Cách Dùng “If” Và “Whether” Trong Câu Tường Thuật

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Dùng Can, Could, May, Might, Will, Would, Must, Shall, Should, Ought To Trong Tiếng Anh – Modal Verb – Trung Tâm Anh Ngữ Việt Mỹ Sài Gòn
  • Mẹo Nhận Biết Ngà Thật Và Xương Voi Cơ Bản Nhất
  • Nữ Trang Làm Bằng Ngà Voi Vô Tư Bày Bán Tràn Lan
  • Chim Yến Và Chim Én
  • Phân Biệt 想 Và 要 (Xiǎng Và Yào)
  • Cả hai từ whether if đều được sử dụng để giới thiệu câu hỏi “Yes/ No Question” trong câu gián tiếp.

    E.g.:

    • He asked me whether I felt well. (Anh ấy hỏi tôi rằng liệu tôi có cảm thấy khỏe hay không?)

    • We’re not sure if they have decided. (Chúng tôi không chắc liệu họ đã quyết định chưa?)

    Tuy nhiên, bạn cần phân biệt cách sử dụng hai từ ifwhether trong những trường hợp sau đây:

    1. Sau động từ discuss thì thường người ta hay dùng whether hơn là if

    E.g.:

    2. Sau giới từ thì chúng ta chỉ dùng whether

    E.g.:

    • We talked about whether we should go or not. (Chúng tôi đang bàn xem liệu chúng ta có nên chuyển đi hay không?)

    • I looked into whether he should stay. (Tôi đang xem xét liệu anh ta có nên ở lại hay không?)

    3. Với động từ nguyên thể (To infinitive) thì chúng ta chỉ dùng whether mà không dùng if

    E.g.:

    • She can’t decided whether to buy the house or wait. (Cô ấy không thể quyết định được nên mua ngôi nhà hay tiếp tục chờ thêm nữa)

    • He considered whether to give up the position or quit next year. (Anh ấy đang cân nhắc xem nên từ bỏ vị trí này hay là bỏ việc vào năm tới)

    4. Whether được dùng mang tính nghi thức xã giao hơn, còn if được dùng với tình huống suồng sã, thân mật

    E.g.:

    • Let me know whether you will be able to attend the conference. (Hãy cho tôi biết nếu bạn có thể tham dự buổi hội thảo)

    • The CEO will decide whether this is a risk work taking. (Ban giám đốc đang cân nhắc xem liệu điều đó có đáng để mạo hiểm hay không?)

    • He asked if she had seen that film. (Anh ấy hỏi xem liệu cô ấy đã xem phim đó chưa?)

    • She wondered if Tom would be there the day after. (Cô ấy đang băn khoăn liệu Tom có ở đây ngày mai không?)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Về Cấu Trúc If (Whether) Trong Tiếng Anh
  • Học Tiếng Anh Online: Phân Biệt Good Và Well
  • Phân Biệt Ý Nghĩa Và Cách Dùng
  • Quy Tắc Dùng Which Và That Trong Mệnh Đề Quan Hệ
  • Cách Dùng “Can”, “Could” Và “Be Able To” Trong Tiếng Anh
  • Các Dạng Câu Tường Thuật Trong Tiếng Anh Và Cách Chuyển Đổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Phân Biệt Sắt Thép Thật
  • Sự Khác Biệt Giữa Sắt Và Thép Trong Xây Dựng
  • Cách Nhận Biết Và Phân Biệt Sắt Thép Giả
  • Cách Đọc Và Viết Họ Tên Trong Tiếng Nhật Là Như Thế Nào?
  • 100 Họ Tên Người Nhật Thông Dụng Nhất
  • Câu tường thuật trong tiếng anh là gì, câu tường thuật dạng câu hỏibài tập câu tường thuật nâng cao là những một trong những vấn đề được quan tâm nhất khi học tiếng anh.

    Câu tường thuật là một điểm ngữ pháp quan trọng trong tiếng anh. Phần lớn những người học tiếng anh khi học đến phần sẽ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi từ câu trực tiếp sang câu gián tiếp và ngược lại do chưa nắm bắt rõ định nghĩa câu tường thuật, các loại câu tường thuật và chưa có phương pháp luyện tập bài tập ngữ pháp về câu tường thuật chuẩn.

    Câu tường thuật tiếng anh là gì?

    Câu tường thuật trong tiếng anh gọi là Reported Speech, là loại câu gián tiếp dùng để thuật lại lời nói hoặc một câu chuyện của một người khác. Hay nói đơn giản là chuyển từ câu trực tiếp sang câu gián tiếp bằng hình thức tường thuật.

    Download Now: Tài liệu ngữ pháp tiếng Anh

    Các loại câu tường thuật trong tiếng anh cơ bản

    Ở mức căn bản, chúng ta có 3 loại câu tường thuật đó là câu tường thuật của câu phát biểu, và câu tường thuật câu mệnh lệnh. câu tường thuật dạng câu hỏi

    Loại 1: Câu tường thuật của câu phát biểu

    Cấu trúc câu: S + say(s)/said hoặc tell/told + (that) + S + V

    Đây là loại câu tường thuật trong tiếng anh thông dụng, thường để thuật lại những lời nói, câu chuyện của một người khác đã nói. Có 4 bước để tạo ra câu tường thuật ở loại này

    Bước 1: Chọn động từ giới thiệu say hoặc tell (Quá khứ: Said hoặc told)

    Lưu ý: Động từ giới thiệu trong câu gián tiếp thường được chia ở thì quá khứ và liên từ “that” có thể được lược bỏ

    Ex: He told her (that) he didn’t love her anymore

    Bước 2: Các lùi thì trong câu tường thuật

    Tường thuật trực tiếp Tường thuật gián tiếp (tương đương)

    Simple psent (Hiện tại đơn)

    Simple past (Quá khứ đơn)

    Present continuous (Hiện tại tiếp diễn)

    Past continuous (Quá khứ tiếp diễn)

    Simple past (Quá khứ đơn)

    Past perfect (Quá khứ hoàn thành)

    Present perfect (Hiện tại hoàn thành)

    Past perfect (Quá khứ hoàn thành)

    Past perfect (Quá khứ hoàn thành)

    Past perfect (Quá khứ hoàn thành)

    Present perfect continuous (Hiện tại hoàn thành tiếp diễn)

    Past perfect continuous (Quá khứ hoàn thành tiếp diễn)

    Past continuous (Quá khứ tiếp diễn)

    Past perfect continuous (Quá khứ hoàn thành tiếp diễn)

    Future (Tương lai đơn)

    Present conditional (Điều kiện ở hiện tại)

    Future continuous (Tương lai tiếp diễn)

    Conditional continuous (Điều kiện tiếp diễn)

    Lưu ý:

    -Modal verbs:

    -Không lùi thì với các modal verbs: might, could, would, should, ought to

    -Không lùi thì khi Động từ tường thuật (say/tell) ở hiện tại hay câu tường thuật chỉ một sự thật hiển nhiên, một chân lý.

    Daniel said, “You can go with him to the university” → Daniel said I could go with him to the university.

    She said, “I have seen that girl” → She said she had seen that girl.

    Bước 3: Đổi đại từ nhân xưng, đại từ và tính từ sở hữu

    Lưu ý: khi tường thuật câu nói của chính mình thì các đại từ, tính từ trên không đổi

    Bước 4: Đổi các từ chỉ về nơi chốn và thời gian cho phù hợp

    Loại 2: Câu tường thuật dạng câu hỏi

    Câu tường thuật dạng câu hỏi gồm có 2 loại đó là câu hỏi Yes/No question và Wh-Question

    Yes/No Question

    Câu hỏi Yes/No question là dạng câu hỏi đơn giản trong tiếng anh, thường bắt đầu bắt động từ TOBE hoặc trợ động từ

    Các bước làm vẫn tương tự như câu tường thuật dạng câu phát biểu, tuy nhiên cần lưu ý những điều sau:

    • Sử dụng động từ giới thiệu “ask” hoặc inquire, wonder, want to know,.. + liên từ
    • Sử dụng “If” hoặc “whether” ngay sau động từ giới thiệu của mệnh đề chính để thể hiện ý nghĩa có hoặc không

    S + asked (+object) + if/whether + subject + V

    Ex: He said, “Do you like strawberry?” (Anh ấy nói, “Bạn có thích dâu không?”)

    → He asked me if/whether I like strawberry. (Anh ấy hỏi tôi là tôi có thích dâu không.)

    Wh-Question

    Câu tường thuật dạng câu hỏi Wh- là loại câu bắt đầu bắt các từ nghi vấn như Who, When, What,… Cách làm vẫn tương tự như 4 bước chuyển sang câu mệnh lệnh trong tiếng anh, tuy nhiên cần lưu ý những điều sau:

    • Lặp lại từ để hỏi sau động từ giới thiệu
    • Đổi trật tự câu thành câu trần thuật

    S + asked (+Object) + What/When/… + Subject +Verb

    Ex: My mother said, ‘What time do you go to the bed?’ (Mẹ tôi nói, “Mấy giờ bạn sẽ đi ngủ?”)

    My mother want to know what time I go to the bed. (Mẹ tôi muốn biết mấy giờ tôi sẽ đi ngủ)

    Loại 3: Câu tường thuật dạng câu mệnh lệnh

    Câu tường thuật loại câu mệnh lệnh khẳng định cấu trúc như sau:

    S + told + O + to-infinitive.

    Tom told Mary to call him (Tom bảo Mary hãy gọi cho anh ấy)

    Câu tường thuật loại câu mệnh lệnh phủ định có dạng:

    S + told + O + not to-infinitive.

    The driver told the passengers not to eat in bus (Tài xế nói với những người hành khách không ăn trên xe buýt)

    Câu tường thuật ở dạng câu điều kiện ở lời nói gián tiếp:

    a.Điều kiện có thật, có thể xảy ra (đk loại 1):

    – Chúng ta áp dụng quy tắc chung của lời nói gián tiếp (lùi thì)

    b.Điều kiện không có thật/giả sử (đk loại 2, loại 3):

    – Chúng ta giữ nguyên,không đổi.

    Bài tập về câu tường thuật, có kèm đáp án

    – She told them………………………………………………………….

    – He asked her where…………………………………………………

      “Bring it back if it doesn’t fit”, I said to them.

    – I told… ………………………………………………………………….

      “Is it going to be a fine day today?” I asked my mother.

    – I asked her… …………………………………………………………..

      “I’ll phone you tomorrow,” he told Jack.

    – He told Jack that…. …………………………………………………….

      “I’m very sorry I gave you the wrong number,” said Paul to Mary

    – Paul apologized………………………………………………………………………….

      “Breakfast will not be served after 9. 30” said the notice.

    – The notice said that……………………………………………………………………

      “Linda, please don’t tell anyone my new number phone,” said Mary.

    – Mary asked………………………………………………………………………………..

