Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Các Nước Phát Triển

--- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước. Điều Bạn Chưa Biết
  • Ô Nhiễm Nước Và Các Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước
  • Gan Nhiễm Mỡ Có Nguyên Nhân Từ Đâu?
  • 9 Nguyên Nhân Gan Nhiễm Mỡ Thường Gặp Khiến Bạn Giật Mình!
  • Nguyên Nhân Gây Bệnh Gan Nhiễm Mỡ Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã có những hoạt động cụ thể để nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề già hóa dân số, khai thác những cơ hội, đồng thời giải quyết những thách thức đặt ra. UNFPA đã hỗ trợ việc nghiên cứu và thu thập thông tin để cung cấp cơ sở dữ liệu vững chắc cho việc đề ra các chính sách, kế hoạch và đảm bảo rằng vấn đề già hóa dân số được lồng ghép vào các chương trình phát triển quốc gia và chiến lược xóa đói giảm nghèo.

    Dân số già một trong những xu hướng quan trọng nhất của thế kỷ XXI. Cứ 8 người trên thế giới thì sẽ có 1 người ở độ tuổi 60 trở lên. Chừng nào mà tỷ lệ sinh tiếp tục giảm, tuổi thọ tiếp tục tăng thì số người già vẫn sẽ tăng theo tỷ lệ dân số. Mặc dù, già hóa dân số là một hiện tượng toàn cầu nhưng tiến trình này xảy ra nhanh hơn ở các quốc gia đang phát triển, bao gồm cả những quốc gia có dân số trẻ đông hơn.

    Sự đóng góp của người già cho xã hội là vô giá. Rất nhiều những đóng góp của họ không thể đo đếm về mặt kinh tế như sự chăm sóc, tình nguyện và việc truyền lại truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Người già còn giữ vị trí quan trọng như những người lãnh đạo, thường nắm vai trò trong việc giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình, xã hội và ngay cả trong những trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, họ cũng là đối tượng dễ bị tổn thương bởi mạng lưới hỗ trợ xã hội yếu kém, thu nhập thấp hay là nạn nhân của nạn phân biệt đối xử, lạm dụng. Đặc biệt, phụ nữ lớn tuổi dễ bị tổn thương bởi sự phân biệt trong xã hội, bị từ chối quyền thừa kế tài sản. Bên cạnh đó, phụ nữ có xu hướng sống thọ hơn nam giới, do đó, họ có thể phải chịu đựng cuộc sống thiếu thốn, đói nghèo trầm trọng hơn khi họ già đi.

    Nhiều người cao tuổi cần sự chăm sóc, trách nhiệm này thường thuộc về gia đình của họ. Nhưng sự suy giảm tỷ lệ sinh và việc đô thị hóa nhanh chóng cũng làm thay đổi quan hệ gia đình truyền thống, đôi khi gánh nặng đặt vào mạng lưới hỗ trợ xã hội. Khi số người cao tuổi tăng lên, các gia đình sẽ cần sự hỗ trợ chăm sóc họ và sự bảo trợ xã hội ngày càng trở nên cần thiết hơn đối với người cao tuổi. Các khoản lương hưu có thể giúp giảm đói nghèo đối với rất nhiều người cao tuổi, nó không chỉ hỗ trợ người cao tuổi mà còn cho cả gia đình họ, thậm chí giúp phá vỡ chu kỳ đói nghèo liên thế hệ. Lương hưu còn giúp nâng cao vị trị của người cao tuổi, giúp cân bằng các mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình.

    Nhật Bản có dân số già nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Vào cuối thập niên này, tỷ lệ cứ một đứa trẻ dưới 15 tuổi sẽ tương ứng với 3 người về hưu và trong 6 người Nhật Bản sẽ có 1 người trên 80 tuổi. Dân số quốc gia này sẽ sớm giảm gần 1 triệu người mỗi năm và nhiều người dự đoán rằng một lúc nào đó trong thế kỷ tới, người Nhật Bản cuối cùng cũng sẽ “chết”.

    Nhiều quốc gia đang khuyến khích việc nhập cư để giải quyết vấn đề về dân số. Tuy nhiên, Nhật Bản không áp dụng giải pháp này, thay vào đó họ đã phát triển một loạt các sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao.

    Người cao tuổi ở Nhật Bản nắm giữ một nửa tài sản của đất nước (Ảnh: Slate Magazine)

    Người cao tuổi ở Nhật Bản nắm giữ một nửa tài sản của đất nước. Một nền kinh tế được chi phối bởi ngành dược phẩm, chăm sóc sức khỏe và trang thiết bị y tế đang thịnh hành xung quanh họ. Có thể kể đến những thiết kế đồ nội thất và thiết bị hỗ trợ thông minh dành riêng cho người cao tuổi đã và đang được sử dụng phổ biến ở Nhật Bản. Nhà vệ sinh thông minh được lắp đặt thiết bị cảm biến y tế đo lượng đường trong máu dựa trên nước tiểu và huyết áp của người sử dụng. Thiết kế ô tô thông minh có thể hạn chế bất kỳ hoạt động bất thường và nguy hiểm của người lái. Hệ thống chăm sóc y tế thông qua máy tính, bác sĩ và các y tá sẽ tương tác với bệnh nhân từ xa thông qua các công nghệ hiện đại. Robot thú cưng có thể biểu hiện các cảm xúc như bất ngờ, hạnh phúc hay tức giận giúp kích thích phản ứng cho những người cao tuổi bị chứng sa sút trí nhớ. Những chiếc giường có thể biến thành xe lăn giúp hỗ trợ người cao tuổi gặp khó khăn trong việc di chuyển…

    Việc suy giảm số người trẻ tuổi cũng gây ảnh hưởng đến sự hoạt động của các tường trung học, đại học cũng như cho ngành công nghiệp và thương mại. Điều này cũng có nghĩa là việc duy trì quỹ lương hưu cho người cao tuổi cũng trở nên khó khăn hơn. Một cách để đối phó với số lượng lao động trẻ đang giảm là tăng nhập khẩu hàng hóa thành phẩm từ các quốc gia có mức thu nhập tương đối thấp. Cán cân thanh toán của Nhật Bản có thể cho phép duy trì việc này trong một thời gian. Một cách khác để đối phó với tình trạng thiếu hụt lao động là việc tăng cường sử dụng robot trong sản xuất và cung cấp dịch vụ. Việc này sẽ dần loại bỏ các công việc nhất định.

    Một quốc gia ở châu Âu cũng phải đối mặt với tính trạng già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng, đó là Thụy Điển. Theo dự báo, trong hai thập kỷ tới, số người trên 80 tuổi ở Thụy Điển sẽ tăng từ khoảng 500.000 – 800.000 người. Thay đổi nhân khẩu học được cho là một trong những thay đổi về mặt xã hội lâu dài và quan trọng nhất xảy ra ở quốc gia này.

    Hệ thống chăm sóc sức khỏe tiên tiến cho người già ở Thụy Điển (Ảnh: Daily Sabah)

    Xu hướng kéo dài tuổi thọ trở thành một thách thức đối với mô hình phúc lợi xã hội của Thụy Điển. Khi tỷ lệ người cao tuổi tăng, nhu cầu về các dịch vụ phúc lợi xã hội cũng gia tăng theo. Sẽ là một nhiệm vụ khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn lực để chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.

    Bên cạnh đó, hệ thống chăm sóc sức khỏe công cộng của Thụy Điển từ nhiều năm nay đã được biết đến trên toàn thế giới. Mục tiêu cốt lõi của hệ thống y tế công cộng là khuyến khích mọi người dân giữ được sức khỏe tốt suốt cả cuộc đời. Trên thực tế, y học và công nghệ thông tin hiện đại đang ngày càng có thể phát hiện được các loại bệnh tật có thể ảnh hưởng đến các cá nhân ngay trước khi bệnh phát tác. Giống như nhiều hình thức đầu tư khác, chăm sóc sức khỏe ở Thụy Điển thường có thể đạt được nhiều hơn ở một mức chi phí thấp.

    Một giải pháp tiềm năng khác là một chính sách nhập cư mở cửa. Có rất nhiều đàn ông và phụ nữ trên toàn thế giới ở độ tuổi lao động nhưng hiện không có việc làm. Nếu họ được khuyến khích đến Thụy Điển thì lực lượng lao động ở quốc gia này sẽ tăng lên đáng kể. Điều này có sẽ giúp giải quyết vấn đề thiếu tiền để vận hành quỹ chăm sóc sức khỏe và trợ cấp người cao tuổi, đồng thời giải quyết khủng hoảng tài chính ở lĩnh vực dịch vụ cho người cao tuổi. Thêm vào đó, khuyến khích việc nghỉ hưu muộn để duy trì một cộng đồng lao động to lớn cũng là một giải pháp đáng chú ý.

    Đức, một cường quốc kinh tế của châu Âu cũng đang phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số. Trong 15 năm tới, Đức có thể mất 5 triệu người trong lực lượng lao động. Tuy nhiên, dự báo về nhân khẩu học cũng cần phải có những thay đổi đáng kể, bởi số người nhập cư của quốc gia này đang dao động mạnh mẽ và khó dự đoán được.

    Nhập cư là một giải pháp cho vấn đề già hóa dân số ở Đức (Ảnh: Livemint)

    Một trong những giải pháp được đưa ra là chính sách nhập cư. Tuy nhiên, giải pháp này chỉ giải quyết được phần nào vấn đề này. Hạn chế về việc dịch chuyển lao động từ các nước thành viên EU ở Đông Âu cuối cùng đã được dỡ bỏ, Berlin hy vọng việc này sẽ giúp tăng thêm 100.000 lao động trong những năm tới.

    Một giải pháp cũng gây tranh cãi ở Đức đó là việc nâng độ tuổi nghỉ hưu từ 65 lên 67. Những thay đổi này được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2012-2029.

    Đối với Đức, vấn đề già hóa dân số còn tạo ra nhiều áp lực lên lực lượng lao động hơn cả vấn đề thất nghiệp ở thanh niên. Tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên Đức là 7,9%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Anh 20% hay Tây Ban Nha 40%.

    Vào năm 2022, lần đầu tiên trong vòng 30 năm qua, tỷ lệ sinh ở Đức đã tăng lên là 1,5 trẻ/một bà mẹ. Đây có thể là thành công nhờ sự hỗ trợ tập trung của các gia đình và nền kinh tế tăng trưởng. Tỷ lệ sinh của quốc gia này được dự kiến sẽ tương đối ổn định trong tương lai gần. Bên cạnh đó, tuổi thọ trung bình trong những thập kỷ gần đây liên tục tăng nhanh hơn sự mong đợi của các nhà nhân khẩu học.

