Top 18 # Hai Tia Phân Biệt Là Gì / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Xe 1 Cầu Là Gì? Xe Hai Cầu Là Gì? Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Hai Hệ Thống Này / 2023

1.Cầu xe là gì?

Động cơ chuyển động sẽ làm quay láp dọc và tác động lên bộ vi sai làm quay 2 láp ngang và giúp bánh xe lăn bánh. Theo nguyên tắc thì hai bánh không được chuyển động với cùng một vận tốc khi vào khúc cua vì sẽ gây ra hiện tượng lết bánh làm xe bị lật, do đó bộ vi sai có công dụng giúp hai bánh chuyển động tương đối độc lập, trong đó bánh này phải làm điểm tựa cho bánh kia thì bánh xe mới quay được.

2.Xe một cầu là gì?

Nếu xe hai cầu di chuyển trên những địa hình xấu như khi đi vào vũng lầy, chỉ cần một trong hai bánh xe dẫn động bị mất ma sát thì bánh còn lại sẽ không quay được và xe sẽ không có lực để tiến lên phía trước.

3. Xe hai cầu là gì?

Xe hai cầu có 2 loại là 4WD (4 Wheel Drive – hệ thống dẫn động 4 bánh bán thời gian) và AWD (All Wheels Drive – Hệ thống dẫn 4 bánh toàn thời gian). Điểm khác biệt cốt lõi giữa hai hệ thống 4WD và AWD nằm ở thời gian tác động lên xe.

– Hệ thống dẫn động 4 bánh bán thời gian (4WD): hệ thống dẫn động 4 bánh hoạt động theo yêu cầu và cung cấp năng lượng cho cả bốn bánh bằng cách đồng bộ trục trước và sau với nhau thông qua cần số. 4WD bán thời gian thường bao gồm hai phạm vi tốc độ cao (Hi) và thấp (Lo)

Hệ thống bán thời gian phải được sử dụng ở chếđộ 2WD trên mặt đường bằng phẳng. Chúng được thiết kế để chỉ tham gia vào các tình huống cụ thể khi bạn cần thêm lực kéo và thiệt hại có thể xảy ra nếu lái trên bề mặt cứng.

– Hệ thống dẫn động 4 bánh toàn thời gian (AWD): Hệ thống dẫn động 4 bánh có khả năng vận hành trên mọi địa hình, hệ thống dẫn động 4 bánh toàn thời gian thường có tùy chọn vận hành bán thời gian để bạn có thể chuyển sang 2WD khi đi trên địa hình phẳng. Hệ thống 4WD toàn thời gian không phải lúc nào cũng có dải tốc độ cao (Hi) và thấp (Lo).

Ngoài ra, hệ thống 4WD tỏ ra khó điều khiển tại các góc cua, đặc biệt khi đang chạy trên mặt đường bằng tuyết vì khi đó, một trục của xe bị khóa cứng, trượt trên mặt đường khi di chuyển vào khúc cua. Còn hệ thống AWD cho phép vận tốc của bánh trước khác với bánh sau nên động cơ vận hành linh hoạt trong những trường hợp trên giúp cho việc di chuyển an toàn và ổn định hơn, tránh không bị trơn trượt khi gặp địa hình xấu.

Hiện nay, các hệ thống AWD hiện đại tỏ ra hỗ trợ hiệu quả đối vì được phát triển trên nguyên tắc dẫn động cầu trước bổ sung dẫn động cầu sau với khả năng cân bằng và kiểm soát tốc độ xe ở mọi điều kiện địa hình và tình huống khác nhau.

Tóm lại, xe hai cầu có nhiều ưu điểmvì vận hành khỏe và tính cơ động khá cao, có thể di chuyển trên mọi địa hình và cho phép chạy 1 cầu nếu di chuyển trên địa hình bằng phẳng. Tuy nhiên, chi phí sở hữu xe ô tô hai cầu sẽ cao hơn nhiều so với xe một cầu, tiêu hao nhiều nhiên liệu hơn, vỏ xe sẽ mau mòn hơn và người mua sẽ tốn nhiều chi phí bảo dưỡng về sau.