    ĐÁP ÁN:

    1. She told them to open the door.
    2. He asked her where she was going.
    3. I told them to bring it back if it didn’t fit.
    4. I asked my mother whether/ if it was going to be a fine day that day.
    5. He told Jack that he would phone him the following day.
    6. Paul apologized to Mary for giving her the wrong number.
    7. The notice said that breakfast would not be served after 9.30.
    8. Mary asked Linda not to tell anyone her new number phone

    Dành cho bạn:

    Bạn đang tìm một trung tâm tiếng Anh uy tín và đảm bảo chất lượng giảng dạy? Jaxtina English Center – lựa chọn đúng nhất dành riêng cho bạn! Đăng ký nhận tư vấn miễn phí ngay hôm nay!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Phân Biệt Bình Chữa Cháy Mfz4 Bột Và Bình Chữa Cháy Khí Co2 Trên Thị Trường
  • Router Và Modem Khác Nhau Như Thế Nào? Cách Phân Biệt Ra Sao?
  • Phân Biệt Modem, Router Và Switch
  • So Sánh Honda Sonic 150R 2022 Vs Suzuki Raider 150
  • Phân Biệt Con Nưa Và Con Trăn
  • Học Cách Phân Biệt Giữa Khen Ngợi Và Tâng Bốc Trong 15 Câu Trích Dẫn

    --- Bài mới hơn ---

  • Qa Là Gì? Qc Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Qa Và Qc Trong Lập Trình
  • Định Nghĩa Qa, Qc Và Sự Khác Nhau Giữa Qa, Qc
  • Qa Là Gì? Công Việc Kỹ Năng Của Qc, Sự Khác Nhau Với Qc
  • Sự Khác Nhau Giữa Rượu Vang Ngọt Và Rượu Vang Chát
  • Sự Khác Nhau Giữa Rượu Vang Trắng Và Rượu Vang Đỏ
  • Khen ngợi có tác dụng trị liệu đối với người tiếp nhận. Nó giúp khôi phục của một người . Nó mang lại hy vọng. Khen ngợi không phải là xu nịnh. Có một sự khác biệt rõ ràng giữa hai.

    Học cách phân biệt giữa Khen ngợi và Tâng bốc

    Có một câu chuyện phổ biến của Aesop về con quạ ngu ngốc và con cáo gian xảo. Một con quạ đói tìm thấy một miếng pho mát và ngồi trên cành cây để thưởng thức bữa ăn của mình. Một con cáo cũng đói không kém nhìn thấy con quạ với miếng pho mát. Vì rất muốn có thức ăn, anh ta quyết định lừa quạ bằng những lời tâng bốc. Ông khen ngợi con quạ bằng cách gọi nó là một con chim đẹp. Anh ta nói rằng anh ta muốn nghe giọng hát ngọt ngào của con quạ, và yêu cầu con quạ hát. Con quạ ngu ngốc tin rằng lời khen ngợi là thật, và mở miệng hát. Chỉ để nhận ra rằng mình đã bị lừa bởi con cáo gian xảo khi miếng pho mát bị con cáo ăn tươi nuốt sống.

    Khen ngợi là cụ thể cho một hành động; Tâng bốc là thích thú mà không có nguyên nhân

    Khen ngợi là một phương tiện hữu ích để khuyến khích một kết quả tích cực. Ví dụ, một giáo viên có thể khen học sinh của mình bằng cách nói, “John, chữ viết tay của bạn đã tiến bộ hơn từ tuần trước. Làm tốt lắm!” Giờ đây, những lời khen ngợi như vậy có thể giúp John cải thiện hơn nữa chữ viết tay của mình. Anh ấy biết giáo viên của mình thích gì và anh ấy có thể làm việc trên chữ viết tay của mình để tạo ra kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, nếu giáo viên nói, “John, bạn giỏi trong lớp. Tôi nghĩ bạn là người giỏi nhất!” những từ này không cụ thể, mơ hồ và không có hướng cải thiện cho người nhận. Tất nhiên, John sẽ cảm thấy hài lòng về những lời tốt đẹp từ giáo viên của mình, nhưng anh ấy sẽ không biết làm thế nào để trở nên tốt hơn trong lớp của mình.

    Khen ngợi ý định khuyến khích; Tâng bốc có ý định lừa dối

    Tâng bốc đang tăng lên. Với những lời tâng bốc, ai đó hy vọng sẽ hoàn thành công việc của họ mà không phải bận tâm đến người nhận được sự xu nịnh. Tâng bốc dựa trên động cơ thầm kín, điều này chỉ có lợi cho kẻ xu nịnh. Mặt khác, khen ngợi có lợi cho người nhận, bằng cách khuyến khích người nhận thấy mặt tích cực của cuộc sống. Khen ngợi giúp người khác nhận ra tài năng của họ, nâng cao lòng tự trọng, khôi phục hy vọng và đưa ra định hướng. Khen ngợi giúp ích cho cả người cho và người nhận.

    Những Người Khen ngợi là Vô cùng Tự tin; Những người xu nịnh không tự tin

    Vì những kẻ xu nịnh có tính chất lôi kéo, nên những kẻ xu nịnh thường không có xương sống, nhu nhược và kém bản lĩnh. Họ ăn vào cái tôi của người khác và hy vọng có được những món quà vặt từ những kẻ cuồng vọng ích kỷ. Những người xu nịnh không có tố chất lãnh đạo. Họ thiếu cá tính để truyền cảm hứng và sự tự tin.

    Mặt khác, những người khen ngợi thường tự tin và đảm nhận các vị trí lãnh đạo. Họ có thể truyền năng lượng tích cực trong nhóm của mình và họ biết cách truyền năng lượng cho từng thành viên trong nhóm thông qua những lời khen ngợi và động viên. Bằng cách khen ngợi, họ không chỉ có thể giúp người khác phát triển mà còn tận hưởng sự phát triển của bản thân. Khen ngợi và đi đôi với nhau. Và những lời tâng bốc và tán dương cũng vậy.

    Khen ngợi Fosters Trust; Sự nịnh hót khuyến khích sự lầm tưởng

    Bạn có tin tưởng một người nói với bạn rằng bạn tuyệt vời như thế nào, bạn tốt bụng như thế nào hay bạn tuyệt vời như thế nào không? Hay bạn sẽ tin tưởng một người nói với bạn rằng bạn là một đồng nghiệp tốt, nhưng bạn cần cải thiện các kỹ năng xã hội của mình?

    Thật khó để phát hiện ra kẻ xu nịnh nếu kẻ xu nịnh đủ xảo quyệt để che đậy những lời nói của mình để nghe như cảm kích. Một người quanh co có thể làm cho lời khen ngợi giống như lời khen ngợi chân thành. Theo lời của Walter Raleigh:

    “Nhưng thật khó để biết chúng từ bạn bè, chúng rất khúm núm và đầy phản kháng; vì sói giống chó, kẻ tâng bốc bạn bè cũng vậy.”

    Bạn phải cẩn thận khi bạn nhận được những lời khen ngợi mà số lượng không nhiều. Tâng bốc theo Kinh thánh, “là một hình thức thù hận.” Sự nịnh hót có thể được sử dụng để thao túng, lừa gạt, lừa dối và làm tổn thương người khác.

    Cẩn thận với những kẻ nịnh hót vì những kẻ nịnh hót có thể làm tổn thương bạn

    Lời nói ngon ngọt có thể đánh lừa những kẻ cả tin. Đừng để người khác làm bạn lung lay bởi những lời ngọt ngào không có ý nghĩa của họ. Nếu bạn gặp ai đó khen ngợi bạn mà không có lý do hoặc quyến rũ bạn bằng những lời cảm kích mật ngọt, đó là lúc bạn nên vỗ tai và lắng nghe những lời nói đó. Tự hỏi mình đi:

    • ‘Anh ấy hay cô ấy đang cố gắng tán tỉnh tôi? Ý định của anh ấy / cô ấy là gì? ‘
    • ‘Những lời này đúng hay sai?’
    • ‘Có thể có một động cơ thầm kín đằng sau những lời tâng bốc này?’

    Chấp nhận lời khen ngợi với một chút muối

    Hãy để những lời khen ngợi hay tâng bốc không đi vào đầu bạn. Mặc dù nghe được những lời khen ngợi là tốt, nhưng hãy chấp nhận nó với một chút muối. Có lẽ, người khen bạn thường là người hào phóng. Hoặc có lẽ, người đang khen ngợi bạn muốn điều gì đó ở bạn. Tâng bốc có thể khiến bạn mệt mỏi, ngay cả khi họ hào phóng. Nó giống như ăn quá nhiều đồ ngọt và cảm thấy ngán sau một thời gian. Mặt khác, lời khen ngợi được đo lường, cụ thể và trực tiếp.

    Biết những người bạn thực sự của bạn và những người mong muốn tốt là ai

    Đôi khi, những người chỉ trích bạn thường xuyên hơn khen ngợi bạn là những người quan tâm nhất đến trái tim họ. Họ có thể keo kiệt khi được khen ngợi, nhưng những lời đánh giá của họ chân thực hơn những lời khen ngợi mà bạn thu thập được từ một người lạ. Học cách phát hiện ra những người bạn thực sự của bạn, từ những người bạn trong thời gian tốt đẹp. Vòi hoa sen khen ngợi và khen ngợi bất cứ khi nào cần thiết, nhưng không phải vì bạn muốn tăng mỡ. Hãy tỏ ra chân thực và cụ thể khi khen ngợi ai đó, nếu bạn muốn được mọi người chấp nhận là một người khôn ngoan hơn. Nếu ai đó tâng bốc bạn và bạn không thể phân biệt đó là xu nịnh hay khen ngợi, hãy kiểm tra kỹ với một người bạn thực sự, người có thể giúp bạn thấy sự khác biệt. Một người bạn tốt sẽ chọc thủng cái tôi bị thổi phồng của bạn, và đưa bạn trở lại thực tại nếu có nhu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Whey Protein Và Mass Gainer
  • Sự Khác Nhau Giữa Protein (Chất Đạm) Động Vật Và Thực Vật Là Gì?
  • Khái Quát Về Chất Đạm (Protid) Trong Thực Phẩm
  • Protein Động Vật Và Protein Thực Vật: Điểm Giống Và Khác Biệt?
  • Sự Khác Nhau Giữa Đàn Piano Và Đàn Organ Là Gì?
  • Phân Biệt Bồ Câu Trống Và Bồ Câu Mái

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nhận Biết Bằng Lái Xe Thật Đơn Giản Và Chính Xác Nhất
  • Phân Biệt Và Nhận Biết Bằng Lái Xe Giả
  • Quỷ Đế Cuồng Thê: Đại Tiểu Thư Ăn Chơi Trác Táng
  • Cách Phân Biệt Bạc Thật Và Giả
  • Phân Biệt Bao Cao Su Innova Thật Và Giả
  • + Bồ câu trống thường có thân hình tơ lớn hơn bồ câu mái.

    + Đầu và mỏ chim bồ câu trống to, thô và ngắn hơn đầu và mỏ chim bồ câu mái.

    + Cổ bồ câu trống có cổ to hơn và nổi nhiều cườm hơn.

    + Chim bồ câu trống thường hoạt động nhanh nhẹn hơn bồ câu mái.

    + Dùng tay ấn nhẹ vào lỗ hậu môn của bồ câu trống sẽ thấy lỗ hậu môn lồi hẳn ra.

    + Ngón chân của chim bồ câu trống nếu thấy ngón A dài hơn ngón C thì là bồ câu trống.

    + Bồ câu mái thường có thân hình nhỏ hơn bồ câu trống.