    Hồng Nhung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Già Hóa Dân Số: Thách Thức Lớn
  • Vì Sao Dân Số Việt Nam Già Hóa Nhanh Đến Vậy?
  • Ô Nhiễm Không Khí Được Gây Ra Bởi Những Nguyên Nhân Nào?
  • Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Nhiều
  • Phân Tích Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Môi Trường Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Hàn Quốc: Báo Động Tình Trạng Già Hóa Dân Số
  • Già Hóa Dân Số Đe Dọa Tương Lai Của Hàn Quốc
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Dân Số Nhật Bản: Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Sụt Giảm Dân Số?
  • Top 2 Nguyên Nhân Chính Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương
  • Tổng quan dân số Nhật

    Nhật Bản là nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới

    Nhật Bản là một trong những quốc gia có tuổi thọ dân số trung bình cao nhất trên thế giới. Tại Nhật có hơn 58.000 người trên 100 tuổi làm cho đất nước này đứng đầu trên thế giới về số người sống thọ trên 80 tuổi. Sự trường thọ của những người Nhật Bản là do chế độ ăn uống lành mạnh, chuyên tâm tập luyện thể dục thể thao, cùng điều kiện sống trong lành, sạch sẽ.

    https://www.dkn.tv/suc-khoe/diem-danh-15-quoc-gia-co-tuoi-tho-cao-nhat-the-gioi-noi-dung-dau-dang-o-nhiem-khong-khi-nghiem-trong.html

    Phân bố độ tuổi của Nhật hiện nay

    Số liệu dân số của Nhật Bản theo độ tuổi (ước lượng):

    • 16.585.533 thanh thiếu niên < 15 tuổi (8.515.836 nam / 8.070.960 nữ)

    • 80.886.544 người từ 15 – 64 tuổi (40.787.040 nam / 40.099.504 nữ)

    https://danso.org/nhat-ban/

    Đặc điểm dân số Nhật Bản

    Độ tuổi lao động giảm dần

    Một trong những đặc điểm dân số của người dân Nhật đó là những người trong độ tuổi lao động giảm dần. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là do vấn đề già hóa dân số ở Nhật Bản. Vấn đề độ tuổi lao động giảm dần dẫn đến hệ lụy đó là tạo thành gánh nặng cho nền kinh tế khiến cho nước Nhật phải đau đầu giải quyết vấn đề này. Nguyên nhân già hóa dân số ở Nhật Bản là do số người cao tuổi đang ngày càng tăng.

    Tỷ lệ dân số phụ thuộc theo độ tuổi cao

    • Tổng tỷ lệ của dân số phụ thuộc tại Nhật Bản vào năm 2022 đó là 68,3%.

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc:

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc là tỷ lệ của những người dưới độ tuổi lao động <15 tuổi so với lực lượng lao động ở một quốc gia nào đó.

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc tại Nhật Bản hiện nay là 21,5%.

    • Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc

    • Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc tại Nhật Bản là 46,8%.

    https://danso.org/nhat-ban/

    Tình trạng người cao tuổi chưa được nghỉ hưu

    Với vấn đề dân số già hóa ở Nhật dẫn đến nhiều hậu quả già hóa dân số ở Nhật đòi hỏi chính phủ nhật cần có các hành động triệt để, lâu dài. Mới đây thì chính phủ Nhật đã đề xuất dự thảo với mục tiêu đưa Nhật Bản nơi những người lao động từ 65 tuổi sẽ được khuyến khích nhằm giữ gìn sức khỏe, tiếp tục làm việc để giảm áp lực về lương hưu. Cùng theo dự thảo mới này thì cho phép người dân được trì hoãn thời điểm nghỉ hưu tới 70 tuổi và chính phủ cũng khuyến khích họ tiếp tục làm việc khi đã nghỉ hưu khi sức khỏe cho phép. Hiện nay độ tuổi nghỉ hưu chính thức ở Nhật là 65 tuổi nhưng thực tế các doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp Nhà nước bắt đầu để lao động cao tuổi có quyền được chọn thời điểm nghỉ hưu từ 60 – 70 tuổi.

    Giải pháp

    Định hướng phát triển với quy mô dân số tầm trung

    Giải pháp già hóa dân số ở Nhật Bản đang được đất nước Nhật thực hiện đó là định hướng phát triển với dân số tầm trung. Định hướng này góp phần làm giảm dân số già ở Nhật.

    Tăng tỷ lệ sinh

    Một giải pháp nữa để khắc phục vấn đề già hóa dân số đó là tăng tỷ lệ sinh.Việc tăng tỷ lệ sinh ở Nhật cũng khiến cho dân số cân bằng hơn. Và hiện tại Nhật Bản đang tích cực thực hiện giải pháp này.

    Phụ nữ và người già tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động

    Vấn đề già hóa dân số ở Nhật đang tạo gánh nặng cho nền kinh tế vì vậy giải pháp được đưa ra đó là những phụ nữ và người già phải tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động để giảm bớt gánh nặng này.

    Nâng cao năng suất lao động

    Hiện một giải pháp nữa đang được Nhật Bản tích cực thực hiện góp phần giải quyết vấn đề già hóa dân số đó là nâng cao năng suất lao động. Việc nâng cao năng suất lao động sẽ giúp tạo ra nhiều của cải hơn bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn lao động.

    Thu hút lao động nước ngoài

    Một giải pháp nữa cho nền kinh tế khi thiếu hụt nguồn nhân lực đó là thu hút lao động từ nước ngoài. Hiện nay thì Nhật Bản đang ngày càng có nhiều chính sách để giúp thu hút những người lao động từ nước ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • “già Hóa” Dân Số Của Việt Nam Nhanh Nhất Thế Giới
  • Giải Bài Tập Địa Lí 11
  • 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Khiến Bạn Không Ngờ Tới
  • Hôi Miệng: Nguyên Nhân, Cách Chữa
  • Hôi Miệng Từ Cổ Họng: Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị Hiệu Quả.
  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Hàn Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?
  • Ô Nhiễm Nguồn Nước, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Cách Khắc Phục
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước? Các Giải Pháp Khắc Phục?
  • 5 Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Nguồn Nước Hiệu Quả, Dễ Thực Hiện
  • Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Những Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Ô Nhiễm Nước
  • Người ta dự đoán, Hàn Quốc trở thành một quốc gia già hóa (già hóa dân số) vào năm 2022, và rất có thể trở thành một xã hội siêu già vào năm 2026. Điều này chứng tỏ dân số Hàn Quốc đang già đi với tốc độ nhanh hơn đáng kể so với đa số các nước tiên tiến khác. Sự nổi lên của già hóa dân số chắc chắn sẽ gây ra những khó khăn kinh tế xã hội nghiêm trọng cho Hàn Quốc trong thế kỷ XXI; những khó khăn đó bao gồm cả những chi phí cung cấp cho chăm sóc y tế đối với những người có tuổi và sự sụt giảm tương đối trong lực lượng lao động của Hàn Quốc, nhất là độ tuổi từ 18 đến 60.

    Bài viết sau đây đề cập tới những hậu quả kinh tế của những thay đổi trong cơ cấu dân số Hàn Quốc. Bàn tới những giải pháp mà Hàn Quốc cần thực hiện để đối phó với những hậu quả kinh tế do già hóa dân số gây nên.

    I. Những hậu quả kinh tế 1. Ở phương diện kinh tế vĩ mô

    Người ta cho rằng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Hàn Quốc sẽ giảm đi do những nhân tố sau đây: già hóa dân số, giảm tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động, gia tăng các chi phí gắn với chăm sóc và nuôi dưỡng người già, bảo trợ xã hội, giảm tiền tiết kiệm do xã hội ngày càng già đi, và sụt giảm trong đầu tư do sự giảm bớt các nguồn lực.

    Theo lý thuyết kinh tế, một xã hội già hóa sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu tiêu dùng tổng thể của nền kinh tế và làm giảm tỷ lệ việc làm trong số những người phụ thuộc. Những khoản tiết kiệm có xu hướng giảm đi khi một xã hội già hơn, do đó góp phần giảm đầu tư mà nguyên nhân là giảm các nguồn lực sẵn có, hậu quả cuối cùng là cản trở nền kinh tế tăng trưởng.

    Một số nhà nghiên cứu cho rằng quy mô và cơ cấu sẽ thay đổi nhiều bởi tỷ lệ gia tăng lực lượng lao động trong khu vực sản xuất sẽ tiếp tục suy giảm trong vòng 20 đến 30 năm tới. Các công trình nghiên cứu của trường KDI chỉ ra rằng sự suy giảm tự nhiên về nguồn cung lao động do dân số già đi nhanh chóng là một thực tế song có thể bù đắp bằng cách gia tăng số lao động nữ và người có tuổi, mở rộng độ tuổi nghỉ hưu lên và cho phép lao động nhập cư nhiều hơn. Tuy nhiên khi gia tăng số lao động nhập cư mà thiếu đi những chế tài để kiểm soát thì sẽ tạo ra những vấn đề xã hội khác trong cộng đồng dân cư.

    2. Đối với quỹ hưu trí và chính sách tài khoá của chính phủ

    Nhiều nhà dự báo cho rằng, các thế hệ tương lai của Hàn Quốc tất yếu phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng tài chính trừ phi nước này thực hiện một chính sách “công bằng xã hội và tiền lương có hiệu quả”. Không ít người lên án rằng trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, vấn đề công bằng xã hội và chính sách tiền lương ở quốc gia này đã được cải thiện nhiều. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều bất ổn. Và người ta cho rằng những bất ổn này đặc biệt là những bất ổn về tài khóa được dự báo có thể tạo ra sức ép lớn đẩy hệ thống đảm bảo xã hội của Hàn Quốc tới bờ vực sụp đổ. Nếu cơ cấu “chi trả bảo hiểm thấp – tiền lương cao” hiện tại tiếp tục được duy trì thì những khoản phí bảo hiểm mà thế hệ tương lai của nước này phải trả sẽ tăng lên khoảng 30% trong vòng 50 năm tới; và điều này vượt quá khả năng thanh toán của người dân.

    Một số nhà nghiên cứu kinh tế của trường Đại học tổng hợp quốc gia Seoul cho rằng dường như ở Hàn Quốc người ta không chuẩn bị cho một xã hội già hóa gắn với sự gia tăng giá trị đóng góp cho các quỹ hưu trí và thiếu những nỗ lực phù hợp để mở rộng nền tảng cho công tác quản lý các quỹ hưu trí và thực hiện chính sách tài khóa của chính phủ. Nền kinh tế tất yếu sẽ rơi vào tăng trưởng suy giảm do sự phân phối lệch lạc các nguồn lực và nếu Chính phủ Hàn Quốc không tạo ra những điều kiện thị trường thuận lợi cho các kế hoạch đầu tư trung và dài hạn cũng như thực thi một chính sách tài khóa có hiệu quả. Nói cách khác, đây cũng là những yếu tố cần thiết tạo nền tảng cho việc quản lý các quỹ hưu trí có hiệu quả hơn.

    Việc quản lý hệ thống quỹ hưu trí không chỉ trực tiếp tác động đến người lao động – những người đóng góp vào hệ thống quỹ này mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế nội địa. Thực tế cho thấy, sẽ hiệu quả hơn khi người ta huy động các nguồn lực tài chính từ hệ thống quỹ này để thực hiện những dự án cơ bản, từ đó tạo ra các đòn bẩy kinh tế. Ngược lại, nếu các quỹ hưu trí không được quản lý hiệu quả, sự phân phối các nguồn vốn có thể bị lệch lạc và làm suy giảm các nguồn lực để thanh toán cho những người hưởng lợi từ hệ thống này.

    Một cuộc điều tra về cách thức phân phối tài sản của các quỹ hưu trí công cộng và tư nhân của bảy nước phát triển cho thấy sự tồn tại của các thị trường vốn đã tạo cơ hội lớn hơn cho đầu tư, giúp nâng cao tính hiệu qủa trong quản lý rủi ro. Để đối phó với tiến trình già hóa dân số, việc quản lý hệ thống các quỹ hưu trí cần nhằm tới mục tiêu thúc đẩy xu hướng gia tăng đầu tư tư nhân và chính sách lãi suất thấp được tiếp tục sẽ dẫn tới mở rộng cơ hội đầu tư trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, sự tồn tại của những chuẩn mực kế toán lỗi thời đang được áp dụng ở nước này cộng với các quy định thiếu tính linh hoạt của chính phủ sẽ đẩy tới nguy cơ gia tăng rủi ro chất lượng quản lý hệ thống quỹ hưu trí và trong một chừng mực nào đó sẽ ảnh hưởng tới chính sách tài khóa của chính phủ.

