đổ dung môi cho ngập dược liệu trong bình chiết xuất, sau một thời gian ngâm nhất định (qui định riêng cho từng loại dược liệu), rút lấy dịch chiết (lọc hoặc gạn) và rửa dược liệu bằng một lượng dung môi thích hợp. Để tăng cường hiệu quả chiết xuất, có thể tiến hành khuấy trộn bằng cánh khuấy hoặc rút dịch chiết ở dưới rồi lại đổ lên trên (tuần hoàn cưỡng bức dung môi).

    Có nhiều cách ngâm: Có thể ngâm tĩnh hoặc ngâm động, ngâm nóng hoặc ngâm lạnh, ngâm một lần hoặc nhiều lần (còn gọi là ngâm phân đoạn hay ngâm nhiều mẻ).

    Đây là phương pháp đơn giản nhất, dễ thực hiện, thiết bị đơn giản, rẻ tiền.

    – Nhược điểm chung của phương pháp chiết xuất gián đoạn: năng suất thấp, thao tác thủ công (giai đoạn tháo bã và nạp liệu).

    – Nếu chỉ chiết một lần thì không chiết kiệt được hoạt chất trong dược liệu.

    – Nếu chiết nhiều lần thì dịch chiết loãng, tốn dung môi, tốn thời gian chiết.

    Sau khi chuẩn bị dược liệu, ngâm dược liệu vào dung môi trong bình ngấm kiệt. Sau một khoảng thời gian xác định (tuỳ từng loại dược liệu), rút nhỏ giọt dịch chiết ở phía dưới, đồng thời bổ sung thêm dung môi ở phía trên bằng cách cho dung môi chảy rất chậm và liên tục qua lớp dược liệu nằm yên (không được khuấy trộn). Lớp dung môi trong bình chiết thường được để ngập bề mặt dược liệu khoảng 3 – 4 cm.

    – Ngấm kiệt đơn giản: Là phương pháp ngấm kiệt luôn sử dụng dung môi mới để chiết đến kiệt hoạt chất trong dược liệu.

    – Ngấm kiệt phân đoạn (tái ngấm kiệt): Là phương pháp ngấm kiệt có sử dụng dịch chiết loãng để chiết mẻ mới (dược liệu mới) hoặc để chiết các mẻ có mức độ chiết kiệt khác nhau.

    – Dược liệu được chiết kiệt.

    – Tiết kiệm được dung môi (tái ngấm kiệt).

    – Có nhược điểm chung của phương pháp chiết xuất gián đoạn: năng suất thấp, lao động thủ công.

    – Cách tiến hành phức tạp hơn so với phương pháp ngâm.

    – Tốn dung môi (ngấm kiệt đơn giản).

    4.2.2. Phương pháp chiết xuất bán liên tục

    (Còn gọi là phương pháp chiết xuất nhiều bậc, phương pháp chiết ngược dòng tương đối hay phương pháp chiết ngược dòng gián đoạn).

    Phương pháp này có sử dụng một hệ thống thiết bị gồm nhiều bình chiết khác nhau, có thể mắc thành một dãy từ 4-16 bình chiết nối tiếp nhau. ở đây, quá trình coi như là ngược chiều tương đối vì thực tế dược liệu không chuyển động.

    Lúc đầu, dược liệu và dung môi được nạp vào trong tất cả các thiết bị, dược liệu được ngâm vào dung môi trong một khoảng thời gian xác định (tuỳ thuộc vào dược liệu và dung môi). Lúc này dược liệu và dung môi đều không chuyển động. Sau đó dịch chiết được chuyển tuần tự từ thiết bị này sang thiết bị khác. Hệ thống tổ hợp kín các bình chiết này cho phép đóng ngắt một cách có chu kỳ một trong những thiết bị ra khỏi hệ thống tuần hoàn, cho phép tháo bã dược liệu ở bình đã được chiết kiệt rồi nạp dược liệu mới. Sau đó, thiết bị này lại được đưa vào hệ thống tuần hoàn và dịch chiết đậm đặc nhất được dẫn qua nó mà dịch chiết này vừa đi qua tất cả các thiết bị còn lại. Tiếp theo, lại đóng ngắt một thiết bị kế tiếp mà trước đó dung môi mới vừa được dẫn qua. Số thiết bị càng nhiều thì quá trình xảy ra càng gần với quá trình liên tục. ở đây, bã dược liệu trước khi ra khỏi hệ thống thiết bị sẽ được tiếp xúc với dung môi mới nên dược liệu sẽ được chiết kiệt. Dịch chiết trước khi ra khỏi hệ thống sẽ được tiếp xúc với dược liệu mới nên dịch chiết thu được sẽ đậm đặc nhất. Như vậy có thể nói quá trình xảy ra theo nguyên tắc: “dung môi mới tiếp xúc với dược liệu cũ và dược liệu mới tiếp xúc với dung môi cũ”. Trong phương pháp này, quá trình xảy ra gần với quá trình ngược chiều, do đó phương pháp này còn được gọi là phương pháp chiết ngược chiều tương đối.

    * Ưu điểm (so với phương pháp chiết gián đoạn)

    – Dịch chiết đậm đặc.

    – Dược liệu được chiết kiệt.

    – Hệ thống thiết bị cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích lắp đặt.

    – Vận hành phức tạp.

    – Thao tác thủ công.

    – Không tự động hoá quá trình được.

    Phương pháp này được thực hiện trong những thiết bị làm việc liên tục. ở đây dược liệuvà dung môi liên tục được đưa vào và chuyển động ngược chiều nhau trong thiết bị. Dược liệu di chuyển

    được trong thiết bị là nhờ những cơ cấu vận chuyển chuyên dùng khác nhau. Dịch chiết trước khi ra khỏi thiết bị được tiếp xúc với dược liệu mới nên dịch chiết thu được đậm đặc. Bã dược liệu trước khi ra khỏi thiết bị được tiếp xúc với dung môi mới nên bã dược liệu được chiết kiệt.

    So với phương pháp chiết gián đoạn thì phương pháp chiết liên tục có những ưu nhược điểm sau:

    – Năng suất làm việc cao, tiết kiệm thời gian chiết.

    – Không phải lao động thủ công (tháo bã, nạp liệu).

    – Dịch chiết thu được đậm đặc.

    – Dược liệu được chiết kiệt.

    – Dung môi ít tốn kém.

    – Có thể tự động hoá, cơ giới hoá được quá trình.

    – Thiết bị có cấu tạo phức tạp, đắt tiền.

    – Vận hành phức tạp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chiết Cành Ổi Hiệu Quả Nhất Giúp Cây Khỏe Mạnh
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Ổi
  • Cách Chiết Cành Mít Cho Cành Khỏe, Ra Nhiều Rễ Nhất
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cây Mít
  • Cách Chiết Cành Khế Ra Rễ Cực Nhanh
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Curcumin Từ Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Chiết Pha Rắn
  • Nghiên Cứu Chiết Tách Polyphenol Từ Cây Điều Để Làm Chất Kháng Oxi Hóa
  • Ứng Dụng Của Phenol / Chloroform Trong Tách Chiết Dna, Rna
  • Kỹ Thuật Vi Chiết Pha Rắn Spe Solid Phase Extraction Hãng Supelco
  • Đại Cương Chiết Pha Rắn Và Ứng Dụng Của Chiết Pha Rắn
  • Phương pháp chiết xuất từ nghệ được tiến hành theo quy trình chiết xuất curcumin bằng phương pháp Soxhlet được ứng dụng đầu tiên. Thế nhưng phương pháp này vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế như thời gian chiết xuất dài, nhiệt độ cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc chiết xuất ra các hợp chất mục tiêu.

    Xử lý mẫu ban đầu, nghệ khi được mua về ở dạng củ tươi và được xử lý như sau:

    -Đầu tiên làm sạch các tạp chất dính nghệ

    -Sau đó cắt lát, phơi nắng hoặc sấy khô ở nhiệt độ từ 40 đến 50⁰ cho đến khi khối lượng không còn thay đổi.

    -Sau khi để nguội ở nơi khô thoáng, tiếp tục cho vào máy xay thành bột mịn. Đây là nguyên liệu được dùng cho quá trình chiết xuất.

    Chiết xuất tinh dầu và chất béo:

    -Cân 100gam bột nghệ cho vào túi vải, sau đó cho vào hệ thống chiết soxhlet.

    -Cho 0,5 lít dung môi petroleum ether vào bình cầu và một ít đá bọt.

    -Đun hoàn lưu khoảng 48 tiếng ta sẽ thấy được dung dịch màu vàng đậm.

    -Kiểm tra bằng mặt kính đồng hồ, nếu thấy hết tinh dầu thì tắt bếp và để nguội.

    -Phần dung dịch được đem cô quay để thu hồi dung môi và thu được tinh dầu.

    -Phần bã được sấy khô và tiếp tục quá trình chiết xuất tiếp theo.

    -Rửa sạch và sấy khô hệ thống chiết Soxhlet.

    -Phần bã sau khi sấy khô thì cho vào túi vải và tiếp tục cho vào hệ thống chiết Soxhlet như trên.

    -Sau đó cho 0,5 lít dung môi ethanol 95⁰ vào bình cầu và thêm một ít đá bọt.

    -Tiếp tục đun hoàn lưu 48 giờ ta thấy dung dịch màu nâu đỏ. Phần dung dịch sau khi cô quay để loại bỏ dung môi ta sẽ thu được cao EtOH.

    Phân lập curcumin từ hợp chất curcuminoid:

    Bước 1. Chuẩn bị:

    Cột sắc ký (đường kính 36mm, cao 60 cm) được rửa sạch sấy khô, cho bông gòn vào đáy cột, kẹp thẳng góc trên giá.

    Silica gel (60G, 0.04 – 0.063mm, 80g) được cho từ từ đều đặn mỗi lần một lượng nhỏ vào một becher đựng sẵn dung môi là CH2Cl2. Vừa cho silica gel vào vừa khuấy nhẹ.

    Bước 2: Nhồi cột

    Đặt một phễu đuôi dài lên đầu cột, rót hỗn hợp silica gel sệt vào, mở nhẹ khóa bên dưới cột cho dung môi chảy vào một becher bên dưới cột, dung môi này được sử dụng rót lên đầu cột.

    Sau khi nạp xong, cho dung môi chạy tuần hoàn nhiều lần để nén lớp silica gel cho đến khi ổn định và có chiều cao là 30 cm. Cho một lớp cát biển khoảng 0.25 – 0.5 cm lên trên lớp silicagel để bảo vệ bề mặt cột.

    Bước 3: Đưa mẫu phân tích vào cột

    Hòa tan hoàn toàn lượng mẫu (4g curcuminoid) bằng CH2Cl2 rồi cho silicagel vào hấp phụ, sấy khô sau đó nạp hết vào cột.

    Bước 4: Triển khai cột

    Dung môi dùng để rửa giải là hệ dichloromethane – methanol.

    Đầu tiên dùng hệ 100% dichloromethane. Sau đó theo thời gian, tăng dần độ phân cực của dung môi bằng cách pha thêm vào dung môi lượng tăng dần methanol theo các tỷ lệ DC:Met = 99.5:0.5, DC:Met = 99:1,…

    Trong quá trình chạy cột có sử dụng bơm nén khí để tạo áp suất giúp cho quá trình rửa giải nhanh hơn.

    Bước 5: Thu và kiểm tra các phân đoạn Kiểm tra các phân đoạn bằng sắc ký bản mỏng với hệ dung môi thích hợp. Ở đây sử dụng hệ dung môi chạy bản mỏng dichloromethane-methanol (98:2 v/v).

    Bước 6: Thu hồi và định lượng các phân đoạn Các phân đoạn có kết quả kiểm tra TLC như nhau được gom lại và cô quay chân không và cân định lượng.

    Chiết xuất Curcumin từ củ nghệ vàng nhờ sự hỗ trợ của enzyme

    Enzyme α-Amylase và amyloglucosidase được sử dụng cho quá trình thủy phân bột nghệ vì các loại enzyme này có thể thủy phân được carbohydrate có trong nghệ (chiếm hơn 80% thành phần của nghệ).

    Quy trình chiết xuất Curcumin với hỗ trợ của enzyme:

    -Cho 1g bột nghệ trong bình nón 250ml và thêm với 100ml nước (nước là dung môi chiết kém nhưng cần thiết cho hoạt động của enzyme), sau đó thêm 50ml dung dịch đệm McIlvaine pH5.

    -Sau đó cho thêm hỗn hợp enzyme Enzyme α-Amylase và amyloglucosidase vào bình.

    – Bình được bọc kín bằng màng nhôm và lắc trong tủ ấm (IKA IC4000) ở tốc độ 130 vòng / phút và ủ ở nhiệt độ 65 ° C (là nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của α-amylase và amyloglucosidase) và ủ trong 8 giờ.

    – Sau khi tiền xử lý enzyme, lớp huyền phù lắng xuống và lọc lấy lớp nước được tách ra khỏi bột nghệ; các hạt bột nghệ kết tủa được sấy khô ở 60°C trong 6 giờ và sau đó được chiết xuất curcumin bằng 10 ml acetone với các thời gian chiết khác nhau từ 1-5h.

    – Phần dung môi được thu hồi và cho bay hơi bằng máy cô quay chân không.

    – Phần tinh dầu được cân và hòa tan trong 10ml methanol để phân tích hàm lượng curcumin có trong nó.

    Chiết xuất Curcumin từ nghệ bằng hệ thống siêu âm

    Đối với phương pháp chiết xuất Curcumin bằng hệ thống siêu âm là một trong những phương pháp được nhiều nhà khoa học quan tâm nhất.

    -Khả năng phá hủy tế bào nhanh, mạnh hơn so với các phương pháp truyền thống.

    -Giảm công đoạn xử lý nguyên liệu đầu vào.

    -Giảm thời gian chiết xuất

    -Không cần gia nhiệt mà vẫn không làm giảm hiệu suất của quá trình chiết xuất.

    -Giảm chi phí tách chiết.

    -Dễ dàng thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho kết quả có tính lặp lại cao phù hợp với việc chuyển quy mô.

    Quy trình chiết xuất Curcumin từ nghệ bằng hệ thống siêu âm:

    Củ nghệ khô xay thành bột (1kg), chiết xuất bằng siêu âm với hỗn hợp ethanol 96⁰ trong 15 phút ở nhiệt độ phòng.

    Thu hồi dung môi, cao cô đặc được chiết với n-hexan để loại bỏ tinh dầu.

    Lớp nước để lạnh kết tinh thu sản phẩm curcumin thô.

    Sau đó tiến hành tinh chế hỗn hợp curcumin thô bằng sắc ký cột với hệ dung môi là chloroform:methanol (99:1) và HPLC điều chế trên cột pha đảo RP-18, pha động là acetonitril – dung dịch acid acetic 0.03% (50:50), tốc độ dòng 3.0ml/phút, thu được curcumin tinh khiết.

    Chất phân lập sau khi đuổi dung môi, sấy ở áp suất giảm và nhiệt độ 60⁰C thu được tinh thể màu vàng đậm với hiệu suất chiết khoảng 2.2%.

    Như được biết thì chiết xuất nghệ rất tốt cho sức khỏe con người chúng ta, thì trong chiết xuất nghệ có chứa chất curcumin giúp điều trị các bệnh về dạ dày, tiêu hóa; điều trị kháng viêm, giảm sưng; điều trị các bệnh về gan; phòng chống và điều trị ung thư;…Nên các dược liệu chiết xuất từ nghệ luôn được mọi người tin dùng để chăm sóc sức khỏe.

    Điều trị trên da:

    Với đặc tính chống viêm và chống oxy hóa của mình curcumin extract được chứng minh có hiệu quả trong điều trị các chứng bệnh trên da như đẩy nhanh quá trình lành vết thương, làm dịu các lỗ chân lông, giảm sẹo mụn trứng cá và kiểm soát bệnh vẩy nến.

