Top 9 # Khác Nhau Giữa W2 Và 1099 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Sự Khác Nhau Giữa Các Mẫu 1099 Và W

 Biểu mẫu 1099 so với W-2

Rất nhiều người bối rối về việc sử dụng hình thức nào khi nộp thuế lương và thuế thu nhập. Một số sẽ sử dụng W-2 và 1099 thay thế cho nhau. Để giúp bạn phân biệt sự khác biệt giữa 1099 và W-2, đây là một số điều có thể làm rõ câu hỏi của bạn. Hiểu được sự khác biệt có thể có ý nghĩa lớn đặc biệt là nếu IRS tham gia. Đảm bảo rằng bạn nộp đúng mẫu là cần thiết để tránh kết quả đánh thuế đau đớn và tài chính.

Khi nào và làm thế nào để sử dụng mẫu W-2

Khi bạn có nhân viên đang báo cáo công việc tạm thời và những người có tình trạng thường xuyên trong công ty hoặc tổ chức.

Mẫu W-2 phản ánh và tuyên bố thu nhập và doanh thu chung của nhân viên. Hơn nữa, tất cả thu nhập và tiền thu được từ thu nhập và lợi ích y tế và sức khỏe cũng như tiền thù lao từ An sinh xã hội cũng cần được phản ánh trong các mẫu W-2.

Các khoản khấu trừ cho thuế liên bang và những khoản được khấu trừ cho thuế địa phương và do nhà nước quản lý cũng nên được khai báo trên mẫu W-2.

Bắt đầu từ ngày 31 tháng 1, các mẫu W-2 phải được phân phát cho nhân viên. Đến ngày 28 tháng 2, mẫu này cùng với các phần tổng hợp của công ty được phản ánh trong mẫu W-3 sau đó phải được gửi tới IRS.

Khi nào và Cách sử dụng Biểu mẫu 1099-MISC

Đối với các nhà thầu độc lập, phải sử dụng mẫu 1099-MISC. Văn phòng Dịch vụ Doanh thu Nội bộ đã công bố cách phân biệt và phân biệt giữa nhân viên thường xuyên và nhà thầu độc lập. Người ta nói rằng để một người được phân loại là một nhà thầu độc lập, một người nên có doanh nghiệp cá nhân, đã đăng ký, và doanh nghiệp của mình là để cung cấp công việc cho người khác. Một nhân viên nhận được hướng dẫn trực tiếp từ nhà tuyển dụng.

Nếu nhiệm vụ và hướng dẫn cho sản xuất công việc của bạn được đưa ra trực tiếp bởi nhà tuyển dụng, hoặc bạn được cung cấp các công cụ để thực hiện các nhiệm vụ đó; bạn được coi là một nhân viên và không phải là một nhà thầu độc lập.

Thuế khấu trừ cho thu nhập y tế và y tế và cả thuế từ An sinh xã hội không được phản ánh trong các mẫu 1099-MISC. Lý do đằng sau điều này là các công ty thuê các nhà thầu độc lập không chịu trách nhiệm khấu trừ các khoản thuế đó từ các khoản thanh toán của họ.

Tuy nhiên, bạn vẫn thu thập tất cả các biểu mẫu 1099-MISC và gửi chúng cho IRS. Thay vì sử dụng mẫu W-3, bạn sử dụng mẫu 1096 để biên dịch.

Một điểm khác biệt nổi bật giữa hai loại này là khi bạn gửi biểu mẫu 1099-MISC, bạn hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả các khoản thuế và các khoản khấu trừ từ tổng thu nhập của bạn. Nhân viên, mặt khác, sẽ có công ty chia sẻ với họ những nghĩa vụ và các khoản khấu trừ thuế. Đây có thể là lý do tại sao có một số công ty tuyên bố nhân viên của họ là nhà thầu độc lập vì những gì họ có thể tiết kiệm từ các khoản khấu trừ. Nếu bạn là nhân viên, hãy chắc chắn rằng chủ nhân của bạn không cướp đi những đặc quyền mà bạn nên được hưởng như một nhân viên bình thường. Đã có nhiều trường hợp và vụ kiện pháp lý đã được đệ trình bởi các nhân viên chống lại chủ nhân của họ vì lý do này. Trong thời đại và thời đại này, mọi nhân viên nên thận trọng vì đây là những luật bắt buộc của tiểu bang cũng có dự phòng liên bang.