    + Bồ câu mái có mỏ nhỏ từ gốc mỏ và nhỏ dần về đầu mỏ, đầu và mỏ bồ câu mái cũng nhỏ hơn, thon dài hơn bồ câu trống.

    + Khi quan sát ngón chân chim bồ câu mái sẽ thấy hai ngón A và C này dài tương đương nhau.

    + Dùng tay ấn nhẹ vào lỗ hậu môn của bồ câu mái sẽ không thấy lỗ hậu môn lồi ra như chim bồ câu trống.

    + Nếu thấy chóp lông cánh của chim bồ câu bằng nhau thì là bồ câu mái và ngược lại nếu không bằng nhau là chim trống.

    + Bồ câu trống thường hoạt động nhiều hơn.

    + Khi dùng tay giữ một chân của chim bồ câu trống một tay nhẹ nhàng kéo mỏ của chúng xuống sẽ thấy đuôi của chim bồ câu mái vểnh lên

    + Bồ câu trống sẵn sàng chiến đấu với các con bồ câu khác để tranh giành thức ăn, không gian sống, giành con mái

    + Khi bước vào mùa sinh sản chim bồ câu trống sẽ có những hành động như xòe đuôi, xoay vòng tròn, gật gù cái đầu và thường phát ra tiếng kêu gru…gru… để quyến rũ chim mái

    + Bồ câu mái có tính cách hiền lành hơn chim bồ câu trống.

    + Khi dùng tay giữ một chân của chim bồ câu mái một tay nhẹ nhàng kéo mỏ của chúng xuống sẽ thấy đuôi của chim bồ câu trống cụp xuống.

    + Bước vào mùa sinh sản khi chim bồ câu trống tiếp cận, quyến rũ bồ câu mái sẽ rụt rè đứng yên một chỗ, chỉ gù gù khe khẽ và không có hành động xòe đuôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẹo Hay Giúp Phân Biệt Tai Nghe Airpods Thật Và Fake Không Thể Bỏ Qua
  • Cách Phân Biệt Airpods Thật Giả Cực Đơn Giản
  • Cách Phân Biệt Airpods Pro Thật Và ‘nhái’
  • Kem Kone Có Mấy Loại? Chỉ Bạn Cách Phân Biệt Hàng Thái Và Campuchia
  • Apple Watch Steel S5 Gps + Cellular Khung Thép Dây Thép
  • Quy Trình Và Kỹ Thuật Sử Dụng Câu Hỏi Trong Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ
  • Dạy Khiêu Vũ Cơ Bản Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Hiệu Quả
  • Sự Thật Về Xu Hướng Lấy Người Học Làm Trung Tâm
  • Phương Pháp Rèn Luyện Và Dạy Văn Cực Hay Dành Cho Giáo Viên
  • Trong dạy học, hệ thống câu hỏi của GV có vai trò quan trọng và là một trong những yếu tố quyết định chất lượng lĩnh hội kiến thức của HS. Câu hỏi (CH) được GV sử dụng với những mục đích khác nhau, ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học nhưng quan trọng nhất và cũng là khó nhất là ở khâu nghiên cứu tài liệu mới. Trong khâu dạy bài mới, CH được sử dụng trong những phương pháp khác nhau và quan trọng nhất là trong phương pháp vấn đáp. Với tư cách là một phương tiện dạy học nên việc hỏi và sử dụng CH cần tuân theo một quy trình nhất định .

    I. CÁC DẠNG CÂU HỎI :

    1.CH đóng : chỉ có thể trả lời Đúng – Sai hoặc Có – Không .

    2.  CH mở :

    Các câu hỏi yêu cầu học sinh tự bảo vệ ý kiến và giải thích lý do của mình gọi là những câu hỏi mở. Các câu hỏi đóng chỉ cần cho phép 1-2 học sinh trả lời đúng hoặc sai. Câu hỏi mở kích thích học sinh đào sâu suy nghĩ và đưa ra nhiều quan điểm. Không chỉ có một câu trả lời đúng. Đưa ra các câu hỏi mở, GV sẽ thu được nhiều ý tưởng hoặc câu trả lời khác nhau từ HS.

    + CH mở giúp HS có cái nhìn tổng quan hoặc đưa ra những boăn khoăn, thắc mắc về tình huống hiện tại : Khi nào. . . ? Cái gì . . .  ? Ở đâu. . . ? Đến đâu . . . ? Để làm gì ?

    + CH giả định giúp HS suy nghĩ vượt khỏi khuôn khổ tình huống hiện tại.

    + CH hỏi ý kiến để khai thác suy nghĩ của HS về một vấn đề nào đó .

    + CH về cảm giác khuyến khích HS tự phân tích bản thân và các cảm giác về một tình huống cụ thể.

    + CH về hành động giúp HS lập kế hoạch và triển khai các ý tưởng vào tình huống thực tế.

    Xét chất lượng CH về mặt yêu cầu năng lực nhận thức, người ta phân biệt hai loại chính :

          – CH có yêu cầu thấp : đòi hỏi tái hiện các kiến thức sự kiện, nhớ và trình bày một cách có chọn lựa, có hệ thống,

          – CH có yêu cầu cao : đòi hỏi sự thông hiểu, phân tích, tổng hợp,khái quát hóa, hệ thống hóa, vận dụng kiến thức.

     CH có yêu cầu cao có thể chia theo cấp độ nhận thức ( theo thang 6 mức chất lượng lĩnh hội kiến thức của Bloom ) :

    + CH biết : giúp HS tái hiện những gì đã biết , đã trải qua. HS dựa vào trí nhớ để trả lời.

    + CH hiểu : nhằm kiểm tra HS cách liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu, các đặc điểm . . . khi tiếp nhận thông tin. Câu trả lời của HS chứng tỏ HS đã thông hiểu chứ không chỉ biết và nhớ.

    VD : Vì sao các loại hoa thụ phấn nhờ côn trùng thường có màu sắc rực rỡ hoặc hương thơm ?

    + CH áp dụng : nhằm kiểm tra khả năng áp dụng những thông tin đã thu được vào tình huống mới .

    VD : Một xí nghiệp tháng đầu làm được 454 sản phẩm, hai tháng sau mỗi tháng làm được 469 sản phẩm. Tính trung bình mỗi tháng xí nghiệp làm được bao nhiêu sản phẩm ?

    + CH “ phân tích” – tổng hợp : nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó tìm ra mối liên hệ, vận dụng phối hợp những kiến thức đã học từ đó đưa ra cách giải quyết vấn đề hoặc chứng minh luận điểm, hoặc đi đến kết luận, hoặc đề xuất mang tính sáng tạo. . .

    VD : Pha đường vào nước có phải là sự biến đổi hóa học?

             Có 5 thùng chứa các bao đường như nhau ( đều ghi 1 kg / bao ) nhưng thực ra có 1 thùng chứa loại bao chỉ nặng 950 gam. Bằng một cân bàn và với 1 lần cân, hãy chỉ ra thùng đó.

    + CH đánh giá : nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự phán đoán của HS trong việc nhận định, đánh giá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng . . . dựa trên các tiêu chí đưa ra.

           VD : Hãy đề ra biện pháp xây dựng trường em Xanh – Sạch – Đẹp.        

    Lưu ý : đặc điểm phát triển tâm sinh lí, trí tuệ HS tiểu học chỉ phù hợp với ba mức đầu trong thang nhận thức của Bloom. GV cần cân nhắc khi lựa chọn đưa ra những CH có yêu cầu cao.

    5 loại câu hỏi cơ bản thường sử dụng trong dạy học

    Kĩ thuật đặt câu hỏi là một trong những kỹ năng cơ bản của giáo viên trong quá trình dạy học. Tri thức và nhận thức được coi là động lực bên trong của mỗi người học. Vì vậy, nhiệm vụ của giáo viên là khám phá nhận biết và tri thức tiềm ẩn của người học để giúp họ đạt được tới những mức độ cao hơn.

    Nghệ thuật hỏi không chỉ cung cấp kiến thức mà còn giúp người học liên kết khái niệm, suy luận, tăng khả năng nhận thức, kích thích óc sáng tạo và trí tưởng tượng, trợ giúp tư duy phân tích và giúp người học khám phá những cấp độ sâu hơn về sự hiểu biết, suy nghĩ và trí tuệ. Tùy thuộc vào mục đích bài học, trình độ học sinh cũng như những hoàn cảnh khác nhau, mức độ sử dụng các loại câu hỏi có thể khác nhau. 5 loại câu hỏi cơ bản mà giáo viên thường sử dụng trong dạy học là :

    1.      Câu hỏi dựa vào sự thực .

    Đây là những câu hỏi khá đơn giản, câu trả lời đưa ra dựa vào những kiến thức hiển nhiên. Những câu này thường dựa vào mức tri thức và tình cảm thấp nhất và câu trả lời thường được xác định rõ là đúng hay sai.

    Ví dụ: Thủ đô nước ta hiện nay đặt ở đâu ?

    2. Dạng câu hỏi quy nạp.

    Câu trả lời của những câu hỏi này thường ở mức độ chính xác có thể chấp nhận được. Chúng có thể ở những mức độ khác nhau của tri thức: hiểu, áp dụng, phân tích hoặc được đưa ra dựa vào sự suy đoán, nhận thức cá nhân hoặc những tài liệu đã được học hoặc được biết.

    Ví dụ: Vì sao đồng bằng duyên hải miền Trung thường nhỏ hẹp ?

    Ở các vùng ven biển, ban ngày có gió từ biển thổi vào đát liền. Giải thích ?

    3. Dạng câu hỏi diễn dịch.

    Những câu hỏi này cho phép học sinh khám phá những tri thức khác nhau và có thể đưa ra nhiều cách lý giải cũng như nhiều cách trả lời khác nhau. Độ chính xác ở đây là dựa vào những suy luận logic, dựa vào hoàn cảnh cụ thể, hoặc kiến thức cơ bản, sự phỏng đoán, sự suy ra, sự sáng tạo, trực giác hoặc trí tưởng tượng. Những loại câu hỏi này thường yêu cầu học sinh phân tích, tổng hợp hoặc đánh giá một kiến thức nền và rồi tạo ra hoặc tiên đoán những kết quả khác nhau. Để trả lời những câu hỏi này, học sinh phải có trình độ cảm thụ cao hơn. Việc đánh giá những câu trả lời này cũng dựa vào khả năng có thể xảy ra hay xác suất. Mục đích của những câu hỏi này là nhằm kích thích trí tưởng tượng và óc sáng tạo của học sinh hoặc tìm ra mối quan hệ nhân- quả của sự việc.

    Ví dụ : Nói hình vuông là hình có 4 góc vuông đúng hay sai? Vì sao?

         4. Dạng câu hỏi đánh giá.

             Những loại câu hỏi này thường đòi hỏi mức độ phức tạp của trình độ tri thức cũng như cảm thụ. Để trả lời được những câu hỏi đó, học sinh phải kết hợp các quá trình nhận biết, cảm nhận và/hoặc đánh giá. Thông thường, học sinh phải phân tích ở nhiều cấp độ và từ nhiều góc độ khác nhau trước khi tổng hợp thông tin và đưa ra kết luận.