    Ngoài ra, chiết xuất từ nghệ còn được sử dụng trong một số mỹ phẩm chiết xuất từ nghệ như các sản phẩm dưỡng trắng da, chăm sóc da, chống lão hóa,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Ngâm Trong Kỹ Thuật Bào Chế
  • Hướng Dẫn Cách Chiết Nước Hoa Sang Lọ Nhỏ Đơn Giản Tại Nhà
  • Bật Mí Cách Để Các Lọ Nước Hoa Chiết Ra Đời
  • Cách Chiết Nước Hoa Ra Chai Nhỏ Đơn Giản
  • Phương Pháp Ngấm Kiệt Là Gì? Ứng Dụng Trong Chiết Xuất Dược Liệu
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Chiết Xuất Artemisinin

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Chiết Xuất Berberin Từ Vàng Đắng Bằng Dung Dịch Kiểm
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Cây Cơ Bản
  • Cách Chiết Cành Khế “siêu Đơn Giản” Cho Cành Nhiều Rễ
  • Cách Chiết Cành Khế Ra Rễ Cực Nhanh
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cây Mít
  • 1. Giới thiệu chung về các phương pháp chiết xuất Artemisinin (Artemisinin extract)

    Cho tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về các phương pháp chiết xuất artemisinin từ lá thanh cao hoa vàng. Mục đích của các nghiên cứu này là tìm ra tìm ra phương pháp chiết xuất vượt trội nhất, đảm bảo các tiêu chí như:

    • Hiệu suất chiết xuất cao.
    • An toàn với môi trường, tiết kiệm dung môi chiết xuất
    • Chi phí thấp.
    • Chiết xuất bằng dung môi n-hexan
    • Chiết xuất bằng ethanol
    • Chiết xuất bằng dung môi CO2 siêu tới hạn
    • Chiết xuất bằng dung dịch ion lỏng

    2. Quy trình chiết xuất Artemisin (Artemisin extract process )

    Chiết xuất Artemisinin bằng dung môi n-hexan

    Phương pháp chiết xuất artemisinin bằng dung môi n-hexan là phương pháp truyền thống được áp dụng tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới từ rất lâu. Bạn có thể tham khảo quy trình chiết xuất của phương pháp này như sau:

    – Lá thanh cao hoa vàng được phơi khô, xay thô và cho vào nồi chiết.

    – Chuẩn bị dung môi chiết n-hexan với tỷ lệ dược liệu/dung môi là 1/5, chiết ở nhiệt độ 30 – 50°C, thời gian chiết trong 3 giờ.

    – Chiết trong 3 giờ, dịch chiết lần 3 sử dụng làm dung môi chiết lần 1 của mẻ khác.

    – Sau đó gộp dịch chiết lại, cô thu hồi dung môi rồi rút ra để kết tinh ít nhất trong 24 giờ, artemisin sẽ kết tinh lẫn với sáp.

    – Loại phần dung dịch bằng cách gạn, loại sáp bằng nhiệt độ và xăng nóng thu được artemisin thô trong aceton.

    – Artemisinin thô đã loại hết sáp được hòa tan trong cồn sôi, thêm than hoạt tính và đun sôi trong 20 phút với sinh hàn hồi lưu.

    – Lọc nóng loại than hoạt tính và để kết tinh ở nhiệt độ thường tối thiểu trong 24 giờ. Vẩy ly tâm rửa tinh thể bằng cồn và sấy ở 80°C.

    Chú ý: Có thể kiểm tra đã loại hết sáp chưa bằng cách hòa tan artemisin thô trong aceton, nếu dung dịch trong là đã loại hết sáp.

    Quy trình chiết xuất Artemisinin bằng dung môi ethanol

    Nhà khoa học Albert Fleming và các cộng sự đã nghiên cứu lựa chọn điều kiện chiết xuất artemisinin bằng ethanol như sau:

    • Chuẩn bị dung môi ethanol 96%.
    • Nhiệt độ chiết xuất: nhiệt độ phòng.
    • Tỷ lệ dung môi/dược liệu (kg/l) là 1/7.5.
    • Thời gian chiết xuất là 3.5 giờ.

    Chiết khoảng 2 lần, sau mỗi lần chiết có khoảng 1.5l (20%) dịch chiết còn lại trong dược liệu nên người ta cần rửa và ép lấy dịch chiết. Gộp lại dịch chiết, cất thu hồi dung môi đến cắn. Hòa tan cắn bằng dung môi n-hexan và ethyl acetat với tỷ lệ 85:15 và lọc.

    Dịch lọc cô đến đậm đặc rồi để kết tinh. Vẩy ly tâm rửa tinh thể bằng cồn và sấy ở 80°C.

    Chiết xuất Artemisinin bằng dung môi siêu tới hạn CO2

    Chiết xuất bằng dung môi siêu tới hạn là quá trình chiết rắn – khí, trong đó dung môi là chất khí ở diều kiện siêu tới hạn. Bên cạnh đó, độ nhớt thấp và sức căng bề mặt gần như bằng không, cho phép dung môi siêu tới hạn thấm vào dược liệu sâu hơn và nhanh hơn so với dung môi lỏng. Hơn thế nữa, việc loại dung môi khí ra khỏi chất chiết cũng đơn giản hơn so với dung môi lỏng.

    Marcel Kohler và các cộng sự đã khảo sát phương pháp chiết xuất artemisinin bằng dung môi CO 2 siêu tới hạn, kết hợp với phân tích dịch chiết bằng kỹ thuật HPLC. Tác giả đã tìm ra điều kiện tối ưu cho quy trình chiết xuất là:

    • Áp suất khí đẩy CO2 là 15 mPa.
    • Nhiệt độ chiết xuất là 50°C.
    • Chất cho thêm là methanol với nồng độ 3%.
    • Thời gian chiết xuất là 20 phút.
    • Tốc độ dòng CO2 là 2ml/phút.

    Chuẩn bị nguyên liệu

    Lá thanh cao hoa vàng được sấy khô ở điều kiện nhiệt độ 50 – 60°C trong vòng 1 giờ, lấy ra xay khô thành bột (rây qua cỡ rây 1mm).

    Lấy 100g bột dược liệu ngâm trương nở trong 50ml đồng dung môi tiến hành trong điều kiện chiết xuất ở trên. Dịch chiết thu được thu vào bình nón có nút.

    Tinh chế dịch chiết

    – Dịch chiết được cất thu hồi dung môi và cô đến cắn. Hòa tan cắn bằng n-hexan (120 ml n-hexan tương đương với 18 – 19.5g cắn chiết), cất thu hồi dung môi cho đến khi còn khoảng 40 – 50 ml, đổ vào cốc có mỏ thể tích 100ml, để kết tinh trong 48 giờ.

    – Gạn lấy phần tủa (artemisinin và sáp), đun cách thủy cho sáp chảy lỏng ra, lọc lấy tinh thể artemisin, rửa với xăng công nghiệp, được đun nóng thu được sản phẩm artemisinin thô.

    – Artemisin thô được hòa tan trong 5 phần ethanol 96% trong cốc có mỏ, thêm than hoạt tính với lượng 2 – 5% artemisin thô tính theo khối lượng. Đun cách thủy trong vòng 10 phút có khuấy trộn liên tục. Lọc nóng qua phễu Buchner để loại than hoạt, rửa bã than bằng ethanol nóng và thu lấy dịch lọc.

    – Gộp dịch lọc và dịch rửa, để kết tinh ở nhiệt độ phòng trong 24 giờ, lọc lấy tinh thể trên phễu Buchner, rửa tinh thể 2 lần bằng ethanol. Tinh thể được sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 60°C.

    3. Đánh giá các phương pháp chiết xuất Artemisinin

    Qua nhiều thực nghiệm, người ta chứng minh được rằng hiệu suất chiết xuất artemisinin bằng phương pháp chiết siêu tới hạn là cao nhất, chi phí đầu tư cũng thấp hơn so với các phương pháp còn lại.

    Dựa trên dữ liệu đã nghiên cứu, các nhà nghiên cứu có thể so sánh về hiệu suất chiết xuất, thời gian chiết, chi phí trong quá trình chiết giữa các dung môi như bảng sau:

    Trong đó:

    • Hiệu suất chiết xuất là tỷ lệ giữa khối lượng artemisinin thu được so với artemisinin có trong dược liệu.
    • Thời gian chiết là thời gian để chiết kiệt artemisinin từ trong dược liệu.
    • Chi phí vận hành: bao gồm các chi phí bỏ ra trong quá trình chiết (điện, nước).
    • Chi phí đầu tư: bao gồm chi phí trang thiết bị, chi phí chiết xuất, hàng tồn kho và dung môi.

    Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng đánh giá một số ưu nhược điểm của các phương pháp chiết xuất như sau:

    – Chiết xuất bằng dung môi n-hexan thì có ưu điểm là cách tiến hành đơn giản nhưng hiệu suất chiết thấp và dễ cháy nổ.

    – Chiết xuất bằng dung môi Ethanol 96% có ưu điểm là dung môi chiết ít độc nhưng rất dễ gây cháy nổ, chi phí cao và artemisinin kém ổn định trong ethanol 96%.

    – Chiết xuất artemisinin bằng CO 2 siêu tới hạn là phương pháp chiết xuất hiện đại với nhiều ưu điểm vượt trội:

    • Dung môi CO2 được dùng là dung môi chiết xuất rẻ tiền, không độc hại và thân thiện môi trường, khả năng hòa tan tốt.
    • Quá trình chiết xuất diễn ra nhanh, chất chiết ít bị tác động bởi nhiệt.
    • Khi thay đổi áp suất và nhiệt độ thì khả năng hòa tan và tính chọn lọc của dung môi có thể sẽ được điều chỉnh.
    • Dễ dàng tách hoàn toàn dung môi ra khỏi các chất chiết, không cần giai đoạn cất loại dung môi.

    Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi phải có thiết bị chuyên dụng, giá thành đắt, để chiết thành công cần phải tối ưu hóa các điều kiện, không thích hợp các mẫu chiết ở dạng lỏng.

    Hy vọng rằng qua những chia sẻ của bài viết về các phương pháp chiết xuất Artemisinin đã giúp các bạn có thêm nhiều kiến thức về các phương pháp chiết xuất Artemisinin.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiết Suất Và Tinh Chế Carotenoi
  • Nghiên Cứu Chiết Tách Và Thành Phần Chất Màu Anthocyanin Trong Rau Dền Đỏ
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Bộ Kit Tách Chiết Adn Trong Phòng Thí Nghiệm
  • Phương Pháp Và Nguyên Lý Của Việc Tách Chiếc Adn
  • Các Phương Pháp Chung Chiết Alcaloid
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Và Công Nghệ Chiết Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Bai Giang Chiet Lpe Lai Thi Thu Trang Truong Dai Hoc Y Thai Binh
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Hoa Hồng
  • Nhân Giống Hoa Hồng Bằng Phương Pháp Chiết Cành
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Hồng Xiêm Chiết Cành Nhanh Ra Quả
  • Chi Tiết Kỹ Thuật Tách Chiết Axit
  • Các loại thuốc tự nhiên, như y học cổ truyền Trung Quốc (TCM) và Ayurveda, được hình thành và phát triển trong cuộc sống hàng ngày của người cổ đại và trong quá trình chiến đấu chống lại bệnh tật trong hàng ngàn năm và chúng đã tạo ra tác động tích cực đến tiến trình của văn minh nhân loại. Ngày nay, thuốc tự nhiên không chỉ cung cấp nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho phần lớn dân số ở các nước đang phát triển mà còn thu hút ngày càng nhiều sự chú ý ở các nước phát triển do chi phí chăm sóc sức khỏe tăng cao và thắt lưng buộc bụng tài chính phổ quát. Tại Hoa Kỳ, khoảng 49% dân số đã thử dùng các loại thuốc tự nhiên để phòng ngừa và điều trị bệnh.

    Lượng hoạt chất trong thuốc tự nhiên luôn khá thấp. Quá trình tách chiết và cô lập tốn nhiều thời gian trong phòng thí nghiệm và là thời điểm áp dụng các sản phẩm tự nhiên trong phát triển thuốc. Có một nhu cầu cấp thiết để phát triển các phương pháp hiệu quả và chọn lọc để chiết xuất và phân lập các sản phẩm tự nhiên hoạt tính sinh học.

    Chiết xuất là bước đầu tiên để tách các sản phẩm tự nhiên mong muốn khỏi các nguyên liệu thô. Phương pháp chiết bao gồm chiết bằng dung môi, phương pháp chưng cất, ép và thăng hoa theo nguyên tắc chiết. Chiết dung môi là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Việc chiết xuất các sản phẩm tự nhiên tiến triển qua các giai đoạn sau: (1) dung môi thâm nhập vào cấu trúc rắn; (2) chất tan hòa tan trong dung môi; (3) chất tan được khuếch tán ra khỏi chất rắn; (4) các chất hòa tan được thu thập. Bất kỳ yếu tố nào tăng cường độ khuếch tán và độ hòa tan trong các bước trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chiết xuất. Các tính chất của dung môi chiết, kích thước hạt của nguyên liệu thô, khẩu phần dung môi đến chất rắn, nhiệt độ chiết và thời gian chiết sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất chiết.

    Việc lựa chọn dung môi là rất quan trọng để chiết dung môi. Tính chọn lọc, độ hòa tan, chi phí và an toàn nên được xem xét trong việc lựa chọn dung môi. Dựa trên định luật tương tự và khả năng liên kết (như hòa tan như thế), các dung môi có giá trị phân cực gần với cực của chất tan có khả năng hoạt động tốt hơn và ngược lại. Rượu (EtOH và MeOH) là các dung môi phổ biến trong chiết xuất dung môi để điều tra hóa thực vật.

    Nói chung, kích thước hạt càng mịn thì kết quả chiết xuất càng tốt. Hiệu suất chiết sẽ được tăng cường bởi kích thước hạt nhỏ do sự thâm nhập của dung môi và khuếch tán các chất hòa tan. Tuy nhiên, kích thước hạt quá mịn sẽ tiêu tốn quá trình hấp thụ chất tan trong chất rắn và khó khăn trong quá trình lọc tiếp theo.

    Nhiệt độ cao làm tăng độ hòa tan và khuếch tán. Nhiệt độ quá cao, tuy nhiên, có thể làm mất dung môi, dẫn đến chiết xuất các tạp chất không mong muốn và phân hủy các thành phần thermolabile.

    Hiệu suất trích xuất tăng cùng với sự gia tăng thời gian trích xuất trong một khoảng thời gian nhất định. Thời gian tăng sẽ không ảnh hưởng đến quá trình chiết sau khi đạt đến trạng thái cân bằng của chất tan trong và ngoài vật liệu rắn.

    Tỷ lệ dung môi-chất rắn càng lớn thì năng suất chiết càng cao; tuy nhiên, tỷ lệ dung môi so với chất rắn quá cao sẽ gây ra dung môi chiết quá mức và cần một thời gian dài để cô đặc.

    Các phương pháp chiết xuất thông thường, bao gồm chiết xuất, lọc và hồi lưu, thường sử dụng dung môi hữu cơ và đòi hỏi một khối lượng lớn dung môi và thời gian chiết dài. Một số phương pháp chiết hiện đại hoặc xanh hơn như chiết chất lỏng siêu quan trọng (SFC), chiết chất lỏng có áp suất (PLE) và chiết bằng lò vi sóng (MAE), cũng đã được áp dụng trong chiết xuất sản phẩm tự nhiên, và chúng cung cấp một số lợi thế như tiêu thụ dung môi hữu cơ thấp hơn , thời gian trích xuất ngắn hơn và độ chọn lọc cao hơn. Tuy nhiên.

    Ngâm

    Đây là một phương pháp trích xuất rất đơn giản với nhược điểm là thời gian chiết dài và hiệu suất chiết thấp. Nó có thể được sử dụng để chiết xuất các thành phần thermolabile.