    3. Đối với thị trường tài chính

    Một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy, trong khi tỷ lệ tài sản tài chính trong tổng tài sản hộ gia đình ở Hàn Quốc là đặc biệt thấp thì tỷ lệ tiết kiệm trong tài sản tài chính lại ở mức rất cao. Hiện tượng này chính là kết quả của nhu cầu nhà ở không ngừng gia tăng trong những người ở độ tuổi từ 30 đến 40. Và đây là phần dân số tăng nhanh nhất trong suốt 2 thập niên qua; chính vì vậy giá nhà ở đã gia tăng liên tục, người ta dự báo giá nhà ở Hàn Quốc vẫn tiếp tục gia tăng trong những năm sắp tới.

    Điều lưu ý là sự gia tăng nhu cầu về tài sản bất động sản và tài sản tài chính của các cá nhân chịu sự tác động trực tiếp của già hóa dân số và người ta cho rằng xu hướng này vẫn tiếp tục gia tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu tích lũy tài sản cũng tiếp tục tăng lên bởi người Hàn Quốc cho rằng tuổi thọ của họ sẽ tiếp tục được nâng cao. Đây là một thực tế, trong hơn một thập kỷ qua tuổi thọ trung bình của người Hàn Quốc tăng cao hơn 3%, đạt xấp xỉ 73 đến 74 tuổi.

    Để thoả mãn nhu cầu mở rộng tài sản tài chính cá nhân và giảm sự mất tương xứng tồn tại giữa việc giành được và quản lý tài sản, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc cho rằng, cần thiết phải đầu tư tài sản tài chính tích luỹ khi tiến trình già hóa đang gia tăng. Nhu cầu về trái phiếu và cổ phiếu sẽ tăng nhanh hơn do dân số già đi ngày càng đòi hỏi lợi tức ổn định từ tài sản tài chính, bất chấp trái phiếu của công ty hay chính phủ với thời gian đáo hạn dài hơn bởi các loại trái phiếu này thường có tính rủi ro nhiều hơn.

    Nếu chính sách tỷ lệ lãi suất thấp hiện tại được duy trì, trong khi các quỹ hưu trí tư nhân hoạt động và đầu tư có hiệu quả, tạo cơ sở cho tăng trưởng ổn định, thị trường chứng khoán Hàn Quốc rất có thể không ngừng mở rộng nhu cầu cho đến khi đất nước này xuất hiện nhiều người già. Các nhà nghiên cứu Hàn Quốc thường xem Hoa Kỳ là một ví dụ cho Hàn Quốc học hỏi kinh nghiệm về vấn đề này. Người ta nói, Hoa Kỳ với những điều kiện tương tự về tỷ lệ lãi suất thấp và giá cổ phiếu cao, đã đạt được sự bùng nổ của thị trường chứng khoán trong những năm 1980, nhờ đó Hoa Kỳ đã thoát khỏi tình trạng đình – lạm trong thập kỷ 70 và đã tạo đà cho nền kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng trong những năm sau đó.

    Một số nhà dự báo Hàn Quốc cho rằng khi dân số già đi tính an toàn của các khoản đầu tư phải được coi là ưu tiên hàng đầu bởi vậy việc giao phó cho những người chuyên nghiệp quản lý tài sản của họ là điều cần thiết. Và trên thực tế, thị trường quản lý tài sản chuyên nghiệp gần đây đã mở rộng đáng kể; chẳng hạn các ngân hàng cung cấp dịch vụ uỷ nhiệm cá nhân và dịch vụ ủy nhiệm ngân hàng tư nhân, thông báo các tài khoản của các công ty niêm yết và các kế hoạch bảo hiểm có thể được điều chỉnh từ các công ty bảo hiểm.

    Theo các nhà nghiên cứu Hàn Quốc để có thể giải quyết những tác động tiêu cực của già hóa dân số, nước này cần xúc tiến một số giải pháp sau đây:

    Hệ thống quỹ hưu trí hiện tại cần được cải cách để mở rộng vai trò của các thị trường vốn như là nơi phân phối nguồn lực tài chính bằng cách giúp các cá nhân đạt được lợi ích bổ sung từ tiền tiết kiệm nghỉ hưu và các quỹ hưu trí tư nhân hơn là chỉ đơn giản chú trọng đến cách tiếp cận phúc lợi xã hội từ các khoản thu nhập. Điều này sẽ có lợi bởi vì hệ thống quỹ hưu trí tạo cơ sở để mở rộng thị trường vốn và giúp xoá bỏ gánh nặng quản lý rủi ro mà các cá nhân phải đảm trách.

    2. Nuôi dưỡng các thị trường tài chính dài hạn

    Điều lưu ý là nếu các giải pháp nêu trên được thực thi sẽ tạo ra cơ hội để ổn định giá nhà ở, từ đó sẽ đáp ứng nhu cầu gia tăng của hộ gia đình về tài sản tài chính dài hạn. Đây được coi là một trong những giải pháp chính để nuôi dưỡng thị trường tài chính dài hạn ở Hàn Quốc. Người ta cho rằng, khi tỷ lệ tài sản tài chính cá nhân trong tổng tài sản của người Hàn Quốc được duy trì ở mức tối thiểu thì Chính phủ Hàn Quốc cần thực hiện các chính sách nhằm khuyến khích những người chuẩn bị về hưu hướng tới sở hữu tài sản tài chính hơn là sở hữu bất động sản. Đương nhiên điều này chỉ có thể thực hiện được nếu Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục các giải pháp, chính sách nhằm ổn định giá nhà ở. Theo cơ quan thống kê quốc gia của nước này, tỷ lệ những người trong độ tuổi 25 – 49 trong tổng số dân được dự báo lên đỉnh điểm rồi giảm xuống từ năm 2007 cũng là một yếu tố giúp làm giảm nhẹ đà tăng giá nhà ở trong dài hạn.

    Về mặt này, Chính phủ Hàn Quốc cần áp dụng các giải pháp khuyến khích các định chế tài chính tăng cường phát hành các loại chứng khoán cầm cố. Bên cạnh đó, thời gian đáo hạn cho loại các trái phiếu cầm cố nhà ở và bất động sản khác nên tăng lên khoảng 20 năm và có thể dài hơn nữa kết hợp với việc cho phép phát hành trái phiếu có tỷ lệ lãi suất linh hoạt. Phải chăng cần thực thi các giải pháp kích cầu đối với các sản phẩm chứng khoán cầm cố giữa các nhà đầu tư cá nhân hơn là dựa vào các định chế tài chính và quỹ hưu trí. Trong khi đó, các định chế tài chính cần tăng cường nỗ lực đảm bảo các nguồn tài chính hỗ trợ hoạt động cho vay cầm cố thông qua phát triển nhiều kênh và tạo ra sản phẩm cho vay cầm cố mới.

    Ngoài ra, Chính phủ Hàn Quốc cần có những giải pháp thích hợp để mở rộng thị trường trái phiếu công cộng dài hạn và trái phiếu chính phủ. Từ đó tạo điều kiện để thiết lập một thị trường trái phiếu chính phủ tích cực và linh hoạt, mở rộng nguồn cung tài chính dài hạn. Cũng theo các nhà nghiên cứu ở Đại học Yonsei về phương diện này, Hàn Quốc có thể tham khảo kinh nghiệm của Xingapo và Hồng Kông. Hai nền kinh tế này liên tục phát hành trái phiếu dài hạn để duy trì một thị trường trái phiếu chính phủ tích cực và trong những thời kỳ nhất định họ đã có thặng dư tài khoá.

    Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng thị trường trái phiếu Hàn Quốc cần được củng cố và nâng cao với nhiều sản phẩm đầu tư gián tiếp được cung ứng và coi đó như là phương tiện nuôi dưỡng nhu cầu trái phiếu công ty.

    Theo giáo sư Kim, “Cần chuẩn bị cho một xã hội đang già đi kết hợp với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dân số già hóa không nên coi là vấn đề không thể khắc phục; vấn đề là cần phải nỗ lực kịp thời và phải có những chính sách hợp lý để đối phó”. Ý kiến này được nhiều người chia sẻ; bởi như đã nói ở trên, dân số già đi đồng nghĩa với gia tăng nhu cầu ở cấp số nhân về chăm sóc y tế và dịch vụ phúc lợi xã hội. Do vậy có thể nói, việc chủ động ứng phó với tình hình này ngay từ bây giờ, đặc biệt là phải tạo ra một cơ chế tăng trưởng kinh tế mới và xúc tiến phát triển kinh tế công bằng được coi là nhiệm vụ cần làm ngay của cả chính phủ và người dân Hàn Quốc.

    Cùng với sự chủ động của chính phủ, sự nỗ lực của cá nhân nhằm chuẩn bị cho nghỉ hưu, bao gồm quản lý tài sản thận trọng và tận dụng những lợi ích thuế, được coi là những giải pháp đơn giản và cần thực hiện. Có thể nhấn mạnh rằng, nếu những giải pháp trên được thực hiện thì những tác động tiêu cực của già hóa dân số đối với nền kinh tế sẽ được giảm thiểu, thậm chí những thách thức gây ra bởi dân số già đi có thể trở thành cơ hội, tạo ra động lực bổ sung cho nền kinh tế Hàn Quốc phát triển theo hướng bền vững.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Ngô Xuân Bình, (chủ biên), (2007), Những vấn đề xã hội của Hàn Quốc, Nxb Lao động, Hà Nội, Việt Nam.

    2. Byung Nak Song, (2002), Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy, Nxb. Thống kê (Bản dịch).

    3. Charles K. Armstrong, (ed.), (2003), Korean Society, London, New York, : Routledge

    4. Ames Gross and Rachel Weintraub, (2005),Korea: 2005 Human Resources Update, Published by Pacific Bridge, Inc.

    5. Chung, Duck-Koo Eichengreen, Barry J., (2004), The Korean Economy Beyond the Crisis, Northampton, Mass. Edward Elgar Publishing, Inc.,

    6. Kim Kyong Dong and Lee On Jook, (ed.), (2003), The Two Korea: Social Change and National Integration, Korean Studies Series, No.23.

    7. Ames Gross and Caroline Tran (2002), Korea Returns As An Economic Force, Published in SHRM Global Perspectives, a publication of the Society for Human Resources Management Global Forum.

    8. Ames Gross, (2001), South Korea HR Update, Published by Pacific Bridge, Inc.

    9. Werner Pascha, Duisburg, (1997). Economic Globalization and Social Stabilization: A Dual Challenge for Korea, Working Papers on East Asian Studies, No.13.

    10. Ames Gross, (1996), Human Resource Issues in South Korea, Published by Pacific Bridge, Inc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản Và Những Ảnh Hưởng Đến Kinh Tế
  • Không Cần Tìm Đâu Xa, Đây Là 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Xuất Phát Từ Dạ Dày
  • Nguyên Nhân Gây Ra Bệnh Lý Hôi Miệng Và Cách Điều Trị
  • Nguyên Nhân Gây Ra Căn Bệnh Hôi Miệng
  • Nguyên Nhân Và Top 4 Cách Chữa Dứt Điểm Hôi Miệng Dạ Dày Tại Nhà
  • Già Hóa Dân Số: Thách Thức Lớn

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Các Nước Phát Triển
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước. Điều Bạn Chưa Biết
  • Ô Nhiễm Nước Và Các Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước
  • Gan Nhiễm Mỡ Có Nguyên Nhân Từ Đâu?
  • 9 Nguyên Nhân Gan Nhiễm Mỡ Thường Gặp Khiến Bạn Giật Mình!
  • Cách đây không lâu, chúng ta đã nói về cơ cấu “dân số vàng” của Việt Nam và coi đó là một lợi thế trong những điều kiện phát triển đất nước, vậy nhưng dân số Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hoá.

