Già Hóa Dân Số: Thách Thức Lớn

--- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Các Nước Phát Triển
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước. Điều Bạn Chưa Biết
  • Ô Nhiễm Nước Và Các Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước
  • Gan Nhiễm Mỡ Có Nguyên Nhân Từ Đâu?
  • 9 Nguyên Nhân Gan Nhiễm Mỡ Thường Gặp Khiến Bạn Giật Mình!
  • Cách đây không lâu, chúng ta đã nói về cơ cấu “dân số vàng” của Việt Nam và coi đó là một lợi thế trong những điều kiện phát triển đất nước, vậy nhưng dân số Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hoá.

    Dân số “già trước khi giàu”

    Theo số liệu của Tổng cục Thông kê năm 2010 và một số nghiên cứu khác cho thấy, dân số Việt Nam đang già hoá với một tốc độ nhanh tới “chóng mặt”. Theo dự báo của Liên Hiệp Quốc cách đây chưa lâu thì tỷ lệ dân số già Việt Nam sẽ chỉ tăng từ 7,5% trong năm 2005 lên tới 26% vào năm 2050 và dự kiến năm 2014 tỷ lệ người già sẽ là 10%. Theo kết quả cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở ngày 1.4.2009, số người từ 60 tuổi trở lên là 9% thì đến năm 2010, con số này là 9,4% (tăng 0,4%). TS Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục DS – KHHGĐ cho rằng, đến thời điểm này, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số”. Ông cũng đưa ra dự báo, trong tương lai, tốc độ già hóa sẽ không phải 0,4% nữa mà sẽ là 0,5% – 0,6% và đến năm 2025, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già.

    Nguyên nhân của hiện tượng này là do tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm một cách nhanh chóng, cùng với nó là tuổi thọ tăng đã khiến dân số cao tuổi gia tăng nhanh hơn bất kỳ nhóm dân số nào khác. So với tốc độ từ “già hoá” chuyển sang “già”, Việt Nam đang có tốc độ nhanh nhất thế giới. Bởi các nước khác chuyển từ giai đoạn già hoá sang già như Nhật khoảng 26 năm, Thuỵ Điển mất tới 85 năm thì Việt Nam chỉ có 20 năm.

    Theo các chuyên gia trong lĩnh vực này, việc dân số già hoá không phải là chuyện gì ghê gớm. Đó là xu thế tất yếu, một mặt, phản ánh các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đã được nâng cao, mặt khác, cũng đặt ra thách thức lớn. Theo TS Giang Thanh Long, Phó viện trưởng Viện Chính sách công và Quản lý, trường Đại học Kinh tế quốc dân, điều đáng nói là dân số của chúng ta “già trước khi giàu”. Lịch sử của một con người cũng như của một đất nước, nếu chưa kịp tích luỹ trước khi tuổi già đến sẽ là chuyện đối phó với những thách thức lớn

    Số lượng người già tăng lên nhanh chóng sẽ là áp lực lớn

    với những quốc gia đang phát triển

    Ảnh: Hoàng Long

    Đảm bảo cuộc sống cho người già-bài toán khó

    Phân tích sâu những khó khăn mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong tương lai, TS Giang Thanh Long cho rằng: Thách thức trước mắt chính là tình trạng dân số “già trước khi giàu” và “thọ nhưng không khoẻ mạnh”. Điều đó sẽ gây áp lực lớn cho xã hội. Chẳng hạn, chi phí chữa bệnh cho một người cao tuổi bằng 7-8 lần chi phí chữa bệnh cho một trẻ em… Thách thức của cơ cấu dân số già về lâu dài đó là mức hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp xã hội ngày càng thấp do các bất cập trong qui định về chế độ này hiện nay.

    Theo các chuyên gia về lĩnh vực dân số, 3 thách thức lớn chúng ta sẽ gặp phải khi dân số bước vào giai đoạn già hoá.. Thứ nhất, già hoá dân số sẽ khiến cấu trúc gia đình thay đổi. Con người sống lâu hơn, sinh ít con hơn và cũng ít quyền được lựa chọn chăm sóc hơn. Hiện tại, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tinh thần cho người cao tuổi ở nước ta chưa phát triển, đa số người cao tuổi vẫn sống nương tựa vào con cháu. Các chuyên gia lo lắng, nếu nhịp độ già hoá dân số vẫn tăng nhanh đều như hiện nay thì chỉ trong khoảng vài chục năm tới, người cao tuổi ở nước ta sẽ gặp khó khăn về vấn đề chỗ ở. Thứ hai, già hoá dân số khiến thời gian sống sau nghỉ hưu tăng lên, làm gia tăng áp lực lên hệ thống y tế và hệ thống trợ cấp lương hưu. Đồng nghĩa với việc hệ thống bảo trợ xã hội cần được cải thiện. Tuy nhiên việc này không dễ thực hiện bởi ngân quỹ quốc gia còn hạn chế, hệ thống khám chữa bệnh chuyên khoa cho người già chưa phát triển. Hiện cả miền Bắc mới chỉ có duy nhất Viện Lão khoa quốc gia là BV chuyên khoa dành cho đối tượng người cao tuổi. Những chính sách an sinh xã hội cũng mới chỉ trợ giúp, đáp ứng được một phần nhu cầu cơ bản của một bộ phận người cao tuổi như: Người già neo đơn, không nơi nương tựa, người trên 85 tuổi… Thứ ba, già hoá dân số sẽ khiến những thách thức kinh tế mới nổi lên. Cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động giảm đi, cơ cấu nghề nghiệp sẽ thay đổi, gánh nặng kinh tế cho người lao động trẻ cũng cao hơn… Tất cả những hệ luỵ đó nếu không được giải quyết thoả đáng sẽ là thách thức to lớn cho sự phát triển toàn diện của đất nước trong tương lai không xa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Dân Số Việt Nam Già Hóa Nhanh Đến Vậy?
  • Ô Nhiễm Không Khí Được Gây Ra Bởi Những Nguyên Nhân Nào?
  • Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Nhiều
  • Phân Tích Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Môi Trường Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Những Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Không Khí Có Thể Bạn Chưa Biết?
  • Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Hàn Quốc: Báo Động Tình Trạng Già Hóa Dân Số
  • Già Hóa Dân Số Đe Dọa Tương Lai Của Hàn Quốc
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Dân Số Nhật Bản: Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Sụt Giảm Dân Số?
  • Top 2 Nguyên Nhân Chính Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương
  • Tổng quan dân số Nhật

    Nhật Bản là nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới

    Nhật Bản là một trong những quốc gia có tuổi thọ dân số trung bình cao nhất trên thế giới. Tại Nhật có hơn 58.000 người trên 100 tuổi làm cho đất nước này đứng đầu trên thế giới về số người sống thọ trên 80 tuổi. Sự trường thọ của những người Nhật Bản là do chế độ ăn uống lành mạnh, chuyên tâm tập luyện thể dục thể thao, cùng điều kiện sống trong lành, sạch sẽ.

    https://www.dkn.tv/suc-khoe/diem-danh-15-quoc-gia-co-tuoi-tho-cao-nhat-the-gioi-noi-dung-dau-dang-o-nhiem-khong-khi-nghiem-trong.html

    Phân bố độ tuổi của Nhật hiện nay

    Số liệu dân số của Nhật Bản theo độ tuổi (ước lượng):

    • 16.585.533 thanh thiếu niên < 15 tuổi (8.515.836 nam / 8.070.960 nữ)

    • 80.886.544 người từ 15 – 64 tuổi (40.787.040 nam / 40.099.504 nữ)

    https://danso.org/nhat-ban/

    Đặc điểm dân số Nhật Bản

    Độ tuổi lao động giảm dần

    Một trong những đặc điểm dân số của người dân Nhật đó là những người trong độ tuổi lao động giảm dần. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là do vấn đề già hóa dân số ở Nhật Bản. Vấn đề độ tuổi lao động giảm dần dẫn đến hệ lụy đó là tạo thành gánh nặng cho nền kinh tế khiến cho nước Nhật phải đau đầu giải quyết vấn đề này. Nguyên nhân già hóa dân số ở Nhật Bản là do số người cao tuổi đang ngày càng tăng.

    Tỷ lệ dân số phụ thuộc theo độ tuổi cao

    • Tổng tỷ lệ của dân số phụ thuộc tại Nhật Bản vào năm 2022 đó là 68,3%.

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc:

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc là tỷ lệ của những người dưới độ tuổi lao động <15 tuổi so với lực lượng lao động ở một quốc gia nào đó.

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc tại Nhật Bản hiện nay là 21,5%.

    • Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc

    • Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc tại Nhật Bản là 46,8%.

    https://danso.org/nhat-ban/

    Tình trạng người cao tuổi chưa được nghỉ hưu

    Với vấn đề dân số già hóa ở Nhật dẫn đến nhiều hậu quả già hóa dân số ở Nhật đòi hỏi chính phủ nhật cần có các hành động triệt để, lâu dài. Mới đây thì chính phủ Nhật đã đề xuất dự thảo với mục tiêu đưa Nhật Bản nơi những người lao động từ 65 tuổi sẽ được khuyến khích nhằm giữ gìn sức khỏe, tiếp tục làm việc để giảm áp lực về lương hưu. Cùng theo dự thảo mới này thì cho phép người dân được trì hoãn thời điểm nghỉ hưu tới 70 tuổi và chính phủ cũng khuyến khích họ tiếp tục làm việc khi đã nghỉ hưu khi sức khỏe cho phép. Hiện nay độ tuổi nghỉ hưu chính thức ở Nhật là 65 tuổi nhưng thực tế các doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp Nhà nước bắt đầu để lao động cao tuổi có quyền được chọn thời điểm nghỉ hưu từ 60 – 70 tuổi.