Với những thông tin về xe 1 cầu và xe hai cầu, mong rằng bạn đã có thể phân biệt được điểm khác biệt của chúng và cân nhắc lựa chọn đúng loại xe phù hợp với nhu cầu sử dụng của bản thân. Đừng quên cập nhật những tin tức mới nhất của chúng tôi để có thêm những xu hướng mới về xe ô tô.

Ẩn Dụ Là Gì? Hoán Dụ Là Gì? Cách Phân Biệt Hai Biện Pháp Này / 2023

1. Như thế nào gọi là biện pháp ẩn dụ?

1.1. Khái niệm, ẩn dụ là gì

Ẩn dụ là biện pháp tu từ mà người viết dùng tên của sự vật, hiện tượng này để gọi tên sự vật, hiện tượng khác. Giữa hai đối tượng có nét tương đồng về đặc điểm nào đó (tính chất, trạng thái, màu sắc…), nhằm làm tăng khả năng gợi cảm, gợi hình cho sự diễn đạt. Hoặc các bạn có thể hiểu khái quát rằng ẩn dụ là hình thức thay đổi tên gọi của sự vật hiện tượng có tên là A bằng sự vật hiện tượng có tên là B, trong đó A với B có nét tương đồng với nhau.

1.2. Các hình thức ẩn dụ

– Ẩn dụ hình thức: Với phép ẩn dụ này hai sự vật, sự việc, hiện tượng trong phép ẩn dụ có nét tương đồng về hình thức.

Ví dụ minh họa:

“Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”

“Khuôn trăng” là chỉ mặt trăng, mặt trăng tròn trịa đầy đặn, ở đây tác giả lấy đặc điểm đó của mặt trăng để ẩn dụ cho khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn của Thúy Vân

– Ẩn dụ cách thức: là phép ẩn dụ các sự vật, hiện tượng có tương đồng về cách thức.

Ví dụ minh họa:

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”

Quả, cây, khoai là thành quả của lao động, còn hành động trồng cây là hành động lao động, các sự vật hiện tượng này có tương đồng về cách thức đều thuộc về hành động lao động.

– Ẩn dụ phẩm chất: Các sự vật, hiện tượng có nét tương đồng về phẩm chất

Ví dụ minh hoạ:

“Người cha mái tóc bạc,

Đốt lửa cho anh nằm.”

Hình ảnh ẩn dụ “Người cha” trong câu thơ chính là chỉ Bác Hồ, ý nói Bác Hồ chăm sóc cho các chiến sĩ tận tình, chu đáo như đang chăm lo cho chính con cái của mình.

– Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Hình thức ẩn dụ này là việc cảm nhận bằng một giác quan khác, chuyển đổi từ cảm giác này sang cảm giác khác.

Ví dụ minh họa:

“Tiếng hát của cô ấy thật ngọt ngào”

Từ việc nghe bằng tai nhưng lại thể hiện cảm giác bằng miệng “ngọt ngào”, chuyển từ thính giác sang vị giác.

2. Như thế nào gọi là biện pháp hoán dụ?

2.1. Khái niệm, hoán dụ là gì

Hoán dụ là gọi tên sự vật, sự việc, hiện tượng này bằng tên sự vật, sự việc, hiện tượng khác có mối quan hệ gắn bó, gần gũi để tăng sức gợi tả, gợi hình, trong diễn đạt.

Có 4 phép hoán dụ chính trong Tiếng Việt đó là:

Lấy cái bộ phận chỉ cái toàn thể

Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng

Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật

Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

2.2. Các loại hoán dụ

– Phép hoán dụ: “Lấy cái bộ phận chỉ cái toàn thể”

Ví dụ minh họa:

“Áo nâu cùng với áo xanh,

Nông thôn cùng với thị thành đứng lên”

Hình ảnh “áo nâu, áo xanh” chỉ người nông dân và người công nhân, đây là bộ phận nhỏ của nông thôn và thành thị.

– Phép hoán dụ: “Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng”:

Ví dụ minh hoạ:

“Bóng hồng nhác thấy nẻo xa

Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai”

Bóng hồng là chỉ về vẻ đẹp của mỗi người con gái, đây được coi là vật chứa đựng. Xuân lan, thu cúc là chỉ về vẻ đẹp riêng của từng người con gái, đây là cái bị chứa đựng

– Phép hoán dụ: “Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật”

Ví dụ minh họa:

“Áo chàm đưa buổi phân li,

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

“Áo chàm” là hình ảnh những đồng bào miền Bắc, ở đây chính là dấu hiệu ám chỉ những cuộc chia li trong chiến tranh, sự chia cắt Bắc – Nam.