    Dân số “già trước khi giàu”

    Theo số liệu của Tổng cục Thông kê năm 2010 và một số nghiên cứu khác cho thấy, dân số Việt Nam đang già hoá với một tốc độ nhanh tới “chóng mặt”. Theo dự báo của Liên Hiệp Quốc cách đây chưa lâu thì tỷ lệ dân số già Việt Nam sẽ chỉ tăng từ 7,5% trong năm 2005 lên tới 26% vào năm 2050 và dự kiến năm 2014 tỷ lệ người già sẽ là 10%. Theo kết quả cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở ngày 1.4.2009, số người từ 60 tuổi trở lên là 9% thì đến năm 2010, con số này là 9,4% (tăng 0,4%). TS Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục DS – KHHGĐ cho rằng, đến thời điểm này, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số”. Ông cũng đưa ra dự báo, trong tương lai, tốc độ già hóa sẽ không phải 0,4% nữa mà sẽ là 0,5% – 0,6% và đến năm 2025, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già.

    Nguyên nhân của hiện tượng này là do tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm một cách nhanh chóng, cùng với nó là tuổi thọ tăng đã khiến dân số cao tuổi gia tăng nhanh hơn bất kỳ nhóm dân số nào khác. So với tốc độ từ “già hoá” chuyển sang “già”, Việt Nam đang có tốc độ nhanh nhất thế giới. Bởi các nước khác chuyển từ giai đoạn già hoá sang già như Nhật khoảng 26 năm, Thuỵ Điển mất tới 85 năm thì Việt Nam chỉ có 20 năm.

    Theo các chuyên gia trong lĩnh vực này, việc dân số già hoá không phải là chuyện gì ghê gớm. Đó là xu thế tất yếu, một mặt, phản ánh các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đã được nâng cao, mặt khác, cũng đặt ra thách thức lớn. Theo TS Giang Thanh Long, Phó viện trưởng Viện Chính sách công và Quản lý, trường Đại học Kinh tế quốc dân, điều đáng nói là dân số của chúng ta “già trước khi giàu”. Lịch sử của một con người cũng như của một đất nước, nếu chưa kịp tích luỹ trước khi tuổi già đến sẽ là chuyện đối phó với những thách thức lớn

    Số lượng người già tăng lên nhanh chóng sẽ là áp lực lớn

    với những quốc gia đang phát triển

    Ảnh: Hoàng Long

    Đảm bảo cuộc sống cho người già-bài toán khó

    Phân tích sâu những khó khăn mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong tương lai, TS Giang Thanh Long cho rằng: Thách thức trước mắt chính là tình trạng dân số “già trước khi giàu” và “thọ nhưng không khoẻ mạnh”. Điều đó sẽ gây áp lực lớn cho xã hội. Chẳng hạn, chi phí chữa bệnh cho một người cao tuổi bằng 7-8 lần chi phí chữa bệnh cho một trẻ em… Thách thức của cơ cấu dân số già về lâu dài đó là mức hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp xã hội ngày càng thấp do các bất cập trong qui định về chế độ này hiện nay.

    Theo các chuyên gia về lĩnh vực dân số, 3 thách thức lớn chúng ta sẽ gặp phải khi dân số bước vào giai đoạn già hoá.. Thứ nhất, già hoá dân số sẽ khiến cấu trúc gia đình thay đổi. Con người sống lâu hơn, sinh ít con hơn và cũng ít quyền được lựa chọn chăm sóc hơn. Hiện tại, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tinh thần cho người cao tuổi ở nước ta chưa phát triển, đa số người cao tuổi vẫn sống nương tựa vào con cháu. Các chuyên gia lo lắng, nếu nhịp độ già hoá dân số vẫn tăng nhanh đều như hiện nay thì chỉ trong khoảng vài chục năm tới, người cao tuổi ở nước ta sẽ gặp khó khăn về vấn đề chỗ ở. Thứ hai, già hoá dân số khiến thời gian sống sau nghỉ hưu tăng lên, làm gia tăng áp lực lên hệ thống y tế và hệ thống trợ cấp lương hưu. Đồng nghĩa với việc hệ thống bảo trợ xã hội cần được cải thiện. Tuy nhiên việc này không dễ thực hiện bởi ngân quỹ quốc gia còn hạn chế, hệ thống khám chữa bệnh chuyên khoa cho người già chưa phát triển. Hiện cả miền Bắc mới chỉ có duy nhất Viện Lão khoa quốc gia là BV chuyên khoa dành cho đối tượng người cao tuổi. Những chính sách an sinh xã hội cũng mới chỉ trợ giúp, đáp ứng được một phần nhu cầu cơ bản của một bộ phận người cao tuổi như: Người già neo đơn, không nơi nương tựa, người trên 85 tuổi… Thứ ba, già hoá dân số sẽ khiến những thách thức kinh tế mới nổi lên. Cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động giảm đi, cơ cấu nghề nghiệp sẽ thay đổi, gánh nặng kinh tế cho người lao động trẻ cũng cao hơn… Tất cả những hệ luỵ đó nếu không được giải quyết thoả đáng sẽ là thách thức to lớn cho sự phát triển toàn diện của đất nước trong tương lai không xa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Dân Số Việt Nam Già Hóa Nhanh Đến Vậy?
  • Ô Nhiễm Không Khí Được Gây Ra Bởi Những Nguyên Nhân Nào?
  • Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Nhiều
  • Phân Tích Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Môi Trường Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Những Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Không Khí Có Thể Bạn Chưa Biết?
  • Xu Hướng Già Hóa Trên Thế Giới Và Các Vấn Đề Đặt Ra Với Các Nước Đang Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Già Hóa Dân Số: Cơ Hội Và Thách Thức
  • Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiểm Môi Trường Nước
  • Tình Trạng Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngầm Ở Việt Nam
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nước Là Gì? Hậu Quả Của Ô Nhiễm Nước
  • Theo quy ước của Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên (60+) chiếm từ 10% trở lên hoặc tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên (65+) chiếm từ 7% trở lên thì được gọi là quốc gia “già hóa dân số”…

    Theo quy ước của Liên Hợp

    Quốc, một quốc gia có tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên (60+) chiếm từ 10% trở lên

    hoặc tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên (65+) chiếm từ 7% trở lên thì được gọi là

    quốc gia “già hóa dân số”.  Già hóa dân

    số là một quá trình mà tỷ lệ người trưởng thành và người cao tuổi (NCT) tăng

    lên trong cơ cấu dân số, trong khi tỷ lệ trẻ em và vị thành niên giảm đi, quá

    trình này dẫn tới tăng tuổi trung vị của dân số. Già hóa dân số là kết quả của

    quá độ nhân khẩu học trong đó mức chết và mức sinh đều giảm, cùng với tổng tỷ

    suất sinh giảm dần xuống mức sinh thay thế, tuổi thọ bình quân tăng lên làm

    tăng số lượng NCT.

     

    Già hóa dân số ngày càng diễn ra với tốc

    độ nhanh hơn, đặc biệt là tại các nước đang phát triển. Liên Hợp Quốc đã nghiên

    cứu và dự báo thế kỷ XXI là thế kỷ già hóa, vì thế nhiều nước trên thế giới rất

    quan tâm đến vấn đề già hóa dân số và tìm biện pháp ứng phó với vấn đề này. Tốc

    độ gia tăng dân số cao tuổi ngày càng mạnh và nhanh hơn các nhóm tuổi khác.

     

    Già hóa dân số phản ánh sự phát triển

    kinh tế – xã hội và những thành công trong công tác DS-KHHGĐ. Khi kinh tế, y

    tế, giáo dục … phát triển thì con người có dinh dưỡng đầy đủ hơn, có ý thức

    giữ gìn vệ sinh hơn, được bảo vệ chăm sóc sức khỏe tốt hơn nên tuổi thọ cao

    hơn, NCT trong xã hội ngày càng nhiều hơn. Trong khi đó, nhờ làm tốt công tác

    DS-KHHGĐ nên mỗi cặp vợ chồng sinh ít con hơn, số trẻ em trong tổng dân số có

    xu hướng giảm. Tuy nhiên, sự thay đổi cơ cấu dân số toàn cầu theo hướng già hóa

    tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống loài người: Xã hội, kinh tế, chính

    trị, văn hóa, tâm lý và tinh thần và ảnh hưởng đến từng cá nhân, cộng đồng của

    từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. Già hóa nhanh cũng sẽ gây những ảnh hưởng

    tương tự như tăng trưởng dân số nhanh, tạo áp lực cho hệ thống cơ sở hạ tầng,

    dịch vụ sức khỏe, hệ thống an sinh xã hội… cho NCT, cũng như những thay đổi

    trong quan hệ gia đình, tâm lý, lối sống… Áp lực này sẽ làm cho các vấn đề

    kinh tế-xã hội, môi trường có nhiều biến động không thể lường trước, kết quả là

    lại làm nảy sinh những vấn đề dân số mới.

     

    Trong một xã hội già hóa, tỷ lệ người cao

    tuổi tăng nhanh là một thách thức lớn đối với hệ thống bảo trợ xã hội/an sinh

    xã hội. Theo Hiệp hội An sinh Xã hội Quốc tế (ISAA), hơn một nửa nguồn lực dành

    cho các chương trình an sinh xã hội được phân bổ cho phụ cấp hưu trí. Số người

    về hưu và thời gian hưởng lương hưu tăng lên, đòi hỏi phải hình thành một hệ

    thống lương hưu dài hạn đủ sống, đang trở thành một sức ép đối với cả các nước

    phát triển và đang phát triển. Quá trình già hóa dân số này sẽ dẫn đến một số

    tác động như: Tiền trợ cấp hưu trí và thu nhập từ lương hưu sẽ phải chi trả một

    khoảng thời gian dài của cuộc sống; Chi phí chăm sóc sức khỏe sẽ tăng lên; Các

    mối quan hệ tồn tại giữa các thế hệ sẽ có thêm nhiều khía cạnh mới. Với các

    nước phát triển, già hóa dân số diễn ra từ từ, nhưng các nước này cũng đã vấp

    phải những thách thức nảy sinh từ mối quan hệ giữa quy mô dân số già ngày càng

    tăng, quy mô dân số lao động giảm dần tạo thêm áp lực cho quốc gia và người lao

    động khi phải cân đối nguồn lực cho tiết kiệm bảo hiểm tuổi già thông qua hệ

    thống an sinh xã hội. Các nước đang phát triển cũng phải đương đầu với hai

    thách thức: Đầu tư cho phát triển và thích ứng với già hóa dân số.

     

    Chăm sóc sức khỏe, nhân tố hàng đầu bảo

    đảm cho người cao tuổi có cuộc sống tốt về thể chất, tâm lý, xã hội và tinh

    thần, đang đặt ra nhiều vấn đề và khó khăn. Người cao tuổi có nhu cầu chăm sóc

    sức khỏe nhiều hơn (chi phí chăm sóc NCT cao 3-4 lần khi còn trẻ. Vấn đề phòng

    bệnh, dinh dưỡng, lối sống, bảo đảm cho người cao tuổi có cuộc sống tinh thần

    phong phú, hệ thống chăm sóc trong gia đình và cộng đồng, cũng như khám, chữa

    bệnh cho người cao tuổi đòi hỏi phải phát huy được nhiều nguồn lực khác nhau để

    thực hiện. Ở các quốc gia phát triển, mối quan tâm hàng đầu về sức khỏe là

    phòng ngừa và điều trị các bệnh không lây nhiễm, mà chủ yếu là các bệnh mãn

    tính (như tim mạch, ung thư, tiểu đường, rối loạn chuyển hóa, Alzheimer.. trong

    đó các bệnh mãn tính trở thành nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và giảm chất

    lượng cuộc sống). Trong khi các quốc gia đang phát triển vừa phải đối mặt với

    các bệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng và cả với sự gia tăng nhanh chóng của các

    bệnh không lây truyền trong điều kiện hệ thống chăm sóc sức khỏe còn thiếu

    thốn.