        5. Dạng câu hỏi kết hợp.

    Những câu hỏi dạng này kết hợp cả 4 dạng câu hỏi trên. Dĩ nhiên, không nhất thiết trong tiết học nào, giáo viên cũng phải sử dụng cả 4 dạng câu hỏi trên song việc hiểu thấu đáo chúng sẽ giúp giáo viên tận dụng tối đa ưu điểm của từng loại để thiết kế bài giảng của mình.

    II. QUI TRÌNH SỬ DỤNG CÂU HỎI:

    1. Chuẩn bị CH ban đầu : xác định nội dung & ý chính của nội dung học tập, hỏi về những gì, hỏi để làm gì. Cần dự kiến hai nhóm CH :

                2. Đối chiếu và thích ứng các CH với đặc điểm và trình độ khác nhau của HS:

                Tính rõ ràng, sáng sủa của CH : CH đơn giản, tránh đánh đố, đa nghĩa. CH không quá dài, nhiều ý, tản mạn.

                Tính thách thức của CH  : CH không quá dễ, không có sẵn  trong SGK. CH đòi hỏi HS phải suy nghĩ và nổ lực nhất định khi trả lời đồng thời phải làm cho HS cảm thấy hãnh diện và thỏa mãn khi trả lời đúng.

                Tính định hướng của CH : CH phải hướng đến số đông ( nhóm – toàn lớp ). CH phải gây được phản ứng ở nhiều HS, ai cũng cảm thấy mình có trách nhiệm phải giải đáp, phải suy nghĩ; do đó tạo được không khí học tập sôi nổi. Các đại từ thường được sử dụng là chúng ta, lớp ta, nhóm ta . . .

                Tính vừa sức của CH  : đây là nguyên tắc quan trọng và là yêu cầu chung cho mọi biện pháp dạy học. CH phải nằm trong giới hạn của khả năng tri giác thông tin, ngôn ngữ, hiểu ngữ nghĩa và ý trong câu, kinh nghiệm cảm nhận các tình huống giao tiếp, năng lực tư duy, tưởng tượng, khả năng độc thoại,diễn đạt ý nghĩ của HS.

                Điều cần lưu ý ở đây là sự phối hợp hài hòa, cân bằng các kiểu CH với các đối tượng HS, tránh tình trạng chỉ bằng một CH mà loại những đối tượng HS này ra khỏi cuộc, đồng thời lại khiến những đối tượng HS khác tự phụ, tự mãn.

                CH đưa ra phải linh hoạt. Tập hợp CH cần hỗn hợp về kiểu loại, về độ khó, về khuynh hướng, về tính đối tượng. GV cần hỏi khi có cơ hội thích hợp và cần hình dung sử dụng CH nào ( vào tình huống cụ thể nào ) để dạy học đạt hiệu quả cao.

                3. Lựa chọn ngôn ngữ diễn đạt CH : phản ảnh tốt nhất các ý và nội dung sẽ đưa vào tương tác hỏi – đáp dưới hình thức ngôn ngữ hội thoại hay đối thoại.

                Các từ và cụm từ nghi vấn ai, cái gì, khi nào, ở đâu, bao giờ . . . thường được sử dụng cho các CH đơn giản, đơn trị; các CH tái hiện, liên tưởng, hệ thống hóa, tìm hiểu kinh nghiệm của HS .

                Các từ và cụm từ nghi vấn tại sao, vì sao, như thế nào, do đâu, làm thế nào, bằng cách nào . . .  được sử dụng cho các CH trình độ cao, đa trị, phức tạp; gợi suy nghĩ, suy luận, khái quát hóa . . .

    Lưu ý : CH càng ngắn gọn, ít từ, ít mệnh đề, ít cấu trúc, ít thuật ngữ mới lạ càng tốt. Tránh các hình thức tu từ, điệp từ, điệp ngữ, từ dùng nghĩa bóng, từ đồng âm khác nghĩa trong CH .

                4. Khích lệ HS suy nghĩ để trả lời : Khi bắt đầu, không nên dùng CH quá dễ, không có tác dụng khích lệ HS. GV cũng không nên thừa nhận nhanh chóng và dễ dãi trước các câu trả lời của HS. Trong tiến trình hỏi – đáp, khi đưa ra các CH khó, GV cần chuẩn bị các CH bộ phận để chủ động giải quyết các tình huống bất ngờ.

                Cần lưu ý dành thời gian và khuyến khích HS suy nghĩ để trả lời. Theo Marry Rowe thời lượng hợp lí là 5 – 6 giây ( HS nhỏ ), 3 – 5 giây ( HS lớn ). Điều đó có tác dụng tốt đến phản ứng của HS vì :

                * Độ dài của thời gian phản ứng tăng lên,

                * Tăng cơ hội cho những phản ứng tự nguyện,

                * Làm giảm cơ hội nảy sinh sự rụt rè, nhút nhát,

                * Nâng cao tính thuyết phục của câu trả lời vì HS có thời gian suy nghĩ,

                * Tăng những phản ứng suy luận vì HS có thời gian lựa chọn những suy nghĩ khác nhau,

                * Tăng các phản ứng giữa các HS với nhau,

                * Tăng cơ hội cho HS đặt ra CH,

                * Tạo điều kiện cho những HS yếu hay những HS phản ứng chậm vẫn tham gia được.

                5. Duy trì tiến trình hỏi – đáp bằng CH : GV phải kịp thời hình thành và sử dụng những CH bổ trợ, mở rộng vừa hướng dẫn vừa củng cố những kết quả mà HS đạt được.

                6. Đánh giá và thu thập thông tin phản hồi về quá trình học tập : Đánh giá cần bảo đảm hai yếu tố thẩm định và chẩn đoán , từ đó rút ra thông tin cần thiết. Các CH cần tập trung vào nội dung chính yếu, cơ bản của bài học, nhất là những yếu tố khái niệm và ứng dụng ( nếu HS đã nắm được lí thuyết, hiểu cách ứng dụng và tác dụng thực tế của sự vật thì, đương nhiên không có gì phải boăn khoăn về các chi tiết, sự kiện riêng lẻ trong bài học ).

                CH nên dùng là CH phân kì, có tính vấn đề, một phương án khó và một phương án dễ kết hợp với nhau. Nó cho phép GV đánh giá được các trình độ khác nhau, từ dễ đến khó, nên đánh giá được cả trình độ trung bình.

    III. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM KHI NÊU CÂU HỎI :

               

    1. Những CH cụt, tùy tiện và dễ dãi, trả lời thế nào cũng đúng và kích thích sự đoán mò, nói liều và câu trả lời thiếu suy nghĩ; những CH như “ Mẹ có yêu em không?”,  “ Khi cha mẹ cần giúp đỡ thì em có giúp đỡ cha mẹ không?”; những CH mà câu trả lời không mang thông tin cần thiết cho bài học.

                2. Những CH trùng lặp, tối nghĩa hoặc có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau :

                VD : Thủ đô nước ta là gì ?

                         Số chia hết cho 2 có chữ số cuối là chữ số chẵn hay chữ số lẻ? Đó là những chữ số nào?

                VD : Dân tộc ta có phải là một dân tộc vĩ đại không? Em có yêu Thầy ( cô ) giáo em không?

                4. Những CH bỏ ngỏ để HS nói dựa và cười đùa .

                VD : Em có cảm tình nhất với bạn nào trong lớp?

                5. Những CH làm HS bối rối, bế tắc :

                VD : Khi Thoát Hoan phải chạy trốn về nước trong ống đồng, hắn đã suy nghĩ như thế nào ?

                         Lớn lên , em có dám hành động như chị Võ Thị Sáu không?

                6. Những CH xẳng, làm HS e ngại .

                7. Gọi tên HS hay chỉ định một HS trước hoặc ngay khi vừa nêu CH. Không nhắc lại CH nhiều lần, không đay lại câu trả lời sai của HS, không tùy tiện thêm bớt vào câu trả lời đúng của HS.  

                8. Không trả lời ngay những CH của HS vì làm như vậy, HS cảm thấy mình thừa ra, những HS có khả năng giải đáp, trả lời được cảm thấy không được tôn trọng. Hơn nữa, làm thay HS là điều tối kị trong dạy học, gây cho HS tính ỷ lại, thụ động.

                9.Lạm dụng một số HS giỏi, nhanh nhẹn, hăng hái tham gia. Làm như vậy, GV đã vô tình loại bỏ một số HS khỏi quá trình suy nghĩ, tham gia các hoạt động, thậm chí gây ác cảm giữa HS với nhau, tạo thái độ lãnh cảm, thờ ơ với bài học ở một số HS.

                chúng tôi phép hoặc bỏ qua những câu trả lời cẩu thả, những hành vi giao tiếp, ngôn ngữ không đúng của HS.

    IV. 10 KỸ NĂNG ĐỂ HÌNH THÀNH NĂNG LỰC ỨNG XỬ KHI ĐƯA RA CÂU HỎI CHO HỌC SINH

    1. Dừng lại sau khi đặt câu hỏi

    – Mục tiêu :

    * Tích cực hóa suy nghĩ của tất cả học sinh.

    * Đưa ra các câu hỏi tốt hơn, hoàn chỉnh hơn.

    – Tác dụng đối với học sinh :

       Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ để tìm ra câu trả lời ( lời giải ).

    – Cách thức dạy học

    * Giáo viên “sử dụng thời gian chờ đợi” (3 – 5 giây) sau khi đưa ra câu hỏi.

    * Chỉ định một học sinh đưa ra câu trả lời ngay sau “thời gian chờ đợi”.

              2. Phản ứng với câu trả lời sai của học sinh

    – Mục tiêu :

    * Nâng cao chất lượng câu trả lời của học sinh.

    * Tạo ra sự tương tác cởi mở và khuyến khích sự trao đổi.

    – Tác dụng đối với học sinh :

    Khi giáo viên phản ứng với câu trả lời sai của học sinh có thể xảy ra hai tình huống sau :

    * Phản ứng tiêu cực : phản ứng về mặt tình cảm học sinh tránh không tham gia vào họat động.

    * Phản ứng tích cực : Học sinh cảm thấy mình được tôn trọng, được kích thích phấn chấn và có thể có sáng kiến trong tương lai.

    – Cách thức dạy học

    * Tạo cơ hội lần hai cho học sinh trả lời bằng cách : không chê bai, chỉ trích hoặc phạt dễ gây ức chế tư duy của học sinh.

    * Sử dụng một phần câu trả lời của học sinh để khuyến khích học sinh tiếp tục thực hiện.

    3. Tích cực hóa tất cả học sinh

    – Mục tiêu :

    * Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình học tập.

    * Tạo sự công bằng trong lớp học.

    – Tác dụng đối với học sinh :

    * Phát triển được ở học sinh những cảm tưởng tích cực như học sinh cảm thấy “những việc làm đó dành cho mình” .

    * Kích thích được học sinh tham gia tích cực vào các họat động học tập.

    – Cách thức dạy học

    * Giáo viên chuẩn bị trước bảng các câu hỏi và nói với học sinh : “các em sẽ được lần lượt được gọi lên để trả lời câu hỏi”.

    * Gọi học sinh mạnh dạn và học sinh nhút nhát phát biểu.

    * Tránh làm việc chỉ trong một nhóm nhỏ.