    Ćujić et al. đạt được năng suất cao của tổng phenol và tổng anthocyanin từ quả chokeberry ở điều kiện tối ưu hóa với 50% ethanol, tỷ lệ dung môi rắn là 1:20 và kích thước hạt 0,75 mm, cho thấy rằng ngâm là phương pháp đơn giản và hiệu quả để chiết xuất các hợp chất phenolic từ quả Anh đào dại. Một nghiên cứu về chiết xuất catechin từ Arbutus unedo L. sử dụng các loại trái cây, kỹ thuật chiết xuất bằng lò vi sóng và siêu âm cho thấy chiết xuất bằng lò vi sóng (MAE) là hiệu quả nhất, nhưng nhiệt độ thấp hơn được áp dụng trong vĩ mô với năng suất khai thác gần như giống hệt nhau, có thể được chuyển thành lợi ích kinh tế. Jovanović và cộng sự. đã đánh giá hiệu quả chiết xuất polyphenol từ Serpylli herba bằng nhiều kỹ thuật chiết xuất khác nhau (ngâm, chiết xuất có hỗ trợ nhiệt và chiết xuất có hỗ trợ siêu âm). Dựa trên hàm lượng tổng polyphenol, chiết xuất có hỗ trợ siêu âm tạo ra tổng năng suất flavonoid cao nhất và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào được tìm thấy giữa maculation và chiết xuất hỗ trợ nhiệt. Lá Cajanus cajan được sử dụng trong y học dân gian Trung Quốc để điều trị viêm gan, thủy đậu và tiểu đường. Flavonoid là các hợp chất hoạt tính sinh học. Jin và cộng sự. so sánh tốc độ chiết của directionoside (2), luteolin (3) và tổng flavonoid từ lá C. cajan bằng phương pháp hỗ trợ vi sóng, chiết xuất hồi lưu, chiết xuất có hỗ trợ siêu âm và chiết xuất ngâm. Hiệu suất chiết xuất của directionoside, luteolin và tổng flavonoid được tìm thấy là thấp nhất trong chiết xuất từ ​​phương pháp maculation.

    Ngấm kiệt

    Ngấm kiệt hiệu quả hơn so với maculation vì nó là một quá trình liên tục trong đó dung môi bão hòa liên tục được thay thế bằng dung môi tươi.

    Zhang và cộng sự. so sánh các phương pháp chiết tách và hồi lưu để trích xuất Undaria pinnatifida. Họ phát hiện ra rằng nội dung của thành phần chính, fucoxanthin, từ phương pháp chiết tách cao hơn so với phương pháp hồi lưu trong khi không có sự khác biệt đáng kể về năng suất chiết giữa hai phương pháp. Goupi patch là một chế phẩm y học Trung Quốc hợp chất bao gồm 29 loại thuốc Trung Quốc. Fu et al. đã sử dụng toàn bộ hàm lượng ancaloit được xác định bằng phương pháp chuẩn độ axit axit làm chỉ số và tối ưu hóa phương pháp thẩm thấu ethanol khi ngâm thuốc với rượu 55% trong 24 giờ và sau đó thấm qua 12 lần lượng cồn 55%. Khi sử dụng chỉ số chiết xuất của sinomenine (5) và ephedrine hydrochloride (6), Gao đã phát triển một phương pháp thẩm thấu tối ưu hóa khác: ngâm thuốc với 70% ethanol trong 24 giờ và sau đó thấm qua 20 lần lượng ethanol 70%. Tốc độ truyền của sinomenine và ephedrine hydrochloride lần lượt là 78,23 và 76,92%.

    Sắc thuốc

    Dịch chiết từ thuốc sắc chứa một lượng lớn tạp chất tan trong nước. Thuốc sắc có thể được sử dụng để chiết xuất các thành phần thermolabile hoặc dễ bay hơi. Các ginsenosides trong nhân sâm gặp phải phản ứng thủy phân, mất nước, khử carboxyl và các phản ứng bổ sung trong quá trình giải mã. Zhang và cộng sự. đã điều tra sự biến đổi hóa học của một chế phẩm TCM nổi tiếng, Danggui Buxue Tang, một loại thuốc thảo dược có chứa Astragali Radix và Angelicae Sinensis Radix. Họ phát hiện ra rằng hai flavonoid glycoside, calycosin-7-O-β-d-glucoside và ononin, trong Astragali Radix, có thể bị thủy phân để tạo thành calycosin và formononetin, tương ứng, trong quá trình giải mã. Hiệu quả thủy phân bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi pH, nhiệt độ và lượng thảo mộc. Hai hợp chất của TCM, Sanhuang Xiexin Tang (SXT) và Fuzi Xiexin Tang, đã được sử dụng ở Trung Quốc để điều trị các bệnh như tiểu đường trong hàng ngàn năm. SXT bao gồm Rhei Radix et Rhizoma, Scutellariae Radix và Coptidis Rhizoma trong khi FXT được sản xuất bằng cách thêm một TCM khác, Aconiti Lateralis Radix Prepata, trong SXT. Zhang và cộng sự. đã áp dụng một phương pháp UPLC-ESI / MS để giám sát 17 thành phần hoạt động trong các phân tích và trích dẫn SXT và FXT. Quá trình giải mã có thể tăng cường sự hòa tan của một số hợp chất hoạt tính sinh học so với quá trình maculation. Nội dung của 11 thành phần . Nhiệt độ cao trong quá trình giải mã đã làm mất hoạt tính của-glucuronidase và ngăn cản sự biến đổi glycoside thành aglycone của chúng, dẫn đến việc phát hiện ra hàm lượng cao hơn của baicalin và wogonoside trong thuốc sắc cũng như hàm lượng cao hơn của baicin và wogonoside. trong các câu lệnh. Sự tương tác giữa các hóa chất từ ​​các loại thảo mộc khác nhau cũng đã được quan sát. Các alcaloid diester-diterpenoid không được phát hiện trong thuốc sắc và thuốc ngâm của FXT, nhưng diester-diterpenoid alkaloid hypaconitine đã được tìm thấy trong thuốc sắc của một loại thảo dược duy nhất Aconiti Lateralis Radix Prepata. Thành phần của ba loại thảo dược khác trong FXT có thể thúc đẩy sự chuyển đổi từ các alcaloid diester-diterpenoid trong Aconiti Lateralis Radix Prepata sang các alcaloid monoester-diterpenoid ít độc hơn, có thể giải thích cơ chế giảm độc tính và tăng cường hiệu quả của TCM bằng cách hình thành .

    Chiết nóng hồi lưu

    Chiết xuất hồi lưu hiệu quả hơn so với quá trình thẩm thấu hoặc pha trộn và đòi hỏi ít thời gian chiết và dung môi hơn. Nó không thể được sử dụng để chiết xuất các sản phẩm tự nhiên thermolabile.

    Chiết xuất hồi lưu với 70% ethanol cung cấp năng suất cao nhất của thuốc trừ sâu sinh học tự nhiên, didehydrostemofoline (0,515% w / w của chiết xuất), từ rễ cây Collonaia trong số các chiết xuất được điều chế bằng các phương pháp chiết xuất khác nhau (siêu âm, chiết hồi lưu, Soxhlet, ngâm và ngấm kiệt)]. Zhang đã so sánh hiệu quả chiết xuất của các hoạt chất (baicalin và puerarin từ một hợp chất TCM kết hợp bảy loại thảo mộc với hai phương pháp khác nhau, sắc thuốc mã và hồi lưu. Phương pháp hồi lưu được tìm thấy tốt hơn phương pháp sắc thuốc. và sản lượng cao nhất của baicalin và puerarin thu được từ phương pháp hồi lưu với 60% ethanol làm dung môi chiết.

    Chiết xuất Soxhlet

    Phương pháp chiết xuất Soxhlet tích hợp các ưu điểm của chiết xuất và thẩm thấu hồi lưu, sử dụng nguyên lý hồi lưu và hút nước để liên tục chiết xuất thảo mộc bằng dung môi tươi. Chiết xuất Soxhlet là một phương pháp chiết xuất liên tục tự động với hiệu suất chiết cao, đòi hỏi ít thời gian và tiêu thụ dung môi hơn so với phương pháp maculation hoặc percolation. Nhiệt độ cao và thời gian chiết dài trong quá trình chiết Soxhlet sẽ làm tăng khả năng suy thoái nhiệt.

    Wei et al. thu được axit ursolic từ TCM Cynomorium (Cynomorii Herba) với năng suất 38,21 mg / g bằng cách chiết Soxhlet. Sự xuống cấp của catechin trong trà cũng được quan sát thấy trong chiết xuất Soxhlet do nhiệt độ chiết cao được áp dụng. Nồng độ của cả polyphenol và tổng số alcaloid từ phương pháp chiết Soxhlet ở 70 ° C đều giảm so với nồng độ của phương pháp ngâm áp dụng dưới 40 ° C.

    Chiết chất lỏng có áp suất (PLE)

    Chiết chất lỏng có áp suất (PLE) cũng được mô tả là chiết dung môi tăng tốc, chiết dung môi tăng cường, chiết chất lỏng điều áp, chiết chất lỏng tăng tốc và chiết bằng dung môi áp suất cao của các nhóm nghiên cứu khác nhau. PLE áp dụng áp suất cao trong khai thác. Áp suất cao giữ cho dung môi ở trạng thái lỏng trên điểm sôi của chúng dẫn đến độ hòa tan cao và tốc độ khuếch tán cao của các chất hòa tan lipid trong dung môi và độ thẩm thấu cao của dung môi trong ma trận. PLE giảm đáng kể mức tiêu thụ thời gian chiết và dung môi và có độ lặp lại tốt hơn so với các phương pháp khác.

    Các nhà nghiên cứu tại Đại học Macau và các viện nghiên cứu khác đã áp dụng thành công trong việc chiết xuất nhiều loại sản phẩm tự nhiên bao gồm saponin, flavonoid và tinh dầu từ TCM. Một số nhà nghiên cứu tin rằng PLE không thể được sử dụng để chiết xuất các hợp chất thermolabile do nhiệt độ chiết cao, trong khi những người khác tin rằng nó có thể được sử dụng để chiết xuất các hợp chất thermolabile vì thời gian chiết xuất được sử dụng trong PLE ngắn hơn. Phản ứng Maillard xảy ra khi PLE được sử dụng ở 200 ° C để chiết xuất chất chống oxy hóa từ bưởi nho. Anthocyanin là thermolabile. Gizir et al. áp dụng thành công PLE để thu được chiết xuất giàu anthocyanin từ cà rốt đen vì tốc độ phân hủy của anthocyanin phụ thuộc vào thời gian và điều kiện chiết xuất PLE trong thời gian ngắn ở nhiệt độ cao có thể khắc phục nhược điểm của nhiệt độ cao được sử dụng trong quá trình chiết xuất.

    Chiết chất lỏng siêu tới hạn (SFE)

    Chiết chất lỏng siêu tới hạn (SFE) sử dụng chất lỏng siêu tới hạn (SF) làm dung môi chiết. SF có độ hòa tan tương tự như chất lỏng và độ khuếch tán tương tự như khí, và có thể hòa tan nhiều loại sản phẩm tự nhiên. Tính chất hòa tan của chúng thay đổi đáng kể gần các điểm tới hạn do thay đổi áp suất và nhiệt độ nhỏ. Carbon dioxide siêu tới hạn (S-CO2) đã được sử dụng rộng rãi trong SFE vì những ưu điểm hấp dẫn của nó như nhiệt độ tới hạn thấp (31 ° C), tính chọn lọc, tính trơ, chi phí thấp, không độc hại và khả năng chiết xuất các hợp chất bền nhiệt. Độ phân cực thấp của S-CO2 làm cho nó trở nên lý tưởng cho việc chiết xuất các sản phẩm tự nhiên không phân cực như lipid và dầu dễ bay hơi. Một công cụ sửa đổi có thể được thêm vào S-CO2 để tăng cường đáng kể tính chất hòa tan của nó.

    Conde-Hernández chiết xuất tinh dầu hương thảo (Rosmarinus officinalis) bằng cách chiết xuất S-CO2, chưng cất thủy điện và chưng cất hơi nước. Ông phát hiện ra rằng cả hai sản lượng tinh dầu và hoạt tính chống oxy hóa của chiết xuất SFC đều cao hơn so với hai phương pháp khác. S-CO2 được biến đổi với 2% ethanol ở 300 bar và 40 ° C đã cho phép chiết xuất vinblastine cao hơn (một loại thuốc chống ung thư) từ Catharanthus roseus, hiệu quả hơn khi chiết xuất vinblastine 92% so với chiết xuất truyền thống phương pháp.

    Chiết có hỗ trợ siêu âm (UAE)

    Chiết xuất có hỗ trợ siêu âm (UAE), còn được gọi là chiết xuất siêu âm hoặc siêu âm, sử dụng năng lượng sóng siêu âm trong quá trình chiết xuất. Siêu âm trong dung môi tạo ra tăng tốc độ hòa tan và khuếch tán chất tan cũng như truyền nhiệt, giúp cải thiện hiệu suất chiết. Ưu điểm khác của UAE bao gồm tiêu thụ năng lượng và năng lượng thấp, và giảm nhiệt độ và thời gian chiết. UAE được áp dụng để khai thác các hợp chất thermolabile và không ổn định. UAE thường được sử dụng trong việc khai thác nhiều loại sản phẩm tự nhiên.

    Jovanović và cộng sự. đạt được năng suất polyphenol cao hơn từ Thymus serpyllum L. bởi UAE ở điều kiện tối ưu hóa (50% ethanol dưới dạng dung môi; 1:30 từ rắn đến dung môi; kích thước hạt 0,3 mm và thời gian 15 phút) so với phương pháp chiết xuất bằng phương pháp nhiệt và hỗ trợ nhiệt [13]. Wu và cộng sự. thấy rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê để chiết xuất ginsenoside, bao gồm ginsenosides Rg1 và Rb1, chikusetsusaponins V, IV và IVa, và pseudins RT1, từ TCM Panacis Japonici Rhizoma giữa UAE và trào ngược sử dụng metanol 70% dung dịch nước để chiết trong 30 phút. Quách et al. tìm thấy cả phương pháp hồi lưu và UAE có ưu điểm là tiết kiệm thời gian, vận hành thuận tiện và năng suất chiết cao và UAE tương đối tốt hơn phương pháp hồi lưu cho TCM Dichroae Radix sử dụng năng suất chiết xuất và hàm lượng của febrifugine làm chỉ số].

    Chiết có hỗ trợ lò vi sóng (MAE)

    Sóng vi ba tạo ra nhiệt bằng cách tương tác với các hợp chất phân cực như nước và một số thành phần hữu cơ trong ma trận thực vật theo cơ chế dẫn ion và cơ chế quay lưỡng cực. Sự truyền nhiệt và khối lượng theo cùng một hướng trong MAE, tạo ra hiệu ứng hiệp đồng để tăng tốc độ chiết và cải thiện năng suất chiết. Việc áp dụng MAE cung cấp nhiều lợi thế, chẳng hạn như tăng năng suất chiết xuất, giảm sự suy giảm nhiệt và gia nhiệt chọn lọc của vật liệu thực vật. MAE cũng được coi là một công nghệ xanh vì nó làm giảm việc sử dụng dung môi hữu cơ. Có hai loại phương pháp MAE: chiết không dung môi (thường cho các hợp chất dễ bay hơi) và chiết bằng dung môi (thường cho các hợp chất không bay hơi). Chen đã tối ưu hóa các điều kiện để MAE trích xuất resveratrol từ TCM Polygoni Cuspidati Rhizoma et Radix (rhizome và radix của Polygonum cuspidatum) bằng thí nghiệm trực giao. Hiệu suất chiết xuất 1,76% của resveratrol thu được từ các điều kiện tối ưu hóa như sau: thời gian chiết 7 phút, 80% ethanol, tỷ lệ chất lỏng với chất rắn 25: 1 (ml: g), công suất vi sóng 1,5 kw. Benmoussa và cộng sự. sử dụng phương pháp MAE không dung môi tăng cường để chiết xuất tinh dầu từ Nhà máy foeniculum Vulgare. hạt ở áp suất khí quyển mà không cần thêm bất kỳ dung môi hoặc nước. Năng suất và hồ sơ thơm trong chiết xuất MAE không dung môi tăng cường tương tự như chiết xuất bằng phương pháp chưng cất thủy điện và chỉ tốn một phần sáu thời gian chưng cất thủy điện. Xiong et al. đã phát triển một MAE để chiết xuất năm loại ancaloit hoạt tính sinh học chính là liensinine, neferine, isoliensinine, dauricine và nuciferin, từ phôi TCM Nelumbinis Plumula hạt nucifera) sử dụng thí nghiệm tiếp cận đơn biến và thiết kế hỗn hợp trung tâm. Các điều kiện MAE được tối ưu hóa như sau: 65% metanol làm dung môi chiết, công suất vi sóng 200 W và thời gian chiết là 260 s.