     

    Xóa đói nghèo đối với người cao tuổi là

    một thách thức không nhỏ. Tại nhiều quốc gia, những người sống và làm việc ở

    nông thôn thường có thu nhập thấp, ít người được hưởng các chế độ bảo trợ và an

    sinh xã hội, nếu có thì thường ở mức rất thấp. Người cao tuổi đa số thuộc nhóm

    những người nghèo nhất, nhất là phụ nữ cao tuổi. Người cao tuổi, đặc biệt những

    người không gia đình là dễ bị tổn thương khi gặp thiên tai và các tình huống

    khẩn cấp khác. Đây cũng là thách thức đặc biệt đối với các nước đang phát triển

    với phần lớn người cao tuổi sống tại khu vực nông thôn.

     

    Thêm vào đó, sự gia tăng người cao tuổi

    cũng đặt ra các thách thức như: bảo đảm môi trường sống thích hợp cho người cao

    tuổi để giúp họ có thể tham gia hoạt động cộng đồng. Vấn đề thiết kế xây dựng

    nhà ở và các công trình công cộng thuận tiện với người cao tuổi, bảo đảm cho

    người cao tuổi được hưởng lợi ích do sự phát triển kỹ thuật đem lại.

     

    Già hóa dân số, một vấn đề toàn cầu đang

    được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, xu hướng già hóa dân số mang tính

    lâu dài và không thể đảo ngược. Già hóa dân số đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo

    nhiều vấn đề kinh tế-xã hội cần phải giải quyết. Già hóa dân số không phải là

    một gánh nặng nhưng nó sẽ làm cho gánh nặng kinh tế và xã hội trở nên trầm

    trọng hơn nếu không có những bước chuẩn bị và thực hiện các chiến lược, chính

    sách thích ứng.

     

    Việt Nam là đất nước

    đang phát triển, có thu nhập thuộc hạng trung bình nhưng ở mức thấp, sẽ bước

    vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ cao. Theo kết quả Tổng điều tra dân số

    và nhà ở năm 2009, tỷ lệ dân số 65 tuổi trở lên của nước ta là 6,4% và đã tăng

    lên 6,8% năm 2010. Do vậy, cần có những chuẩn bị tích cực cho một xã hội nhiều

    người già trong khi thu nhập đầu người của Việt Nam còn thấp, mới đạt ở mức 1170

    USD (2010). Những thách thức của già hóa dân số ở nước ta là rất lớn, rất đa

    dạng và không thể vượt qua bằng những giải pháp đơn lẻ và ngắn hạn. Vì vậy, cần

    có những giải pháp, những chính sách đặc biệt là về an sinh cho người cao tuổi

    nhằm chăm sóc, phát huy tài năng trí tuệ của họ.

     

    (Theo

    Dân số và Phát triển)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dân Số Thế Giới Ngày Càng Già Đi
  • Thế Giới Lo Tình Trạng Dân Số Già
  • Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “Già” Rất Nhanh
  • Hôi Miệng Khi Mang Thai Phải Làm Sao? Có Nguy Hiểm Không?
  • Trị Hôi Miệng Cho Bà Bầu
  • Già Hóa Dân Số: Cơ Hội Và Thách Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiểm Môi Trường Nước
  • Tình Trạng Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngầm Ở Việt Nam
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nước Là Gì? Hậu Quả Của Ô Nhiễm Nước
  • Hậu Quả Của Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Việt Nam là 1 trong 10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới.

    Thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến hết năm 2022, cả nước có 11 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 11,95% dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên. Dự báo, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già vào năm 2035, khi tỷ lệ này tăng lên tới 20% với khoảng 21 triệu người cao tuổi, đến năm 2038 nhóm cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm đến 20% tổng dân số. Đến năm 2049, tỷ lệ người cao tuổi sẽ chiếm khoảng 25% dân số, tức là cứ 4 người dân có một người cao tuổi.

    Số liệu thống kê dân số cho thấy, Việt Nam đang ở cuối của thời kỳ “quá độ dân số” với ba đặc trưng rõ rệt, đó là tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng. Kết quả là dân số trẻ em có xu hướng giảm nhanh, dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh và dân số cao tuổi cũng tăng.

    Kết quả nghiên cứu của UNFPA – Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc cũng chỉ ra điều tương tự. Theo nghiên cứu, dân số cao tuổi Việt Nam tăng nhanh cả về số tương đối và tuyệt đối, và tăng nhanh hơn các nhóm dân số khác. Chỉ số già hóa tăng lên nhanh chóng. So với các nước trong khu vực và trên thế giới, thời gian để Việt Nam chuẩn bị đón nhận già hóa dân số ngắn hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, dân số cao tuổi Việt Nam có xu hướng “già ở nhóm già nhất”, tức là tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm lớn tuổi nhất (từ 80 trở lên) đã và đang tăng lên nhanh chóng.

    Một điều đáng nói, theo UNFPA, mô hình và nguyên nhân bệnh tật của người cao tuổi tại nước ta đang thay đổi nhanh chóng, từ bệnh lây nhiễm sang những bệnh không lây nhiễm theo mô hình bệnh tật của một xã hội hiện đại. Chi phí trung bình cho việc khám chữa bệnh của người cao tuổi cao gấp 7-8 lần chi phí tương ứng của một trẻ em. Mức độ tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế giữa các nhóm dân số cao tuổi rất khác nhau, trong đó dân số cao tuổi ở nông thôn, miền núi hoặc là dân tộc thiểu số có mức độ tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng còn thấp. Bản thân người cao tuổi cũng chưa ý thức được những nguy cơ bệnh tật. Tuổi thọ của người cao tuổi tăng lên, nhưng tuổi thọ khỏe mạnh lại cải thiện chậm.

    Rõ ràng, nếu không chuẩn bị một cách kỹ lưỡng ngay từ bây giờ thì dân số già không khỏe mạnh và không có thu nhập đảm bảo cuộc sống sẽ buộc Chính phủ phải có những khoản chi tiêu rất lớn và những khoản chi tiêu này sẽ tác động tiêu cực đến ngân sách nhà nước cũng như sự bền vững tài chính dài hạn của toàn bộ nền kinh tế.

    Mặc dù vậy, TS Nguyễn Ngọc Quỳnh – Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc cho rằng, già hóa dân số cũng cần được nhìn nhận trên khía cạnh tích cực. Dân số cao tuổi không có nghĩa hoàn toàn là gánh nặng mà đây là cơ hội lớn cho các ngành kinh tế dịch vụ cho người cao tuổi.

    Một ý kiến khác, GS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội nêu ra, nước ta hiện nay có khoảng 11,5 triệu người cao tuổi (chiếm khoảng 12% dân số), Tuy nhiên, trong số này có gần 7 triệu người nằm trong nhóm tuổi 60-69. Nhiều người còn sức khỏe và có trình độ nghề nghiệp khá cao (5,3% trong nhóm này có trình độ trung cấp nghề, mức chung của cả nước là chỉ có 4%, trình độ đại học là 7,6%). Đồng thời, nhiều người cao tuổi có kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, sản xuất phòng chống thiên tai, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Nếu không phát huy những giá trị này thì sẽ là sự lãng phí rất lớn cho sự phát triển bền vững kinh tế xã hội.

    Đương nhiên,để đối mặt với già hóa dân số, cần phải hoạch định những chiến lược, chính sách thực tế, xác đáng để thích ứng với tình hình. Đồng thời, điều quan trọng, quyết định nhất chính là việc giáo dục ý thức mỗi cá nhân về việc “lo cho tuổi già từ khi còn trẻ” bởi lo cho mình cũng chính là lo cho gia đình, cộng đồng và các thế hệ tương lai.

    Theo bà Naomi Kitahara, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam, già hóa là một tất yếu của sự phát triển. Chúng ta phải chuyển hướng trọng tâm từ việc đơn thuần giúp tiếp cận với tuổi già sang giúp tiếp cận với một tuổi già vui vẻ và hạnh phúc và tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của xã hội và đất nước.

    “Chúng ta đang tiến tới một tương lai tươi đẹp hơn mà chúng ta hằng mong ước, “không bỏ ai lại phía sau” sẽ mang lại cơ hội để người cao tuổi đóng góp cho xã hội. Chúng ta hãy tăng cường những quyền con người này và đảm bảo có sự tham gia đầy đủ của người cao tuổi để xây dựng xã hội tốt đẹp hơn cho mọi lứa tuổi”- bà Naomi Kitahara nhấn mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xu Hướng Già Hóa Trên Thế Giới Và Các Vấn Đề Đặt Ra Với Các Nước Đang Phát Triển
  • Dân Số Thế Giới Ngày Càng Già Đi
  • Thế Giới Lo Tình Trạng Dân Số Già
  • Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “Già” Rất Nhanh
  • Hôi Miệng Khi Mang Thai Phải Làm Sao? Có Nguy Hiểm Không?
  • Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ô Nhiễm Nguồn Nước, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Cách Khắc Phục
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước? Các Giải Pháp Khắc Phục?
  • 5 Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Nguồn Nước Hiệu Quả, Dễ Thực Hiện
  • Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Những Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Ô Nhiễm Nước
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Bảo Vệ Nguồn Nước
  • Nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Ảnh: DN

    Khái quát bức tranh dân số Việt Nam thời gian qua, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế cho biết, từ năm 2007, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng, chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,5 tuổi năm 2022, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người.

    Tuy nhiên, Việt Nam đang ở giai đoạn già hóa dân số với tỷ trọng và số lượng người cao tuổi ngày càng tăng. Điều này đã đặt ra những thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với già hóa dân số, trong đó có bao gồm việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

    Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, với tốc độ già hóa như hiện nay, đến năm 2038, nhóm dân số từ 60 trở lên của nước ta sẽ khoảng 21 triệu người, chiếm 20% tổng dân số. Cũng từ năm 2038, số người trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm. Các chuyên gia nhấn mạnh, xu hướng già hóa là tất yếu, chính vì vậy cần có những can thiệp chính sách kịp thời để duy trì cơ cấu dân số hợp lý.

    Các chuyên gia thừa nhận, quá trình già hóa dân số, nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi ngày càng tăng, là một thách thức rất lớn với hệ thống an sinh xã hội, hệ thống y tế và cộng đồng khi hiện nay chúng ta chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để ứng phó.

    Thống kê của ngành Y tế cho thấy, phần lớn người cao tuổi có cuộc sống khó khăn, thu nhập thấp, không ổn định hoặc không có thu nhập, sống phụ thuộc vào con, cháu… Số người cao tuổi có lương hưu, bảo hiểm, trợ cấp xã hội thấp cả về độ bao phủ và mức hưởng.

    Hiện nay, khoảng 70% số người cao tuổi nước ta sống ở nông thôn, làm nông nghiệp; hơn 70% số người cao tuổi không có tích lũy vật chất và chỉ có chưa đầy 30% số người cao tuổi sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội.

    TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, cán bộ chương trình, Quỹ Dân số Liêp hợp quốc (UNFPA) cho biết, nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Trung bình mỗi người cao tuổi có 2,7 bệnh; 14% người cao tuổi gặp khó khăn trong các hoạt động sống hàng ngày và cần hỗ trợ.

    “Số người cao tuổi gặp ít nhất 1 loại khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày tăng từ 28% ở người 60- 69 tuổi lên hơn 50% ở người 80 tuổi. Đặc biệt, gần 50% người cao tuổi không có thẻ BHYT”, TS. Quỳnh nêu.

    Nghiên cứu cũng chỉ rõ, nếu năm 2011 chỉ khoảng 1,5 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày thì tới năm 2022 số lượng đã lên tới 4 triệu người. Dự báo đến năm 2049, có khoảng 10 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày.

    Đa dạng mô hình chăm sóc người cao tuổi

    Để thích ứng với già hóa dân số, theo các chuyên gia dân số, Việt Nam cần phát triển và tăng cường quản lý dịch vụ chăm sóc xã hội, cũng như có cơ chế phối hợp công- tư trong cung ứng dịch vụ chăm sóc xã hội. Ðặc biệt, cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi cũng như gắn kết giữa chăm sóc y tế tại cộng đồng với dịch vụ chăm sóc xã hội.

    TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, Việt Nam cần có chiến lược sức khỏe và thúc đẩy già hóa khỏe mạnh trong suốt vòng đời, nhấn mạnh vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc phòng ngừa. Đồng thời phối hợp chăm sóc y tế và chăm sóc phi y tế (chăm sóc xã hội).

    Bên cạnh đó, theo TS. Quỳnh, Việt Nam cũng cần xây dựng chính sách, kế hoạch về dịch vụ và phân bổ ngân sách theo các cấp và các ngành để đảm bảo người cao tuổi tiếp cận được dịch vụ phù hợp.

    Để công tác chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi đạt hiệu quả cao nhất, thích ứng với già hóa dân số, theo TS. Vũ Công Nguyên, Phó Viện trưởng Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển, nước ta cần tích cực xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi để hỗ trợ đáp ứng những nhu cầu của người cao tuổi nhằm đạt mục tiêu sống khỏe mạnh, tham gia các hoạt động, an sinh xã hội.

    Bên cạnh đó, theo TS. Nguyên, Việt Nam cần đa dạng hóa mô hình chăm sóc người cao tuổi hiệu quả, chuyên nghiệp và phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc, điều dưỡng người cao tuổi gắn với chăm sóc tại gia đình, cộng đồng. Trong đó, cần phát triển nhiều mô hình như nhà dưỡng lão phù hợp với truyền thống văn hóa của người Việt. Đẩy mạnh phát triển y tế cơ sở để không chỉ phòng bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu mà đặc biệt là chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, tập trung vào các bệnh mãn tính.

    Còn ông Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục, Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế, Việt Nam cần phải chuẩn bị tiềm lực kinh tế, phát triển an sinh xã hội để mang lại cuộc sống hạnh phúc cho người cao tuổi. Đồng thời, phải có chiến lược dài hạn làm chậm thời gian chuyển đổi từ già hóa dân số sang dân số già.

    Ngoài ra, theo ông Phương, hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần được tiến hành toàn diện. Để làm được điều này, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục nhấn mạnh, không chỉ ngành Dân số mà cần có sự vào cuộc cả hệ thống chính trị các bộ, ngành đoàn thể, địa phương nhằm thích ứng với một xã hội già hóa dân số, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

    D.Ngân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Hàn Quốc
  • Thực Trạng Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản Và Những Ảnh Hưởng Đến Kinh Tế
  • Không Cần Tìm Đâu Xa, Đây Là 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Xuất Phát Từ Dạ Dày
  • Nguyên Nhân Gây Ra Bệnh Lý Hôi Miệng Và Cách Điều Trị
  • Nguyên Nhân Gây Ra Căn Bệnh Hôi Miệng
  • Chính Sách An Sinh Xã Hội Đối Với Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước & Cách Khắc Phục Hiệu Quả
  • Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị ⋆ Hồng Ngọc Hospital
  • Bệnh Cao Huyết Áp: Nguyên Nhân, Biến Chứng Và Cách Điều Trị
  • Bạn Đã Biết Những Nguyên Nhân Cao Huyết Áp Chưa?
  • Các Nguyên Nhân Gây Hạ Đường Huyết Thường Gặp
  • ĐỖ THỊ THU Học viện Ngân hàng.

    Tóm tắt: Già hóa dân số là một thành tựu xã hội to lớn của nhân loại và của mỗi quốc gia trong nỗ lực kéo dài tuổi thọ của con người. Tuy nhiên, già hoá dân số sẽ làm cho gánh nặng kinh tế – xã hội trở nên nghiêm trọng nếu quốc gia không có những bước chuẩn bị và thực hiện các chiến lược, chính sách thích ứng. Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ cao trong khi thời gian chuẩn bị thích ứng không còn nhiều. Do vậy, cần phải hoạch định các chiến lược, chính sách thực tế, xác đáng để thích ứng.

    Từ khoá: an sinh xã hội, già hóa dân số, quá độ dân số

    Abstract: Population aging is a great social achievement of mankind and of every country in an effort to extend the life of people. However, population aging will make the socio-economic burden serious if any country does not take proper steps to develop and adopt adaptive strategies and policies. Vietnam will enter a period of high population aging while adaptive pparation time is not much. Therefore, it is necessary to plan realistic, appropriate strategies and policies for adaption.

    Keywords: social security, population aging, population transition.

    1. Già hóa dân số ở Việt Nam

    Việt Nam đang trong giai đoạn “quá độ dân số” với hai xu hướng dân số diễn ra cùng lúc là “cơ cấu dân số vàng” và “dân số già hóa”. Xu hướng đầu thể hiện số lượng và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng lên, trong khi xu hướng sau thể hiện số lượng và tỷ lệ người cao tuổi (NCT) tăng lên. Già hóa dân số ở Việt Nam là kết quả của hai xu hướng dân số nổi bật trong ba thập kỷ gần đây, đó là tỷ suất sinh giảm và tuổi thọ tăng. Kết quả là dân số trẻ em có xu hướng giảm, dân số trong độ tuổi lao động tăng và dân số cao tuổi tăng.

    Theo UNFPA (2011), một nước sẽ bước vào giai đoạn “bắt đầu già” khi dân số cao tuổi chiếm 10% tổng dân số và giai đoạn “già” khi dân số cao tuổi chiếm 20% tổng dân số. Với định nghĩa này, các dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (TCTK, 2022) cho giai đoạn 2014-2049 cho thấy dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “bắt già hóa” từ trước năm 2014 và chỉ khoảng 20 năm để dân số Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “già” (Giang Thanh Long, 2022);. Đây là một khoảng thời gian rất ngắn so với nhiều nền kinh tế phát triển khác bởi các nước này phải mất vài chục năm, thậm chí cả thế kỷ, để thay đổi như vậy. Về số lượng NCT, Việt Nam hiện có khoảng 10,1 triệu người, trong đó số người từ 80 tuổi trở lên là khoảng 2 triệu người. Với cùng dự báo dân số, tỉ số phụ thuộc dân số (tính bằng số người từ 60 tuổi trở lên so với số người trong độ tuổi lao động 15-59) được dự báo tăng gấp hơn ba lần, từ 14% năm 2014 lên 43% năm 2049. Tỷ lệ NCT chính thức vượt tỷ lệ trẻ em (từ 0-14 tuổi) vào năm 2040.

    Nguồn: Các tác giả tự minh họa bằng số liệu của Tổng cục Thống kê (2016)

    Quá trình già hóa dân số ở Việt Nam có một số đặc trưng như sau:

    Thứ nhất, dân số cao tuổi ở Việt Nam có xu hướng “già ở nhóm già nhất”, tức là tỷ lệ NCT ở nhóm lớn tuổi nhất (từ 80 trở lên) đã và đang tăng lên nhanh chóng;

    Thứ hai, tỷ số giữa phụ nữ cao tuổi và nam giới cao tuổi tăng mạnh khi xét theo từng lứa tuổi (UNFPA, 2011; TW Hội LHPN Việt Nam, 2012). Trong nhân khẩu học, hiện tượng này được gọi là “nữ hóa dân số cao tuổi”. Tính toán của các tác giả từ Điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) 2022 cho thấy tỷ số giữa số phụ nữ cao tuổi với số nam giới cao tuổi theo các nhóm tuổi 60-69; 70-79 và 80 trở lên tương ứng là 128/100; 141/100 và 183/100. Dự báo dân số của TCTK (2016) cũng cho kết quả tương tự trong các năm dự báo.

    Thứ ba, “già hóa” dân số không đồng đều giữa các tỉnh và vùng. Một số địa phương có tốc độ già hóa nhanh do tỷ suất sinh thấp hoặc do dân số trẻ di cư, trong khi một số địa phương lại có tốc độ già hóa chậm do tỷ suất sinh và tỷ lệ trẻ em còn cao và rất cao.

    Tốc độ “già hóa dân số” nhanh sẽ tác động tới nhiều lĩnh vực đời sống xã hội như hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hệ thống an sinh xã hội, việc làm, tuổi nghỉ hưu, quan hệ gia đình, tâm lý, lối sống… đặt ra yêu cầu, thách thức là cần phải xây dựng một xã hội thích ứng với giai đoạn “già hóa dân số” của đất nước. Chúng ta cũng nhận thức chưa đầy đủ về việc đảm bảo quyền và khả năng tiếp cận, thụ hưởng chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, an toàn và môi trường thân thiện với NCT. Theo một số chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (Ronald Lee, Andrew Mason và Daniel Cotlear, 2010) thì già hóa dân số sẽ gây nên nhiều tác động kinh tế, xã hội sâu rộng. Nó sẽ ảnh hưởng lên thị trường lao động và mang lại nhiều thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và toàn bộ người dân nói chung.

    Hiện nay, Chính phủ đã và đang tiếp tục nghiên cứu xây dựng chính sách chăm sóc sức khỏe dài hạn. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về kinh tế khi triển khai chính sách này, nhất là khi phần lớn NCT luôn có ít nhất một bệnh mạn tính trở lên và điều kiện kinh tế khá khó khăn. Vì thế, thích ứng với già hóa dân số, là một công việc nhiều thách thức đòi hỏi sự tham gia của các ngành, các cấp.

    Trong thời gian qua, Bộ Y tế đã ban hành Đề án chăm sóc sức khỏe NCT với nhìn nhận một cách toàn diện, tăng cường chăm sóc NCT ngay tại cộng đồng. Nếu chỉ dựa vào bệnh viện hay nhà dưỡng lão chi phí sẽ cao và tốn kém hơn. Người Việt Nam có văn hóa gia đình, là việc các thế hệ cùng chung sống trong một gia đình được thế giới đánh giá là nét văn hóa tốt, là điểm mạnh để tiến hành tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho NCT tại cộng đồng. Bộ Y tế cũng đang triển khai mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng và khuyến khích các doanh nghiệp và tư nhân cùng tham gia.