    * Có thể gọi cùng một học sinh vài lần khác nhau.

    4. Phân phôi câu hỏi cho cả lớp

    – Mục tiêu :

    * Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình học tập.

    * Giảm “thời gian nói của giáo viên”.

    * Thay đổi khuôn mẫu “hỏi – trả lời”

    – Tác dụng đối với học sinh :

    * Chú ý nhiều hơn các câu trả lời của nhau.

    * Phản ứng với câu trả lời của nhau.

    * Học sinh tập trung chú ý tham gia tích cực vào việc trả lời câu hỏi của giáo viên.

    – Cách thức dạy học

    * Giáo viên cần chuẩn bị trước và đưa ra các câu trả lời tốt (câu hỏi mở, có nhiều cách trả lời, có nhiều giải pháp khác nhau. Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, xúc tích). Giọng nói của giáo viên phải đủ to cho cả lớp nghe thấy.

    * Khi hỏi học sinh, trong trường hợp câu hỏi khó nên đưa ra cho cả lớp nghe thấy.

    * Khi gọi học sinh có thể sử dụng cả cử chỉ..

    * Giáo viên cố gắng hỏi nhiều học sinh, cần chú ý hỏi những học sinh thụ động và các học sinh ngồi khuất cuối lớp.

    5. Tập trung vào trọng tâm

    – Mục tiêu :

    * Giúp học sinh hiểu đuợc trọng tâm bài học thông qua việc trả lời câu hỏi.

    * Khắc phục tình trạng học sinh đưa ra câu trả lời “em không biết”, hoặc câu trả lời không đúng.

    – Tác dụng đối với học sinh :

    * Học sinh phải suy nghĩ, tìm ra các sai sót hoặc lấp các “chỗ hổng” của kiến thức.

    * Có cơ hội để tiến bộ.

    * Học theo cách khám phá “từng bước một”

    – Cách thức dạy học

    * Giáo viên chuẩn bị trước và đưa cho học sinh những câu hỏi cụ thể, phù hợp với những nội dung chính của bài học

    * Đối với các câu hỏi khó có thể đưa ra những gợi ý nhỏ cho các câu trả lời..

    * Trường hợp nhiều học sinh không trả lời được, giáo viên nên tổ chức cho học sinh thảo luân nhóm.

    * Giáo viên dựa vào một phần nào đó câu trả lời của học sinh để đặt tiếp câu hỏi.Tuy nhiên cần tránh đưa ra các câu hỏi vụn vặt, không có chất lượng.

    6. Giải thích

    – Mục tiêu :

    * Nâng cao chất lượng câu trả lời chưa hoàn chỉnh.

     * Học sinh đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh hơn..

    – Cách thức dạy học

    * Giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi yêu cầu học sinh đưa thêm thông tin.

    7. Liên hệ

    – Mục tiêu :

    * Nâng cao chất lượng cho các câu trả lời chỉ đơn thuần trong phạm vi kiến thức của bài học, phát triển mối liên hệ trong quá trình tư duy.

    – Tác dụng đối với học sinh :

    * Giúp học sinh hiểu sâu hơn bài học thông qua việc liên hệ với các kiến thức khác..

    – Cách thức dạy học

    8. Tránh nhắc lại câu hỏi của mình

    – Mục tiêu :

    * Giảm “thời gian giáo viên nói”.

    * Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh.

    – Tác dụng đối với học sinh :

    * Học sinh chú ý nghe lời giáo viên nói hơn.

    * Có nhiều thời gian để học sinh trả lời hơn

    – Cách thức dạy học

    * Giáo viên chuẩn bị trước câu hỏi và có cách hỏi rõ ràng, xúc tích, áp dụng tổng hợp các kỹ năng nhỏ đã nêu ở trên.

    9. Tránh tự trả lời câu hỏi của mình

    – Mục tiêu :

    * Tăng cường sự tham gia của học sinh.

    * Hạn chế sự tham gia của giáo viên.

    – Tác dụng đối với học sinh :

    * Thúc đẩy sự tương tác : học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh.

    – Cách thức dạy học

    * Giáo viên tạo ra sự tương tác giữa học sinh với học sinh làm cho giờ học không bị đơn điệu. Nếu có học sinh chưa rõ câu hỏi, giáo viên cần chỉ định học sinh khác nhắc lại câu hỏi.

    * Câu hỏi phải dễ hiểu, phù hợp với trình độ học sinh, với nội dung kiến thức bài học. Đối với các câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời về những kiến thức mới, thì những kiến thức đó phải có mối liên hệ với những kiến thức cũ mà học sinh đã được học hoặc tiếp thu được từ thực tế cuộc sống.

    10. Tránh nhắc lại câu trả lời của học sinh

    – Mục tiêu :

    * Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh, tăng cường tính độc lập của học sinh.

    * Giảm thời gian nói của giáo viên.

    – Tác dụng đối với học sinh :

    * Thúc đẩy học sinh tự tìm ra câu trả lời hoàn chỉnh.

    – Cách thức dạy học

    * Để đánh giá được câu trả lời của học sinh đúng hay chưa đúng, giáo viên nên chỉ định các học sinh khác nhận xét về câu trả lời của bạn, sau đó giáo viên hãy kết luận.

     

    V. CÁCH THỨC PHÁT VẤN HỌC SINH .

    1. Cách phát vấn  : “ Ai biết giơ tay”

    Đây là cách GV nêu câu hỏi rồi kêu gọi “ Em nào biết giơ tay ?”. Tồn tại suy nghĩ cho rằng làm vậy mới phát huy tính tích cực, chủ động của HS. Thực tế ra sao ?

    Nhược điểm :

    1. Chỉ có một bộ phận HS động não, làm việc; còn đa số các em ỷ lại ( vì biết mình không giơ tay, cô sẽ không gọi mình), đưa đến không hiểu gì hoặc tiếp nhận kiến thức thụ động.

    Một số HS giơ tay khi chưa nắm bắt nội dung, yêu cầu CH ( có HS được gọi còn yêu cầu GV nhắc lại CH ).

    2. Thực tế khi có người dự giờ, để bảo đảm “an toàn”, GV chỉ gọi những HS khá – giỏi trả lời. Điều này vô hình trung đã tạo nên một số HS không biết, chưa trả lời được vẫn giơ tay ( vì biết cô sẽ không gọi mình).

    3. Không khí lớp có vẻ sinh động, tiến trình tiết dạy diễn ra nhịp nhàng. Tuy nhiên thực tế, nếu xét theo hiệu quả dạy học, đây là những tiết dạy chưa đạt yêu cầu.

    4. GV không có đủ lượng thông tin phản hồi làm cơ sở đánh giá hiệu quả dạy học của bản thân.

    5. Tồn tại tình huống nguy hiểm “ Giấc ngủ sư phạm” ở một số HS ( những em này có vẻ rất chăm chú vào bài học, nhưng thực ra đang nghĩ về chuyện khác ). Trong dạy học, một yêu cầu quan trọng mang tính nguyên tắc là GV phải lựa chọn biện pháp tác động nào giúp mình có thể kiểm soát, đánh giá sự tham gia vào bài học của HS.

    2. Cách phát vấn GV chỉ định HS trả lời :

     GV nêu CH trước lớp ( nhóm ), sau đó chỉ định HS trả lời.

    Cách này yêu cầu tất cả HS phải lắng nghe CH, phải động não, suy nghĩ . Lớp học có vẻ “ trầm”nhưng thực ra tất cả HS đang phải suy nghĩ tích cực. Đây mới là cách làm tôn trọng, phát huy tính chủ động của HS với vai trò là chủ thể của quá trình học tập.

                Cách làm này cũng giúp GV phân hóa nội dung, độ “ khó” của CH đến từng đối tượng HS; thực hiện có hiệu quả cá biệt hóa dạy học. Những HS yếu vẫn trả lời được CH ( nhiệm vụ học tập ), từ đó tạo ra ở các em tự tin với bản thân, tạo sự chuyên biến tích cực trong tương tác dạy học HS – HS.

          

    Phụ lục 1 . Xác định mục tiêu bài học :

               1.1 . Mục đích : mục tiêu khái quát , dài hạn .

                       Mục tiêu : mục đích ngắn hạn , cụ thể .

     

          Mục đích quy định mục tiêu . Mục đích chung chương trình một môn học quy định mục tiêu cụ thể của một chương , một bài học trong chương trình đó . 

     

               1.2 Các nhóm mục tiêu :

                  1.2.1. Nhóm mục tiêu về nhận thức :

                        Đề cập đến  việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức

      Biết : nhận biết , ghi nhớ , có thể nhắc lại các sự kiện , định nghĩa các khái niệm , nội dung các định luật . . .

     Hiểu : có thể thuyết minh , giải  thích , chứng minh các kiến thức đã học .

     Áp dụng : vận dụng kiến thức váo các tình huống mới ,

    Phân tích : phân chia một toàn thể thành bộ phận , một vấn đề lớn thành các vấn đề nhỏ hơn và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các bộ phận .

    Tổng hợp : sắp xếp các bộ phận thành một toàn thể thống nhất , ghép những vấn đề nhỏ thành vấn đề lớn hơn , tạo nên một tổng thể mới .

     Đánh giá : có thể nhận định , phán đoán về giá trị  , ý nghĩa của một kiến thức vừa lĩnh hội .

                 1.2.2 . Nhóm mục tiêu vận động :

                      Mức độ thành thạo của các kĩ năng thực hiện hành động .

    Bắt chước : quan sát và lập lại các hành động .

    Thao tác : thực hiện hành động dựa vào chỉ dẫn hơn là quan sát trước đó .

    Hành động chuẩn xác :thực hiện hành động một cách chính xác .

    Hành động phối  hợp : thực hiện một chuỗi hành động nhịp nhàng , chính xác .

    Hành động tự nhiên : thực hiện một chuỗi hành động một cách thành thạo , dễ dàng , tự động , không cần một sự cố gắng về thể lực , trí lực .

                1.2.3 . Nhóm mục tiêu về cảm xúc :

                     Đề cập tới cảm giác , thái độ , giá trị .

    Tiếp nhận : tiếp thu một  kích thích , tham gia một hoạt động một cách thụ động .

    Đáp ứng : trả lời, kích thích , tham gia hoạt động một cách vui lòng , thích thú , hưởng ứng .

    Định giá : thấy rõ giá trị công việc , kiên định thái độ , tự nguyện tham gia .

    Tổ chức : sắp xếp , phối hợp những hoạt động dài ngày  , qua đó thích hợp những giá trị mới vào hệ thống giá trị của bản thân .

    Biểu thị tính cách  riêng : bằng việc định hình các giá trị đã tiếp thu .

    2 . Những qui tắc viết mục tiêu bài học :

             Theo Groulund , khi viết mục tiêu cần dựa vào 5 tiêu chí sau :

    1. Phải xác định rõ mức độ hoàn thành công việc của HS .

    2. Phải nói rõ đầu ra của bài học chứ không phải là tiến trình tiết học .

    4. Mỗi mục tiêu chỉ nên phản ảnh một đầu ra để thuận tiện cho việc đánh giá kết quả bài học . Nếu bài học có nhiều mục tiêu thì nên trình bày riêng với mức độ cần đạt của mỗi mục tiêu đó

    5. Mỗi đầu ra trong mục tiêu nên được diễn đạt bằng một động từ được lựa chọn để xác định rõ mức độ HS phải đạt được bằng hành động .