    Chiết xung điện (PEF)

    Chiết điện trường xung làm tăng đáng kể năng suất chiết và giảm thời gian chiết vì nó có thể tăng chuyển khối trong quá trình chiết bằng cách phá hủy cấu trúc màng. Hiệu quả của điều trị PEF phụ thuộc vào một số thông số bao gồm cường độ trường, đầu vào năng lượng cụ thể, số xung và nhiệt độ xử lý. Chiết xuất PEF là một phương pháp không nhiệt và giảm thiểu sự xuống cấp của các hợp chất thermolabile.

    Hou et al. thu được năng suất cao nhất của ginsenosides (12,69 mg / g) bằng PEF khi sử dụng các điều kiện cường độ điện trường 20 kV / cm, tần số 6000 Hz, dung dịch nước ethanol 70% và vận tốc 150 l / h. Năng suất của ginsenosides của phương pháp chiết xuất PEF cao hơn so với MAE, chiết xuất hồi lưu nhiệt, UAE và PLE. Toàn bộ quá trình trích xuất PEF mất ít hơn 1 giây và ít hơn nhiều so với các phương pháp được thử nghiệm khác. Trong một nghiên cứu về chất chống oxy hóa được chiết xuất từ ​​vỏ cây vân sam Na Uy, Bouras đã phát hiện ra rằng hàm lượng phenolic cao hơn nhiều (tám lần) và hoạt động chống oxy hóa (30 lần) đã đạt được sau khi điều trị PEF so với các mẫu không được xử lý.

    Chiết hỗ trợ enzyme (EAE)

    Cấu trúc của màng tế bào và thành tế bào, các mixen được hình thành bởi các đại phân tử như polysacarit và protein, và sự đông tụ và biến tính protein ở nhiệt độ cao trong quá trình chiết xuất là rào cản chính đối với việc chiết xuất các sản phẩm tự nhiên. Hiệu suất chiết xuất sẽ được tăng cường bởi EAE do tác động thủy phân của các enzyme trên các thành phần của thành tế bào và màng tế bào và các đại phân tử bên trong tế bào tạo điều kiện cho việc giải phóng sản phẩm tự nhiên. Cellulose, α-amylase và pectinase thường được sử dụng trong EAE.

    Polysacarit là một trong những thành phần có hoạt tính sinh học trong TCM Astragali Radix. Chen và cộng sự. đã nghiên cứu EAE của polysacarit từ cơ chế của Astragalus mucanaceus bằng cách sử dụng các enzyme khác nhau và thấy rằng glucose oxyase mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc chiết xuất polysacarit so với bảy loại enzyme khác được thử nghiệm (amyloglucosidase, hemiaellulase, amylase, amylase Sản lượng polysacarit trong điều kiện EAE được tối ưu hóa bằng cách sử dụng glucose oxyase tăng hơn 250% so với phương pháp xử lý không enzyme. Năng suất chiết của axit chlorogen từ lá Eucommia ulmoides được cải thiện rất nhiều khi sử dụng cellulase và chất lỏng ion. Strati el al. nhận thấy rằng năng suất chiết xuất carotene và lycopene từ chất thải cà chua đã tăng lên khi sử dụng enzyme pectinase và cellulase. So với phương pháp chiết dung môi không xử lý bằng enzyme, năng suất cao hơn gấp sáu và mười lần của hai hợp chất mục tiêu đã thu được trong các mẫu được xử lý bằng cellulase và pectinase, tương ứng.

    Chưng cất hydro và chưng cất hơi nước

    Chưng cất hydro (HD) và chưng cất hơi nước (SD) là phương pháp thường được sử dụng để chiết xuất dầu dễ bay hơi. Một số hợp chất tự nhiên gặp phải sự phân hủy trong HD và SD.

    Thành phần hóa học và hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu nguyên sinh và tinh dầu thứ cấp từ Mentha citrata bị ảnh hưởng đáng kể bởi các phương pháp chưng cất. Cả sản lượng tinh dầu nguyên chất và tinh dầu thứ cấp theo HD đều cao hơn so với SD. Yahya và Yunus thấy rằng thời gian chiết xuất đã ảnh hưởng đến chất lượng của dầu hoắc hương cần thiết được chiết xuất. Khi thời gian trích ly tăng, nội dung của một số thành phần giảm hoặc tăng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Dụng Và Cách Chiết Xuất Tinh Dầu Gừng Tại Nhà
  • Hướng Dẫn Chiết Xuất Tinh Dầu Gừng Nguyên Chất Đơn Giả
  • Phương Pháp Chiết Xuất Tinh Dầu Đơn Giản
  • Hướng Dẫn Trồng, Chiết, Giâm Và Ghép Cành, Rễ Bonsai
  • Nhân Giống Hoa Hồng: Hướng Dẫn Cách Chiết, Ghép Và Giâm
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Chiết Xuất Curcumin

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiêu Chuẩn Việt Nam Tcvn 8319:2010 Về Rau Quả
  • Các Chủ Trại Gà Đẻ Ở Việt Nam Khẳng Định: ‘không Xài Fipronil Để Trừ Mạt Như Nông Dân Hà Lan’
  • Tối Ưu Hóa Quá Trình Tách Chiết Flavonoid Từ Chè Dây Cao Bằng
  • Hướng Dẫn Định Giá Cổ Phiếu Theo Phương Pháp Pe, Fcff Và Fcfe
  • Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Diền Thuần Vốn Chủ ( Fcfe
  • 1. Tổng quan về các phương pháp chiết xuất Curcumin

    Các phương pháp chiết xuất Curcumin thường chia thành 2 loại:

    • Phương pháp chiết xuất truyền thống: chiết xuất rắn – lỏng thông thường (có hoặc không có khuấy trộn), chiết shoxlet.
    • Phương pháp chiết xuất hiện đại: chiết CO2 siêu tới hạn, chiết xuất với sự trợ giúp của vi sóng, kỹ thuật chiết xuất có sự hỗ trợ của enzym hoặc siêu âm…

    Tuy nhiên, do hàm lượng curcumin trong nghệ thường thấp và khả năng hòa tan của curcumin trong các dung môi thông dụng như (ethanol, methanol,…) cũng thấp nên quá trình chiết xuất hoạt chất này theo phương pháp truyền thống có rất nhiều mặt hạn chế:

    • Thời gian chiết xuất kéo dài: có thể từ 8 – 48h.
    • Nhiệt độ trong quá trình chiết xuất cao: 50 – 70°C.
    • Lượng dung môi bay hơi trong quá trình chiết xuất lớn, dẫn tới cần dung môi chiết xuất với số lượng lớn và gây ô nhiễm môi trường.
    • Hiệu suất chiết xuất curcumin còn thấp.

    Từ những nhược điểm của phương pháp chiết xuất truyền thống đã kích thích các nhà khoa học nghiên cứu các phương pháp chiết xuất hiện đại giúp nâng cao hiệu quả chiết xuất, thân thiện với môi trường, tiết kiệm nguyên liệu, sử dụng các dung môi hữu cơ dễ bay hơi nhưng ít nguy hiểm.

    2. Một số quy trình chiết xuất Curcumin

    2.1. Chiết Curcumin bằng phương pháp siêu âm

    Phương pháp siêu âm cũng là một trong những phương pháp chiết xuất curcumin hiện đại được nhiều nhà khoa học quan tâm. Phương pháp này có tác dụng phá vỡ cơ học thành tế bào, nâng cao hiệu quả chuyển khối và có nhiều ưu điểm như:

    • Khả năng phá hủy tế bào nhanh, mạnh hơn so với các phương pháp truyền thống.
    • Giảm công đoạn xử lý nguyên liệu đầu vào.
    • Giảm thời gian chiết xuất
    • Không cần gia nhiệt mà vẫn không làm giảm hiệu suất của quá trình chiết xuất.
    • Giảm chi phí tách chiết.
    • Dễ dàng thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho kết quả có tính lặp lại cao phù hợp với việc chuyển qui mô.

    – Chuẩn bị mẫu: Củ nghệ vàng khô do công ty Cafecontrol thu mua ở Bắc Giang cung cấp

    – Thiết bị, dụng cụ, hóa chất

    • Thiết bị và dụng cụ đã được hiệu chuẩn theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 và GLP
    • Máy cô quay Heidolph, bể siêu âm Branson 3510.
    • Các hóa chất: n-hexan, ethanol 96⁰, dung dịch chloroform, methanol, acetonidril, acid acetic 0.03%.

    – Quy trình chiết xuất như sau:

    • Củ nghệ khô xay thành bột (1kg), chiết xuất bằng siêu âm với hỗn hợp ethanol 96⁰ trong 15 phút ở nhiệt độ phòng.
    • Thu hồi dung môi, cao cô đặc được chiết với n-hexan để loại bỏ tinh dầu.
    • Lớp nước để lạnh kết tinh thu sản phẩm curcumin thô.

    Tiến hành tinh chế hỗn hợp curcumin thô bằng sắc ký cột với hệ dung môi là chloroform:methanol (99:1) và HPLC điều chế trên cột pha đảo RP-18, pha động là acetonidril-dung dịch acid acetic 0.03% (50:50), tốc độ dòng 3.0 ml/phút, thu được curcumin tinh khiết.

    Chất phân lập sau khi đuổi dung môi, sấy ở áp suất giảm và nhiệt độ 60⁰C thu được tinh thể màu vàng đậm với hiệu suất chiết khoảng 2.2%.

    2.2. Quy trình chiết Curcumin bằng phương pháp Soxhlet

    Chiết xuất Soxhlet là một trong những kỹ thuật chiết xuất curcumin được ứng dụng đầu tiên. Tuy nhiên phương pháp này còn tồn tại nhiều mặt hạn chế như thời gian chiết xuất kéo dài, nhiệt độ chiết xuất cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc chiết hợp chất mục tiê

    Xử lý mẫu ban đầu: Nghệ được mua về ở dạng củ tươi và được xử lý như sau:

    • Làm sạch các tạp chất rắn như: đất, cát, bụi…
    • Cắt lát, phơi nắng hoặc sấy khô ở nhiệt độ 40-50⁰C cho đến khi có khối lượng không đổi.
    • Sau khi để nguội ở nơi khô thoáng, cho vào máy xay thành bột mịn. Đây là nguyên liệu được dùng cho quá trình chiết xuất.

    Chiết xuất tinh dầu và chất béo:

    • Cân 100 gam bột nghệ cho vào túi vải, sau đó cho vào hệ thống chiết soxhlet.
    • Cho 0.5 lít dung môi petroleum ether vào bình cầu và một ít đá bọt.
    • Đun hoàn lưu khoảng 48 giờ ta thấy dung dịch có màu vàng đậm.
    • Kiểm tra bằng mặt kính đồng hồ, nếu thấy hết tinh dầu thì tắt bếp, để nguội.
    • Phần dung dịch được đem cô quay để thu hồi dung môi và thu được tinh dầu.
    • Phần bã được sấy khô và tiếp tục quá trình chiết xuất tiếp theo.
    • Rửa sạch và sấy khô hệ thống chiết Soxhlet.

    Chiết xuất Curcuminoid

    • Phần bã sau khi sấy khô, cho vào túi vải và tiếp tục cho vào hệ thống chiết Soxhlet như trên.
    • Cho 0.5 lít dung môi ethanol 95⁰ vào bình cầu và thêm một ít đá bọt.
    • Đun hoàn lưu 48 giwof ta thấy dung dịch có màu nâu đỏ. Phần dung dịch sau khi cô quay để loại bỏ dung môi ta sẽ thu được cao EtOH dùng cho quá trình nghiên cứu tiếp theo.

    Phân lập curcumin từ hợp chất curcuminoid

    – Bước 1: Chuẩn bị

    • Cột sắc ký (đường kính 36 mm, cao 60 cm) được rửa sạch sấy khô, cho bông gòn vào đáy cột, kẹp thẳng góc trên giá.
    • Silica gel (60G, 0.04 – 0.063 nm, 80 g) được cho từ từ đều đặn mỗi lần một lượng nhỏ vào một becher đựng sẵn dung môi là CH2Cl2. Vừa cho silica gel vào vừa khuấy nhẹ.

    – Bước 2: Nhồi cột

    Đặt một phễu đuôi dài lên đầu cột, rót hỗn hợp silica gel sệt vào, mở nhẹ khóa bên dưới cột cho dung môi chảy vào một becher bên dưới cột, dung môi này được sử dụng rót lên đầu cột. Sau khi nạp xong, cho dung môi chạy tuần hoàn nhiều lần để nén lớp silica gel cho đến khi ổn định và có chiều cao là 30 cm. Cho một lớp cát biển khoảng 0.25 – 0.5 cm lên trên lớp silica gel để bảo vệ bề mặt cột.

    – Bước 3: Đưa mẫu phân tích vào cột

    Hòa tan hoàn toàn lượng mẫu (4 g curcuminoid) bằng CH2Cl2 rồi cho silica gel vào hấp phụ, sấy khô sau đó nạp hết vào cột.

    – Bước 4: Triển khai cột

    Dung môi dùng để rửa giải là hệ dichloromethane – methanol.

    Đầu tiên dùng hệ 100% dichloromethane. Sau đó theo thời gian, tăng dần độ phân cực của dung môi bằng cách pha thêm vào dung môi lượng tăng dần methanol theo các tỷ lệ DC:Met = 99.5:0.5, DC:Met = 99:1,…

    Trong quá trình chạy cột có sử dụng bơm nén khí để tạo áp suất giúp cho quá trình rửa giải nhanh hơn.

    – Bước 5: Thu và kiểm tra các phân đoạn Kiểm tra các phân đoạn bằng sắc ký bản mỏng với hệ dung môi thích hợp. Ở đây sử dụng hệ dung môi chạy bản mỏng dichloromethane-methanol (98:2 v/v).

    – Bước 6: Thu hồi và định lượng các phân đoạn Các phân đoạn có kết quả kiểm tra TLC như nhau được gom lại và cô quay chân không và cân định lượng.

    2.3. Chiết xuất curcumin bằng vi sóng

    Các bước thực hiện chiết xuất curcumin bằng lò vi sóng được thực hiện như sau:

    – Cân 0.5g bột nghệ và hòa tan 10 ml acetone trong cốc có mỏ (Acetone được sử dụng do đây là dung môi chiết có hệ số phân tán tốt, có thể làm nóng đến mức cao)

    – Đặt cốc có mỏ trong buồng vi sóng. Buồng vi sóng được điều chỉnh với công suất trong khoảng từ 100 -450 W trong thời gian 0.5 – 3 phút

    – Sau đó, dung môi được tách qua bộ lọc 0.45 µm và bay hơi trong chân không

    – Căn được cân và hòa tan trong 10 ml methanol để định lượng curcumin bằng HPLC

    2.4. Chiết xuất Curcumin với sự hỗ trợ của enzyme

    Enzyme α-Amylase và amyloglocosidase được sử dụng cho quá trình thủy phân bột nghệ vì các loại enzyme này có thể thủy phân được carbohydrate có trong nghệ (chiếm hơn 80% thành phần của nghệ).

    Quy trình chiết xuất Curcumin với hỗ trợ của enzyme được tiến hành như sau:

    – Cân 1 g bột nghệ trong bình nón 250 ml và thêm với 100 ml nước (nước là dung môi chiết kém nhưng cần thiết cho hoạt động của enzyme), sau đó thêm 50 ml dung dịch đệm McIlvaine pH 5.

    – Thêm hỗn hợp enzyme Enzyme α-Amylase và amyloglocosidase vào bình.

    – Bình được bọc kín bằng màng nhôm và lắc trong tủ ấm (IKA IC4000) ở tốc độ 130 vòng / phút và ủ ở nhiệt độ 65 ° C (là nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của α-amylase và amyloglocosidase) và ủ trong 8 giờ.

    – Sau khi tiền xử lý enzyme, lớp huyền phù lắng xuống và lọc lấy lớp nước được tách ra khỏi bột nghệ; các hạt bột nghệ kết tủa được sấy khô ở 60 ° C trong 6 giờ và sau đó được chiết xuất curcumin bằng 10 ml acetone với các thời gian chiết khác nhau từ 1-5h.

    – Phần dung môi được thu hồi và cho bay hơi bằng máy cô quay chân không.

    – Phần tinh dầu được cân và hòa tan trong 10 ml metanol để phân tích hàm lượng curcumin có trong nó.