    Giải pháp

    Định hướng phát triển với quy mô dân số tầm trung

    Giải pháp già hóa dân số ở Nhật Bản đang được đất nước Nhật thực hiện đó là định hướng phát triển với dân số tầm trung. Định hướng này góp phần làm giảm dân số già ở Nhật.

    Tăng tỷ lệ sinh

    Một giải pháp nữa để khắc phục vấn đề già hóa dân số đó là tăng tỷ lệ sinh.Việc tăng tỷ lệ sinh ở Nhật cũng khiến cho dân số cân bằng hơn. Và hiện tại Nhật Bản đang tích cực thực hiện giải pháp này.

    Phụ nữ và người già tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động

    Vấn đề già hóa dân số ở Nhật đang tạo gánh nặng cho nền kinh tế vì vậy giải pháp được đưa ra đó là những phụ nữ và người già phải tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động để giảm bớt gánh nặng này.

    Nâng cao năng suất lao động

    Hiện một giải pháp nữa đang được Nhật Bản tích cực thực hiện góp phần giải quyết vấn đề già hóa dân số đó là nâng cao năng suất lao động. Việc nâng cao năng suất lao động sẽ giúp tạo ra nhiều của cải hơn bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn lao động.

    Thu hút lao động nước ngoài

    Một giải pháp nữa cho nền kinh tế khi thiếu hụt nguồn nhân lực đó là thu hút lao động từ nước ngoài. Hiện nay thì Nhật Bản đang ngày càng có nhiều chính sách để giúp thu hút những người lao động từ nước ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • “già Hóa” Dân Số Của Việt Nam Nhanh Nhất Thế Giới
  • Giải Bài Tập Địa Lí 11
  • 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Khiến Bạn Không Ngờ Tới
  • Hôi Miệng: Nguyên Nhân, Cách Chữa
  • Hôi Miệng Từ Cổ Họng: Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị Hiệu Quả.
  • Già Hóa Dân Số: Cơ Hội Và Thách Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiểm Môi Trường Nước
  • Tình Trạng Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngầm Ở Việt Nam
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nước Là Gì? Hậu Quả Của Ô Nhiễm Nước
  • Hậu Quả Của Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Việt Nam là 1 trong 10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới.

    Thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến hết năm 2022, cả nước có 11 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 11,95% dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên. Dự báo, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già vào năm 2035, khi tỷ lệ này tăng lên tới 20% với khoảng 21 triệu người cao tuổi, đến năm 2038 nhóm cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm đến 20% tổng dân số. Đến năm 2049, tỷ lệ người cao tuổi sẽ chiếm khoảng 25% dân số, tức là cứ 4 người dân có một người cao tuổi.

    Số liệu thống kê dân số cho thấy, Việt Nam đang ở cuối của thời kỳ “quá độ dân số” với ba đặc trưng rõ rệt, đó là tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng. Kết quả là dân số trẻ em có xu hướng giảm nhanh, dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh và dân số cao tuổi cũng tăng.

    Kết quả nghiên cứu của UNFPA – Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc cũng chỉ ra điều tương tự. Theo nghiên cứu, dân số cao tuổi Việt Nam tăng nhanh cả về số tương đối và tuyệt đối, và tăng nhanh hơn các nhóm dân số khác. Chỉ số già hóa tăng lên nhanh chóng. So với các nước trong khu vực và trên thế giới, thời gian để Việt Nam chuẩn bị đón nhận già hóa dân số ngắn hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, dân số cao tuổi Việt Nam có xu hướng “già ở nhóm già nhất”, tức là tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm lớn tuổi nhất (từ 80 trở lên) đã và đang tăng lên nhanh chóng.

    Một điều đáng nói, theo UNFPA, mô hình và nguyên nhân bệnh tật của người cao tuổi tại nước ta đang thay đổi nhanh chóng, từ bệnh lây nhiễm sang những bệnh không lây nhiễm theo mô hình bệnh tật của một xã hội hiện đại. Chi phí trung bình cho việc khám chữa bệnh của người cao tuổi cao gấp 7-8 lần chi phí tương ứng của một trẻ em. Mức độ tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế giữa các nhóm dân số cao tuổi rất khác nhau, trong đó dân số cao tuổi ở nông thôn, miền núi hoặc là dân tộc thiểu số có mức độ tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng còn thấp. Bản thân người cao tuổi cũng chưa ý thức được những nguy cơ bệnh tật. Tuổi thọ của người cao tuổi tăng lên, nhưng tuổi thọ khỏe mạnh lại cải thiện chậm.

    Rõ ràng, nếu không chuẩn bị một cách kỹ lưỡng ngay từ bây giờ thì dân số già không khỏe mạnh và không có thu nhập đảm bảo cuộc sống sẽ buộc Chính phủ phải có những khoản chi tiêu rất lớn và những khoản chi tiêu này sẽ tác động tiêu cực đến ngân sách nhà nước cũng như sự bền vững tài chính dài hạn của toàn bộ nền kinh tế.

    Mặc dù vậy, TS Nguyễn Ngọc Quỳnh – Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc cho rằng, già hóa dân số cũng cần được nhìn nhận trên khía cạnh tích cực. Dân số cao tuổi không có nghĩa hoàn toàn là gánh nặng mà đây là cơ hội lớn cho các ngành kinh tế dịch vụ cho người cao tuổi.

    Một ý kiến khác, GS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội nêu ra, nước ta hiện nay có khoảng 11,5 triệu người cao tuổi (chiếm khoảng 12% dân số), Tuy nhiên, trong số này có gần 7 triệu người nằm trong nhóm tuổi 60-69. Nhiều người còn sức khỏe và có trình độ nghề nghiệp khá cao (5,3% trong nhóm này có trình độ trung cấp nghề, mức chung của cả nước là chỉ có 4%, trình độ đại học là 7,6%). Đồng thời, nhiều người cao tuổi có kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, sản xuất phòng chống thiên tai, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Nếu không phát huy những giá trị này thì sẽ là sự lãng phí rất lớn cho sự phát triển bền vững kinh tế xã hội.

    Đương nhiên,để đối mặt với già hóa dân số, cần phải hoạch định những chiến lược, chính sách thực tế, xác đáng để thích ứng với tình hình. Đồng thời, điều quan trọng, quyết định nhất chính là việc giáo dục ý thức mỗi cá nhân về việc “lo cho tuổi già từ khi còn trẻ” bởi lo cho mình cũng chính là lo cho gia đình, cộng đồng và các thế hệ tương lai.

    Theo bà Naomi Kitahara, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam, già hóa là một tất yếu của sự phát triển. Chúng ta phải chuyển hướng trọng tâm từ việc đơn thuần giúp tiếp cận với tuổi già sang giúp tiếp cận với một tuổi già vui vẻ và hạnh phúc và tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của xã hội và đất nước.

    “Chúng ta đang tiến tới một tương lai tươi đẹp hơn mà chúng ta hằng mong ước, “không bỏ ai lại phía sau” sẽ mang lại cơ hội để người cao tuổi đóng góp cho xã hội. Chúng ta hãy tăng cường những quyền con người này và đảm bảo có sự tham gia đầy đủ của người cao tuổi để xây dựng xã hội tốt đẹp hơn cho mọi lứa tuổi”- bà Naomi Kitahara nhấn mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xu Hướng Già Hóa Trên Thế Giới Và Các Vấn Đề Đặt Ra Với Các Nước Đang Phát Triển
  • Dân Số Thế Giới Ngày Càng Già Đi
  • Thế Giới Lo Tình Trạng Dân Số Già
  • Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “Già” Rất Nhanh
  • Hôi Miệng Khi Mang Thai Phải Làm Sao? Có Nguy Hiểm Không?
  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Hàn Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?
  • Ô Nhiễm Nguồn Nước, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Cách Khắc Phục
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước? Các Giải Pháp Khắc Phục?
  • 5 Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Nguồn Nước Hiệu Quả, Dễ Thực Hiện
  • Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Những Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Ô Nhiễm Nước
  • Người ta dự đoán, Hàn Quốc trở thành một quốc gia già hóa (già hóa dân số) vào năm 2022, và rất có thể trở thành một xã hội siêu già vào năm 2026. Điều này chứng tỏ dân số Hàn Quốc đang già đi với tốc độ nhanh hơn đáng kể so với đa số các nước tiên tiến khác. Sự nổi lên của già hóa dân số chắc chắn sẽ gây ra những khó khăn kinh tế xã hội nghiêm trọng cho Hàn Quốc trong thế kỷ XXI; những khó khăn đó bao gồm cả những chi phí cung cấp cho chăm sóc y tế đối với những người có tuổi và sự sụt giảm tương đối trong lực lượng lao động của Hàn Quốc, nhất là độ tuổi từ 18 đến 60.

    Bài viết sau đây đề cập tới những hậu quả kinh tế của những thay đổi trong cơ cấu dân số Hàn Quốc. Bàn tới những giải pháp mà Hàn Quốc cần thực hiện để đối phó với những hậu quả kinh tế do già hóa dân số gây nên.