Nếu trước đây bạn là một nhà thầu độc lập đã kiếm được việc làm, hãy chắc chắn rằng bạn giải quyết tốt vị trí của mình. Nếu bạn đã tìm được một công việc, tốt nhất là bạn nên nộp mẫu W-2 và hoàn toàn rời khỏi công việc độc lập của bạn. Điều này sẽ giúp bạn tập trung tốt hơn vào công việc của bạn và rõ ràng hơn về các biểu mẫu thuế của bạn. Rất nhiều người đã bị tung hứng giữa một nhân viên và một nhà thầu độc lập đã gặp nhiều tình huống bất lợi với IRS. Lý do là, nếu bạn không giải quyết tốt các tài khoản của mình, IRS có thể nghi ngờ về bạn và có thể nằm ngửa không ngừng. Họ sẽ muốn đảm bảo rằng bạn không thỏa mãn và phá giá các khoản thuế bắt buộc và bắt buộc mà bạn phải trả.

Tóm lược:

Nhân viên điền vào mẫu W-2 trong khi các nhà thầu độc lập điền vào mẫu 1099.

Những người đang sử dụng mẫu 1099 chịu trách nhiệm cho tất cả các khoản thuế và các khoản khấu trừ được khấu trừ trong tổng thu nhập của họ.

Những người đang sử dụng mẫu W-2 có công ty cùng họ nộp thuế.

Sự Khác Nhau Giữa Mẫu Tờ Khai Thuế W

Người Mỹ nói: “Có hai điều bạn không thể giấu. Thứ nhất là cái chết. Thứ hai là thuế”. Cái chết tùy thuộc số phận của mỗi con người, nhưng thuế – tất cả mọi người đều có nghĩa vụ phải trả tiền trước ngày 15 tháng Tư hàng năm. Khi bạn khai báo thuế, nếu bạn làm việc cho người khác, bạn sẽ nhận được tờ khai W-2 hoặc 1099 với lời khai chính xác bạn đã kiếm được bao nhiêu trong năm. Vậy sự khác nhau giữa hai mẫu tờ khai này là gì? Và chọn mẫu nào sẽ tốt hơn cho bạn?

Về cơ bản, tất cả những người nhận W-2 đều có khấu trừ thuế sau mỗi lần thanh toán, và sau khi kê khai thuế, rất có thể bạn sẽ nhận được khoản tiền đó. Với những người nhận được 1099, sẽ không được khấu trừ thuế sau mỗi lần thanh toán. Do đó, khi bạn khai thuế, bạn sẽ phải trả để hoàn thành trách nhiệm của mình với nhà nước Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, điều này không đơn giản. Tờ khai bạn nhận được cũng phản ánh việc làm của bạn: một nhân viên làm công ăn lương hay một lao động độc lập, làm việc theo hợp đồng. Một nhân viên làm công ăn lương sẽ được hưởng một số quyền mà một lao động hợp đồng độc lập sẽ không được hưởng.

Các quyền là gì?

Thứ nhất, tất cả nhân viên làm công ăn lương được trả mức lương tối thiểu. Hiện tại mức lương tối thiểu ở Hoa Kỳ là $7,25 / giờ hoặc $2,13 / giờ nếu bạn làm việc ở một lĩnh vực thường xuyên được nhận tiền boa từ khách hàng. Tùy thuộc vào từng tiểu bang và thành phố mà bạn làm việc, mức lương tối thiểu có thể cao hơn mức quy định của Thống đốc hoặc Hội đồng. Chẳng hạn, mức lương tối thiểu ở California là $8 một giờ và sẽ được tăng lên $9 mỗi giờ vào tháng 7 năm nay. Ở Bắc California, mức lương tối thiểu của San Jose là $10,15 / giờ, và thành phố San Francisco là $10,74 một giờ.