    3. Đánh giá các phương pháp chiết xuất Curcumin

    Những phương pháp chiết xuất hiện đại như chiết xuất siêu âm, hỗ trợ enzyme, vi sóng là những phương pháp hiện đại và cho hiệu suất chiết xuất cao hơn với nhiều ưu điểm nổi bật như nhiệt độ chiết xuất thấp, thời gian chiết ngắn và sử dụng ít dung môi hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Khả Năng Thủy Phân Lá Chè Xanh Bằng Enzyme Và Ứng Dụng Để Chiết Tách Polyphenol
  • Tài Liệu Các Phương Pháp Chiết Xuất Hợp Chất Thiên Nhiên
  • Thẩm Định Giá Doanh Nghiệp Bằng Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Cổ Tức
  • Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Cổ Tức Trong Định Giá Doanh Nghiệp
  • Tiêu Chuẩn Việt Nam Tcvn 6123
  • Nghiên Cứu Chiết Xuất Berberin Từ Vàng Đắng Bằng Dung Dịch Kiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Cây Cơ Bản
  • Cách Chiết Cành Khế “siêu Đơn Giản” Cho Cành Nhiều Rễ
  • Cách Chiết Cành Khế Ra Rễ Cực Nhanh
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cây Mít
  • Cách Chiết Cành Mít Cho Cành Khỏe, Ra Nhiều Rễ Nhất
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    BỘ Y TẾ

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

    ĐỒNG QUANG HUY

    NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT BERBERIN

    TỪ VÀNG ĐẮNG BẰNG DUNG DỊCH KIỀM

    LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

    HÀ NỘI 2014

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    BỘ Y TẾ

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

    ĐỒNG QUANG HUY

    NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT BERBERIN

    TỪ VÀNG ĐẮNG BẰNG DUNG DỊCH KIỀM

    LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

    CHUYÊN NGÀNH

    CÔNG NGHỆ DƯỢC PHẨM VÀ BÀO CHẾ THUỐC

    MÃ SỐ: 60720402

    HÀ NỘI 2014

    LỜI CẢM ƠN

    Với lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn:

    TS.Nguyễn Văn Hân

    Người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực

    hiện đề tài.

    Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo, anh chị kĩ

    thuật viên Bộ môn Công nghiệp Dược đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi

    hoàn thành luận văn này.

    Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội,

    những người đã dạy dỗ và chỉ bảo tôi tận tình trong những năm tháng học tập

    tại trường.

    Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã động

    viên và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua.

    Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2014

    Đồng Quang Huy

    1

    CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN

    2

    1.1. Berberin clorid

    2

    1.1.1. Công thức hóa học và tính chất

    2

    1.1.2. Nguồn nguyên liệu chiết xuất berberin

    3

    1.1.3. Tác dụng dược lý và ứng dụng

    5

    1.1.4. Một số chế phẩm chứa berberin

    6

    1.2. Cây vàng đắng

    7

    1.2.1. Đặc điểm thực vật của cây vàng đắng

    7

    1.2.2. Phân bố và sinh thái

    10

    1.2.3. Bộ phận dùng

    10

    1.2.4. Thành phần hóa học

    11

    1.2.5. Ứng dụng của cây vàng đắng

    12

    1.3. Sản xuất berberin

    13

    CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    16

    2.1. Nguyên liệu, hóa chất, thiết bị

    16

    2.1.1. Nguyên liệu

    16

    2.1.2. Hóa chất, thiết bị, dụng cụ

    16

    2.2. Nội dung nghiên cứu

    18

    2.2.1. Xác định hàm lượng berberin trong dược liệu vàng đắng

    18

    2.2.2. Xác định độ tan của Berberin trong các dung môi chiết xuất

    18

    2.2.3. Xác định độ ổn định của berberin trong các dung môi chiết xuất

    18

    2.2.4. Xác định tốc độ chiết

    18

    2.2.5. Khảo sát nồng độ vôi

    19

    2.2.6. Xác định số lần chiết

    19

    2.2.7. Chiết xuất 1 kg bột dược liệu vàng đắng

    19

    2.2.8. Tinh chế berberin

    19

    2.3. Phương pháp nghiên cứu

    19

    2.3.1. Phương pháp định lượng berberin

    19

    2.3.1.1. Nguyên tắc

    19

    2.3.1.2. Tiến hành

    19

    2.3.1.3. Tính kết quả

    21

    2.3.2. Phương pháp xác định độ tan của berberin trong các dung môi

    chiết xuất

    21

    2.3.2.1. Nguyên tắc

    21

    2.3.2.2. Tiến hành

    21

    2.3.3. Phương pháp xác định độ ổn định của berberin trong các dung môi

    chiết xuất

    22

    2.3.4. Phương pháp xác định tốc độ chiết

    22

    2.3.5. Phương pháp chiết xuất và tinh chế berberin

    23

    2.3.6. Kiểm tra chất lượng sản phẩm

    23

    CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ

    24

    3.1. Xác định hàm lượng berberin trong dược liệu vàng đắng

    24

    3.2. Xác định độ tan của berberin trong các dung môi chiết xuất

    26

    3.3. Xác định độ ổn định của berberin trong các dung môi chiết xuất

    27

    3.4. Xác định tốc độ chiết

    28

    3.5. Xác định nồng độ vôi thích hợp

    29

    3.5.1. Sơ đồ quy trình dự kiến

    29

    3.5.2. Mô tả quy trình

    30

    3.5.3. Khảo sát nồng độ vôi

    31

    3.6. Xác định số lần chiết

    32

    3.7. Chiết xuất 1 kg bột dược liệu vàng đắng

    36

    3.8. Tinh chế berberin clorid

    38

    3.9. Kiểm tra chất lượng sản phẩm

    42

    3.9.1. Kiểm nghiệm sản phẩm berberin clorid tinh chế

    42

    3.9.2. Dữ liệu phổ

    43

    CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN

    46

    4.1. Về giai đoạn chiết xuất

    46

    4.2. Về giai đoạn tinh chế

    48

    4.3. Về quy trình thao tác

    49

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    50

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    PHỤ LỤC

    DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

    Trang

    Hình 1.1. Thân, lá, hoa và quả của cây vàng đắng

    8

    Hình 1.2. Sơ đồ quy trình chiết xuất berberin bằng dd acid sulfuric 0,4%

    14

    Hình 2.1. Lát cắt thân cây vàng đắng

    16

    Hình 3.1. Sắc ký đồ mẫu chuẩn berberin

    25

    Hình 3.2. Sắc ký đồ HPLC mẫu dược liệu

    25

    Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn nồng độ berberin trong các dung môi chiết

    theo thời gian

    29

    Hình 3.5. Sơ đồ quy trình dự kiến chiết và phân lập berberin clorid thô

    30

    Hình 3.6.1. Biểu đồ khối lượng berberin clorid thô được chiết với số lần

    chiết khác nhau

    34

    Hình 3.6.2. Hình ảnh sản phẩm berberin clorid thô

    35

    Hình 3.7.1. Sơ đồ quy trình chiết berberin bằng hỗn dịch vôi 1%

    37

    Hình 3.7.2. Sắc ký đồ berberin clorid thô

    38

    Hình 3.8.1. Sơ đồ quy trình tinh chế berberin clorid thô bằng ethanol 50%

    41

    Hình 3.8.2. Sắc ký đồ berberin clorid tinh chế 2 lần

    41

    DANH MỤC CÁC BẢNG

    Trang

    Bảng 3.1. Hàm lượng berberin(C20H18NO4) trong dược liệu

    24

    Bảng 3.2. Độ tan của berberin clorid trong các dung môi chiết xuất

    26

    Bảng 3.3. Độ ổn định của berberin trong các dung môi chiết xuất

    27

    Bảng 3.4. Nồng độ berberin trong các dung môi chiết xuất theo thời gian

    28

    Bảng 3.5. Hiệu suất chiết berberin bằng nước vôi

    31

    Bảng 3.6. Khối lượng berberin thô với số lần chiết khác nhau bằng

    hỗn dịch vôi 1%

    32

    Bảng 3.7. Khối lượng berberin thô với số lần chiết khác nhau bằng

    dung dịch natri bicarbonate 0,2%

    33

    Bảng 3.8. Khối lượng berberin thô với số lần chiết khác nhau bằng

    dung dịch acid sulfuric 0,4%

    33

    Bảng 3.9. Hiệu suất và chất lượng sản phẩm khô với các dung môi

    khác nhau

    35

    Bảng 3.10. Kết quả chiết xuất berberin mẻ 1kg

    36

    Bảng 3.11. Hàm lượng berberin clorid tinh chế 1 lần

    39

    Bảng 3.12. Hàm lượng berberin clorid tinh chế 2 lần

    40

    Bảng 3.13. Tóm tắt kết quả kiểm nghiệm

    42

    Bảng 3.14. Các giải hấp thụ đặc trưng trong phổ hồng ngoại (IR)

    43

    Bảng 3.15. Kết quả phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1H-NMR)

    và(13C-NMR)

    44

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Vàng đắng là một cây thuốc quý, mọc hoang chủ yếu ở các nước vùng

    nhiệt đới. Ở nước ta, cây mọc phổ biến ở miền Đông nam bộ, Nam trung bộ,

    Tây nguyên. Ngoài ra còn thấy mọc nhiều ở Trung, Hạ Lào và Campuchia.

    Trong thân và rễ cây vàng đắng, hàm lượng berberin rất cao. Berberin cũng là

    hoạt chất chính của nhiều cây như: Hoàng liên gai (Berberis sp.), Hoàng bá

    (Phellodendron amurense) và nhiều cây thuộc chi Coptis…

    Trong dân gian, vàng đắng thường được dùng để chữa lị, đau mắt, viêm

    ruột , làm giảm lượng cholesterol .

    Đã có một số nghiên cứu về phương pháp chiết xuất berberin như phương

    pháp chiết berberin từ vàng đắng bằng dung dịch acid sulfuric 0,4% . Hiện nay

    chủ yếu dùng dung dịch acid sulfuric loãng để chiết xuất, tuy nhiên quy trình

    chiết vẫn còn một số nhược điểm như: kéo dài thời gian, tốn nhiều dung môi,

    hóa chất, đòi hỏi thiết bị chiết chịu được acid…

    Nhận thấy berberin tan được trong các dung dịch kiềm, là tính chất khá

    đặc biệt của berberin. Với mong muốn đóng góp một phương pháp mới để chiết

    xuất berberin từ cây vàng đắng chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chiết

    xuất berberin từ vàng đắng bằng dung dịch kiềm”. Nội dung đề tài nhằm

    giải quyết mục tiêu sau: Xây dựng được phương pháp chiết xuất và tinh chế

    berberin từ vàng đắng bằng dung dịch kiềm qui mô phòng thí nghiệm.

    1

    CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN

    1.1. Berberin clorid

    1.1.1. Công thức hóa học và tính chất

    Công thức hóa học:

    Công thức phân tử: C20H18NO4Cl.2H2O

    Tên khoa học: 5,6-dihydro-8,9-dimethoxy-1,3-dioxa-6a-azoniaindeno(5,6-a)

    anthracen clorid dihydrat.

    Lý tính: tinh thể hay bột kết tinh màu vàng, không mùi có vị rất đắng. Độ chảy

    khi ở dạng base là 145oC (bị phân hủy). Độ tan dạng base tan chậm trong nước,

    hơi tan trong ethanol, khó tan trong ether. Dạng muối clorid tan ở tỷ lệ 1/400

    trong nước, dễ tan trong nước sôi, tan trong ethanol, thực tế không tan trong

    chloroform và ether. Dạng muối sulfat dễ tan trong nước ở tỷ lệ 1/30, tan trong

    ethanol Berberin không có C bất đối nên không có đồng phân quang học. .

    Bên cạnh những cây thuộc chi Berberis cho berberin còn có những cây

    khác cũng cho berberin như các cây thuộc chi Coptis: Coptis teeta Wall.,

    C.chinensis Franch., C.teetoides C.Y.Cheng., C.deltoidea C.Y.Cheng. .

    Berberin cũng có trong các cây thuộc chi Mahonia: M. annamica Gagnep.,

    M. nepalensis D.C., M. bealei Carr.

    Ngoài ra, berberin còn được tìm thấy trong vỏ các cây như: Hoàng bá

    (Phellondendron amurense Rupr. và P.chinense Schneider.) với tỉ lệ 1,6% .

    Chi Coscinium là một chi nhỏ trong họ tiết dê( Menispermaceae) phân bố

    chủ yếu ở vùng núi miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, ngoài ra

    còn thấy mọc hoang nhiều ở Trung và Hạ Lào, Campuchia.

    Theo Phạm Hoàng Hộ trong ”Cây cỏ Việt Nam” đã mô tả 3 loài thuộc

    chi Coscinium .

    Hiện nay, người ta thường dùng vàng đắng để đưa vào sản xuất berberin

    vì hàm lượng berberin trong thân và rễ cây cao, nguồn nguyên liệu nhiều, dễ thu

    hái, có ở nhiều vùng của Việt Nam, biên giới Việt Lào, Campuchia. Do đó,

    người ta coi vàng đắng là nguồn nguyên liệu chính để chiết xuất berberin.

    1.1.3. Tác dụng dược lý và ứng dụng

    4

    Berberin có tác dụng kháng khuẩn được dùng chủ yếu trong các bệnh rối

    loạn đường tiêu hóa .

    Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng: berberin có khả năng hạ đường

    huyết hiệu quả như metformin, cơ chế hoạt động bao gồm việc ức chế aldose

    reductase, làm giảm đường và ngăn ngừa sự kháng insulin . Ngoài ra, berberin còn có tác dụng chống co giật nên

    có thể dùng trong bệnh động kinh , có tác dụng chống

    trầm cảm .

    1.1.4. Một số chế phẩm có chứa berberin

    Berberin được dùng phổ biến dưới dạng viên nén, viên bao hoặc viên

    nang với hàm lượng là 10mg, 25mg, 50mg, 100mg/viên. Berberin được chỉ định

    với trực khuẩn, hội chứng lỵ, viêm ruột, tiêu chảy, viêm ống mật. Ngoài ra,

    berberin còn được bào chế thành thuốc nhỏ mắt điều trị viêm kết mạc, đau mắt

    đỏ do kích thích bên ngoài (gió, nắng, bụi, khói…), berberin còn có tác dụng

    điều trị bệnh đau mắt hột ở các giai đoạn khác nhau. Berberin có thể được dùng

    5

    Natri sulphacetamid:

    1g

    Clopheniramin maleat:

    0,002 g

    Naphazolin nitrat:

    0,0025 g

    6

    Berberin clorid:

    0,0002 g

    Nước cất, tá dược vừa đủ

    10 ml

    Chỉ định: đau mắt đỏ, đau mắt hột, nhức mỏi mắt, viêm kết mạc. Các trường hợp

    ngứa mắt do dị ứng.

    Cách dùng: nhỏ mắt ngày 4 – 5 lần, mỗi lần 2 – 3 giọt.

    1.2. Cây vàng đắng

    Vàng đắng thuộc chi Coscinium, là một chi nhỏ trong họ Tiết dê

    (Menispermaceae) phân bố chủ yếu ở vùng núi miền Đông nam bộ, Nam trung

    bộ, Tây Nguyên, ngoài ra còn mọc hoang nhiều ở Trung và Hạ Lào, Campuchia.

    Theo Phạm Hoàng Hộ trong “Cây cỏ Việt Nam” đã mô tả 3 loài thuộc chi

    Coscinium là: C. fenestratum Colebr., C. blumeamum Miers., C. colaniae Gagn.

    phân bố ở vùng núi miền Đông nam bộ, Tây Nguyên .

    1.2.1. Đặc điểm thực vật của cây vàng đắng

    Theo Trần Công Khánh đã mô tả .

    Năm 1999, Đỗ Tất Lợi : Vàng đắng là một loại dây leo to, thân rộng 5

    – 7 cm có thể tới 15 – 20 cm ở những gốc già; gỗ màu vàng, vỏ thân nứt nẻ màu

    xám trắng; các nhánh, mặt dưới lá, cụm hoa và quả có lông màu trắng bạc. Lá

    mọc so le, phiến to đến 25 cm, 5 gân; màu trắng mốc ở mặt dưới; cuống phình

    và cong ở góc, hơi dính vào trong phiến lá. Hoa nhỏ mọc thành chụm tán trên

    thân già, hoa đực có 5 nhị, hoa cái có nhị lép, 3 lá noãn có lông. Quả hạch tròn,

    đường kính cỡ 2,5 cm.