    I. Những hậu quả kinh tế 1. Ở phương diện kinh tế vĩ mô

    Người ta cho rằng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Hàn Quốc sẽ giảm đi do những nhân tố sau đây: già hóa dân số, giảm tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động, gia tăng các chi phí gắn với chăm sóc và nuôi dưỡng người già, bảo trợ xã hội, giảm tiền tiết kiệm do xã hội ngày càng già đi, và sụt giảm trong đầu tư do sự giảm bớt các nguồn lực.

    Theo lý thuyết kinh tế, một xã hội già hóa sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu tiêu dùng tổng thể của nền kinh tế và làm giảm tỷ lệ việc làm trong số những người phụ thuộc. Những khoản tiết kiệm có xu hướng giảm đi khi một xã hội già hơn, do đó góp phần giảm đầu tư mà nguyên nhân là giảm các nguồn lực sẵn có, hậu quả cuối cùng là cản trở nền kinh tế tăng trưởng.

    Một số nhà nghiên cứu cho rằng quy mô và cơ cấu sẽ thay đổi nhiều bởi tỷ lệ gia tăng lực lượng lao động trong khu vực sản xuất sẽ tiếp tục suy giảm trong vòng 20 đến 30 năm tới. Các công trình nghiên cứu của trường KDI chỉ ra rằng sự suy giảm tự nhiên về nguồn cung lao động do dân số già đi nhanh chóng là một thực tế song có thể bù đắp bằng cách gia tăng số lao động nữ và người có tuổi, mở rộng độ tuổi nghỉ hưu lên và cho phép lao động nhập cư nhiều hơn. Tuy nhiên khi gia tăng số lao động nhập cư mà thiếu đi những chế tài để kiểm soát thì sẽ tạo ra những vấn đề xã hội khác trong cộng đồng dân cư.

    2. Đối với quỹ hưu trí và chính sách tài khoá của chính phủ

    Nhiều nhà dự báo cho rằng, các thế hệ tương lai của Hàn Quốc tất yếu phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng tài chính trừ phi nước này thực hiện một chính sách “công bằng xã hội và tiền lương có hiệu quả”. Không ít người lên án rằng trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, vấn đề công bằng xã hội và chính sách tiền lương ở quốc gia này đã được cải thiện nhiều. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều bất ổn. Và người ta cho rằng những bất ổn này đặc biệt là những bất ổn về tài khóa được dự báo có thể tạo ra sức ép lớn đẩy hệ thống đảm bảo xã hội của Hàn Quốc tới bờ vực sụp đổ. Nếu cơ cấu “chi trả bảo hiểm thấp – tiền lương cao” hiện tại tiếp tục được duy trì thì những khoản phí bảo hiểm mà thế hệ tương lai của nước này phải trả sẽ tăng lên khoảng 30% trong vòng 50 năm tới; và điều này vượt quá khả năng thanh toán của người dân.

    Một số nhà nghiên cứu kinh tế của trường Đại học tổng hợp quốc gia Seoul cho rằng dường như ở Hàn Quốc người ta không chuẩn bị cho một xã hội già hóa gắn với sự gia tăng giá trị đóng góp cho các quỹ hưu trí và thiếu những nỗ lực phù hợp để mở rộng nền tảng cho công tác quản lý các quỹ hưu trí và thực hiện chính sách tài khóa của chính phủ. Nền kinh tế tất yếu sẽ rơi vào tăng trưởng suy giảm do sự phân phối lệch lạc các nguồn lực và nếu Chính phủ Hàn Quốc không tạo ra những điều kiện thị trường thuận lợi cho các kế hoạch đầu tư trung và dài hạn cũng như thực thi một chính sách tài khóa có hiệu quả. Nói cách khác, đây cũng là những yếu tố cần thiết tạo nền tảng cho việc quản lý các quỹ hưu trí có hiệu quả hơn.

    Việc quản lý hệ thống quỹ hưu trí không chỉ trực tiếp tác động đến người lao động – những người đóng góp vào hệ thống quỹ này mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế nội địa. Thực tế cho thấy, sẽ hiệu quả hơn khi người ta huy động các nguồn lực tài chính từ hệ thống quỹ này để thực hiện những dự án cơ bản, từ đó tạo ra các đòn bẩy kinh tế. Ngược lại, nếu các quỹ hưu trí không được quản lý hiệu quả, sự phân phối các nguồn vốn có thể bị lệch lạc và làm suy giảm các nguồn lực để thanh toán cho những người hưởng lợi từ hệ thống này.

    Một cuộc điều tra về cách thức phân phối tài sản của các quỹ hưu trí công cộng và tư nhân của bảy nước phát triển cho thấy sự tồn tại của các thị trường vốn đã tạo cơ hội lớn hơn cho đầu tư, giúp nâng cao tính hiệu qủa trong quản lý rủi ro. Để đối phó với tiến trình già hóa dân số, việc quản lý hệ thống các quỹ hưu trí cần nhằm tới mục tiêu thúc đẩy xu hướng gia tăng đầu tư tư nhân và chính sách lãi suất thấp được tiếp tục sẽ dẫn tới mở rộng cơ hội đầu tư trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, sự tồn tại của những chuẩn mực kế toán lỗi thời đang được áp dụng ở nước này cộng với các quy định thiếu tính linh hoạt của chính phủ sẽ đẩy tới nguy cơ gia tăng rủi ro chất lượng quản lý hệ thống quỹ hưu trí và trong một chừng mực nào đó sẽ ảnh hưởng tới chính sách tài khóa của chính phủ.

    3. Đối với thị trường tài chính

    Một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy, trong khi tỷ lệ tài sản tài chính trong tổng tài sản hộ gia đình ở Hàn Quốc là đặc biệt thấp thì tỷ lệ tiết kiệm trong tài sản tài chính lại ở mức rất cao. Hiện tượng này chính là kết quả của nhu cầu nhà ở không ngừng gia tăng trong những người ở độ tuổi từ 30 đến 40. Và đây là phần dân số tăng nhanh nhất trong suốt 2 thập niên qua; chính vì vậy giá nhà ở đã gia tăng liên tục, người ta dự báo giá nhà ở Hàn Quốc vẫn tiếp tục gia tăng trong những năm sắp tới.

    Điều lưu ý là sự gia tăng nhu cầu về tài sản bất động sản và tài sản tài chính của các cá nhân chịu sự tác động trực tiếp của già hóa dân số và người ta cho rằng xu hướng này vẫn tiếp tục gia tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu tích lũy tài sản cũng tiếp tục tăng lên bởi người Hàn Quốc cho rằng tuổi thọ của họ sẽ tiếp tục được nâng cao. Đây là một thực tế, trong hơn một thập kỷ qua tuổi thọ trung bình của người Hàn Quốc tăng cao hơn 3%, đạt xấp xỉ 73 đến 74 tuổi.

    Để thoả mãn nhu cầu mở rộng tài sản tài chính cá nhân và giảm sự mất tương xứng tồn tại giữa việc giành được và quản lý tài sản, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc cho rằng, cần thiết phải đầu tư tài sản tài chính tích luỹ khi tiến trình già hóa đang gia tăng. Nhu cầu về trái phiếu và cổ phiếu sẽ tăng nhanh hơn do dân số già đi ngày càng đòi hỏi lợi tức ổn định từ tài sản tài chính, bất chấp trái phiếu của công ty hay chính phủ với thời gian đáo hạn dài hơn bởi các loại trái phiếu này thường có tính rủi ro nhiều hơn.

    Nếu chính sách tỷ lệ lãi suất thấp hiện tại được duy trì, trong khi các quỹ hưu trí tư nhân hoạt động và đầu tư có hiệu quả, tạo cơ sở cho tăng trưởng ổn định, thị trường chứng khoán Hàn Quốc rất có thể không ngừng mở rộng nhu cầu cho đến khi đất nước này xuất hiện nhiều người già. Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc thường xem Hoa Kỳ là một ví dụ cho Hàn Quốc học hỏi kinh nghiệm về vấn đề này. Người ta nói, Hoa Kỳ với những điều kiện tương tự về tỷ lệ lãi suất thấp và giá cổ phiếu cao, đã đạt được sự bùng nổ của thị trường chứng khoán trong những năm 1980, nhờ đó Hoa Kỳ đã thoát khỏi tình trạng đình – lạm trong thập kỷ 70 và đã tạo đà cho nền kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng trong những năm sau đó.

    Một số nhà dự báo Hàn Quốc cho rằng khi dân số già đi tính an toàn của các khoản đầu tư phải được coi là ưu tiên hàng đầu bởi vậy việc giao phó cho những người chuyên nghiệp quản lý tài sản của họ là điều cần thiết. Và trên thực tế, thị trường quản lý tài sản chuyên nghiệp gần đây đã mở rộng đáng kể; chẳng hạn các ngân hàng cung cấp dịch vụ uỷ nhiệm cá nhân và dịch vụ ủy nhiệm ngân hàng tư nhân, thông báo các tài khoản của các công ty niêm yết và các kế hoạch bảo hiểm có thể được điều chỉnh từ các công ty bảo hiểm.

    Theo các nhà nghiên cứu Hàn Quốc để có thể giải quyết những tác động tiêu cực của già hóa dân số, nước này cần xúc tiến một số giải pháp sau đây:

    Hệ thống quỹ hưu trí hiện tại cần được cải cách để mở rộng vai trò của các thị trường vốn như là nơi phân phối nguồn lực tài chính bằng cách giúp các cá nhân đạt được lợi ích bổ sung từ tiền tiết kiệm nghỉ hưu và các quỹ hưu trí tư nhân hơn là chỉ đơn giản chú trọng đến cách tiếp cận phúc lợi xã hội từ các khoản thu nhập. Điều này sẽ có lợi bởi vì hệ thống quỹ hưu trí tạo cơ sở để mở rộng thị trường vốn và giúp xoá bỏ gánh nặng quản lý rủi ro mà các cá nhân phải đảm trách.