– Phép tu từ: “Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng”

Ví dụ minh họa:

“Vì lợi ích mười năm trồng cây,

Vì lợi ích trăm năm trồng người.”

Cái cụ thể là 10 năm, trồng cây hoán dụ cho cái trừu tượng đó là trăm năm trồng người.

3. So sánh giữa ẩn dụ và hoán dụ

3.1. Sự giống nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ

– Sự chuyển đổi có cùng bản chất: Đều gọi sự vật, sự việc, hiện tượng này với tên gọi của sự vật hiện tượng khác.

– Đều sử dụng sự liên tưởng.

– Tác dụng: Giúp cho tăng sức gợi tả, gợi cảm cho câu văn, câu thơ tạo cảm xúc cho người đọc.

3.2. Sự khác nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ

Hai phép tu từ này có cơ sở liên tưởng không giống nhau:

Phân Biệt Chủng Tộc Là Gì? / 2023

Phân biệt chủng tộc nảy sinh do phải đối diện với những khác biệt của loài người. Nó biểu lộ trong các xã hội phương Tây hiện đại dưới nhiều hình thức (chế độ nô lệ, diệt chủng, tách biệt chủng tộc …). Ngày nay, vấn đề tương thích các nền văn hóa một lần nữa tiếp sức cho khái niệm này.

Có nhiều định nghĩa về phân biệt chủng tộc. Ví dụ, hai nhà nghiên cứu nữ Évelyne Heyer và Carole Reynaud-Paligot của Bảo tàng Con người (Musée de l’Homme) giải thích rằng phân biệt chủng tộc nghĩa là “cho rằng những khác biệt giữa các cá nhân, về mặt thể chất hay văn hóa, là có tính di truyền, bất biến và tự nhiên, nó thiết lập một hệ thống thứ bậc giữa các loại người, nó có thể được thể hiện bằng những cảm xúc và hành động đi từ phân biệt đối xử đến tiêu diệt kẻ khác”. Nói cách khác, phân biệt chủng tộc dựa trên ba trụ cột chính: phân loại các cá nhân thành từng nhóm (một phản xạ của trí óc con người, nhưng các tiêu chí phân loại thay đổi tùy theo bối cảnh xã hội lịch sử), xếp các nhóm theo thứ bậc (có nhóm được tăng giá trị, có nhóm bị giảm giá trị vì những lý do võ đoán) và giản lược chúng vào những đặc điểm chính, nghĩa là cho rằng những khác biệt này là không thể vượt qua, không thể tránh khỏi vì chúng tùy thuộc vào di truyền. Như vậy, phân biệt chủng tộc khác với tính bài ngoại, vì bài ngoại không nhất thiết xem kẻ khác là khác biệt không cách gì thay đổi được.

Về phần mình, nhà sử học Jean-Frédéric Schaub cho rằng phân biệt chủng tộc có một khía cạnh chính trị, vì đó là một trong những cách đáp trả được dùng để quản lý sự khác biệt vốn có của loài người. Như vậy, những hình thức khác nhau của phân biệt chủng tộc (bài Do Thái, bài người da đen v.v.) xuất phát từ cùng một nguyên tắc. Ở nơi mà một số người chọn cư xử bình đẳng và công bằng, thì những người khác phân biệt đối xử một số nhóm theo những tiêu chí khác nhau (chủng tộc, nhưng có khi là giới tính, sự khuyết tật, xu hướng tình dục, v.v.), thường là để áp đặt vị thế của họ cao hơn những người khác.