    Phạm Hoàng Hộ .

    1.2.3. Bộ phận dùng

    Đoạn thân hình trụ, đường kính 1,5 – 6 cm, dài ngắn không nhất định, mặt

    ngoài màu vàng, có vết bạc loang lổ, có đoạn có chỗ phình to tròn, có vết lõm

    tròn do vết tích của cành non và cuống lá, có vết khía và nứt dọc nhỏ, đôi chỗ

    bong mất lớp bần.

    Đoạn rễ hình trụ, màu vàng sẫm, không có bướu. Mặt cắt ngang có lớp vỏ

    mỏng màu nâu nhạt, phần gỗ màu vàng có tia tủy hình nan hoa bánh xe, lỗ chỗ

    có nhiều chấm nhỏ (mạch gỗ), không mùi, vị đắng [2].

    1.2.4. Thành phần hóa học

    10

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Chiết Xuất Artemisinin
  • Chiết Suất Và Tinh Chế Carotenoi
  • Nghiên Cứu Chiết Tách Và Thành Phần Chất Màu Anthocyanin Trong Rau Dền Đỏ
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Bộ Kit Tách Chiết Adn Trong Phòng Thí Nghiệm
  • Phương Pháp Và Nguyên Lý Của Việc Tách Chiếc Adn
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Hợp Chất Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Phương Pháp Chiết Xuất Tinh Dầu Được Dùng Hiện Nay
  • Giới Thiệu Phương Pháp Tách Chiết Các Hợp Chất Bằng Cách Sử Dụng Co2 Ở Trạng Thái Siêu Tới Hạn (Sco2)
  • Bộ Chiết Dung Môi/ Béo Theo Phương Pháp Soxhlet 02 Vị Trí Det
  • Đề Tài Phân Tích Và Tách Chiết Alkaloid Trong Thực Vật
  • Phân Tích Chất Cấm Sibutramine Trong Thực Phẩm Chức Năng Hỗ Trợ Giảm Cân
  • CHƯƠNG 1:

    CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT

    HỢP CHẤT TỰ NHIÊN

    I.

    ĐẠI CƯƠNG VỀ HỢP CHẤT TỰ NHIÊN

    Vào thời tiền sử, con người phải kiếm cây cỏ và động vật hoang dại để làm thức ăn.

    Qua chọn lọc và thử thách, con người dần dần xác định được thực vật, động vật nào ăn

    được hoặc không ăn được. Tính chất chữa bệnh của một số thực vật, động vật dần dần

    được tích lũy thành kinh nghiệm.

    Thuốc phòng bệnh và trị bệnh hầu hết được điều chế từ 2 nguồn: nguyên liệu và hóa

    dược. Riêng dược thảo, theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, con số lên tới 20.000

    loài, không chỉ các nước Á Đông mà các nước phương Tây cũng tiêu thụ một lượng rất

    lớn nguyên liệu. Trong những năm gần đây, xu hướng trên thế giới dùng thuốc thảo mộc

    tự nhiên ngày càng nhiếu, nhiều biệt dược, Đông dược của Trung quốc, Ấn Độ được tiêu

    thụ mạnh ở các nuớc châu Âu.

    Nhiều hoạt chất quan trọng như: quinin, morphin, vincaleucoblastin, strychnin,

    emetin,… đều phải chiết xuất ra từ nguyên liệu và chúng có thể đi bằng con đường tổng

    hợp. Hiện nay, con người vẫn còn tiếp tục nghiên cứu các hoạt chất có cấu trúc mới từ

    nguyên liệu thiên nhiên rồi từ đó bán tổng hợp ra các dẫn xuất có hiệu quả hơn.

    II.

    CÁC QUÁ TRÌNH XẢY RA TRONG CHIẾT XUẤT HỢP CHẤT TỰ

    NHIÊN

    Dựa vào chức năng sinh học, người ta chia các hợp chất trong cây thành 2 nhóm lớn:

    – Chất trao đổi bậc 1 (chất biến dưỡng nhất cấp: primary metabolite)

    – Chất trao đổi bậc 2 (chất biến dưỡng thứ cấp: secondary metabolite)

    Chất trao đổi bậc 1 là các chất tham gia vào quá trình sinh trưởng của cây như hydrat

    carbon, lipid và acid amin.

    1

    Chất trao đổi bậc 2 là các chất mà vai trò chủ yếu của chúng không phải là để nuôi

    sống và phát triển của cây cỏ. Vai trò của chúng còn nhiều vấn đề chưa hiểu biết hết,

    chúng có thể chỉ hiện diện trong một loài đặc trưng hoặc một nhóm sinh vật, chúng có thể

    đóng vai trò là chất gây chán ăn cho một số loài động vật như chất dẫn dụ côn trùng; như

    tác nhân kháng sinh hoặc có khi không có vai trò rõ rệt nào cả…

    Trong lĩnh vực nghiên cứu, nhất là y học và nông nghiệp; các chất trao đổi bậc 2 chính

    là đối tượng nghiên cứu quan trọng do các tác dụng sinh lý và dược lý của chúng như tác

    dụng kháng sinh, diệt nấm, tác dụng ức chế hoặc độc đối với tế bào; tác dụng kích thích

    hoặc ức chế sinh trưởng và các tác dụng dược lý, sinh lý khác.

    Về mặt phân loại hoá học, hợp chất thiên nhiên được sắp xếp theo các nhóm chức cơ

    bản:

    Hydrat carbon

    Lipid và Acid béo

    Acid amin

    Acid hữu cơ

    Hợp chất phenol

    Saponin

    Glycoside

    Alcaloid…

    Trong cây, các hợp chất hữu cơ tồn tại ở dạng hòa tan trong nước, dầu béo hoặc tinh

    dầu.

    Các chất hòa tan trong nước (dịch tế bào) là các hydrat carbon phân tử bé

    (monosaccharid, oligosaccharid), một số polysaccharid (pectin, gôm), các glycosid

    (saponin, flavonoid, iridoid…) muối alcaloid của các acid hữu cơ, acid amin. Các hợp

    chất phenol hòa tan dưới dạng glycosid (flavonoid, tanin) hoặc dạng phức hợp khác.

    Các chất tan trong dầu béo và tinh dầu là các hydrocarbon, monoperpen, sterol,

    carotenoid …

    2

    Dầu và tinh dầu được khu trú trong những bộ phận riêng biệt của cây như ở hạt, vỏ,

    thân (tinh dầu)..

    Nói chung các chất tan trong nước (dịch tế bào) là những chất phân cực, còn những

    chất tan trong dầu hoặc tinh dầu là các chất không phân cực. Tính phân cực của mỗi chất

    khác nhau tùy thuộc vào trọng lượng phân tử (mạch carbon) và các nhóm chức. Thông

    thường mạch carbon càng dài thì tính phân cực càng giảm. Về nhóm chức: các nhóm chức

    có mang điện tích âm có thể liên kết với 1 nguyên tử hydro của H-O-H để hình thành dây

    nối liên kết hydro thì gọi là nhóm phân cực.

    Các nguyên tử mang điện tích âm có thể là: O, N, S, F, Cl… Như vậy các nhóm như:

    -OH, -CO, -NO2, -NH2, -COOH, -SO2, và các Halogen đều là những nhóm phân cực. Các

    phân tử càng có nhiều nhóm phân cực thì tính phân cực càng mạnh, nhưng nếu mạch

    carbon càng dài thì độ phân cực sẽ giảm.

    Thí dụ: các glycosid là những chất phân cực mạnh do phần đường của chúng có nhiều

    nhóm phân cực (-OH), mạch đường càng dài thì độ phân cực càng cao. Nếu glycosid bị

    thủy phân cắt mất phần đường, chỉ còn lại phần aglycon thì tính phân cực của aglycon sẽ

    giảm hẳn.

    Một yếu tố khác ảnh hưởng đến vấn đề chiết xuất là các enzym có trong cây. Trong

    quá trình chế biến, nếu không khống chế hoạt động của các enzym thì các glycosid có thể

    bị thủy phân một phần hoặc toàn phần làm thay đổi tính phân cực, do đó thay đổi độ hòa

    tan của các hợp chất đối với dung môi.

    III.

    XỬ LÝ NGUYÊN LIỆU

    Việc lựa chọn, thu hái, xác định nguyên liệu mẫu cây cần nghiên cứu là những giai

    đoạn đầu tiên cần phải tiến hành trong quá trình khảo sát hóa thực vật.

    Khi thu hái mẫu cây, cần kết hợp với nhà thực vật học để xác định tên khoa học (vì

    cây thường được gọi bằng tên địa phương rất dễ gây nhầm lẫn). Phải ghi rõ cây thu hái ở

    vùng nào, thời gian thu hái, độ tuổi của cây. Phải ghi rõ người hái hoặc cơ quan giám định

    cây, và cây hiện được lưu mẫu ở đâu. Khi thu hái nguyên liệu phải chú ý loại bỏ các cây

    sâu bệnh. Đối với các bộ phận vỏ, thân, rễ chú ý xem xét kỹ, tránh thu hái cây có mang

    3

    những sinh vật ký sinh. Nhiều trường hợp đã có kết luận sai về thành phần hóa học vì cây

    có mang những loại nấm ký sinh.

    Thông thường, mẫu cây sau khi thu hái về được rữa sạch, để ráo nước, làm khô tự

    nhiên trong mát có quạt hoặc nơi thoáng gió. Cây có thể được phơi khô ở nhiệt độ phòng

    hoặc sấy ở nhiệt độ thấp hơn 60oC. Không được phơi dưới ánh nắng mặt trời vì tia tử

    ngoại có thể kích thích phản ứng hóa học, tạo nên những chất giả gọi là artefact, không

    phải là những hợp chất có thực trong cây.

    Một vài trường hợp đặc biệt, người ta khảo sát trên cây tươi. Trong trường hợp này,

    cây cần được nhanh chóng xắc nhỏ và ngâm ngay trong dung môi ly trích để tránh quá

    trình lên men hay phản ứng hóa học.

    Muốn diệt những enzym có sẵn trong cây, có thể thực hiện bằng nhiều cách:

    Nhúng mẫu cây vào methanol hoặc ethanol ngay sau khi thu hái.

    Đối với tinh dầu, cần phải tiến hành ly trích ngay trên mẫu cây tươi để tránh thất

    thoát do tinh dầu bay hơi.

    Mẫu cây cần được xay nhỏ để dung môi có thể thấm vào màng tế bào của cây và ly

    trích những chất biến dưỡng thứ cấp. Nếu các chất biến dưỡng thứ cấp trong cây cần ly

    trích có tính dễ bay hơi hay kém bền nhiệt, có thể bỏ qua giai đoạn xay nghiền, vì quá

    trình tán nghiền nhuyễn sẽ phát sinh ra nhiệt, làm hao hụt sản phẩm. Đôi khi người ta

    dùng kỹ thuật ngâm đông lạnh mẫu cây (mẫu khô hay mẫu tươi) trong nitơ lỏng, rồi

    nghiền giã cây trong một cái cối hoặc trong một cái bao bằng polyetylen dày.

    IV.

    DUNG MÔI

    Dung môi dùng để chiết xuất các hợp chất thiên nhiên rất đa dạng và thay đổi theo

    đaặc tính của các hợp chất biến dưỡng muốn ly trích ra. Cơ sở để chọn dung môi là tính

    phân cực của hợp chất trong cây và dung môi.

    Dung môi phân cực và không phân cực:

    Quá trình hình thành một dung dịch là tùy thuộc vào đặc tính của chất tan và dung

    môi. Để hình thành một dung dịch, trước hết phải có sự phá vỡ các dây nối liên kết

    4

    trong hợp chất tan và trong dung môi, để hình thành dây nối liên kết mới giữa chất

    tan và dung môi. Thí dụ ether ethylic và nước.

    Hằng số điện môi của nước ở 20oC là 80,4 trong khi ether ethylic là 4,34.

    Nguyên tử hydro của phân tử nước có khả năng liên kết với một nguyên tử mang

    điện tích âm của một hợp chất khác, hình thành dây nối liên kết hydro trong dung

    dịch nước, trong khi ether ethylic không có sự liên kết này. Dây nối hydro hình

    thành ảnh hưởng lớn đến tính hòa tan của hợp chất đối với dung môi.

    Nước vừa có tác dụng như một acid, vừa là một baz, còn ether là một baz rất yếu

    không hoạt động như một acid.

    Do những đặc điểm trên, nước được xem như một dung môi phân cực mạnh, còn ether

    ethylic là một dung môi không phân cực.

    Độ phân cực của các dung môi thường dùng được sắp xếp tăng dần theo chỉ số phân

    cực ghi ở bàng 1.

    Bảng 1: Các dung môi thường dùng được sắp xếp tăng dần tương đối theo chỉ số

    phân cực.

    Dung môi

    Nhiệt

    độ sôi (oC)

    Hexan

    Heptan

    Ciclohexan

    Tetraclorur carbon

    Toluen

    Xylen

    Benzen

    Diethyl ether

    Diclorometan

    Isopropanol

    n-Buthanol

    Tetrahydrofuran

    n-Propanol

    Acetate butyl

    Chloroform

    5

    Acetate ethyl

    Methyl ethyl ceton

    Dioxan

    Aceton

    Methanol

    Ethanol

    Acetonitryl

    Acid acetic

    Dimethyl sulfoxid

    Nước

    III.1. Chất tan trong nước và dung môi phân cực

    Các chất điện ly như muối vô cơ đều tan trong dung môi phân cực.

    Chất phân cực: các hợp chất hữu cơ nói chung không ion hóa nhưng nếu chúng có

    chứa các nhóm hoặc nguyên tử mang điện tích âm có thể hình thành dây nối hydro

    với nước thì chúng sẽ tan được trong nước.

    Những nhóm có khả năng tạo dây nối hydro như: -OH, CO, NO, NH 2 và các Halogen

    gọi là nhóm phân cực.

    Càng có nhiều nhóm phân cực thì phân tử ấy càng dễ hoà tan trong nước. Nhưng nếu

    mạch hydro carbon của phân tử càng dài thì độ hòa tan càng giảm. Thực nghiệm cho thấy,

    1 nhóm phân cực trong phân tử có khả năng hình thành liên kết hydro với phân tử nước sẽ

    làm cho phân tử ấy tan được trong nước nếu mạch carbon của phân tử không có quá 5

    nguyên tử carbon hoặc không quá 6 nếu phân tử có thêm mạch nhánh. Nhưng nếu phân tử

    có nhiều nhóm phân cực (2 nhóm trở lên) thì tỉ lệ này giảm xuống: 1 nhóm phân cực ứng

    với 3 hoặc 4 carbon trong mạch thì phân tử ấy tan được trong nước.

    III.2. Chất tan trong ether ethylic và dung môi không phân cực

    Các hợp chất hữu cơ không chứa nhóm phân cực gọi là các chất không phân cực.

    Thông thường các chất không phân cực đều tan trong ether ethylic và dung môi không

    phân cực, không tan trong nước và các dung môi phân cực khác. Hầu hết các chất hữu cơ

    tan trong nước đều không tan trong ether ethylic.

    6

    Nếu một chất vừa tan trong nước, vừa tan trong ether thì chất đó phải là chất không

    ion hóa, có số carbon không quá 5, có 1 nhóm phân cực tạo dây nối hydro nhưng không

    phải là nhóm phân cực mạnh.

    V.

    CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT

    Phương pháp chiết xuất bao gồm việc chọn dung môi, dụng cụ chiết và cách chiết.

    Một phương pháp chiết xuất thích hợp chỉ có thể được hoạch định khi đã biết rõ thành

    phần hóa học của cây. Mỗi loại hợp chất có độ hòa tan khác nhau trong từng loại dung

    môi. Vì vậy không thể có một phương pháp chiết xuất chung cho tất cả các loại hợp chất

    trong cây.

    Lựa chọn phương pháp trích ly để có được cao trích thô là công việc rất quan trọng để

    tránh phân hủy hợp chất, tránh các phản ứng phụ, các phản ứng chuyển vị.

    Trong cây thường chứa một số cấu tử được xem như chất gây cản trở trong quá trình

    chiết xuất hoặc tinh chế hợp chất như các diệp lục tố, polyphenol …Đôi khi các chất dùng

    để bôi trơn dụng cụ thủy tinh như vaselin, silicon cũng bị nhiễm vào dung dịch ly trích.