    2. Nuôi dưỡng các thị trường tài chính dài hạn

    Điều lưu ý là nếu các giải pháp nêu trên được thực thi sẽ tạo ra cơ hội để ổn định giá nhà ở, từ đó sẽ đáp ứng nhu cầu gia tăng của hộ gia đình về tài sản tài chính dài hạn. Đây được coi là một trong những giải pháp chính để nuôi dưỡng thị trường tài chính dài hạn ở Hàn Quốc. Người ta cho rằng, khi tỷ lệ tài sản tài chính cá nhân trong tổng tài sản của người Hàn Quốc được duy trì ở mức tối thiểu thì Chính phủ Hàn Quốc cần thực hiện các chính sách nhằm khuyến khích những người chuẩn bị về hưu hướng tới sở hữu tài sản tài chính hơn là sở hữu bất động sản. Đương nhiên điều này chỉ có thể thực hiện được nếu Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục các giải pháp, chính sách nhằm ổn định giá nhà ở. Theo cơ quan thống kê quốc gia của nước này, tỷ lệ những người trong độ tuổi 25 – 49 trong tổng số dân được dự báo lên đỉnh điểm rồi giảm xuống từ năm 2007 cũng là một yếu tố giúp làm giảm nhẹ đà tăng giá nhà ở trong dài hạn.

    Về mặt này, Chính phủ Hàn Quốc cần áp dụng các giải pháp khuyến khích các định chế tài chính tăng cường phát hành các loại chứng khoán cầm cố. Bên cạnh đó, thời gian đáo hạn cho loại các trái phiếu cầm cố nhà ở và bất động sản khác nên tăng lên khoảng 20 năm và có thể dài hơn nữa kết hợp với việc cho phép phát hành trái phiếu có tỷ lệ lãi suất linh hoạt. Phải chăng cần thực thi các giải pháp kích cầu đối với các sản phẩm chứng khoán cầm cố giữa các nhà đầu tư cá nhân hơn là dựa vào các định chế tài chính và quỹ hưu trí. Trong khi đó, các định chế tài chính cần tăng cường nỗ lực đảm bảo các nguồn tài chính hỗ trợ hoạt động cho vay cầm cố thông qua phát triển nhiều kênh và tạo ra sản phẩm cho vay cầm cố mới.

    Ngoài ra, Chính phủ Hàn Quốc cần có những giải pháp thích hợp để mở rộng thị trường trái phiếu công cộng dài hạn và trái phiếu chính phủ. Từ đó tạo điều kiện để thiết lập một thị trường trái phiếu chính phủ tích cực và linh hoạt, mở rộng nguồn cung tài chính dài hạn. Cũng theo các nhà nghiên cứu ở Đại học Yonsei về phương diện này, Hàn Quốc có thể tham khảo kinh nghiệm của Xingapo và Hồng Kông. Hai nền kinh tế này liên tục phát hành trái phiếu dài hạn để duy trì một thị trường trái phiếu chính phủ tích cực và trong những thời kỳ nhất định họ đã có thặng dư tài khoá.

    Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng thị trường trái phiếu Hàn Quốc cần được củng cố và nâng cao với nhiều sản phẩm đầu tư gián tiếp được cung ứng và coi đó như là phương tiện nuôi dưỡng nhu cầu trái phiếu công ty.

    Theo giáo sư Kim, “Cần chuẩn bị cho một xã hội đang già đi kết hợp với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dân số già hóa không nên coi là vấn đề không thể khắc phục; vấn đề là cần phải nỗ lực kịp thời và phải có những chính sách hợp lý để đối phó”. Ý kiến này được nhiều người chia sẻ; bởi như đã nói ở trên, dân số già đi đồng nghĩa với gia tăng nhu cầu ở cấp số nhân về chăm sóc y tế và dịch vụ phúc lợi xã hội. Do vậy có thể nói, việc chủ động ứng phó với tình hình này ngay từ bây giờ, đặc biệt là phải tạo ra một cơ chế tăng trưởng kinh tế mới và xúc tiến phát triển kinh tế công bằng được coi là nhiệm vụ cần làm ngay của cả chính phủ và người dân Hàn Quốc.

    Cùng với sự chủ động của chính phủ, sự nỗ lực của cá nhân nhằm chuẩn bị cho nghỉ hưu, bao gồm quản lý tài sản thận trọng và tận dụng những lợi ích thuế, được coi là những giải pháp đơn giản và cần thực hiện. Có thể nhấn mạnh rằng, nếu những giải pháp trên được thực hiện thì những tác động tiêu cực của già hóa dân số đối với nền kinh tế sẽ được giảm thiểu, thậm chí những thách thức gây ra bởi dân số già đi có thể trở thành cơ hội, tạo ra động lực bổ sung cho nền kinh tế Hàn Quốc phát triển theo hướng bền vững.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Ngô Xuân Bình, (chủ biên), (2007), Những vấn đề xã hội của Hàn Quốc, Nxb Lao động, Hà Nội, Việt Nam.

    2. Byung Nak Song, (2002), Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy, Nxb. Thống kê (Bản dịch).

    3. Charles K. Armstrong, (ed.), (2003), Korean Society, London, New York, : Routledge

    4. Ames Gross and Rachel Weintraub, (2005),Korea: 2005 Human Resources Update, Published by Pacific Bridge, Inc.

    5. Chung, Duck-Koo Eichengreen, Barry J., (2004), The Korean Economy Beyond the Crisis, Northampton, Mass. Edward Elgar Publishing, Inc.,

    6. Kim Kyong Dong and Lee On Jook, (ed.), (2003), The Two Korea: Social Change and National Integration, Korean Studies Series, No.23.

    7. Ames Gross and Caroline Tran (2002), Korea Returns As An Economic Force, Published in SHRM Global Perspectives, a publication of the Society for Human Resources Management Global Forum.

    8. Ames Gross, (2001), South Korea HR Update, Published by Pacific Bridge, Inc.

    9. Werner Pascha, Duisburg, (1997). Economic Globalization and Social Stabilization: A Dual Challenge for Korea, Working Papers on East Asian Studies, No.13.

    10. Ames Gross, (1996), Human Resource Issues in South Korea, Published by Pacific Bridge, Inc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản Và Những Ảnh Hưởng Đến Kinh Tế
  • Không Cần Tìm Đâu Xa, Đây Là 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Xuất Phát Từ Dạ Dày
  • Nguyên Nhân Gây Ra Bệnh Lý Hôi Miệng Và Cách Điều Trị
  • Nguyên Nhân Gây Ra Căn Bệnh Hôi Miệng
  • Nguyên Nhân Và Top 4 Cách Chữa Dứt Điểm Hôi Miệng Dạ Dày Tại Nhà
  • Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ô Nhiễm Nguồn Nước, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Cách Khắc Phục
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước? Các Giải Pháp Khắc Phục?
  • 5 Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Nguồn Nước Hiệu Quả, Dễ Thực Hiện
  • Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Những Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Ô Nhiễm Nước
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Bảo Vệ Nguồn Nước
  • Nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Ảnh: DN

    Khái quát bức tranh dân số Việt Nam thời gian qua, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế cho biết, từ năm 2007, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng, chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,5 tuổi năm 2022, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người.

    Tuy nhiên, Việt Nam đang ở giai đoạn già hóa dân số với tỷ trọng và số lượng người cao tuổi ngày càng tăng. Điều này đã đặt ra những thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với già hóa dân số, trong đó có bao gồm việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

    Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, với tốc độ già hóa như hiện nay, đến năm 2038, nhóm dân số từ 60 trở lên của nước ta sẽ khoảng 21 triệu người, chiếm 20% tổng dân số. Cũng từ năm 2038, số người trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm. Các chuyên gia nhấn mạnh, xu hướng già hóa là tất yếu, chính vì vậy cần có những can thiệp chính sách kịp thời để duy trì cơ cấu dân số hợp lý.

    Các chuyên gia thừa nhận, quá trình già hóa dân số, nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi ngày càng tăng, là một thách thức rất lớn với hệ thống an sinh xã hội, hệ thống y tế và cộng đồng khi hiện nay chúng ta chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để ứng phó.

    Thống kê của ngành Y tế cho thấy, phần lớn người cao tuổi có cuộc sống khó khăn, thu nhập thấp, không ổn định hoặc không có thu nhập, sống phụ thuộc vào con, cháu… Số người cao tuổi có lương hưu, bảo hiểm, trợ cấp xã hội thấp cả về độ bao phủ và mức hưởng.

    Hiện nay, khoảng 70% số người cao tuổi nước ta sống ở nông thôn, làm nông nghiệp; hơn 70% số người cao tuổi không có tích lũy vật chất và chỉ có chưa đầy 30% số người cao tuổi sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội.

    TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, cán bộ chương trình, Quỹ Dân số Liêp hợp quốc (UNFPA) cho biết, nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Trung bình mỗi người cao tuổi có 2,7 bệnh; 14% người cao tuổi gặp khó khăn trong các hoạt động sống hàng ngày và cần hỗ trợ.

    “Số người cao tuổi gặp ít nhất 1 loại khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày tăng từ 28% ở người 60- 69 tuổi lên hơn 50% ở người 80 tuổi. Đặc biệt, gần 50% người cao tuổi không có thẻ BHYT”, TS. Quỳnh nêu.