               Nói chung , mục tiêu là phần trả lời câu hỏi : sau khi học xong bài này ( chương này ) HS phải nắm được những kiến thức gì , có những kĩ năng gì , hình thành được những thái độ gì với mức độ đạt được như thế nào ? Mục tiêu dự kiến càng cụ thể ,càng sát hợp với yêu cầu , mục đích của chương trình , với thực tế dạy và học thì càng tốt vì đó là căn cứ để đánh giá , xác định hiệu quả dạy ( thầy ) và học ( trò ) , từ đó điều chỉnh hoạt động dạy và học theo hướng tối ưu .

    Tài liệu tham khảo :

    1. Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy ở tiểu học – Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GVTH chu kì 1997 – 2000 – Nhà xuất bản Giáo dục,

    2. Sự phát triển trí tuệ của học sinh đầu tuổi học – Nguyễn Kế Hào – Nhà xuất bản giáo dục năm 1985,

    3.  Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa – Trần Bá Hoành – Nhà xuất bản Đại học sư phạm năm 2006,

    4. Dạy và học tích cực – Dự án Việt- Bỉ -Nhà xuất bản Đại học sư phạm năm 2010 ,

    5. Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học – Dự án phát triển giáo viên tiểu học -Nhà xuất bản giáo dục năm 2006,

    6. Soạn giảng theo nhóm đối tượng HS – Sở Giáo dục – Đào tạo Khánh Hòa, năm 2007.

    Đây là bài viết mang tính chất tham khảo. Các thầy cô có thể trao đổi để có những phương pháp dạy hay và tốt hơn.

    Tin bài: TB- Trường Tiểu học Vĩnh Nguyên 3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Đặt Câu Hỏi Trong Dạy Học
  • Đột Phá Trong Giảng Dạy Môn Giáo Dục Quốc Phòng
  • Đổi Mới Toàn Diện, Nâng Cao Chất Lượng Môn Học Gdqp&an
  • Để Dạy Học Tốt Môn Giáo Dục Công Dân
  • Sư Phạm Giáo Lý (Căn Bản)
  • Cách Ghép Đôi Bồ Câu Trống Mái. Cách Phân Biệt Bồ Câu Trống Mái

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Phân Biệt Bồ Câu Trống Mái Cho Người Mới Đơn Giản Nhất
  • Cách Phân Biệt Bồ Câu Trống Mái. Cách Nhận Biết Bồ Câu Đực Cái Đơn Giản
  • Cách Phân Biệt Chim Bồ Câu Trống Mái Đơn Giản Và Chính Xác Nhất
  • Vụ George Floyd Và Làn Sóng Chống Phân Biệt Chủng Tộc
  • 6 Dấu Hiệu Phân Biệt Đồng Hồ Daniel Wellington Thật
  • Chim bồ câu là vật nuôi mang lại giá trị kinh tế cao nên chăn nuôi bồ câu ngày càng được nhiều người quan tâm. Nuôi bồ câu đem lại nhiều lợi ích và nguồn thu nhập khá ổn định cho nhiều hộ dân cũng như các trang trại lớn nhỏ trong cả nước. Bài viết này sẽ giúp bà con giải quyết vấn đề rất cơ bản nhưng quan trọng khi nuôi chim bồ câu, đó là cách ghép đôi bồ câu trống mái.

    Nếu quá trình chọn giống diễn ra thuận lợi và hiệu quả, chim sẽ có được sự sinh trưởng và phát triển hiệu quả một cách tự nhiên, sinh sản đều đặn và dày lứa. Một cặp bồ câu thuần ghép đôi hoàn chỉnh có thể cho ra 6 – 10 lứa / năm tùy từng giống.

    Trước tiên, cách phân biệt bồ câu trống mái

    Ngoài ra, để tránh việc ghép đôi nhầm chúng ta cũng nên tìm hiểu một số cách để phân biệt giới tính chim:

    Chim bồ câu trống có thân dài, đầu to, chân cao, khi chim trưởng thành thường có tiếng gù, chim hay quay tròn ưởng mình lên cao để thu hút chim mái.

    Chim mái đầu thon, mỏ nhọn, cổ dài, thân nhỏ hơn con đực, bụng bầu. Thời kì trưởng thành, khi ta sờ vào phần bụng dưới thì thấy 2 xương chậu (ghim) mở rộng hơn con đực. Chim không có tiếng gù, mỏ nằm bên trong, biểu hiện nhiều cử chỉ đòi mớm.

    Khi ghép đôi, bồ câu chưa là một cặp thì nên để chúng có thời gian làm quen và tạo cặp với nhau (Khoảng 1-3 ngày hoặc có thể lâu hơn). Tốt nhất là nhốt riêng với nhau khi chúng quen rồi có thể thả ra tự do trong chuồng. Nếu có tình trạng bồ câu đấu nhau hung dữ, biểu hiện khó chịu thì phải tách ra ghép với con khác.

    Khi chúng đã chịu nhau thì có biểu hiện quấn quýt con đực hay nằm sát con mái, chúng thường rỉa lông và mớm mồi cho nhau.

    Nếu bà con nuôi số lượng lớn có thể thả chúng vào một trại vài chục mét vuông/vài chục đôi cho chúng tự ghép đôi. Trong trại cần có chuồng để chim làm tổ. Quan sát biểu hiện những con nào thừa ra để bán, sử dụng hoặc ghép đôi riêng về sau.

    Chim bồ câu là giống chim chung thủy nên khi ghép đôi thành công có thể nuôi chúng lâu dài với nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Phân Biệt Chim Bồ Câu Trống Và Mái Chính Xác Nhất
  • Phân Biệt Bò Húc Thật Với Bò Húc Giả?
  • Cách Phân Biệt Bò Húc Thật Giả Chính Xác Nhất Hiện Nay
  • Cách Phân Biệt Nước Tăng Lực Bò Húc Thật Hay Giả?
  • Từ Vụ Kem Chống Nắng Anessa Bị Làm Giả Có Bán Tại Việt Nam: Cách Nhận Biết Kem Chống Nắng Anessa Thật Và Giả
  • Các Thì Hiện Tại: Kể Chuyện, Tường Thuật, Chỉ Thị

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Thì Quá Khứ Đơn Và Quá Khứ Tiếp Diễn
  • Quản Trị Khác Quản Lý Như Thế Nào?
  • Lãnh Đạo Và Quản Trị Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Phân Biệt Kinh Doanh, Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh?
  • Tìm Hiểu Giày Replica Là Gì? Giày Rep 1:1 Là Gì
  • Thì hiện tại thường được dùng để kể chuyện trong văn phong thân mật, không trang trọng. Hiện tại đơn được dùng cho những sự kiện xảy ra lần lượt. Hiện tại tiếp diễn được dùng làm nền – những sự việc đã xảy ra khi câu chuyện bắt đầu, hoặc tiếp tục xuyên suốt câu chuyện. (Giống như sự khác biệt giữa quá khứ đơn và quá khứ tiếp diễn.)

    Ví dụ:

    So I open the door, and I look out into the garden, and I see this man. He ‘s wearing pyjamas and a policeman’s helmet. ‘Hello,’ he says

    (Vậy nên tôi mở cửa ra và nhìn vào bên trong khu vườn và tôi thấy người đàn ông đó. Ông ta đang mặc một bộ pyjama và đội chiếc mũ bảo hiểm của cảnh sát. ‘Xin chào’, ông ấy nói…)

    There ‘s this Scotsman, you see, and he ‘s walking through the jungle when he meets a gorilla. And the gorilla ‘s eating a snake sandwich…

    (Anh thấy đó, có một người đàn ông Scotland và ông ta bước vào khu rừng khi ông ta gặp một con gorila. Con gorila thì đang ăn bánh sandwich hình con rắn…)

    Thì hiện tại đơn thường được dùng để tóm tắt các vở kịch, câu chuyện…

    Ví dụ:

    In Act I, Hamlet sees the ghost of his father. The ghost tells him …

    (Ở màn I, Hamlet nhìn thấy bóng ma của cha mình. Bóng ma nói với chàng…)

    Chapter 2: Henry goes to Scotland and meets the Loch Ness Monster.

    (Chương 2: Henry đến Scotland và gặp quái vật hồ Loch Ness.)

    2. Tường thuật

    Trong tường thuật, cách dùng các thì cũng tương tự. Hiện tại đơn được dùng để diễn đạt các hành động và sự kiện nhanh hơn (đã kết thúc trước khi chúng được miêu tả); hiện tại tiếp diễn được dùng cho các hành động và sự kiện dài hơn. Trong tường thuật bóng đá, thì tiếp diễn được dùng ít hơn và thì đơn được dùng nhiều hơn so với khi tường thuật một cuộc đua thuyền.

    Ví dụ:

    Smith passes to Devaney, Devaney to Barnes – and Harris intercepts

    (Smith chuyền cho Devaney, Devaney chuyền cho Barnes và Harris chặn lại…)

    Harris passes back to Simms, nice ball – and Simms shoots!

    (Harris chuyền lại cho Simms, rất đẹp và Simms sút!)

    3. Chỉ thị và thuyết minh

    Chúng ta thường dùng thì hiện tại theo cách tương tự để chỉ thị, thuyết minh và hướng dẫn.

    Ví dụ

    OK, let’s go over it again. You wait outside the bank until the manager arrives. Then you radio Louie, who‘s waiting round the corner, and he drives round to the front entrance. You and Louie grab the manager…

    (Được rồi, hãy nói lại lần nữa. Anh đợi bên ngoài ngân hàng cho đến khi người quản lý đến. Sau đó anh gọi cho Louie, cậu ta đang đợi ở góc sẽ lái xe vòng ra lối vào đằng trước. Anh và Louie tóm lấy người quản lý…)

    First I put a lump of butter into a frying pan and light the gas; then while the butter‘s melting I break three eggs into a bowl, like this…

    (Trước tiên, tôi đặt một viên bơ vào chảo chiên và bật bếp lên, trong lúc khi bơ đang chảy, tôi đập 3 quả trứng vào tô, như thế này…)

    How do I get to the station? ~ You go straight on to the traffic lights, then you turn left…

    (Làm thế nào để đi đến nhà ga? ~ Anh đi thẳng đến chỗ đèn giao thông sau đó anh rẽ trái…)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Thì Quá Khứ Đơn Và Quá Khứ Tiếp Diễn
  • Sự Khác Biệt Giữa Các Nguyên Tử Của Các Nguyên Tố Hóa Học Khác Nhau Là Gì?
  • Nên Chọn Mèo Con Giống Đực Hay Giống Cái ?
  • Nêu Sự Khác Nhau Của Miễn Dịch Tự Nhiên Và Miễn Dịch Nhân Tạo
  • 18 Cách Nhận Biết Mật Ong Thật Giả Đơn Giản (Chính Xác 100%)
  • Cách Phân Biệt Bồ Câu Trống Mái Chuẩn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Phân Biệt Bồ Câu Trống Mái. Nhận Biết Bồ Câu Trống Mái Đơn Giản
  • Phân Biệt Chủng Tộc Dưới Góc Nhìn Của Một Giáo Sư Người Việt Ở Mỹ
  • Giải Mã 7 Dấu Hiệu Phân Biệt Đồng Hồ Daniel Wellington Thật Giả
  • Phân Biệt Farther Và Further (Chi Tiết Có Bài Tập Ôn Luyện)
  • Cách Nhận Biết Giày Adidas Chính Hãng Tránh Mất Tiền Oan Chuẩn 100%
  • Bồ câu là loài chim chung thủy với bạn đời. Chúng thường sống theo cặp, sinh trưởng và phát triển tự nhiên, sinh sản đều đặn. Do vậy, ghép đôi cho chim bồ câu là bước rất quan trọng để giúp loài chim này lựa chọn bạn đời. Trong quá trình ghép đôi, người nuôi cần nắm được cách phân biệt bồ câu trống mái, đây là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng, đảm bảo khả năng thành công và tránh ảnh hưởng tới năng suất chăn nuôi. Mời bà con tham khảo cách chọn chim bồ câu trống mái chính xác nhất theo chia sẻ của chuyên gia.