    Có nhiều cách sử dụng dung môi để ly trích mẫu cây. Khi cho dung môi chiết vào,

    dung môi sẽ thấm qua màng tế bào của cây, các hoạt chất trong tế bào sẽ hòa tan vào

    trong dung môi. Khi đó sẽ xuất hiện một quá trình thẩm thấu giữa dịch chiết trong thành

    tế bào và dung môi bên ngoài. Quá trình thẩm thấu này kết thúc khi có sự cân bằng nồng

    độ hợp chất của dung dịch bên trong và bên ngoài thành tế bào.

    Như vậy, trong quá trình chiết sẽ xảy ra 2 quá trình:

    Quá trình hòa tan.

    Quá trình thẩm thấu.

    Hai quá trình này thực hiện liên tục cho đến khi quá trình chiết kết thúc. Nguyên liệu

    phải được xay nhỏ đến mức thích hợp để dung môi có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với

    thành tế bào một cách dễ dàng, thúc đẩy quá trình chiết xuất nhanh chóng và nâng cao

    hiệu xuất chiết.

    7

    V.1.

    Chiết bằng phương pháp ngấm kiệt (Percolation)

    Phương pháp ngấm kiệt là một trong những phương pháp trích ly được sử dụng phổ

    biến nhất vì không đòi hỏi nhiều thao tác cũng như thời gian.

    Dụng cụ gồm một bình ngấm kiệt, hình trụ đứng, bằng thủy tinh, ở dưới đáy bình có

    van khóa để điều khiển tốc độ dung môi chảy ra. Khi đã ngâm mẫu cây trong dung môi

    sau một thời gian nhất định, dung dịch chảy ra được hứng trong một erlen bên dưới, ở

    trên có một bình lóng chứa dung môi chảy vào bình ngấm kiệt này.

    Đây là quá trình chiết liên tục, dung môi sau khi đã bảo hòa hoạt chất sẽ được liên tục

    thay thế bằng dung môi mới. Tuy vậy người ta không thực hiện liên tục mà mẫu cây được

    ngâm trong dung môi khoảng 1-2 ngày, cho dung môi bão hòa chảy ra rồi mới cho dung

    môi mới vào tiếp tục thực hiện quá trình trích ly. Để khảo sát sự chiết xuất hoàn toàn

    chưa, người ta thường theo dõi bằng cách lấy dịch trích ly thử với các thuốc thử đặc trưng

    của hoạt chất cần trích.

    V.2.

    Chiết bằng phương pháp ngâm dầm (Maceration)

    Phương pháp ngâm dầm không hiệu quả gì hơn phương pháp ngấm kiệt, chỉ là ngâm

    bột cây trong bình chứa bằng thủy tinh hoặc thép không rỉ có nắp đậy. Rót dung môi phủ

    lớp bột cây, để yên ở nhiệt độ phòng, dung môi sẽ ngấm dần vào nguyên liệu và hòa tan

    các chất tự nhiên. Có thể gia tăng hiệu quả chiết xuất bằng cách khuấy bột cây hoặc dùng

    máy lắc nhẹ.

    Sau 24 giờ, dung môi trong bình được rót ra và đổ dung môi mới vào.

    V.3.

    Chiết bằng phương pháp ngấm kiệt ngược dòng

    Đây là sự kết hợp giữa phương pháp ngấm kiệt và phương pháp ngâm dầm. Bột cây

    được cho vào nhiều bình chiết khác nhau, ví dụ có 3 bình A, B, C. Cho dung môi vào

    bình A, ngâm và lấy ra dung dịch A 1, lấy dung dịch A1 để riêng. Cho dung môi mới vào

    bình A, ngâm và lấy ra được dung dịch A 2. Lấy dung dịch A2 làm dung môi đầu cho bình

    B, tương tự như trên có được dung dịch B 1 và dung dịch B2. Dung dịch B2 làm dung môi

    đầu cho vào bình C, quá trình diễn ra tương tự như trên… Như vậy, dung dịch được chiết

    8

    ra từ bình trước được dùng làm dung môi để ngâm bột cây của bình sau. Đây là phương

    pháp được ứng dụng nhiều trong sản xuất lớn. Phương pháp này chỉ khác với phương

    pháp ngấm kiệt là dịch chiết sau khi lấy ra không theo phương pháp nhỏ giọt mà mở khóa

    cho chảy thẳng dòng sau khi ngâm một thời gian nhất định.

    V.4.

    Chiết bằng Soxhlet

    Bộ dụng cụ Soxhlet được bán sẵn với nhiều loại kích cỡ. Phương pháp có ưu điểm là

    chỉ sử dụng một lượng ít dung môi mà vẫn có thể chiết kiệt được hoạt chất. Sự ly trích tự

    động, liên tục nên nhanh chóng.

    Muốn biết quá trình chiết đã cạn kiệt chưa, tháo phần ống ngưng hơi, dùng pipet hút

    lấy vài giọt dung dịch trong bình chứa mẫu cây, nhỏ lên mặt kính hoặc giấy lọc, để dung

    môi bay hơi hết để lại vết cắn trên bề mặt kính. Nếu không thấy vết thì đã chiết kiệt, nếu

    thấy vết thì phải chiết thêm một thời gian nữa

    Nhược điểm của phương pháp này là không chiết được một lượng lớn mẫu cây, nên

    chỉ thích hợp cho các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Một nhược điểm lớn nữa là

    trong suốt quá trình chiết, mẫu cây luôn có nhiệt độ bằng nhiệt độ sôi của dung môi nên

    những hợp chất kém bền nhiệt như carotenoid có thể bị thủy giải, phân giải hoặc tạo các

    hợp chất artefact.

    V.5.

    Chiết bằng cách đun hoàn lưu

    Bột cây và dung môi hữu cơ được chứa trong một bình cầu có gắn ống sinh hàn. Đun

    hoàn lưu trên bếp cách thủy ở nhiệt độ sôi của dung môi. Sau một thời gian cần thiết,

    dung dịch chiết được lấy ra và lọc qua giấy lọc. Dung môi mới được đưa vào và chiết

    thêm 3-4 lần nữa cho đến khi kiệt.

    Hiếm khi người ta đun bột cây với dung môi là nước, dù đây là phương pháp trong

    dân gian vẫn hay dùng để sắc thốc để uống và một số chất cũng tan được trong nước,

    nhưng vì nước có nhiệt độ sôi cao và áp suất hơi nhỏ nên rất khó cô cạn. Để chiết xuất

    những hoạt chất tan nhiều trong nước, người ta hay dùng hỗn hợp Methanol-nước hoặc

    Ethanol-nước.

    9

    V.6.

    Chiết bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước

    Đây là phương pháp đặc biệt dùng để ly trích tinh dầu và những hợp chất dễ bay hơi

    có trong cây. Dụng cụ gồm một bình cầu lớn để cung cấp hơi nước, hơi nước sẽ được dẫn

    sục vào bình có chứa mẫu cây, hơi nước xuyên thấm qua mẫu cây và lôi theo những cấu

    tử dễ bay hơi; hơi nước tiếp tục bay hơi và được ngưng tụ bởi một ống sinh hàn, ta thu

    được hỗn hợp nước-tinh dầu. Dùng ether dầu hỏa hay ether ethyl để ly trích tinh dầu ra

    khỏi hỗn hợp trên hoặc để yên một thời gian trong bình lóng sẽ có sự tách giữa 2 pha tinh

    dầu – nước.

    10

    11

    Trích ngấm kiệt

    Trích lỏng – lỏng

    (Vận tốc dung môi chảy vào bình đựng bột

    cây bằng vận tốc chảy ra)

    Hai loại dung môi không hòa tan vào nhau

    12

    13

    Trích bằng lôi cuốn của hơi nước

    Kiểu cải tiến (Dyne Stake)

    14

    VI.

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHIẾT XUẤT

    Khi chiết xuất các hợp chất tự nhiên trong cây, người ta thường trích luôn các tạp chất

    hay có trong cây như chất béo, chất màu. Những tạp chất này sẽ làm cản trở quá trình cô

    lập tinh chế các hoạt chất muốn khảo sát.

     Chất béo (lipid)

    – Thường được loại bằng những dung môi không phân cực, nhưng chúng

    cũng có thể chiết xuất bởi những dung môi phân cực.

    – Các loại hợp chất này có thể được nhận thấy khi sắc ký lớp mỏng và

    hiện màu bởi hơi iod sẽ cho những vệt màu nâu.

    – Muốn loại bỏ chất béo và sáp có thể thực hiện theo những cách sau đây:

    o Bột cây trước tiên phải được ly trích bằng ether dầu hỏa cho thật

    kiệt, sau đó phơi khô bột cây rồi trích tiếp bằng các dung môi khác.

    o Dùng sắc ký cột nhanh (flash-chromatography): dung môi giải ly là

    ether dầu hỏa hoặc hexan.

     Với chất màu (pigment) : rất khó loại, ở nhiệt độ phòng thí nghịêm có thể

    dùng than hoạt tính, acetat chì, hoặc để trong tủ lạnh cho tủa.

     Các hợp chất polyphenol-tanin: thực vật thường chứa tanin với hàm lượng

    cao. Muốn loại bỏ tanin ra khỏi dịch chiết nước, người ta thường cho dung

    dịch ly trích qua cột hấp phụ có chứa polyamid, Sephadex LH-20….

     Các chất dẻo (plasticizero):

    Các chất dẻo như phtalat dialkyl, tri-n-butyl acethyl citrat, tributyl phosphat, …

    thường là tạp chất lẫn trong dung môi, hoặc là các phụ gia của thùng chứa làm

    bằng chất dẻo.

    Trong chloroform và methanol thường có chứa phtalat di-2-ethyl hexyl, trước đây

    đã bị lầm tưởng là hợp chất thiên nhiên cô lập từ cây cỏ.

    Ngoài ra khi chiết xuất, cần phải chú ý đến các chất bôi trơn như silicon chân không ở

    thiết bị cô quay chân không, các chất artefact là những chất chỉ hình thành trong quá trình

    chiết xuất, thường là những dẫn xuất của các hợp chất thiên nhiên. Muốn hạn chế những

    trường hợp này cần phải sử dụng các điều kiện chiết xuất, cô lập êm dịu.

    15

    Tại mỗi giai đoạn của quá trình chiết xuất, đều có thể tạo nên những hợp chất artefact

    này.

    Thí dụ:

    Trong khi loại dung môi cuả dung dịch chiết xuất để thu cao, sự có mặt các muối ion

    vô cơ, những vết acid có thể là tác nhân cho một số phản ứng.

    Một vài dung môi như aceton, methanol, ethylen glycol có thể tạo nên các dẫn xuất.

    Chất hấp thụ dùng trong sắc ký cột như alumin có thể gây nên phản ứng ngưng tụ,

    phản ứng chuyển, phản ứng cộng nước hoặc phản ứng khử nước, silicagel cũng có thể gây

    nên phản ứng oxy hóa.

    VII.

    CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT THEO HÓA HỌC XANH

    16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiết Khấu Là Gì? Hướng Dẫn Cách Tính Chiết Khấu Bán Hàng
  • Chiết Xuất Là Gì ? Quy Trình, Phương Pháp Và Công Nghệ Chiết Xuất
  • Thẩm Định Giá Bất Động Sản Bằng Phương Pháp Chiết Trừ
  • Phương Pháp Chiết Trừ Trong Định Giá Đất
  • Cách Định Giá Cổ Phiếu Bằng Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Saponin Bạn Cần Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Lọc Cổ Phiếu Theo Phương Pháp Canslim
  • Phương Pháp Canslim Là Gì ?【Có Video Tài Liệu】 Sách Chứng Khoán Pdf Hướng Dẫn Thực Hành Đầu Tư
  • 7 Tiêu Chí Lựa Chọn Cổ Phiếu Theo Phương Pháp Canslim
  • Cách Chiết Cành Hoa Hồng Đảm Bảo Sống 100%
  • Phương Pháp Dạy Học Stem Là Gì? Hiểu Đúng Về Giáo Dục Stem
  • Các phương pháp chiết xuất saponin

    Chiết xuất saponin bằng dung môi

    – Đối với nhóm saponin kiềm thuộc nhóm spirosolan và solanidan:

    Nồi cách thủy đun nóng kèm với đó là bột dược liệu thêm methanol. Dịch lọc đem bốc hơi đến khô trên nồi cách thủy. Hòa tan cặn trong nồi đun nóng 80 độ cùng với acid acetic 5%, sau đó kiềm hóa bằng amoniac.

    Tủy của nó được ly tâm sau đó hòa tan vào ethanol 96% để chấm sắc ký.

    – Đối với saponin trung tính và acid:

    Loại chất béo trong bột dược liệu bằng cách chiết với ether dầu hỏa. Sau đó chiết saponin bằng dung môi methanol – nước tỉ lệ 4:1. Dưới áp suất giảm ta có thể loại methanol. Sau đó hòa cặn trong nước để có dung dịch 10% rồi lắc với n – butanol.

    Sau đó bốc hơi butanol dưới áp suất giảm rồi tiếp tục hòa cặn với methanol để có dung dịch chấm sắc ký.

    Bằng cách dung dịch mẫu trong nước được nạp lên cột có chứa Diaion HP – 20. Tiếp tục quá trình bằng (H 2­­­ O – MeOH) với nồng độ MeOH tăng dần lên.

    Đây là phương pháp sử dụng sóng siêu âm với tần số phù hợp để tác động mạnh vào dược chất giúp tăng sự thẩm thấu trong dung môi và đồng thời tăng sự hòa tan dược chất.

    Chúng ta thường sử dụng sâm Ngọc Linh để bồi bổ sức khỏe, và cũng chính nhờ phương pháp chiết xuất saponin bằng sóng siêu âm tạo ra, đóng vai trò quan trọng trong quy trình chiết xuất.

    Những nguyên liệu được chiết xuất từ phương pháp saponin

    Chiết xuất saponin từ cây đinh lăng

    Cùng tìm hiểu quá trình chiết xuất cây đinh lăng được thực hiện theo phương pháp saponin qua quá trình sau đây:

    – Tiến hành trích ly saponin triterpenoid tổng với sự hỗ trợ của sóng siêu âm: Với sóng siêu âm cố định là 225 W/g trong thời gian 15 phút, nguyên liệu được pha trộn với nước với tỉ lệ chuẩn và được xử lý.

    Kết thúc quá trình trích ly, thu được hỗn hợp được ly tâm ở nhiệt độ phòng và tốc độ là 5800 vòng/phút trong vòng 15 phút. Sau đó thu lấy phần dịch trong để chuẩn bị cho quá trình phân tích quang phổ.

    Quy trình chiết xuất saponin đinh lăng trên phụ thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố là: tỉ lệ nguyên liệu/nước, công suất siêu âm và thời gian siêu âm.

    Phương pháp chiết xuất saponin từ sâm ngọc linh

    Quy trình chiết xuất sâm Ngọc Linh trong chiết xuất Saponin như sau :

    – Chuẩn bị: Thu hái dược liệu sâm Ngọc Linh trên núi Ngọc Linh sau đó thái nhỏ và đưa đi phơi khô. Dung môi được sử dụng trong quá trình này là ethanol 85%.

    – Lựa chọn phương pháp chiết xuất: Đó là sóng siêu âm với tần số 20Hz.

    – Các bước tiến hành chiết xuất: Dược liệu sau khi được thái nhỏ, phơi khô, được ngâm chiết với dung môi được chuẩn bị trong vòng 5 lần, mỗi lần 400ml. Và tiến hành chiết xuất với sóng siêu âm là 40­ độ C trong vòng 5 giờ.

    Gộp các dịch chiết ethanol và dịch chiết nước thu được lọc qua giấy lọc, gom lại và cất từng loại dung môi dưới áp suất giảm.

    Như vậy là quá trình chiết xuất bằng sóng siêu âm là phương pháp khá hiện đại hiện nay với quy trình khá đơn giản.

    Chiết xuất saponin từ nhân sâm

    Quy trình chiết xuất saponin từ nhân sâm tương tự như cách thức chiết xuất ra sâm Ngọc Linh. Trong nhân sâm chứa các thành phần hóa học quan trọng như: Saponin, polyacetylene, tinh dầu…Có công dụng bổ sung, tăng cường sức khỏe tốt nên được sử dụng nhiều vào quá trình chiết xuất, gia công tạo sản phẩm được sử dụng thông dụng hàng ngày.