    Nghiên cứu cũng chỉ rõ, nếu năm 2011 chỉ khoảng 1,5 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày thì tới năm 2022 số lượng đã lên tới 4 triệu người. Dự báo đến năm 2049, có khoảng 10 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày.

    Đa dạng mô hình chăm sóc người cao tuổi

    Để thích ứng với già hóa dân số, theo các chuyên gia dân số, Việt Nam cần phát triển và tăng cường quản lý dịch vụ chăm sóc xã hội, cũng như có cơ chế phối hợp công- tư trong cung ứng dịch vụ chăm sóc xã hội. Ðặc biệt, cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi cũng như gắn kết giữa chăm sóc y tế tại cộng đồng với dịch vụ chăm sóc xã hội.

    TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, Việt Nam cần có chiến lược sức khỏe và thúc đẩy già hóa khỏe mạnh trong suốt vòng đời, nhấn mạnh vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc phòng ngừa. Đồng thời phối hợp chăm sóc y tế và chăm sóc phi y tế (chăm sóc xã hội).

    Bên cạnh đó, theo TS. Quỳnh, Việt Nam cũng cần xây dựng chính sách, kế hoạch về dịch vụ và phân bổ ngân sách theo các cấp và các ngành để đảm bảo người cao tuổi tiếp cận được dịch vụ phù hợp.

    Để công tác chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi đạt hiệu quả cao nhất, thích ứng với già hóa dân số, theo TS. Vũ Công Nguyên, Phó Viện trưởng Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển, nước ta cần tích cực xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi để hỗ trợ đáp ứng những nhu cầu của người cao tuổi nhằm đạt mục tiêu sống khỏe mạnh, tham gia các hoạt động, an sinh xã hội.

    Bên cạnh đó, theo TS. Nguyên, Việt Nam cần đa dạng hóa mô hình chăm sóc người cao tuổi hiệu quả, chuyên nghiệp và phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc, điều dưỡng người cao tuổi gắn với chăm sóc tại gia đình, cộng đồng. Trong đó, cần phát triển nhiều mô hình như nhà dưỡng lão phù hợp với truyền thống văn hóa của người Việt. Đẩy mạnh phát triển y tế cơ sở để không chỉ phòng bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu mà đặc biệt là chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, tập trung vào các bệnh mãn tính.

    Còn ông Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục, Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế, Việt Nam cần phải chuẩn bị tiềm lực kinh tế, phát triển an sinh xã hội để mang lại cuộc sống hạnh phúc cho người cao tuổi. Đồng thời, phải có chiến lược dài hạn làm chậm thời gian chuyển đổi từ già hóa dân số sang dân số già.

    Ngoài ra, theo ông Phương, hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần được tiến hành toàn diện. Để làm được điều này, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục nhấn mạnh, không chỉ ngành Dân số mà cần có sự vào cuộc cả hệ thống chính trị các bộ, ngành đoàn thể, địa phương nhằm thích ứng với một xã hội già hóa dân số, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

    D.Ngân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Hàn Quốc
  • Thực Trạng Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản Và Những Ảnh Hưởng Đến Kinh Tế
  • Không Cần Tìm Đâu Xa, Đây Là 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Xuất Phát Từ Dạ Dày
  • Nguyên Nhân Gây Ra Bệnh Lý Hôi Miệng Và Cách Điều Trị
  • Nguyên Nhân Gây Ra Căn Bệnh Hôi Miệng
  • Hàn Quốc: Báo Động Tình Trạng Già Hóa Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Đe Dọa Tương Lai Của Hàn Quốc
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Dân Số Nhật Bản: Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Sụt Giảm Dân Số?
  • Top 2 Nguyên Nhân Chính Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương
  • Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương Và Biện Pháp Phòng Chống
  • Người cao tuổi tại Seoul, Hàn Quốc. (Nguồn: AFP)

    Cụ thể, gần một nửa dân số Hàn Quốc đến năm 2067 sẽ là nhóm người từ 65 tuổi trở lên và điều này đặt ra những thách thức lớn cho việc đảm bảo an sinh xã hội của nền kinh tế lớn thứ tư châu Á này.

    Theo báo cáo trên, dân số của Hàn Quốc được dự báo sẽ giảm từ 51,7 triệu người trong năm 2022, còn 39 triệu người vào năm 2067. Cùng với đó, nhóm người trên 65 tuổi cũng tăng vọt từ tỷ lệ 14,9% hiện nay, lên mức 46,5%. Những quốc gia có tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên trên chiếm 21% tổng dân số được xếp loại nước dân số già.

    Trong khi đó, trong 48 năm tới, dân số thế giới được dự báo sẽ tăng từ 7,71 tỷ người hiện nay lên 10,38 tỷ người. Tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên sẽ tăng từ 9,1% lên 18,6%. Với những con số dự báo nêu trên, Hàn Quốc sẽ trở thành quốc gia có tỷ lệ dân số già cao nhất trong tổng số 201 nước trên thế giới vào năm 2067, vượt Mỹ (25,1%), Trung Quốc (29,9%) và Nhật Bản (38,1%).

    Cũng theo báo cáo này, nhóm dân số dưới 15 tuổi của Hàn Quốc sẽ giảm từ 12,4% hiện nay, còn 8,1% vào năm 2067 và số người trong độ tuổi lao động của Hàn Quốc (15-64) có thể giảm từ 72,7% còn 45,4% trong cùng thời gian trên. Điều này có thể làm gia tăng gánh nặng tài chính đối với thế hệ trẻ và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của Hàn Quốc trong vài chục năm tới.

    Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc giảm và tuổi thọ tăng. Năm 2022, tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc giảm xuống con số kỷ lục 0,98. Trước đó, năm 2022, Seoul ghi nhận tỷ lệ sinh giảm xuống mức 1,05 – mức thấp nhất trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

    Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc giảm là do thế hệ trẻ Hàn Quốc đang “trốn tránh” hẹn hò, kết hôn và sinh con do họ không thể tìm được việc làm ổn định trong thời kỳ kinh tế suy giảm.

    So với tuổi thọ trung bình của các nước trên thế giới, tuổi thọ trung bình của người Hàn Quốc cao hơn hẳn, ghi nhận ở mức 82,5 tuổi giai đoạn 2022-2020, trong khi thế giới là 72,3 tuổi.

    Hãy coi người cao tuổi là tài sản thay vì gánh nặng xã hội

    “Để tiến đến một xã hội già hóa thành công, chúng ta cần thay đổi nhận thức của toàn xã hội, coi người cao tuổi …

    Người dân Hàn Quốc khốn đốn vì vay nợ hộ gia đình

    Lee Sang-Kuk, một người lao động Hàn Quốc phải làm tới hai công việc cùng một lúc nhưng vẫn không thể kiếm đủ tiền để …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản
  • “già Hóa” Dân Số Của Việt Nam Nhanh Nhất Thế Giới
  • Giải Bài Tập Địa Lí 11
  • 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Khiến Bạn Không Ngờ Tới
  • Hôi Miệng: Nguyên Nhân, Cách Chữa
  • Già Hóa Dân Số Đe Dọa Tương Lai Của Hàn Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Dân Số Nhật Bản: Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Sụt Giảm Dân Số?
  • Top 2 Nguyên Nhân Chính Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương
  • Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương Và Biện Pháp Phòng Chống
  • Nguyên Nhân Nào Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngầm
  • Hầu hết các gia đình ở Hàn Quốc đều ngại sinh con thứ hai do chi phí nuôi con và giáo dục quá cao. (Nguồn: AP). Dân số già hóa

    Hàn Quốc hiện nay không chỉ phải đối mặt với tình trạng căng thẳng trong mối quan hệ song phương với Nhật Bản, mà còn cả một vấn đề nghiêm trọng khác có thể gây ảnh hưởng tới cấu trúc nền kinh tế của họ trong tương lai: Già hóa dân số.

    Báo cáo mà Hãng Statistics Korea công bố mới đây cho thấy dân số Hàn Quốc có thể đạt đỉnh – khoảng 51 triệu người – trong năm nay, và sau đó giảm dần xuống còn 34 triệu người vào năm 2067, tương đương dân số năm 1972, theo dự báo viễn cảnh tồi tệ nhất. Dự báo đến năm 2065, số người ở độ tuổi trên 65 sẽ chiếm gần nửa dân số Hàn Quốc, biến nước này thành quốc gia phát triển “già” nhất thế giới, đe dọa tới khả năng quốc phòng.

    Ngược lại, các quốc gia thân thiện với người nhập cư như Mỹ, Canada và Australia chỉ có số dân ở độ tuổi trên 65 chiếm 1/4 tổng dân số, xét trên cùng giai đoạn.

    Ngày nay, phụ nữ Hàn Quốc rõ ràng là sinh ít con hơn, theo các con số thống kê mới nhất, với tỷ lệ sinh đẻ – được tính bằng số trẻ trung bình mà một người phụ nữ sinh ra – đã giảm xuống mức thấp kỷ lục là 0,98 vào năm 2022. Con số này thậm chí còn thấp hơn mức 1,43 của Nhật Bản, và thấp hơn mức lý tưởng để duy trì dân số là 2,1 mà phần lớn các quốc gia trên thế giới áp dụng.