    Bật mí cách phân biệt bồ câu trống mái chính xác 100%

    1. Vì sao cần phân biệt bồ câu trống mái?

    Nếu tỉ lệ chim bồ câu trống mái cân bằng theo đúng tỉ lệ 1:1 sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất nhờ đảm bảo hiệu quả sinh sản và nuôi dưỡng. Hiện nay, các trại cung cấp giống chim bồ câu thực hiện phân loại chim rõ ràng và đảm bảo tỉ lệ phân biệt chính xác lên đến 90%. Nếu tỉ lệ này chênh lệch quá lớn sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới năng suất chăn nuôi.

    Chim mái có tỉ lệ nhiều hơn chim trống sẽ khiến trứng chim mái không được thụ tinh, ấp nở không thể nở ra chim con. Nếu tỉ lệ chim trống trong đàn quá lớn sẽ khiến người chăn nuôi tiêu tốn lượng thức ăn lớn để nuôi mà không có tác dụng nhiều trong việc sinh sản . Đồng thời, tỉ lệ chim đực quá nhiều sẽ khiến chúng đánh nhau để tranh giành chim mái, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, tốc độ tăng trưởng cũng như gây xáo trộn sinh hoạt của đàn. Do vậy, việc nhận biết ra đâu là con trống, đâu là con mái vô cùng quan trọng để duy trì ổn định và năng suất thu được của cả đàn chim.

    2. Cách phân biệt bồ câu trống mái

    Nếu chỉ xét theo đặc điểm ngoại hình, và các biểu hiện trong quá trình sinh trưởng sẽ rất khó nhận biết ra được đâu là con trống và đâu là con mái. Do tập tính của chim bồ câu không khác biệt quá nhiều. Đặc biệt, khi chim bồ câu còn bé, việc phân biệt được lại càng gặp khó khăn hơn nhiều. Bà con nên căn cứ các đặc điểm sau đây để làm căn cứ nhận dạng cho chính xác.

    Dựa vào hình dáng bên ngoài

    Chim bồ câu trống: thường có kích cỡ và thân hình lớn hơn con chim mái. Ngoài ra, đầu, mỏ của con trống thường trông thô kệch, ngắn và to hơn so với con mái. Cổ con chim trống có nhiều cườm và to hơn. Nếu để ý kĩ, chim trống có các biểu hiện linh hoạt hơn và trông chắc khỏe hơn. Chóp lông cánh của chim trống xếp so le nhau.

    Chim bồ câu mái: bồ câu mái thường có thân hình nhỏ gọn hơn chim trống. Mỏ, đầu con mái nhỏ và thon dài hơn. Quan sát kĩ sẽ thấy, mỏ con mái nhỏ ở gốc mỏ và nhỏ dần về phía đầu mỏ. Chim bồ câu mái con vẫn bám mẹ sẽ có gốc mỏ và đầu mỏ rộng bằng nhau, còn bồ câu trống chưa dứt mẹ sẽ có gốc mỏ to hơn hẳn. Chóp lông cánh của chim mái thường xếp bằng nhau.

    Dựa vào hoạt động khi trưởng thành

    Chim trống thường có tần suất hoạt động cao hơn hẳn con mái. Đặc biệt, chúng sẵn sàng đánh nhau với các con đực khác để chiếm vị thế trong các hoạt động: giành thức ăn, chiếm không gian sống, tranh giành chuồng trên cao, chuồng đẹp và tốt hơn để lôi cuốn con mái. Con đực quyến rũ bạn tình bằng cách xòe to đuôi, xoay người vòng tròn, đầu gật gù. Chúng ta nghe thấy tiếng chim bồ câu đực phát ra gọi bạn tình là: gru… gru…

    Chim mái thường biểu hiện hiền lành hơn. Khi có con trống nào tiếp cận để tán tỉnh, chúng thường đứng yên 1 chỗ và phát ra tiếng kêu gù gù nhỏ nhẹ và không có biểu hiện xòe đuôi như con trống.

    Dùng tay để nhận biết đôi chim bồ câu trống mái

    Đây là phương pháp thường được áp dụng, dễ thực hiện và chính xác nhất để nhận biết ra đâu là con đực, đâu là con mái, kể cả lúc chim câu còn bé.

    • Quan sát lỗ hậu môn: biểu hiện lỗ hậu môn của chim trống sẽ lồi ra, còn chim mái có lỗ hậu môn phẳng và mềm mại hơn.
    • Quan sát ngón chân: sử dụng bàn tay úp người chim bồ câu xuống một cách nhẹ nhàng. Ngón A của chân con chim trống sẽ dài hơn ngón C. Đối với chân con mái thì 2 ngón này dài tương đương nhau.
    • Quan sát phản xạ: sử dụng 1 tay giữ chân chim, tay còn lại kéo mỏ chúng xuống phía dưới 1 cách nhẹ nhàng và từ từ (mô phỏng phản xạ lúc chim trống đạp mái). Chim trống sẽ quắp đuôi xuống nếu thực hiện động tác kéo mỏ còn chim mái thì ngược lại, sẽ vểnh đuôi lên.

    Phân biệt dựa vào tuổi chim

    • Chim mới nở tới mười mấy ngày tuổi: Quan sát trạng thái chim câu nằm – Theo kinh nghiệm đúc kết được, nếu 2 con chim mới nở nằm chồng chéo người lên nhau thì chắc chắn là một đôi chim trống mái. Còn nếu 2 con nằm cùng chiều với nhau (theo chiều từ đầu đến đuôi) thì 60% là 2 con mái.
    • Chim lớn hơn một chút (từ mười mấy ngày tuổi trở lên): Sử dụng ngón tay trỏ hoặc ngón tay cái sờ vào vùng xương chậu của chim. Nếu độ rộng của xương chậu nằm lọt vào vị trí của ngón tay và lắc qua lắc lại thấy ngón tay vẫn di chuyển thì chứng tỏ là chim mái (do xương chậu của chúng rộng hơn để đẻ). Xương chậu của chim trống sẽ hẹp hơn.

    3. Ghép đôi cho chim bồ câu trống mái

    Sau khi xác định được chính xác đâu là con trống, đâu là con mái. Bà con có thể tiến hành ghép đôi choc him bồ câu theo các tiến hành như sau:

    – Cho chim làm quen với nhau trong khoảng từ 1 – 3 ngày bằng cách nhốt riêng chúng vào 1 chuồng và để chúng di chuyển tự do trong chuồng.

    – Nếu thấy chúng cắn nhau hoặc hung dữ với nhau tức là không đồng ý ghép cặp với con chim này, nên tách ra và ghép với con khác sau 3 ngày.

    – Nếu thấy chúng quấn quýt, chịu nhau, con đực thường nằm sát con mái và có những biểu hiện âu yếm như: rỉa lông và mớm mồi cho nhau tức là chúng đã đồng ý ghép cặp. Có thể thả ra và nuôi theo phương thức đang áp dụng của hộ gia đình.

    4. Một số lưu ý khi tiến hành ghép cặp chim bồ câu

    • Để các thế hệ sau di truyền được các đặc tính tốt của đời trước, cần lựa chọn các con giống có phẩm chất tốt như sau: Về đặc điểm: lông bụng của chim phải dày, mượt, mỏ xẻ, cơ thể cân đối, không dị tật, đuôi nhọn. Chim phải nhanh nhẹn.
    • Nuôi chim đạt 6 tháng tuổi mới tiến hành ghép cặp, để chim đạt đến độ tuổi thành thục.
    • Nếu nuôi sinh sản cần phải nuôi riêng rẽ, tránh nuôi nhốt chung chuồng.
    • Mỗi cặp bồ câu sử dụng để sinh sản trong khoảng 5 năm. Sau 3 năm khả năng sinh sản sẽ ngày một giảm sút, khi đó tiến hành thay chim bố mẹ mới.
    • Phải xác định chính xác đâu là chim đực, đâu là chim mái mới tiến hành ghép cặp với nhau.
    • Nên sử dụng phương thức ghép đôi cưỡng bức để giảm khả năng phối giống cận huyết, ảnh hưởng nghiêm trọng tới các thế hệ sau.
    • Sau khi tiến hành ghép cặp, đôi chim bồ câu đã ưng nhau thì cần phải đánh dấu đâu là con trống, đâu là con mái. Phòng trường hợp một trong hai con bị chết phải ghép đôi cưỡng bức cho con còn lại.
    • Nếu nuôi chim với số lượng lớn thì có thể để chúng ghép đôi tự nhiên.
    • Trong trường hợp để chim tự chọn bạn đời, cần bắt riêng đôi chim vào buổi tối khi chim đứng cạnh nhau để ngủ, tránh làm hoảng loạn cả đàn.

    May3a.com vừa gửi tới bà con hướng dẫn cách phân biệt bồ câu trống mái chuẩn nhất. Chúc bà con nắm vững chia sẻ và quan sát cẩn thận để phân biệt chính xác giới tính của chim. Giúp cho việc ghép cặp trở nên đơn giản và thu được kết quả theo ý muốn.