    Nguồn: Điều tra về NCT Việt Nam (VNAS) năm 2011

    Cùng lúc đó, NCT Việt Nam cũng đối mặt với tình trạng khó khăn trong thực hiện các công việc hàng ngày (ADLs – activities of daily living). Tỷ lệ NCT đối mặt với việc khó khăn có sự khác biệt lớn theo nhóm tuổi và giới tính. Điều này đòi hỏi phải có sự chăm sóc thường xuyên của gia đình, cộng đồng hoặc cơ sở chăm sóc. Một thách thức không nhỏ là gia đình NCT đang chuyển nhanh từ gia đình truyền thống nhiều thế hệ sang gia đình hạt nhân, trong đó tỷ lệ hộ gia đình chỉ có vợ chồng NCT sống với nhau ngày càng tăng lên và dẫn tới tình trạng người già chăm sóc người già. Xét theo khía cạnh giới, tỷ lệ phụ nữ cao tuổi sống một mình, góa chồng cao hơn nhiều tỷ lệ nam giới sống một mình, góa vợ. Sự rủi ro về sức khỏe thể chất cũng như tinh thần và khả năng tự chăm sóc ngày càng giảm đòi hỏi phải có hệ thống chăm sóc dài hạn rộng rãi, tốt thì mới đảm bảo chất lượng cuộc sống của NCT.

    2. Già hoá dân số đối với vấn đề chế độ hưu trí và trợ cấp cho NCT: Tỷ lệ NCT đang hưởng hưu và trợ cấp xã hội tăng lên nhưng vẫn còn thấp. Tỷ lệ “nhóm giữa mất tích” (missing middle) (tức là NCT không phải giàu, cũng không phải nghèo không được hưởng bất kỳ khoản hưu trí hoặc trợ cấp nào) chiếm gần 50% NCT (Vụ BHXH, Bộ LĐ-TB&XH, 2022) (Hình 3). Mức hưởng trợ cấp còn thấp và chậm điều chỉnh nên sức mua của khoản trợ cấp giảm đi theo thời gian. Tổng lương hưu và trợ cấp của NCT chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng thu nhập của hộ gia đình cao tuổi.

    Hình 3: Độ bao phủ của hưu trí đối với NCT Nguồn: Vụ BHXH, Bộ LĐ-TB&XH (2017)

    Do chính sách an sinh xã hội vẫn còn những khoảng trống, tình trạng người lao động rút khỏi hệ thống an sinh xã hội gia tăng trong thời gian gần đây khiến NCT mất cơ hội có lương hưu khi tới độ tuổi quy định. Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, số lượng người lao động làm thủ tục bảo hiểm xã hội (BHXH) hưởng chính sách trợ cấp một lần đang gia tăng. Những năm gần đây, theo báo cáo thống kê của Cơ quan BHXH Việt Nam, bình quân mỗi năm có khoảng hơn 600.000 người làm thủ tục BHXH một lần. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó phải kể đến điều kiện để được hưởng BHXH một lần quá rộng rãi (chỉ cần nghỉ việc một năm không tiếp tục tham gia BHXH). Mặt khác, điều kiện tối thiểu về thời gian đóng BHXH để được hưởng lương hưu khá dài (20 năm), làm nản lòng một số bộ phận người lao động. Bên cạnh đó, tâm lý của người Việt Nam là “trẻ cậy cha, già cậy con” vẫn còn nặng nề, chưa hình thành văn hóa đóng – hưởng để tự bảo đảm an sinh khi về già. Đời sống người lao động nói chung còn khó khăn, nhiều người lao động mong muốn có một khoản chi tiêu trước mắt (như khám, chữa bệnh, xây nhà…).

    Theo kết quả báo cáo nghiên cứu do Tổ chức Dịch vụ hưu trí toàn cầu Ernst&Young phối hợp thực hiện với BHXH Việt Nam mới đây, BHXH đang gặp nhiều thách thức trước bối cảnh già hóa dân số tại Việt Nam. Mức độ cam kết tham gia của người sử dụng lao động với chế độ hưu trí nói riêng hay chính sách BHXH nói chung của Việt Nam còn thấp; tuổi nghỉ hưu thấp nên tỷ lệ hưởng lương hưu ở mức tối đa cao và dài. Hiện nay, số người được hưởng lương hưu mới có khoảng gần 2,3 triệu; số tiền tuyệt đối đóng vào quỹ BHXH không cao do tiền lương làm căn cứ đóng BHXH chỉ chiếm khoảng 60% thu nhập thực tế. Theo BHXH Việt Nam, 70% NCT không có tích lũy vật chất; 2,3% gặp khó khăn, thiếu thốn; trên 70% NCT vẫn tự lao động kiếm sống cùng với sự hỗ trợ của con cháu và gia đình và chỉ có hơn 25,5% sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội.

    Về trợ cấp xã hội, trợ cấp cho NCT được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP với mức trợ cấp thấp nhất là 270.000 đồng/tháng. Mức trợ cấp tối thiểu này mới chỉ bằng 45% chuẩn nghèo chung (lương thực) và bằng khoảng 22% chuẩn nghèo phi lương thực. Cùng với sự trượt giá của đồng tiền trong thời gian qua, sức mua của khoản trợ cấp đối với NCT bị giảm đáng kể trong những năm qua: nghiên cứu của Bộ LĐ-TB&XH và UNDP (2015) cho thấy sức mua của khoản trợ cấp xã hội cho NCT đã từ năm 2007 đến năm 2014 đã giảm hơn 25%.

    Thứ nhất, nâng cao ý thức và hiểu biết của các nhà quản lý, hoạch định chính sách cũng như của toàn bộ cộng đồng về những thách thức của già hóa dân số và đời sống của NCT. Thực tế cho thấy, khi thực hiện thay đổi chính sách nào, chúng ta cần nâng cao nhận thức của các nhà hoạch định chính sách và toàn xã hội về vấn đề đó. Do vậy, nếu vấn đề già hóa dân số và thực trạng dân số cao tuổi không được đánh giá, quan tâm sâu sắc thì sẽ không có sự thay đổi các chính sách hiện có hoặc đề xuất xây dựng chính sách mới phù hợp với xu hướng già hóa và thực trạng dân số cao tuổi. Những thách thức mà các quốc gia có dân số già và rất già như Nhật Bản, các nước Châu Âu (như Ý, Đan Mạch, Phần Lan…) là những bài học thực tiễn cho Việt Nam, đó là cần phải chuẩn bị ngay các chính sách, chương trình hướng tới một dân số già nhưng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế còn thấp.

    Thứ hai, cần giải quyết đồng bộ các chính sách tăng trưởng, phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội nhằm đảm bảo và cải thiện thu nhập của NCT từ lao động và hưu trí. Theo đó, phát triển kinh tế phải gắn liền với các mục tiêu xã hội và phải được coi là chiến lược quan trọng hàng đầu. Để làm được điều này, chúng ta phải tận dụng tốt cơ hội “dân số vàng” ngay từ hiện tại, điều này sẽ giúp dân số già ở nước ta có thu nhập và sức khỏe tốt trong tương lai. Nguồn thu nhập ổn định nhất của NCT chính là tiền lương hưu được hưởng từ việc họ đã đóng góp trong suốt thời gian làm việc. Do đó, cần phải cải cách hệ thống hưu trí theo một lộ trình nhất định nhằm đảm bảo sự công bằng, ổn định, phát triển quỹ và phù hợp với tình hình phát triển thị trường tài chính. Ngoài việc đảm bảo mối quan hệ đóng – hưởng sát thực hơn thì việc chuyển đổi cơ chế hoạt động của hệ thống hưu trí sẽ góp phần cải thiện cân bằng quỹ hưu trí một cách đáng kể, đặc biệt việc đầu tư quỹ hưu trí được chú trọng và có hiệu quả hơn. Các loại hình bảo hiểm cũng cần được đa dạng nhằm tăng cường khả năng tiếp cận của các nhóm dân số, đặc biệt chú trọng đến mở rộng hệ thống bảo hiểm tự nguyện với thiết kế linh hoạt, phù hợp với khả năng đóng góp và chi trả của đối tượng và có khả năng liên thông với các loại hình bảo hiểm khác. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội cũng đã thể hiện rõ quan điểm đổi mới là “Phát triển hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế; huy động các nguồn lực xã hội theo truyền thống tương thân tương ái của dân tộc; hướng tới bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; kết hợp hài hoà các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.”

    Bên cạnh đó, Chính phủ cần triển khai các chương trình thu hút NCT tham gia hoạt động kinh tế, đặc biệt với các ngành, lĩnh vực mà đào tạo thông qua thực hành là chủ yếu nhằm tiết kiệm được một nguồn lực lớn cho đào tạo.

    Trợ cấp xã hội cho nhóm NCT có điều kiện khó khăn cũng cần được mở rộng và tiến tới một hệ thống phổ cập cho mọi NCT, đặc biệt, cần chú trọng hỗ trợ NCT ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa và phụ nữ cao tuổi. Mức hưởng và cách thức trợ cấp cần được xem xét cho phù hợp với điều kiện sống và sức khỏe của NCT. Việc xác định đối tượng cần phải cải cách để tránh sai sót trong lập hồ sơ và phê duyệt đối tượng được hưởng.

    Thứ ba, tăng cường chăm sóc sức khỏe, xây dựng và mở rộng các dịch vụ chăm sóc NCT với sự tham gia tích cực, chủ động của mọi thành phần xã hội và nâng cao năng lực quốc gia về chăm sóc NCT. Trong đó, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe và nâng cao nhận thức, ý thức về sức khỏe cho mọi lứa tuổi để chuẩn bị cho một tuổi già khỏe mạnh, tránh bệnh tật, thương tật và tàn phế. Bộ Y tế cần chú trọng đến việc quản lý và kiểm soát các bệnh mạn tính (đặc biệt như tim mạch, tăng huyết áp, thoái khớp, tiểu đường, ung thư…) cùng với việc ứng dụng các kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị sớm, điều trị lâu dài các bệnh mạn tính; cần tạo ra môi trường sống thân thiện cho NCT. Đặc biệt, phải có một chương trình mục tiêu quốc gia toàn diện về chăm sóc NCT mà trong đó cần xác định một số mục tiêu lượng hoá được và có tính đặc trưng giới để cải thiện tình trạng sức khỏe NCT, giảm thiểu các bệnh mạn tính, tàn phế và tử vong khi bước vào tuổi già. Bên cạnh đó, xây dựng và củng cố mạng lưới chăm sóc dài hạn cho NCT, trong đó chăm sóc tại nhà và cộng đồng cần được chú trọng.

    Thứ tư, tăng cường vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, chính trị – xã hội – nghề nghiệp trong việc xây dựng, vận động và thực hiện chính sách cho già hóa dân số và NCT. Các hoạt động vận động gia đình, cộng đồng và toàn xã hội tham gia chăm sóc NCT cần được thúc đẩy và nhân rộng; cần kết hợp với các cơ quan chuyên môn trong nghiên cứu và đề xuất việc đa dạng hóa cách thức, mô hình tổ chức cuộc sống cho NCT như sống cùng con cháu, sống tại nhà dưỡng lão hoặc tại các cơ sở chăm sóc NCT tại cộng đồng… Tổ chức các hoạt động cộng đồng cho NCT một cách thường xuyên nhằm nâng cao hiểu biết và đóng góp ý kiến của NCT với các chính sách của nhà nước cũng như đời sống của cộng đồng.

    Thứ năm, cần phải xây dựng được cơ sở dữ liệu có tính đại diện quốc gia và thực hiện các nghiên cứu toàn diện về dân số cao tuổi. Đây sẽ là những đầu vào quan trọng cho việc đề xuất các chính sách, chương trình can thiệp thiết thực, có trọng tâm và hiệu quả; cần khắc phục sự kết nối lỏng lẻo giữa nghiên cứu và chính sách vì đây là điểm yếu nhất khi bàn đến già hóa dân số và dân số cao tuổi ở Việt Nam và là một nguyên nhân khiến cho việc bàn luận các chính sách cho NCT vẫn còn hời hợt và hầu hết NCT được xem là gánh nặng cần phải giải quyết thay vì coi họ là những người có đóng góp lớn cho nền kinh tế và gia đình thông qua các hoạt động kinh tế và xã hội.