    Chiết xuất saponin từ đậu nành

    Có thể nói, chiết xuất saponin từ đậu nành đóng vai trò quan trọng hiện nay.

    Bởi những chiết xuất từ nó giúp ức chế sự phát triển của những tế bào ung thư biểu mô đại tràng. Đồng thời có tác dụng giảm cholesterol, giảm lipid máu.

    Với sự đa dạng của saponin có trong tự nhiên, nên các phương pháp chiết xuất nó cũng trở nên phong phú. Hy vọng những chia sẻ trên của chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu thêm một phần nào về chiết xuất saponin.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chiết Cành Cây Ăn Quả Nhanh Ra Rễ
  • 4 Quy Luật Đơn Giản Của Phương Pháp Rụng Trứng Billings™
  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Bác Sĩ Hiromi Shinya Và Lời Khuyên Về Cách Ăn Uống Có Đường Ruột Khỏe
  • Phương Pháp Chiết Xuất Saponin

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiết Xuất Lô Hội Thiên Nhiên
  • Cài Đặt Thuật Toán Tính Crc Mạng Máy Tính Và Truyền Số Liệu
  • Phương Pháp Giải Toán Đa Thức Trên Máy Tính Cầm Tay Casio
  • Bộ Sách Làm Giàu Từ Chứng Khoán + Thực Hành Phương Pháp Canslim
  • Phương Pháp Đầu Tư Chứng Khoán Canslim
  • Song hành cùng sự phát triển không ngừng của nền công nghiệp sắc đẹp thì cũng có rất nhiều phương pháp ra đời để làm đẹp. Vậy nên cũng ta cũng cần nhắc đến một trong những phương pháp hữu hiệu bậc nhất mang tên saponin. Saponin được ứng dụng rộng rãi như là một phương pháp chiết xuất hữu hiệu nhất.

    Các phương pháp chiết xuất saponin

    Chiết xuất saponin bằng dung môi

    – Đối với nhóm saponin kiềm thuộc nhóm spirosolan và solanidan:

    Nồi cách thủy đun nóng kèm với đó là bột dược liệu thêm methanol. Dịch lọc đem bốc hơi đến khô trên nồi cách thủy. Hòa tan cặn trong nồi đun nóng 80 độ cùng với acid acetic 5%, sau đó kiềm hóa bằng amoniac.

    Tủy của nó được ly tâm sau đó hòa tan vào ethanol 96% để chấm sắc ký.

    – Đối với saponin trung tính và acid:

    Loại chất béo trong bột dược liệu bằng cách chiết với ether dầu hỏa. Sau đó chiết saponin bằng dung môi methanol – nước tỉ lệ 4:1. Dưới áp suất giảm ta có thể loại methanol. Sau đó hòa cặn trong nước để có dung dịch 10% rồi lắc với n – butanol.

    Sau đó bốc hơi butanol dưới áp suất giảm rồi tiếp tục hòa cặn với methanol để có dung dịch chấm sắc ký.

    Phương pháp chiết xuất Saponin bằng sắc ký cột Diaion HP-20

    Bằng cách dung dịch mẫu trong nước được nạp lên cột có chứa Diaion HP – 20. Tiếp tục quá trình bằng (H 2­­­ O – MeOH) với nồng độ MeOH tăng dần lên.

    Phương pháp chiết xuất Saponin bằng sóng siêu âm

    Phương pháp này là tác động của sóng siêu âm tần số mạnh giúp tăng sự thẩm thấu trong dung môi và đồng thời tăng sự hòa tan dược chất.

    Chúng ta thường sử dụng sâm Ngọc Linh để bồi bổ sức khỏe, và cũng chính nhờ phương pháp chiết xuất saponin bằng sóng siêu âm tạo ra, đóng vai trò quan trọng trong quy trình chiết xuất.

    Những nguyên liệu được chiết xuất từ phương pháp saponin

    Chiết xuất saponin từ cây đinh lăng

    Cùng tìm hiểu quá trìnhchiết xuất cây đinh lăngđược thực hiện theo phương pháp saponin qua quá trình sau đây:

    – Chuẩn bị: Chuẩn bị nguyên liệu là lá cây đinh lăng được thu hái, phơi khô, xay hoặc nghiền. Nguyên liệu được chuẩn bị cho quá trình trích ly phải được bảo quản cẩn thận.

    – Tiến hành trích ly saponin triterpenoid tổng với sự hỗ trợ của sóng siêu âm: Với sóng siêu âm cố định là 225 W/g trong thời gian 15 phút, nguyên liệu được pha trộn với nước với tỉ lệ chuẩn và được xử lý.

    Kết thúc quá trình trích ly, thu được hỗn hợp được ly tâm ở nhiệt độ phòng và tốc độ là 5800 vòng/phút trong vòng 15 phút. Sau đó thu lấy phần dịch trong để chuẩn bị cho quá trình phân tích quang phổ.

    Quy trình chiết xuất saponin đinh lăng trên phụ thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố là: tỉ lệ nguyên liệu/nước, công suất siêu âm và thời gian siêu âm.

    Phương pháp chiết xuất saponin từ sâm ngọc linh

    Quy trìnhchiết xuất sâm Ngọc Linhtrong chiết xuất Saponin như sau :

    – Chuẩn bị: Thu hái dược liệu sâm Ngọc Linh trên núi Ngọc Linh sau đó thái nhỏ và đưa đi phơi khô. Dung môi được sử dụng trong quá trình này là ethanol 85%.

    – Lựa chọn phương pháp chiết xuất: Đó là sóng siêu âm với tần số 20Hz.

    – Các bước tiến hành chiết xuất: Dược liệu sau khi được thái nhỏ, phơi khô, được ngâm chiết với dung môi được chuẩn bị trong vòng 5 lần, mỗi lần 400ml. Và tiến hành chiết xuất với sóng siêu âm là 40­ độ C trong vòng 5 giờ.

    Dịch chiết được khai thác hết bằng cách tiếp tục thêm tiếp dung môi vào ngập dược liệu trong 5 lần tiếp theo. Tiếp tục chiết xuất bằng dịch nước sau quá trình sử dụng dịch cồn.

    Gộp các dịch chiết ethanol và dịch chiết nước thu được lọc qua giấy lọc, gom lại và cất từng loại dung môi dưới áp suất giảm.

    Như vậy là quá trình chiết xuất bằng sóng siêu âm là phương pháp khá hiện đại hiện nay với quy trình khá đơn giản.

    Chiết xuất saponin từ nhân sâm

    Quy trình chiết xuất saponin từ nhân sâm tương tự như cách thức chiết xuất ra sâm Ngọc Linh. Trong nhân sâm chứa các thành phần hóa học quan trọng như: Saponin, polyacetylene, tinh dầu…Có công dụng bổ sung, tăng cường sức khỏe tốt nên được sử dụng nhiều vào quá trình chiết xuất, gia công tạo sản phẩm được sử dụng thông dụng hàng ngày.

    Một số chiết xuất được tạo nên như: Chiết xuất sâm Ngọc Linh, sâm K5, sâm Cao Ly…

    Chiết xuất saponin từ đậu nành

    Có thể nói, chiết xuất saponin từ đậu nành đóng vai trò quan trọng hiện nay.

    Bởi những chiết xuất từ nó giúp ức chế sự phát triển của những tế bào ung thư biểu mô đại tràng. Đồng thời có tác dụng giảm cholesterol, giảm lipid máu.

    DANH SÁCH MẠNG XÃ HỘI

    https://chietxuat3c.tumblr.com/post/621856252067282944/c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-chi%E1%BA%BFt-xu%E1%BA%A5t-saponin-b%E1%BA%A1n-c%E1%BA%A7n-bi%E1%BA%BFt

    https://www.linkedin.com/posts/chietxuat-3c-386ab119b_c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-chi%E1%BA%BFt-xu%E1%BA%A5t-saponin-b%E1%BA%A1n-c%E1%BA%A7n-activity-6681731387516628993-V3IF

    https://www.plurk.com/p/nvyx7i

    https://www.pinterest.com/pin/608478599646357881

    Các phương pháp chiết xuất saponin#phuongphapchietxuat#chietxuatsaponin#chietxuatmypham#Chietxuatduocpham https://t.co/YP34VYErQh

    — chietxuat3c (@chietxuat1) June 25, 2022

    https://mix.com/chietxuat3c/ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-chi%E1%BA%BFt-xu%E1%BA%A5t-saponin

    https://adfty.biz/news/cac-phuong-phap-chiEt-xu%E1%BA%A4t-saponin-b%E1%BA%A0n-c%E1%BA%A6n-biEt/

    https://oneway.com/chietxuat/2wegsf_br60h07c6

    https://www.stage32.com/post/2509760314212361222″

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Chiết Xuất Saponin (Extraction Of Saponins From Plants)
  • Cách Giâm Cành Để Nhân Giống Cây Hoa Hồng Tại Nhà
  • So Sánh Phương Pháp Giâm Cành Chiết Cành Và Ghép Cành
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 8973:2011 (En 12821 : 2009) Về Thực Phẩm
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Tách Cành Lan
  • Tổng Quan Về Chiết Xuất Dược Liệu Là Gì ? Mục Đích, Quy Trình Và Các Phương Pháp Chiết Xuất Chiết Xuất 3C

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 10480:2014 (Iso 18609:2000) Về Dầu Mỡ Động Vật Và Thực Vật
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 6123:2007 (Iso 3596:2000) Về Dầu Mỡ Động Vật Và Thực Vật
  • Tiêu Chuẩn Việt Nam Tcvn 6123
  • Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Cổ Tức Trong Định Giá Doanh Nghiệp
  • Thẩm Định Giá Doanh Nghiệp Bằng Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Cổ Tức
  • Chiết xuất dược liệu là có nguồn gốc nguyên liệu trong tự nhiên chứa các tinh chất quý giá mà còn người không thể tự tổng hợp. Sự kết hợp theo các công thức hóa học nhất định của những thành phần lấy từ các bộ phận trên thảo dược ( hoa, quả, hạt, lá, cành, thân, rễ, củ…) ở dạng tươi hoặc đã qua sơ chế, sây khô. Tuy nhiên, mỗi loại dược liệu sẽ được chiết xuất khác nhau, ngay cả khi chúng có nguồn gốc từ cùng một loại thảo dược.

    Mục đích của chiết xuất dược liệu là gì?

    Hiện nay trong Đông y sử dụng rất nhiều phương pháp chiết xuất dược liệu khác nhau. Nhưng vẫn cùng một mục đích vẫn không thay đổi.

    Mục đích của chiết xuất dược liệu là tạo ra các chế phẩm toàn phần và tách chiết riêng các hoạt chất tinh khiết. Sẽ giúp chúng ta lấy các hoạt chất dưới dạng cần thiết dạng dung dịch hay bột. Thu được chất tinh khiết để làm thuốc mới hoặc bán tổng hợp ra thuốc mới.

    Quy trình chiết xuất dược liệu

    • Chuẩn bị dược liệu, dung môi
    • Chiết xuất hoạt chất
    • Loại bỏ bớt tạp chất
    • Cô đặc, sấy khô
    • Xác định và điều chỉnh tỷ lệ hoạt chất
    • Hoàn chỉnh chế phẩm
    • Đóng gói theo tiêu chuẩn
    • Bàn giao

    Các kỹ thuật và phương pháp chiết xuất dược liệu phổ biến hiện nay

    Kỹ thuật chiết xuất dược liệu bằng siêu âm là gì?

    Đối với việc chiết xuất dược liệu bằng siêu âm là quá trình chiết xuất đôi khi sóng siêu âm cũng được áp dụng để tăng hiệu quả. Bởi sóng siêu âm với tần số trên 20 KHz thường được sử dụng. Sóng siêu âm có tác dụng làm tăng sự hòa tan của các chất trong môi trường dung môi và tăng quá trình khuếch tán.

    Trong chiết xuất ở quy mô lớn hơn, đầu phát siêu âm thường được nhúng trực tiếp vào bình chiết chứa dược liệu. Do khả năng xuyên sâu kém nên việc sử dụng thường ở quy mô phòng thí nghiệm.

    Chiết xuất dược liệu bằng vi sóng

    Với những tình nắng vượt trội có được, vi sóng được ứng dụng rộng rãi và tin cậy. Đặc biệt, trong các phẩn ứng cần cấp nhiệt, các phản ứng cần cấp nhiệt, với các phản ứng giữa các pha dị thể. Chiết xuất dược liệu bằng vi sóng có tác dụng khuấy trộn, tăng tiếp xúc pha làm cho hiệu suất phản ứng được lớn hơn.

    Đối với chiết xuất dược liệu bằng cồn, dịch chiết còn được cô đặc. Nên thêm vào đó là các chiết xuất bằng dung môi hữu cơ không phân cực.

    Phương pháp chiết xuất saponin

    Saponin có một số tính chất đặc biệt: Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hoá và tẩy sạch. Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng. Vì saponin làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp nên làm mất các chất điện giải cần thiết.

    Ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân mềm như giun, sán, ốc sên. Kích ứng niêm mạc gây hắt hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi tiểu, liều cao gây nôn mửa, đi lỏng. Có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3-b-hydroxysteroid khác.

    Công nghệ chiết xuất dược liệu là gì?

    Việc đầu tư nghiêm túc vào vùng trồng dược liệu sạch tới hệ thống chiết xuất công nghệ. Để đảm bảo các sản phẩm có chất lượng ổn định, độ an toàn cao và hiệu quả điều trị tối ưu. Nhà máy cần phải đạt tiêu chuẩn GMP-WHO hoạt động một cách đồng bộ, khép kín.

    Máy chiết xuất dược liệu

    Nên chọn những dòng máy chiết xuất cao cấp, có đặc tính tiết kiệm năng lượng và nhiệt độ thấp thích hợp cho việc chiết xuất. Và các máy chiết xuất dược liệu mini chính là lựa chọn hoàn hảo dành cho các đơn vị sản xuất nhỏ lẻ , vừa tiết kiệm ngân sách nhưng chất lượng vẫn luôn được đảm bảo.

    Dây chuyền chiết xuất dược liệu

    Dây chuyền chiết xuất cần phải đạt tiêu chuẩn GMP-WHO. Toàn bộ hệ thống được chế tạo bằng inox, xử lý bề mặt đánh bóng gương. Hiệu suất chiết xuất cao, đảm bảo lấy hết 100% hoạt chất có trong dược liệu, dịch chiết xuất trong suốt.

    Thiết bị chiết xuất dược liệu là gì?

    Các thiết bị được dùng để chiết xuất dược liệu đó là:

    • Thiết bị sản xuất: các loại như máy xay, thiết bị phân tán, nhũ hóa và thiết bị làm mát sử dụng cho các loại kem, lotion…
    • Thiết bị ép khuôn: máy ép tự động cho son môi, phấn nền…
    • Thiết bị chiết rót, đóng gói, in…

    Nhà máy chiết xuất dược liệu

    Nhà máy chiết xuất 3C đạt chuẩn cGMP, dây chuyền sản xuất hiện đại. Nên tiết kiệm được các chi phí sản xuất dẫn đến giá thành gia công trong dây chuyền khép kín, đảm bảo tiêu chuẩn và là nơi bạn có thể gia công chiết xuất dược liệu giá rẻ mà rất chất lượng. Đây được xem là địa chỉ cung cấp chiết xuất uy tín và chất lượng nhất hiện nay.

    Thế mạnh của công ty chiết xuất dược liệu 3C là có đội ngũ nghiên cứ bào chế chuyên môn cao, đào tạo bài bản. Có thể nghiên cứu hơn 100++ loại chiết xuất khác nhau phổ biến trên thị trường. Để mang đến những trải nghiệm tốt nhất đến quý khách. 3C liên tục cải tiến quy trình hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ. Và cam kết là đơn vị uy tín cùng đồng hành với quý khách hàng trên con đường phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Dược Liệu
  • Cách Chiết Cành Ổi Hiệu Quả Nhất Giúp Cây Khỏe Mạnh
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Ổi
  • Cách Chiết Cành Mít Cho Cành Khỏe, Ra Nhiều Rễ Nhất
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cây Mít
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×