    Mời bà con theo dõi video sử dụng máy nghiền ngô vỡ mảnh 3A2,2Kw

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhận Biết Bồ Câu Trống Mái. Phân Biệt Chính Xác Bồ Câu Trống Mái
  • Làm Thế Nào Để Phân Biệt Nước Bò Húc Thật Và Bò Húc Giả ?
  • Nước Tăng Lực Bò Húc Thật Và Giả Làm Sao Để Phân Biệt
  • Bật Mí Cách Phân Biệt Bò Húc Thật Giả Chính Xác Nhất Hiện Nay!
  • Cách Nhận Biết Âm /s/ Và Âm /z/
  • Cách Phân Biệt Chim Bồ Câu Trống Và Mái Chính Xác Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Ghép Đôi Bồ Câu Trống Mái. Cách Phân Biệt Bồ Câu Trống Mái
  • Cách Phân Biệt Bồ Câu Trống Mái Cho Người Mới Đơn Giản Nhất
  • Cách Phân Biệt Bồ Câu Trống Mái. Cách Nhận Biết Bồ Câu Đực Cái Đơn Giản
  • Cách Phân Biệt Chim Bồ Câu Trống Mái Đơn Giản Và Chính Xác Nhất
  • Vụ George Floyd Và Làn Sóng Chống Phân Biệt Chủng Tộc
  • Đối với chim mới nở thì cách phân biệt chim Bồ Câu trống mái như sau:

    • Nhìn các h chim bồ câu nằm: theo cách dân gian, để ý kĩ nếu 2 con chim lúc mới nở ra mà nằm chéo lên nhau chắc chắn sẽ là 1 đôi trống và má i. Còn trong trường hợp 2 con nằm cùng chiều với nhau, tức là mỏ cùng chiều với mỏ, đuôi cùng chiều với đuôi tỉ lệ cao sẽ là hai con mái. (60%)
    • Nhìn vào hậu môn: chim mái có hậu môn đầy đặn hơn, mềm và lõm, chim trống thì hậu mồm lồi.
    • Nhìn vào hình dạng: Đầu thô, mỏ thô, mắt to hơn khả năng là chim trống. (90%)

    Đối với chim lớn hơn chút (mười mấy ngày tuổi)

    Sử dụng thao tác bằng tay để phân biệt

    • Dùng ngón tay ( trỏ hoặc cái) sờ vào xương chậu, 2 xương chậu rộng lọt vào vị trí của ngón tay và lắc qua lắc lại thì ngón tay thấy thoải mái hơn thì đó là chim mái, xương chậu rộng hơn. Còn đối với chim trống thực hiện thao tác tương tự khi sờ vào xương chậu thấy 2 xương chậu được cơi vào trong ngón tay, có nghĩa là ngón tay không lọt vào bên trong.
    • Dùng 1 tay nắm cánh, tay còn lại nắm chân rồi áp vào lòng sau đó thả chim mở tự do rồi dùng tay kéo mỏ của chim về phía trước. Nếu thấy đuôi của chim ngoắc lên, giật giật thì đó là chim mái. Tương tự thao tác trên đối với chim trống khi kéo mỏ chim thì đuôi sẽ quặp xuống.
    • Dùng 3 ngón chân của chim lên ngón tay quan sát. Đối với chim cái thì 2 ngón chân bên ngoài sẽ bằng nhau, còn với chim trống thì có 1 ngón sẽ dài hơn.

    Đối với chim trưởng thành (hai mấy ngày tuổi)

    • Thân hình: chim trống mình to, đầu to (ở trên đầu thường có cái cờm), mắt to tròn hơn; chim mái hiền lành hơn, mình nhỏ hơn chút, đầu thon gọn.
    • Mỏ: chim trống ngắn, hơi cong; chim mái mỏ thon gọn hơn.
    • Chóp lông cánh: nếu như không bằng nhau (so le) là chim trống, bằng nhau là chim mái.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Bò Húc Thật Với Bò Húc Giả?
  • Cách Phân Biệt Bò Húc Thật Giả Chính Xác Nhất Hiện Nay
  • Cách Phân Biệt Nước Tăng Lực Bò Húc Thật Hay Giả?
  • Từ Vụ Kem Chống Nắng Anessa Bị Làm Giả Có Bán Tại Việt Nam: Cách Nhận Biết Kem Chống Nắng Anessa Thật Và Giả
  • Âm /s/ Và Âm /z/ Khác Nhau Thế Nào?
  • Cách Phân Biệt A, An Và The Trong Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Phân Biệt Chó Husky Và Alaska
  • Phân Biệt “Apartment”, “Condo”, “Flat” Và “Loft”
  • Emas: Phân Biệt ‘can’, ‘may’ Và ‘be Able To’
  • Chẩn Đoán Chính Xác Về Bệnh Sốt Rét
  • Phân Biệt Hen Và Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mạn Tính
  • Trong tiếng Anh, Mạo từ (article) được chia làm 2 loại: Mạo từ xác định (definite article) “The” và Mạo từ không xác định (Indefinite artcile) gồm “a, an”.

    • Mạo từ xác định (definite article) “The”

          The được dùng khi danh từ chỉ đối tượng được cả người nói lẫn người nghe biết  đối tượng nào đó: đối tượng đó là ai, cái gì.

    Các trường hợp dùng mạo từ “The”

    Khi vật thể hay nhóm vật thể là duy nhất hoặc được xem là duy nhất

    Ví dụ: The sun (mặt trời, the world (thế giới), the earth (trái đất)

    Trước một danh từ nếu danh từ này vừa được để cập trước đó

    I see a dog. The dog is chasing a cat. The cat is chasing a mouse. (Tôi thấy 1 chú chó. Chú chó đó đang đuổi theo 1 con mèo. Con mèo đó đang đuổi theo 1 con chuột.)

    TRước một danh từ nếu danh từ này được xác bằng 1 cụm từ hoặc 1 mệnh đề

    The teacher that I met yesterday is my sister in law (Cô giáo tôi gặp hôm qua là chị dâu tôi.)

    Đặt trước một danh từ chỉ một đồ vật riêng biệt mà người nói và người nghe đều hiểu

    Please pass the jar of honey. (Làm ơn hãy đưa cho tôi lọ mật ong với.)

    My father is cooking in the kitchen room. (Bố tôi đang nấu ăn trong nhà bếp.)

    Trước so sánh nhất (đứng trước first, second, only..) khi các từ này được dùng như tính từ hoặc đại từ.

    You are the best in my life. (Trong đời anh, em là nhất!)

    He is the tallest person in the world. (Anh ấy là người cao nhất thế giới.)

    The + danh từ số ít: tượng trưng  cho một nhóm thú vật hoặc đồ vật

    The whale is in danger of becoming extinct (Cá voi đang trong nguy cơ tuyệt chủng.)

    The fast-food is more and more pvelent around the world (Thức ăn nhanh ngày càng phổ biến trên thế giới.)

    Đặt “the” trước một tính từ để chỉ một nhóm người nhất định

    The old (Người già), the poor (người nghèo), the rich (người giàu)

    The được dùng trước những danh từ riêng chỉ biển, sông, quần đảo, dãy núi, tên gọi số nhiều của các nước, sa mạc, miền

    The Pacific (Thái Bình Dương, The United States (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, the Alps (Dãy An pơ)

    The + of + danh từ

    The North of Vietnam (Bắc Việt Nam, The West of Germany (Tây Đức) (Nhưng Northern Vietnam, Western Germany

    The + họ (ở dạng số nhiều) có nghĩa là Gia đình

    The Smiths (Gia đình Smith (gồm vợ và các con)

    The Browns (Gia đình Brown)

    Dùng “the” nếu ta nhắc đến một địa điểm nào đó nhưng không được sử dụng với đúng chức năng.

    They went to the school to see their children. (Họ đến trường để thăm con cái họ.)

    Một số trường hợp không dùng mạo từ xác định “The”

    Trước tên quốc gia, châu lục, tên núi, hồ, đường phố

    (Ngoại trừ những nước theo chế độ Liên bang – gồm nhiều bang (state)

    Europe;vi:Châu Âu, France, Wall Street, Sword Lake

    Khi danh từ không đếm được hoặc danh từ số nhiều dùng theo nghĩa chung chung, không chỉ riêng trường hợp nào

    I like dogs.

    Oranges are good for health.

    Trước danh từ trừu tượng, trừ khi danh từ đó chỉ một trường hợp cá biệt

    Men fear death.

    The death of his father made him completely hopeless.

    Ta không dùng “the” sau tính từ sở hữu hoặc sau danh từ ở dạng sở hữu cách

    My friend, không phải “my the friend”

    The man’s wife không phải “the wife of the man”

    Không dùng “the” trước tên gọi các bữa ăn hay tước hiệu

    They invited some close friends to dinner. (Họ đã mời vài người bạn thân đến ăn tối.)

    Nhưng: The wedding dinner was amazing (Bữa tiệc cưới thật tuyệt vời.)

    Ta nói: President Obama (Tổng thống Obama, Chancellor Angela Merkel (Thủ tướng Angela Merkel..)

    Không dùng “the” trong các trường hợp nhắc đến danh từ với nghĩa chung chung khác như chơi thể thao, các mùa trong năm hay phương tiện đi lại

    Come by car/ by bus (Đến bằng xe ô tô, bằng xe buýt)

    In spring/ in Autumn (trong mùa xuân,mùa thu), fr0m beginning to end (từ đầu tới cuối), from left to right (từ trái qua phải)

    To play golf/chess/cards (chơi golf, đánh cờ, đánh bài)

    Go to bed/hospital/church/work/prison (đi ngủ/ đi nằm viện/ đi nhà thờ/ đi làm/ đi tù)

    • Mạo từ không xác định (Indefinite artcile)“a, an”.

    Các trường hợp dùng mạo từ “A/An”

    Dùng Mạo từ bất định trước danh từ số ít đếm được

    We need a refrigerator. (Chúng tôi cần một cái tủ lạnh.)

    He drank a cup of coffee. (Anh ấy đã uống một cốc cà phê.)

    Trước một danh từ làm bổ túc từ – thành phần phụ complement

    He was a famous person (Anh ấy đã từng là người nổi tiếng.)

    Dùng trong các thành ngữ chỉ lượng nhất định

     A lot, a couple (một đôi/cặp), a third (một phần ba)

    A dozen (một tá), a hundred (một trăm, a quarter (một phần tư)

    Half: Ta dùng “a half” nếu half được heo sau một số nguyên

    2 kilos: Two and half kilos/ two kilos and a half

    Nhưng kilo: Half a kilo ( không có “a” trước half)

     Một số trường hợp không dùng mạo từ xác định “a/an”

    Trước danh từ số nhiều

    A/ an không có hình thức số nhiều

    Ta nói apples, không dùng an apples

    Không dùng trước danh từ không đếm được

    What you need is confidence (Cái anh cần là sự tự tin.)

    Không dùng trước tên gọi các bữa ăn trừ khi có tính từ đứng trước các tên gọi đó

    Ta nói: I have lunch at 12 o’clock. (Tôi ăn trưa lúc 12h.)

    Nhưng: He has a delicious dinner. (Anh ấy có một bữa tối thật ngon miệng)

    Phân biệt cách sử dụng “a” và “an”

    “a” đứng trước một phụ âm hoặc một nguyên âm có âm là phụ âm

    a game (một trò chơi, a boat (một chiếc tàu thủy)

    Nhưng: a university (một trường đại học), a year (một năm)

    a one-legged man (một người đàn ông thọt chân), a European (một người Châu Âu)

    “an” đứng trước một nguyên âm hoặc một âm câm

    an egg (một quả trứng), an ant (một con kiến)

    an hour (một giờ đồng hồ)

    “an” cũng đứng trước các mẫu tự đặc biệt đọc như một nguyên âm

    an SOS (Một tín hiệu cấp cứu), an X-ray (một tia X

    Trung tâm tiếng Anh NEWSKY sưu tầm và tổng hợp

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Quan Hệ Pháp Luật Và Quan Hệ Xã Hội Khác
  • Kem Chống Nắng The Saem Eco Earth Power Sun Cream Spf50+
  • Kem Chống Nắng The Saem Chính Hãng, Cách Phân Biệt Thật Giả
  • Cấu Trúc By The Time Và Cách Phân Biệt Với When, Until Trong Tiếng Anh
  • Giày Adidas Yeezy 700 Rep 1:1
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×