Thứ hai, công nhân làm công ăn lương theo giờ được trả lương làm thêm giờ cho hơn 8 giờ trong một ngày hoặc 40 giờ làm việc một tuần để không bị bóc lột. Ngoài ra, một nhân viên chính thức có quyền được nghỉ ngơi. Ở California, nhân viên phải có 10 phút nghỉ có lương sau mỗi 4 giờ làm việc và 30 phút nghỉ phép không lương sau mỗi 5 giờ làm việc.

Ngoài ra, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả một số tiền cho nhân viên của họ. Tất cả các doanh nghiệp, công ty và chủ tiệm phải trả một nửa thuế An sinh Xã hội cho mỗi nhân viên, Bảo hiểm thất nghiệp và Bồi thường cho Người lao động. Và đặc biệt ở Cali, họ cũng trả cho Bảo hiểm Khuyết tật của Bang.

Theo như trên, các nhân viên chính thức được hưởng nhiều quyền hợp pháp trong khi các nhân viên hợp đồng không được bảo vệ. “Nhân viên hợp đồng độc lập” không được bảo đảm mức lương tối thiểu, không có trợ cấp làm thêm giờ, nghỉ phép không được bảo đảm, và không được người sử dụng lao động cung cấp tất cả các loại bảo hiểm trong trường hợp người đó mất việc làm hoặc mất khả năng làm việc trong một thời gian. Quyền của nhân viên hợp đồng, nếu có, phải được đàm phán trong hợp đồng giữa người lao động và chủ sử dụng lao động.

Vì lý do này, nhiều nhà tuyển dụng đã cố tình gian lận các loại hợp đồng với người lao động của họ, coi nhân viên của họ là lao động hợp đồng để trốn tránh trách nhiệm đối với nhân viên với những lợi ích trên.

Vậy tại sao luật pháp dường như không bảo vệ quyền của lao động hợp đồng, và tại sao một số người chọn làm việc theo cách này? Nhìn chung, lao động hợp đồng không được pháp luật bảo vệ bởi vì họ là những doanh nghiệp nhỏ, và họ bán kiến ​​thức và kỹ năng của mình cho nhiều khách hàng khác nhau. Thợ cắt cỏ có thể cắt cỏ cho nhiều nơi; Một thợ lát gạch chuyên nghiệp có thể lát gạch cho nhiều ngôi nhà; Một thợ làm móng có thể làm móng trong các tiệm khác nhau; Người nộp thuế có thể nộp tờ khai thuế cho nhiều người khác nhau.

Trong những trường hợp này, lao động hợp đồng có quyền thương lượng thanh toán cho từng công việc, quyền chấp nhận hoặc từ chối công việc. Họ có quyền thay đổi và không ai “sở hữu” họ. Họ làm việc theo hợp đồng và không ai có quyền quản lý họ, miễn là họ làm việc theo hợp đồng. Hơn nữa, các lao động hợp động được thanh toán cho kết quả chứ không phải thời gian của họ. Nghĩa là, nếu họ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng, họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn.

Một thuận lợi khác là lao động hợp đồng có thể nhờ người khác làm, miễn là công việc được hoàn thành như đã hứa. Một thợ cắt cỏ có thể nhờ người làm việc thay cho anh ta, không cần phải tự mình cắt bãi cỏ. Một thợ làm móng độc lập có thể không đến thẩm mỹ viện và nhờ một người khác trong nghề thay thế trong vài ngày trong khi chủ tiệm không thể làm bất cứ điều gì; Vì chủ sở hữu chỉ có quyền quản lý nhân viên chứ không phải là quyền quản lý lao động hợp đồng bởi vì họ có quyền tự chủ và đàm phán, nhưng luật pháp không bảo vệ nhiều cho những lao động hợp động.