Một định nghĩa khác cùng chiều hướng trên, theo nhà triết học và là chiến sĩ chống phân biệt chủng tộc Pierre Tévanian, tác giả của “Cỗ máy phân biệt chủng tộc” (2017) ( La Mécanique raciste), không nên tìm phân biệt chủng tộc trong tâm lý con người mà là trong các ý thức hệ chính trị như là một phần gắn liền với các thể chế (tư pháp, cảnh sát, trường học, v.v.): ” Nói tóm lại, phân biệt chủng tộc là một hệ thống thống trị. ”

Các nhà sử học không đồng ý với nhau về nguồn gốc của phân biệt chủng tộc. Nếu ta hiểu từ này theo nghĩa hẹp (một sự tách biệt dựa trên những tiêu chí sinh học), thì theo nhà sử học J.F. Schaub, những biểu hiện đầu tiên của nó ở phương Tây đã xuất hiện với sự khủng bố người Do Thái ở bán đảo Iberia ( Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha – ND) vào thế kỷ 15. Về phía nhà sử học Mỹ Benjamin Isaac, ông nêu rõ rằng đối với người Hy Lạp và La Mã, những khuôn mẫu xơ cứng về các loại chủng tộc dựa trên cơ sở “huyết thống”, những tiêu chí về thể chất và địa lý là rất phổ biến.

1. Chế độ nô lệ và công cuộc khai thác thuộc địa

3. Cuộc tàn sát người Tutsis và người Hutus

Trong nửa sau thế kỷ 20, đã phát triển các chính sách về quyền bình đẳng và đấu tranh chống phân biệt đối xử. Chẳng hạn như từ năm 1948, Liên Hiệp Quốc đã phê duyệt Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền trong đó Điều 1 tuyên bố ” Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền “.

Tuy nhiên ngày nay, khá phổ biến là cảm giác phân biệt chủng tộc ở Pháp vẫn tồn tại. Phân biệt chủng tộc ngày nay có giống với ngày hôm qua? Theo nhà sử học George M. Fredrickson, một loại phân biệt chủng tộc văn hóa đã chiếm ưu thế so với phân biệt chủng tộc sinh học. Tương tự, bác sĩ di truyền học Axel Kahn giải thích rằng ngày nay ” phân biệt chủng tộc hoành hành mà không cần đến thực tại sinh học (…). Trong những phát ngôn của những người phân biệt chủng tộc hiện đại, họ không còn tuyên bố các chủng tộc là xung khắc nhau hoặc không bình đẳng, mà là các tập quán, tín ngưỡng và các nền văn minh. Điều mà người ta nói đến là sốc văn hóa.” Nhà nghiên cứu nữ C. Reynaud-Paligot xác nhận những phân tích này và thêm vài nhận xét tinh tế hơn: Những tư tưởng triệt để hay giản lược về đặc tính chính yếu không biến mất; chúng vẫn tồn tại dưới hình thức ít triệt để hơn và trình bày các “nền văn hóa” như những thực thể cứng nhắc, với những đặc điểm nếu không bất biến thì cũng rất khó biến đổi, trong khi những công trình khoa học xã hội không ngừng chỉ ra tính chất uyển chuyển, năng động luôn luôn tiến hóa của các nền văn hóa và đó mới là căn tính của các nền văn hóa.

* Từ điển phân biệt chủng tộc, loại trừ và phân biệt đối xử (Dictionnaire des racismes, de l’exclusion et des discriminations), Esther Benbassa (dir.), Larousse, 2010.

* Chúng ta và những kẻ khác. Những định kiến về phân biệt chủng tộc(Nous et les autres. Des préjugés au racisme), Évelyne Heyer và Carole Reynaud-Paligot (dir.), La Découverte, 2017.

* Cỗ máy phân biệt chủng tộc(La Mécanique raciste), Pierre Tévanian, La Découverte, 2017.

, nên tìm ma trận phân biệt chủng tộc ở Nam Âu của thế kỷ 15. Đó không phải là ngẫu nhiên: J.F Schaub lưu ý rằng phân biệt chủng tộc chỉ có thể xuất hiện trong những xã hội mà sự cách biệt giữa các nhóm xã hội có xu hướng thu hẹp lại, thậm chí biến mất. Lúc đó lập luận phân biệt chủng tộc sẽ xuất hiện để đáp ứng một nhu cầu ” Theo nhà sử học Jean-Frédéric Schaub phát hiện những sự khác biệt mà mắt thường không còn nhận diện được nữa ” và nhu cầu tạo ra sự khác biệt.