    Năm 2022, chỉ 14% dân số Hàn Quốc là người ở độ tuổi trên 65. Dân số trong độ tuổi đi làm (từ 15 đến 64) là 73%, nhưng cộng đồng này có thể thu hẹp xuống chỉ còn 46% vào năm 2065 nếu xét theo dự báo viễn cảnh trung bình, thấp hơn so với tỷ lệ 51% của Nhật Bản.

    Tương tự như Nhật Bản, tình trạng già hóa dân số đã phản ánh lại những thách thức về kinh tế đối với cộng đồng người trẻ tuổi ở Hàn Quốc. Một bản nghiên cứu năm 2022 cho thấy 58% đàn ông ở độ tuổi từ 20 – 44 ở Hàn Quốc chưa cưới vợ, trong khi ở phụ nữ cùng độ tuổi con số này là 48%.

    Giới chuyên gia nói rằng chi phí nuôi trẻ, tỷ lệ thất nghiệp ở người trẻ tuổi cao và gánh nặng nuôi dạy trẻ đè nặng lên vai các bà mẹ chính là nguyên nhân khiến tỷ lệ sinh đẻ ở Hàn Quốc giảm dần. Ngoài ra, môi trường giáo dục và thị trường việc làm cạnh tranh khốc liệt cũng được cho là nhân tố khiến tỷ lệ sinh đẻ giảm.

    Tăng trưởng kinh tế giảm

    GDP trên đầu người của Hàn Quốc vẫn có thể tăng dù cho dân số đang giảm, như trường hợp của Nhật Bản. Thế nhưng một xã hội đang già hóa sẽ kéo tụt mức tăng trưởng đầu tư và hoạt động sản xuất, cuối cùng làm chậm đà tăng trưởng GDP. Đối với Chính phủ Hàn Quốc, đất nước họ sẽ có ít lực lượng nhân công hơn để hỗ trợ cộng đồng dân số già, từ đó tạo nên những thách thức mới về mặt tài chính, làm tăng chi tiêu dành cho an sinh xã hội trong khi nguồn đóng thuế lại giảm.

    Viện Nghiên cứu Hyundai của Hàn Quốc đưa ra dự báo rằng tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của nước này sẽ giảm từ 2,7% xuống chỉ còn 1% “ngay trong năm 2030”.

    Phòng Đầu tư của Hãng xếp hạng Moody cũng cảnh báo rằng, tỷ lệ tín nhiệm của cả Hàn Quốc và Nhật Bản có thể chịu sức ép tiêu cực do “sự kết hợp của đà tăng trưởng kinh tế thấp, khoản nợ Chính phủ tăng, khả năng trả nợ yếu do lực lượng lao động già hóa, đặc biệt là trong khoảng những năm 2030”.

    Trong lúc giới truyền thông Hàn Quốc cho rằng tỷ lệ sinh đẻ thấp “còn gây rủi ro hơn cả một cuộc khủng hoảng tiền tệ”, chính quyền Seoul đã phản ứng bằng cách chi 117 nghìn tỷ Won (97 tỷ USD) trong khoảng năm 2022 – 2022 để thực thi các biện pháp khuyến khích sinh đẻ.

    Các biện pháp này bao gồm tăng tiền trợ cấp sinh đẻ, miễn phí tiền thuốc men cho trẻ sơ sinh và hỗ trợ chi phí chăm sóc con nhỏ. Tuy nhiên, các biện pháp này đến nay vẫn chưa mang lại hiệu quả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hàn Quốc: Báo Động Tình Trạng Già Hóa Dân Số
  • Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản
  • “già Hóa” Dân Số Của Việt Nam Nhanh Nhất Thế Giới
  • Giải Bài Tập Địa Lí 11
  • 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Khiến Bạn Không Ngờ Tới
  • “già Hóa” Dân Số Của Việt Nam Nhanh Nhất Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản
  • Hàn Quốc: Báo Động Tình Trạng Già Hóa Dân Số
  • Già Hóa Dân Số Đe Dọa Tương Lai Của Hàn Quốc
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Dân Số Nhật Bản: Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Sụt Giảm Dân Số?
  • Một số liệu được đưa nhân Ngày Quốc tế Người cao tuổi 1.10: Việt Nam là 1 trong 10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới, sẽ chỉ không tới 20 năm, tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14%. Theo các chuyên gia dân số, Việt Nam sắp qua thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, bước vào giai đoạn già hóa.

    Điều đáng nói là tốc độ già hóa dân số nước ta chỉ diễn ra trong vòng 15 – 20 năm trong khi các nước phát triển phải qua nhiều thập kỷ. Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn về dân số, cần có giải pháp phù hợp, kịp thời.

    Chỉ sau 20 năm, tỉ lệ dân số “già” tăng gấp đôi

    Từ năm 2007, Việt Nam đã bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, tức là, cứ một người trong độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 tuổi hoặc trên 60 tuổi) thì có 2 người hoặc hơn trong độ tuổi lao động (từ 15 – 60 tuổi). Với cơ cấu dân số này, là cơ hội “vàng” để nước ta có được lực lượng lao động trẻ dồi dào trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế 2010 – 2022. Tuy nhiên, sau giai đoạn dân số “vàng” sẽ bước sang giai đoạn dân số “già”. Điều đáng nói là, Việt Nam nằm trong số 10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới, sẽ chỉ mất không tới 20 năm, tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14%.

    Thống kê của cơ quan chức năng cho thấy, tính đến hết năm 2022, cả nước có 11 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 11,95% dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên. Dự báo, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già vào năm 2035, khi tỉ lệ này tăng lên tới 20% với khoảng 21 triệu người cao tuổi, đến năm 2038 nhóm cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm đến 20% tổng dân số. Đến năm 2049, tỉ lệ người cao tuổi sẽ chiếm khoảng 25% dân số, tức là cứ 4 người dân có một người cao tuổi”.

    “Dân số già” thách thức tích lũy quốc gia

    Theo Thứ trưởng Bộ LĐTBXH Nguyễn Thị Hà, Việt Nam đang đứng trước những thách thức to lớn của quá trình già hóa dân số nhanh chóng. Tuổi thọ trung bình của Việt Nam đã tăng từ 68,6 tuổi năm 1999 lên tới 73,2 tuổi năm 2014, và dự báo sẽ lên 78 tuổi vào năm 2030. Tốc độ già hóa dân số nhanh sẽ phát sinh rất nhiều vấn đề. Trong đó, vấn đề chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe, hưu trí, trợ cấp, an sinh xã hội… trong khi thời gian để Việt Nam chuẩn bị thích ứng với dân số già ngắn hơn nhiều so với các nước khác, dẫn đến mức tích lũy của quốc gia không đáp ứng kịp nhu cầu của xã hội.

    Bên cạnh đó, đa phần người cao tuổi không có tích lũy vật chất, 70% vẫn phải làm việc kiếm sống, trong khi người cao tuổi rất dễ bị tổn thương với những rủi ro kinh tế, xã hội khi con cái không có việc làm và cuộc sống ổn định.

    Ngoài ra, cơ cấu và mô hình bệnh tật người cao tuổi nước ta hiện nay đang thay đổi theo xu hướng bệnh không lây nhiễm, các bệnh mãn tính như các bệnh về xương khớp, hô hấp, tim mạch, cao huyết áp, đột quỵ, tiểu đường, rối loạn chuyển hóa… tăng nhanh, dẫn đến chi phí chăm sóc y tế rất cao và tất yếu tạo thêm áp lực quá tải cho các bệnh viện vốn chưa được giải quyết dứt điểm.

    Những vấn đề này đòi hỏi cần phải xây dựng những chính sách phù hợp cho người cao tuổi để đối phó với việc dân số già hóa nhanh hơn dự báo. Trong khi đó, Việt Nam vẫn chưa thực sự sẵn sàng (cả về nhận thức và hành động) để đón dân số đang già nhanh chóng, thậm chí sẽ là dân số “siêu già” trong một vài thập kỷ nữa.

    GS-TS Nguyễn Đình Cử – Viện Dân số và Các vấn đề xã hội (ĐH Kinh tế Quốc dân) – nhấn mạnh: Điều các nhà hoạch định chính sách cần nhìn thấy rõ nhất là sự thay đổi và nhu cầu theo từng nhóm tuổi, trong đó, nhóm 65 tuổi trở lên cần được chăm sóc, phụng dưỡng. Để thích ứng với già hóa dân số, cần phát triển và tăng cường quản lý dịch vụ chăm sóc xã hội, có cơ chế phối hợp công – tư trong cung ứng dịch vụ chăm sóc xã hội. Đặc biệt là khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi cũng như gắn kết giữa chăm sóc y tế tại cộng đồng với dịch vụ chăm sóc xã hội chính thức và phi chính thức.

    Có nên coi “người già” vẫn thuộc lực lượng lao động?

    TS Nguyễn Ngọc Quỳnh – Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc – cho rằng, già hóa dân số cũng cần được nhìn nhận trên khía cạnh tích cực. Theo bà, dân số cao tuổi không có nghĩa hoàn toàn là gánh nặng mà đây là cơ hội lớn cho các ngành kinh tế dịch vụ cho người cao tuổi.

    Thậm chí, “ở Trung Quốc thị trường này rất triển vọng khi tỉ lệ người cao tuổi chi cho các dịch vụ chiếm 165 tỉ USD/năm” – TS Nguyễn Ngọc Quỳnh nêu ví dụ và cho rằng, người cao tuổi còn là lao động cho xã hội, với khoảng 46% người cao tuổi Việt Nam vẫn đang làm các công việc được trả lương.