Do đó, loại hình công việc có thể ảnh hưởng đến quyền. Hai loại nhân viên chính thức và nhân viên hợp đồng độc lập đều có lợi ích và bất lợi của riêng chúng. Nhân viên phải được quản lý, nhưng có quyền cơ bản theo luật pháp. Lao động hợp đồng phải tự hỗ trợ, không được pháp luật bảo vệ, nhưng có quyền tự chủ. Thật buồn là hầu hết người Việt Nam dường như không hiểu được sự khác biệt này. Nhiều người Việt Nam làm việc với tư cách là lao động hợp đồng mà không có quyền hợp pháp như tất cả nhân viên làm công ăn lương, nhưng lại để người sử dụng lao động kiểm soát và quản lý như là nhân viên của họ.

Chúng tôi hy vọng rằng mọi người sẽ tham khảo và thực hiện theo các quyền của mình.

Sự Khác Nhau Giữa Get Và Become (2)

Get:

* Get cũng dùng trước một adjective như become, như một linking verb:

– It was getting very dark=Trời tối dần.

– You get younger everyday=Trông bạn trẻ ra.

* Get còn dùng trước một past participle thay cho “be”:

– They got married in 2001, and got divorced three years later=Họ lấy nhau năm 2001 rồi 3 năm sau thì ly dị.

– Don’t get hurt!=Đừng để bị thương tổn.

* Get + to infinitive, khác với become [become không bao giờ theo sau bởi infinitive có “to”]

– She is very nice when you get to know her=Cô ta rất tử tế nếu bạn thân với cô ta rồi.

* Get + noun (object): nhận được, có được…

– I got a letter from my mother=Tôi nhận được thư của mẹ tôi.

* Get + pronoun

– Could you come and get me from the station when I arrive? (pick me up, đón)

– Let me get you a drink (buy, mua)=Ðể tôi mua mời bạn một ly rượu.

– I didn’t get the joke (understand, hiểu)=Tôi không hiểu lời nói diễu đó.

– Get out!=Cút đi!

– Would you mind getting your papers off my desk?=Bạn cảm phiền dẹp giấy tờ của bạn khỏi bàn giấy của tôi được không?

* Get + past participle (passive voice)

– My watch got broken while I was playing with the children=Ðồng hồ đeo tay của tôi bị bể khi tôi chơi với tụi nhỏ.

– He got caught by the police driving at 100 miles an hour=Anh ta bị cảnh sát bắt khi lái xe 100 dặm một giờ.

– Don’t you have time to get the car washed?=Bạn không có thì giờ đem xe đi rửa à?

– Do you have time to have your hair cut?=Bạn có thì giờ đi hớt tóc không?

* Get + past participle

– Get started=begin

– We’d better get started=We’d better begin=Chúng ta nên bắt đầu.

* Get + v-ing

– We’d better get moving-it’s late=We’d better leave=Chúng ta nên đi, trễ rồi.

– Trong tiếng Anh, British English, past participle của get là got; trong tiếng Mỹ, American English, past participle của get là gotten.

* Tóm lại: become là linking verb, và get, nếu theo sau bởi một adjective, cũng là một linking verb, và trong trường hợp của các câu thí dụ sau đây get và become dùng như nhau:

– I always get/become upset when I watch the news=Hễ nghe tin tức là tôi bực mình.

– Many of the guests got/became ill after eating the seafood=Nhiều thực khách bị bịnh sau khi ăn đồ biển.

– I’m getting/becoming better slowly (getting thường dùng hơn)=Tôi cảm thấy dần dần lại sức (sau khi bị bịnh).