Về phần mình, nhà sử học George M. Fredrickson không loại trừ khả năng có những hình thái phân biệt chủng tộc ở những nơi khác ngoài phương Tây, nhưng ông xác định là phân biệt chủng tộc ở phương Tây bộc lộ rõ hơn. Ông giải thích điều đó bằng sự ngạc nhiên gây ra bởi kiểu hành vi này trong các xã hội bảo vệ bình đẳng giữa các cá nhân: ” Chỉ có ở phương Tây chúng ta mới tìm thấy mối tương tác biện chứng giữa một định đề về bình đẳng với những thành kiến nặng nề chống lại một số nhóm người – có vẻ như là điều kiện tối cần thiết cho sự phát triển đầy đủ của phân biệt chủng tộc với tính cách ý thức hệ hay viễn kiến về thế giới. ”

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có những biểu hiện phân biệt chủng tộc ở ngoài các nước phương Tây. Ví dụ ở Nhật, đối với thiểu số người Aïnous, người Trung Quốc hay cả với người Hàn Quốc; ở Trung Quốc, đối với người da đen; ở Ấn Độ, với hệ thống các đẳng cấp (những cộng đồng di truyền theo huyết thống và được xem như trong sạch ít hay nhiều, và từ đó bị về quyền). Ngày nay, các nhà xã hội học xem những điều này là tương đương với phân biệt chủng tộc (Christophe Jaffrelot và Jules Naudet, Biện minh cho trật tự xã hội. Đẳng cấp, chủng tộc, giai cấp và giới. – Justifier l’ordre social. Caste, race, classe et genre, 2013).

Những công trình nghiên cứu về chủng tộc tiếp nối nhau mãi cho đến những năm 1950-1960. Sau đó chủng tộc bị bỏ rơi; những khác biệt về văn hóa (được tạo lập được chứ không phải bẩm sinh) được nêu ra nhiều hơn để giải thích những . Có hai lý do giải thích điều này: Đa số các nhà di truyền học bác bỏ giá trị khoa học của khái niệm “chủng tộc”; các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà dân tộc học, dần dần bác bỏ thuyết tất định luận về chủng tộc cũng như tư tưởng của thuyết tiến hóa cho rằng mỗi xã hội đều đi qua những giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp hơn.

Sự hủy bỏ chế độ nô lệ và những diễn biến tiếp theo: những chính sách của chủ nghĩa Apartheid

Ở Mỹ, chế độ nô lệ bị bãi bỏ sau nội chiến (1861 – 1865). Các quyền bình đẳng được công bố trong Hiến pháp Mỹ. Những người nô lệ cũ được bầu vào những vị trí lãnh đạo chính trị: họ suýt đặt lại vấn đề quy chế của những chủ đồn điền. Những người này cùng nhau tổ chức để bảo vệ quy chế của mình.

Chính sách tách biệt chủng tộc được thiết lập qua các luật Jim Crow: những người Mỹ gốc Phi không có quyền bầu cử. Năm 1896, Tòa án tối cao công nhận nguyên tắc tách biệt chủng tộc trong trường học, nơi công cộng, trên các phương tiện giao thông… Chính thức thì người Mỹ gốc Phi được bình đẳng, nhưng các quyền của họ bị hạn chế so với người da trắng.

Tương tự, ở Nam Phi, chính sách apartheid được thiết lập từ 1948 đến 1991: Người da đen và người da trắng sống trong những vùng địa lý tách biệt, các chính sách được xây dựng dựa trên những tiêu chí chủng tộc. Các luật lệ không giống nhau tùy theo thành phần chủng tộc.

Thuật ngữ “phân biệt chủng tộc” có lẽ xuất hiện vào giai đoạn này, trong những năm 1960, để chỉ sự đối xử người da đen ở Mỹ và Nam Phi. Ngày nay, những đạo luật phân biệt chủng tộc đã bị xóa bỏ tại hai quốc gia này, nhưng phân biệt chủng tộc về màu da vẫn thường xảy ra, nhất là ở xã hội Mỹ.

Triển lãm “Chúng ta và những kẻ khác” tại Bảo tàng Con người

Visa Là Gì? Passport Là Gì? Phân Biệt Visa Và Passport / 2023

Passport là gì?