    Do đó, thích ứng với già hóa dân số không chỉ là giải quyết vấn đề của người cao tuổi mà cần có chính sách tiếp cận toàn diện để chuẩn bị cho giai đoạn dân số già. Còn theo ThS Lê Minh Giang – Chánh Văn phòng Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, để tận dụng được nguồn nhân lực này cần tạo thuận lợi cho người cao tuổi tiếp cận với vốn tín dụng để phát triển sản xuất kinh doanh.

    “Già hóa dân số” hay còn gọi là giai đoạn “dân số đang già” là tình trạng dân số có tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỉ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên. Giai đoạn “dân số già” là tình trạng dân số có tỉ lệ từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 14% tổng dân số trở lên. “Dân số siêu già” là tình trạng dân số có tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 21% dân số trở lên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Địa Lí 11
  • 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Khiến Bạn Không Ngờ Tới
  • Hôi Miệng: Nguyên Nhân, Cách Chữa
  • Hôi Miệng Từ Cổ Họng: Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị Hiệu Quả.
  • Hãy Tránh Xa Các Nguyên Nhân Gây Ra Mùi Hôi Miệng Khó Chịu
  • Vì Sao Dân Số Việt Nam Già Hóa Nhanh Đến Vậy?

    --- Bài mới hơn ---

  • Già Hóa Dân Số: Thách Thức Lớn
  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Các Nước Phát Triển
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước. Điều Bạn Chưa Biết
  • Ô Nhiễm Nước Và Các Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước
  • Gan Nhiễm Mỡ Có Nguyên Nhân Từ Đâu?
  • Chủ nghĩa thực dụng kéo lệch cán cân dân số

    Hai vợ chồng anh Nguyễn Xuân Tùng và chị Trần Thu Hằng đều có công việc thu nhập ổn định. Chị làm ở một ngân hàng nhỏ, anh là họa sĩ thiết kế cho một công ty truyền thông, tổng thu nhập lương cả hai vợ chồng gần 30 triệu/tháng. Hai vợ chồng đã có một đứa con gái, rất muốn đẻ thêm nhưng không dám đẻ vì theo chị Hằng “chi phí cho một đứa con đã hết 1/3 thu nhập của hai vợ chồng, thêm một đứa nữa, sống kham khổ chắc không chịu nổi”. Hai vợ chồng đang mua nhà trả góp 7 triệu/tháng và cũng muốn thi thoảng đi du lịch thăm thú nên nếu sinh thêm con thì mức lương của cả hai sẽ khó đáp ứng nổi.

    “Nếu muốn sinh thêm con, chúng tôi phải sống tiết kiệm hơn nên quyết định chỉ sinh một đứa. Tôi thì không muốn con mình khổ hay hai vợ chồng cả đời nai lưng kiếm tiền nuôi con chẳng có thời gian sống cho mình” – người chồng cho biết.

    Nói về chuyện ngại sinh thêm con này, Tiến sĩ Vũ Gia Hiền – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Văn hóa Du lịch lại cho rằng, nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của “chủ nghĩa thực dụng”. Theo ông, những vợ chồng trẻ ở chúng tôi ngại sinh con vì sợ mình khổ và con khổ, muốn dành thời gian để phát triển sự nghiệp, du lịch, phát triển bản thân.

    Chủ nghĩa thực dụng ảnh hưởng đến sinh đẻ là hiện tượng đã xuất hiện từ lâu ở châu Âu, và cũng đã lan sang Hàn Quốc, Nhật Bản cách đây cả chục năm, khiến tỷ lệ sinh ở Nhật Bản, Hàn Quốc những năm đó chỉ là 1,25 bé/mẹ. Mặc dù Chính phủ các nước này đã có nhiều biện pháp khuyến khích người dân sinh đẻ nhưng từ đó đến nay, con số này cũng chưa quá 1,35. Còn TP. Hồ Chí Minh hiện nay là một trong những địa phương có tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ – TFR) thấp nhất cả nước (1,48 con/phụ nữ) và có khả năng còn tiếp tục giảm sâu.

    Khủng hoảng mang tên “già hóa”

    Mức sinh có tỷ lệ giảm sâu đang dần trở thành hiện tượng phổ biến ở các tỉnh thành phố Việt Nam. Thống kê cho thấy, trong số 63 tỉnh/ thành thì có tới 18 tỉnh có mức sinh thấp (dưới 2 con), 9 tỉnh có mức sinh rất cao… Vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long có mức sinh thấp hơn nhiều so với mức sinh thay thế (1,5 – 1,6 con), một số địa phương cũng đang trong tình trạng mức sinh thấp như TP Hồ Chí Minh là Cần Thơ, Cà Mau, Bà Rịa – Vũng Tàu…

    Mức sinh thấp tại các tỉnh này được cảnh báo là tương đương với Hàn Quốc, Singapore, những nước đã và đang phải triển khai đồng loạt rất nhiều chính sách để khuyến khích phụ nữ sinh con, do thiếu nguồn nhân lực và tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh chóng.

    Đối mặt với “già hóa dân số” không chỉ còn là câu chuyện xa xôi với Việt Nam nữa khi mức sinh tụt giảm như vậy. Theo Tổng cục Dân số, năm 2011, Việt Nam đã bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa dân số, khi có trên 10% dân số từ 60 tuổi trở lên và đến năm 2032 con số này tăng lên 20%.

    Bên cạnh việc đối mặt với nguy cơ già hóa dân số trong khoảng thời gian ngắn, thì tình trạng mất cân bằng giới tính của trẻ sơ sinh ngày càng tăng và đang ở mức báo động. Số liệu cho thấy năm 2009 tỷ lệ này là 110,9 bé trai/100 bé gái thì sang năm 2014 con số này đã tăng lên 112,2 bé trai, riêng khu vực đồng bằng sông Hồng con số này lên đến 118 bé trai/100 bé gái. Đến năm 2022 cả nước đã có 53/63 tỉnh, thành có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh.

    Theo ông Mai Xuân Phương – Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông – Giáo dục, Tổng cục Dân số thì tốc độ già hóa dân số ở nước ta đang diễn ra rất nhanh, nếu như các nước trên thế giới phải mất hàng thập kỷ thì ở nước ta chỉ diễn ra trong vòng chưa đến 20 năm. Do đó nếu không có chiến lược hợp lý trong công tác kế hoạch hóa gia đình, nước ta sẽ đối mặt với nhiều thách thức. “Cần phải có định hướng chính sách dân số mới để duy trì mức sinh thay thế, nếu như trước đây khẩu hiệu là “Mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 đến 2 con” thì hiện nay phải thay thế bằng khẩu hiệu “Mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ 2 con” nhằm kéo dài thời gian cơ cấu “dân số vàng” – ông Phương nhấn mạnh.

    Để hóa giải vấn đề này, ông Lê Cảnh Nhạc – Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Dân số cho rằng, công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình cho rằng trước nay chúng ta chỉ tập trung chủ yếu vào việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức chuyển đổi hành vi dân số như giảm mức sinh, cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình… tuy nhiên hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức khác như sự chênh lệch mức sinh giữa các vùng miền khá cao. Nếu cứ tiếp tục tình trạng này thì chất lượng dân số ở nước ta sẽ đi xuống. Do đó cần có biện pháp hợp lý để những nơi mức sinh thấp phải sinh đủ để đáp ứng nhu cầu nhân lực, những vùng như Trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên cần giảm mức sinh xuống để nâng cao chất lượng dân số.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ô Nhiễm Không Khí Được Gây Ra Bởi Những Nguyên Nhân Nào?
  • Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Nhiều
  • Phân Tích Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Môi Trường Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Những Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Không Khí Có Thể Bạn Chưa Biết?
  • Các Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Không Khí Hiện Nay
  • Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “Già” Rất Nhanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Giới Lo Tình Trạng Dân Số Già
  • Dân Số Thế Giới Ngày Càng Già Đi
  • Xu Hướng Già Hóa Trên Thế Giới Và Các Vấn Đề Đặt Ra Với Các Nước Đang Phát Triển
  • Già Hóa Dân Số: Cơ Hội Và Thách Thức
  • Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù
  •  

    70% người cao tuổi ở Việt Nam không có lương và trợ cấp.

    Ảnh: D.Ngọc.

    LTS: Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với những thách thức lớn. Số người cao tuổi (NCT) tăng nhanh đòi hỏi sự chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần rất lớn. Việc chăm sóc và tạo điều kiện sống tốt nhất cho NCT là trách nhiệm của xã hội, cộng đồng, gia đình; đặc biệt trở nên cần thiết trong một xã hội bước vào thời kỳ dân số già. Hướng tới “Hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về già hóa dân số” sẽ diễn ra tại Việt Nam trong 2 ngày 25-26/9/2013, Báo GĐ&XH sẽ có loạt bài đề cập đến thực trạng, những tác động của già hóa dân số tới cơ cấu dân số, đời sống xã hội cũng như các chính sách, sự quan tâm của cộng đồng với NCT để thích ứng với vấn đề này.