– Tuy nhiên: My nephew is determined to become a doctor=Cháu trai tôi quyết học thành bác sĩ. (Get cannot replace become in this last example)

* Become có một nghĩa là thích hợp, xứng mà get không có (Cursing is not becoming for a gentleman=Người lịch sự không chửi thề)

* Get có nhiều nghĩa và nghĩa chính là acquire, obtain, buy, receive, reach a place, bring, earn, have time to do something.

【2/2021】Sự Khác Nhau Giữa Cua Và Ghẹ

Bạn đang muốn biết sự khác nhau giữa cua và ghẹ cùng cách phân biệt cua ghẹ dễ dàng? Vì một lý do nào đó, bạn cần biết cách nhận biết cua và ghẹ? Vậy để phân biệt được chúng, bạn hãy để ý những điểm sau đây.

Cua và ghẹ khác nhau như thế nào – làm sao phân biệt được

Sự khác biệt giữa cua và ghẹ về hình dáng, màu sắc

Để phân biệt được cua và ghẹ, đầu tiên người ta thường dựa vào hình dáng. Mỗi loại có một hình dáng đặc trưng riêng biệt. Chúng khác nhau về hình dáng, tức không chung một loài. Cua và ghẹ đều là món hải sản rất giàu canxi. Tuy nhiên, nhìn sơ lược, chúng khá giống nhau. Vậy đâu mới là cách phân biệt cua ghẹ dễ dàng nhất?

Cả cua và ghẹ đều có 2 càng và nhiều chân. Chúng đều có một chiếc mai trên lưng, cũng đều được phân thành giống đực và cái. Để phân biệt được cua và ghẹ, bạn phải tìm điểm khác nhau giữa chúng.

Sự khác nhau của cua ghẹ về màu sắc:

Cua sống thường có màu xám hoặc màu vàng đồng. Khi chín, cua sẽ có được màu đỏ cam một màu hoàn toàn rất bắt mắt.

Ghẹ thường có nhiều loại và mỗi loại lại khác nhau. Tuy nhiên, ghẹ luôn có rất nhiều họa tiết. Ví như ghẹ xanh có những đốm trắng, phần chân và mai có màu hơi xanh. Ghẹ đỏ sống lại có các đường rằn và màu đỏ cam. Ghẹ ba chấm thì lại có 3 chấm đặc biệt trên mai.

Sự khác nhau của cua ghẹ về hình dáng:

Cua thường có 2 chiếc càng rất to, phần chân cua nhỏ

Ghẹ có 2 chiếc càng kích thước không lớn hơn cua là mấy. Phần chân và càng cua có dạng hình dẹp.

Phần mai của ghẹ dài hơn cua.

Phần bụng ghẹ có màu trắng sữa, bụng cua có màu nâu hơi vàng.

Cách phân biệt cua và ghẹ dễ dàng

Để phân biệt được cua và ghẹ, bạn cần dựa vào các đặc điểm sự khác nhau như trên đã nêu. Ghẹ thường có vị ngọt thanh nhẹ, cua lại có vị ngọt đậm đà hơn. Thịt cua xớ thịt rất to và chắc. Thịt ghẹ thanh mảnh hơn nhiều.

Làm sao để phân biệt cua và ghẹ đúng cách

Tùy vào sở thích của mỗi người mà tự đánh giá cua ngon hơn hay ghẹ ngon hơn. Mỗi loại đều có cái ngon riêng của nó. Thông thường, cua và ghẹ đều có thể chế biến các món ăn đơn giản như hấp, luộc. Ngoài ra, có những món ăn rất nổi tiếng như lẩu cua đồng, ghẹ ram me,.v.v…

Nếu bạn muốn tự mình nhìn và phân biệt cua ghẹ, bạn có thể mua chúng về để tự cảm nhận và có thể thưởng thức ngay sau đó. Để không tốn thời gian chọn lựa, bạn có thể đặt hàng mua cua ghẹ sống Online tại Hải sản Ông Giàu.