Passport cho phép bạn được có thể xuất cảnh nước ngoài và nhập cảnh khi về nước (Ảnh: Internet)

Passport hay còn gọi là hộ chiếu chính là “chứng minh thư” bắt buộc do Chính phủ cấp, cho phép bạn có thể xuất cảnh ra nước ngoài và nhập cảnh khi trở về nước. Các thông tin trên Passport bao gồm họ và tên người sở hữu, ngày tháng năm sinh, hình ảnh, quốc tịch, ngày cấp và ngày hết hạn của hộ chiếu.

Các loại Passport

– Popular Passport (Hộ chiếu phổ thông): Là loại Passport có thời hạn 10 năm kể từ ngày cấp. Được cấp cho công dân có nhu cầu du lịch hoặc là du học sinh, công dân định cư ở nước ngoài…

– Official Passport (Hộ chiếu công vụ): Được cấp cho các cá nhân làm việc ở các cơ quan nhà nước đi công vụ nước ngoài.

– Diplomatic Passport (Hộ chiếu ngoại giao): Hộ chiếu cấp cho quan chức ngoại giao của Chính phủ công tác nước ngoài.

Visa còn được gọi là thị thực hoặc thị thực nhập cảnh, là giấy chứng nhận của Chính phủ một nước cấp cho người nước ngoài, cho phép người nước ngoài nhập cảnh vào nước của họ trong khoảng thời gian nhất định.

Visa có thể được cấp trực tiếp hoặc thông qua đại sứ quán, lãnh sự quán của quốc gia đó. Đôi khi, có thể thông qua một công ty du lịch, cơ quan chuyên môn có sự cho phép của quốc gia phát hành. Thủ tục cấp visa sẽ có những quy định riêng tùy vào mỗi nước hoặc vùng lãnh thổ. Ngoài ra, cũng có một số quốc gia không đòi hỏi visa trong một số trường hợp nhất định.

Các loại visa

– Visa du lịch: Visa này được cấp cho khách có nhu cầu du lịch, có giá trị trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhập cảnh.

– Visa thương mại: Được cấp cho người nước ngoài có mục đích tìm cơ hội đầu tư, kinh doanh. Visa có giá trị từ 90 đến 180 ngày kể từ ngày nhập cảnh và được quyền xuất nhập cảnh nhiều lần qua các cửa khẩu quốc tế.

Visa là xác nhận của Chính phủ một nước cho phép bạn được nhập cảnh tại quốc gia đó (Ảnh: Internet)

– Giấy phép tạm trú: Được cấp cho người nước ngoài đến làm việc thường xuyên, có giá trị 1 năm kể từ ngày nhập cảnh và được quyền nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế.

Phân biệt Passport và Visa

Từ những thông tin trên, chắc hẳn bạn đã phần nào hiểu được sự khác biệt giữa Passport và Visa. Nói một cách dễ hiểu, Passport là giấy tờ bạn cần có trước khi muốn đi nước ngoài và nó là tài liệu cần có để được cấp Visa (nếu đến những quốc gia có yêu cầu Visa). Passport được dùng trong và ngoài nước như một loại giấy tờ tùy thân còn Visa chỉ có giá trị sử dụng với mục đích nhập cảnh và lưu trú tại nước ngoài (nước cấp Visa).

Khi lưu trú bạn phải xuất trình Passport và Visa để làm thủ tục check in (Ảnh: Internet)

Không có Passport sẽ không được cấp Visa vì Visa thường được cấp bằng cách đóng dấu hoặc dán vào một hay một số trang của Passport tùy quy định của mỗi nước. Hoặc nếu Visa cấp rời, bạn cũng phải luôn kẹp nó cùng Passport để thực hiện các thủ tục xuất nhập cảnh.

Ví dụ như: Khi bạn muốn nhập cảnh sang Thụy Sĩ 2 tuần, trước tiên bạn cần phải có Passport do Chính phủ Việt Nam cấp, xác nhận bạn là công dân Việt Nam muốn ra nước ngoài. Tiếp theo, bạn cần phải có Visa do Chính phủ Thụy Sĩ cấp cho phép bạn nhập cảnh vào quốc gia của họ để du lịch.

Với những thông tin trên, hy vọng bạn đã hiểu hơn về Passport là gì, Visa là gì và phân biệt rõ ràng Visa và Passport. Là một nhân viên Nhà hàng – Khách sạn, bạn nhất định phải nắm vững những kiến thức cơ bản này để thuận lợi trong việc làm thủ tục lưu trú cho du khách.