    Dân số Việt Nam đang “già” đi rất nhanh với tốc độ chưa từng có trong lịch sử. Theo dự báo, khoảng 15 – 20 năm nữa, Việt Nam sẽ chuyển sang cơ cấu dân số già, trong khi Pháp mất tới 100 năm, Thụy Điển là 85 năm, Hoa Kỳ là 75 năm… Các chuyên gia về dân số khẳng định, nếu chúng ta không kịp thích ứng, không có mô hình chăm sóc NCT phù hợp, sẽ rất khó khăn cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Tốc độ chưa từng có

     

    Mỗi người già có 2,6 loại bệnh tật

    Theo số liệu của Bộ Y tế công bố năm 2012, tỷ lệ NCT có sức khỏe tốt chỉ chiếm khoảng 5%. 95% còn lại mắc các bệnh tăng huyết áp (gần 40%), viêm khớp (hơn 30%), bệnh phổi phế quản tắc nghẽn mãn tính, đái tháo đường, sa sút trí tuệ, giảm thị lực, thính lực…

    Tính trung bình mỗi người già mang 2,6 bệnh tật. Hiện Việt Nam có khoảng gần 9 triệu NCT, chiếm 10% dân số cả nước.

    Do mức sinh giảm đi đáng kể trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng, dân số Việt Nam có xu hướng già đi thấy rõ. Theo Tổng cục Thống kê, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi của Việt Nam năm 1999 còn ở mức 33,1% thì năm 2012 chỉ còn 23,9% (giảm tới hơn 10%). Trong khi đó, năm 1999 số người trên 65 tuổi chỉ mới chiếm 5,8% dân số thì đến 1/4/2012 tỷ lệ này đã tăng lên mức 7,1%. Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, tỷ lệ NCT nước ta sẽ tăng lên 26% vào năm 2050.

    Có lẽ ít quốc gia nào có một cơ cấu dân số đa dạng như ở Việt Nam. Chúng ta vừa chuyển từ cơ cấu dân số trẻ (với hơn 30% dân số là trẻ em) sang cơ cấu “dân số vàng” (số người trong độ tuổi lao động cao gấp 2 lần số người trong độ tuổi phụ thuộc) thì cũng gần như đồng thời bước vào giai đoạn già hóa dân số.

    Theo các nhà nhân khẩu học, “già hóa dân số” hay còn gọi là giai đoạn “dân số đang già” là khi dân số 65 tuổi trở lên chiếm trên 7% tổng dân số; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm trên 10% tổng dân số.

    Trong vòng 30 năm qua, qua 4 kỳ Tổng điều tra dân số (1979, 1989, 1999, 2009), số lượng và tỷ lệ NCT nước ta chỉ tăng trung bình 0,06% mỗi năm. Nhưng chỉ trong vòng 1 năm, từ 1/4/2009 – 1/4/2010, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đã tăng từ 8,67% lên 9,4%, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 6,4% lên 6,8%. Con số này cho thấy, chỉ trong một năm, tỷ lệ NCT đã tăng hơn gấp 10 lần so với cả giai đoạn trước đây.

    Dự báo của Tổng cục Thống kê cho thấy, nước ta sẽ bước vào giai đoạn “già hoá dân số” vào năm 2022. Tuy nhiên, theo TS Dương Quốc Trọng – Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ, với tốc độ gia tăng tương tự như năm 2010 thì đến 1/4/2011, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đã là 10,1%, người từ 65 tuổi trở lên đã là 7,2% và như vậy  thì “dù theo tiêu chí nào, chúng ta cũng đã bước vào giai đoạn “già hoá dân số” ngay từ năm 2011, sớm hơn 6 năm so với dự báo”, TS Dương Quốc Trọng cho biết.

    Trong khi Pháp mất 100 năm, Thụy Điển 85 năm, Hoa Kỳ 75 năm, Nhật Bản là 26 năm… để chuyển từ cơ cấu dân số già hóa sang dân số già thì theo dự báo,  chỉ khoảng 17 – 18 năm tới, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn dân số già, sớm hơn 2 – 3 năm so với dự báo.

    Thu nhập chậm, bệnh tật kép

    Tuổi thọ là ước mong lớn của con người, do đó già hóa dân số là thành quả của sự phát triển kinh tế – xã hội, khẳng định tính ưu việt của chế độ, của sự phát triển kinh tế – xã hội, mà trực tiếp là công tác chăm sóc sức khỏe người dân, công tác DS-KHHGĐ. Tuy nhiên, theo chúng tôi Giang Thanh Long – Phó Viện trưởng Viện Chính sách công và Quản lý, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, già hóa cũng đang đặt ra thách thức lớn.

    Theo phân tích của TS Giang Thanh Long, cơ cấu sắp xếp cuộc sống hộ gia đình NCT hiện nay đã thay đổi rất nhiều. Nếu trước đây, có tới 80% NCT sống với con cái (chỗ dựa quan trọng cho NCT), thì nay do sự thay đổi về đời sống kinh tế – xã hội, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 60%. Vẫn còn tới 70% NCT (chủ yếu sống ở nông thôn) không có tích lũy, không có lương và trợ cấp. Điều đó cũng phản ánh một thực trạng là tốc độ thay đổi thu nhập chậm hơn tốc độ già hóa.

    Sự biến đổi này tạo ra thách thức lớn, đòi hỏi phải xây dựng chính sách chăm sóc NCT dựa trên cộng đồng và các nhân tố khác thay thế gia đình. Ông cũng chỉ ra các thách thức khác mà NCT Việt Nam gặp phải đó là có tỷ lệ khỏe mạnh còn thấp. Điều đáng nói là tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đã tăng cao nhưng số năm sống khỏe mạnh lại khá thấp, mỗi người dân có tới 12 năm ốm đau. Đặc biệt, trung bình mỗi người cao tuổi có trên 2,6 bệnh. Bệnh tật ở NCT nước ta hiện nay với xu hướng bệnh tật kép, xu hướng bệnh tật chuyển từ lây nhiễm sang không lây nhiễm và mãn tính, dẫn tới chi phí chăm sóc cao. NCT mắc các nhóm bệnh không lây nhiễm chủ yếu như: Bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường, động kinh và trầm cảm ngày càng tăng. Bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với nguy cơ tàn phế do cơ chế “hao mòn” của quá trình lão hóa và tác động của các căn bệnh mãn tính.

    Tình trạng bệnh tật đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lý, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và sự hòa nhập cộng đồng của NCT. Đa số NCT nước ta chưa có thói quen khám bệnh định kỳ vì vậy khi phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn khiến việc chữa trị rất khó khăn. Hệ thống y tế – lão khoa chưa đầy đủ, trang thiết bị còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ y tế chưa đáp ứng nhu cầu để giải quyết các bệnh đặc trưng của NCT. Theo kết quả Điều tra Quốc gia về NCT Việt Nam, chỉ có 4,8% NCT có sức khỏe tốt và rất tốt, 65,4% là yếu và rất yếu. Trong đó, có 26,1% NCT không có bất cứ loại bảo hiểm y tế nào, trên 51% NCT không đủ tiền chi trả cho việc điều trị, dẫn đến không điều trị.

    Về vấn đề chăm sóc NCT, hiện nước ta đã xây dựng hệ thống chăm sóc NCT với một số nhà dưỡng lão của nhà nước và khuyến khích tư nhân tham gia. Tuy nhiên, theo báo cáo gần đây của Ủy ban Quốc gia NCT, các nhà dưỡng lão này gặp hạn chế về kinh phí nên cơ sở vật chất và kinh phí cho những người tham gia chăm sóc NCT còn thấp. Ở khu vực tư nhân cũng gặp nhiều khó khăn khi thực hiện. Hệ thống nhà dưỡng lão tư nhân hiện nay vẫn mang tính tự phát, chưa đẩy mạnh được tính xã hội hóa của vấn đề này.

     

    Bình Định: “Già hóa” đến sớm 8 năm

    Trong ba thập kỷ qua, dân số Bình Định đã có những biến động mạnh mẽ về quy mô và cơ cấu tuổi. Tính từ cột mốc năm 1979, tỷ lệ NCT của Bình Định là 7,6% dân số, với 83.151 người. 20 năm sau, tỷ lệ này đã tăng lên 10,8%, với 160.875 NCT.  Như vậy, Bình Định đã bước vào giai đoạn “già hóa” dân số từ năm 2009. Theo ông Nguyễn Văn Quang – Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh, tỷ lệ NCT tăng nhanh chóng trong thời gian này là do 3 yếu tố quan trọng: Tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng lên. Riêng Bình Định còn có nhiều người trong độ tuổi lao động ra ngoài tỉnh.

    Theo cơ sở dữ liệu quản lý tại Chi cục DS-KHHGĐ, tính đến 30/4/2012, số NCT trong tỉnh đã đạt 186.515 người, chiếm 12,5% dân số. Thống kê theo đơn vị cấp xã, 20 địa phương ở 6 huyện, thị xã (An Nhơn, Hoài Nhơn, Hoài Ân, Tây Sơn, Phù Cát và Phù Mỹ) có số NCT chiếm trên 15% dân số. “Tốc độ gia tăng tỷ lệ NCT tại Bình Định giai đoạn 2009 – 2012 bình quân tăng hơn 0,5%/năm. Với tốc độ gia tăng như vậy thì dân số Bình Định dự báo sẽ bước vào giai đoạn “già” vào năm 2025, sớm hơn cả nước khoảng 8 năm.        

     

    Mai Anh

    Hà Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hôi Miệng Khi Mang Thai Phải Làm Sao? Có Nguy Hiểm Không?
  • Trị Hôi Miệng Cho Bà Bầu
  • Nguyên Nhân Và Cách Chữa Bệnh Hôi Miệng Ở Trẻ Nhỏ
  • Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Ở Người Lớn Bạn Đã Biết Chưa?
  • Chữa Hôi Miệng Ở Trẻ Em Tưởng Khó Mà Lại Dễ Vô Cùng Với 5 Mẹo Sau
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×