    1. UNFPA (Quỹ Dân số Liên hợp quốc). 2011. “Già hóa dân số và NCT ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách”. Hà Nội: Quỹ Dân số LHQ.

    2. Bộ Y tế và Nhóm đối tác y tế. 2022. “Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế 2022: Hướng tới già hóa khỏe mạnh”. Hà Nội: Nhà xuất bản Y học.

    3. Le Duc Dung and Giang Thanh Long. 2022. “Gender differences in pvalence and associated factors of multi-morbidity among older persons in Vietnam”, International Journal on Ageing in Developing Countries, 1(2): 113-132.

    4. TW Hội LHPN Việt Nam. 2012. “Điều tra về NCT Việt Nam 2011: Những kết quả chủ yếu”. Hà Nội: NXB Phụ nữ.

    5. Tổng cục Thống kê. 2022. “Dự báo dân số Việt Nam, giai đoạn 2014-2049”. Hà Nội: Tổng cục Thống kê.

    6. WHO (Tổ chức Y tế Thế giới). 2022. “World Report on Ageing and Health 2022”. Geneva: WHO.

    8. Ronald Lee, Andrew Mason và Daniel Cotlear. 2010. “Some Economic Consequences of Global Aging – A Discussion Note for the World Bank”. Washington D.C: World Bank.

    9. Vụ BHXH, Bộ LĐ-TB&XH. 2022. “Tình hình thực hiện BHXH ở Việt Nam”. Báo cáo trong Hội thảo Bộ LĐ-TB&XH và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về tình hình bao phủ hệ thống BHXH ở Việt Nam, tháng 11/2017.

    10. Bộ LĐ-TB&XH và UNDP. 2022. “Báo cáo hỗ trợ kỹ thuật cho Đề án đổi mới hệ thống trợ giúp xã hội”. Dự án Đổi mới hệ thống trợ giúp xã hội (SAP).

    11. Giang Thanh Long. 2022. “Aging and Pension Reforms in Vietnam”. Bài giảng cho khóa học The Pension Electives Course tại Trung tâm Đào tạo Quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ITCILO), ngày 20/9/2018 ở Turin, Ý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Phổ Biến & Cách Điều Trị Dứt Điểm
  • Tổng Hợp Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng
  • Ô Nhiễm Không Khí Là Gì? Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Không Khí
  • Tổng Hợp Những Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Nhiều
  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Nguyên Nhân Hậu Quả Và Biện Pháp
  • Hàn Quốc: Báo Động Tình Trạng Già Hóa Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Đe Dọa Tương Lai Của Hàn Quốc
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Dân Số Nhật Bản: Nguyên Nhân Nào Dẫn Đến Sụt Giảm Dân Số?
  • Top 2 Nguyên Nhân Chính Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương
  • Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương Và Biện Pháp Phòng Chống
  • Người cao tuổi tại Seoul, Hàn Quốc. (Nguồn: AFP)

    Cụ thể, gần một nửa dân số Hàn Quốc đến năm 2067 sẽ là nhóm người từ 65 tuổi trở lên và điều này đặt ra những thách thức lớn cho việc đảm bảo an sinh xã hội của nền kinh tế lớn thứ tư châu Á này.

    Theo báo cáo trên, dân số của Hàn Quốc được dự báo sẽ giảm từ 51,7 triệu người trong năm 2022, còn 39 triệu người vào năm 2067. Cùng với đó, nhóm người trên 65 tuổi cũng tăng vọt từ tỷ lệ 14,9% hiện nay, lên mức 46,5%. Những quốc gia có tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên trên chiếm 21% tổng dân số được xếp loại nước dân số già.

    Trong khi đó, trong 48 năm tới, dân số thế giới được dự báo sẽ tăng từ 7,71 tỷ người hiện nay lên 10,38 tỷ người. Tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên sẽ tăng từ 9,1% lên 18,6%. Với những con số dự báo nêu trên, Hàn Quốc sẽ trở thành quốc gia có tỷ lệ dân số già cao nhất trong tổng số 201 nước trên thế giới vào năm 2067, vượt Mỹ (25,1%), Trung Quốc (29,9%) và Nhật Bản (38,1%).

    Cũng theo báo cáo này, nhóm dân số dưới 15 tuổi của Hàn Quốc sẽ giảm từ 12,4% hiện nay, còn 8,1% vào năm 2067 và số người trong độ tuổi lao động của Hàn Quốc (15-64) có thể giảm từ 72,7% còn 45,4% trong cùng thời gian trên. Điều này có thể làm gia tăng gánh nặng tài chính đối với thế hệ trẻ và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của Hàn Quốc trong vài chục năm tới.

    Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc giảm và tuổi thọ tăng. Năm 2022, tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc giảm xuống con số kỷ lục 0,98. Trước đó, năm 2022, Seoul ghi nhận tỷ lệ sinh giảm xuống mức 1,05 – mức thấp nhất trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

    Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc giảm là do thế hệ trẻ Hàn Quốc đang “trốn tránh” hẹn hò, kết hôn và sinh con do họ không thể tìm được việc làm ổn định trong thời kỳ kinh tế suy giảm.

    So với tuổi thọ trung bình của các nước trên thế giới, tuổi thọ trung bình của người Hàn Quốc cao hơn hẳn, ghi nhận ở mức 82,5 tuổi giai đoạn 2022-2020, trong khi thế giới là 72,3 tuổi.

    Hãy coi người cao tuổi là tài sản thay vì gánh nặng xã hội

    “Để tiến đến một xã hội già hóa thành công, chúng ta cần thay đổi nhận thức của toàn xã hội, coi người cao tuổi …

    Người dân Hàn Quốc khốn đốn vì vay nợ hộ gia đình

    Lee Sang-Kuk, một người lao động Hàn Quốc phải làm tới hai công việc cùng một lúc nhưng vẫn không thể kiếm đủ tiền để …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản
  • “già Hóa” Dân Số Của Việt Nam Nhanh Nhất Thế Giới
  • Giải Bài Tập Địa Lí 11
  • 6 Nguyên Nhân Gây Hôi Miệng Khiến Bạn Không Ngờ Tới
  • Hôi Miệng: Nguyên Nhân, Cách Chữa
  • Một Số Phương Pháp Thai Giáo Của Các Nước Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả Công Việc
  • Phương Pháp Đánh Giá Thực Hiện Công Việc Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Đánh Giá Thực Hiện Công Việc Với 7 Phương Pháp Phổ Biến
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Vai Trò Của Phương Pháp Luận Trong Triết Học
  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì?
  • Đối với phương pháp thai giáo ở Mỹ thì hoạt động tâm lý của mẹ bầu, nhất là tình thương của người mẹ ảnh hưởng rất tích cực tới thai nhi. Vì thế, các nhà nghiên cứu luôn khuyên những bà mẹ phải luôn giữ một tâm lý thoải mái và có mộ chế độ dinh dưỡng hợp lý.

    Các mẹ nên trò chuyện với thai nhi một cách có hệ thống, cho thai nhi nghe nhạc, vỗ và xoa ở các vị trí nhất định trên bụng. Các bước thực hiện phương pháp này như sau:

    – Người mẹ dùng một máy phát âm hướng vào phía thai nhi và cho con nghe đi nghe lại các câu chữ.

    – Sau đó, mẹ sẽ đổi từ máy phát câu chữ sang phát nhạc

    – Cuối cùng cho thai nhi luyện tập các động tác “đá vào bụng mẹ”.

    Phương pháp giáo dục như vậy giúp cho sự phát triển tư duy của bé và tạo điều kiện cho hệ thần kinh của bé phát triển. Khi chào đời, bé có thể học tập dễ dàng hơn.

    Phương pháp thai giáo Haptonomy ở Pháp

    Khi thực hiện phương pháp thai giáo này các mẹ cần thực hiện những bước sau:

    – Ba hoặc mẹ dùng tay chạm vào bụng bầu thật nhẹ nhàng và yêu thương để bé có thể cảm nhận hơi ấm từ ba mẹ truyền đến.

    Bé ở những tuần cuối của tam cá nguyệt thứ 2 rất nhạy cảm với nhiệt độ và những tác động từ bên ngoài tử cung của mẹ. Nên khi ba mẹ xoa bụng, bé sẽ cảm nhận được nơi nào có hơi ấm và di chuyển đến nơi đó.

    – Sau khi bé di chuyển, bạn sẽ cảm nhận được cơ thể của bé từ bên ngoài

    – Khi ba mẹ di chuyển bàn tay, bé sẽ di chuyển theo nơi có hơi ấm đó.

    Phương pháo thai giáo Haptonomy giúp tạo một mối liên kết giữa mẹ và bé, giữa bé và những người thân trong gia đình. Ngoài ra, còn giúp điều chỉnh tư thế của thai nhi khi sinh và hỗ trợ thêm cho thai nhi phát triển trí não vượt trội.

    Phương pháp thai giáo ở Nhật Bản

    Nhật Bản là nước rất coi trọng thai giáo. Các phương pháp thai giáo được kết hợp từ các học thuyết và kinh nghiệm dân gian. Các chuyên gia y học cùng với các chuyên gia giáo dục ở Nhật Bản đã áp dụng những kỹ thuật và thiết bị tiên tiến, đưa ra các phương pháp như y học về thai nhi, giáo dục tâm lý ở giai đoạn thai nhi.

    Theo đó, thai nhi 5 tháng tuổi có thể nghe được âm thanh từ bên ngoài truyền vào trong tử cung, đồng thời có thể nhìn thấy được những tia sáng từ bên ngoài xuyên qua tử cung. Vì thế, khi mẹ cho thai nhi nghe nhạc hay trò chuyện với con lúc này sẽ giúp thai nhi ghi nhớ âm thanh từ bố mẹ và người thân, từ đó giúp bé phát triển trí não một cách tốt nhất.

    Phương pháp thai giáo Taegyo của Hàn Quốc

    Đây là phương pháp giáo dục truyền thống có từ năm 1392, dựa trên triết lý một thai nhi đã trở thành một người hoàn chỉnh tại chính thời điểm thụ thai. Phương pháp này chú trọng đến sự ổn định cảm xúc của người mẹ. Người mẹ khi thực hành phương pháp Taegyo phải có tinh thần thoải mái, vui vẻ thì thai nhi mới phát triển tốt được. Bên cạnh đó các mẹ bầu cũng phải có một lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống tốt nhất cho cả hai mẹ con.

    Trong suốt quá trình mang thai, mẹ bầu sẽ thường xuyên đọc sách, nghe nhạc, trò chuyện với em bé. Thêm vào đó, mẹ bầu nên tập thể dục nhẹ như đi bộ, tập yoga hay đi du lịch đây đó để thư giãn, gặp gỡ những người mới. Điều này sẽ mang lại cảm giác sôi nổi, vui tươi cho mẹ và lan truyền sang bé.

    Phương pháp thai giáo ở Trung Quốc

    Nền giáo dục Trung Quốc từ xưa đã coi trọng việc thai thai qua con đường tiềm thức để từ đó mở đường cho việc truyền đạt tri thức qua con đường ý thức sau khi trẻ chào đời. Người mẹ khi mang thai không để cơ thể mệt nhọc, ăn chín uống sôi, ăn nhiều thức ăn dinh dưỡng, không nên ở trong nhà mà nên ra ngoài tản bộ cho tinh thần thoải mái.

    Ngoài ra, việc giáo dục thai nhi của người Trung quốc còn chú trọng đến thái độ, tư thế đi đứng như đứng ngồi phải ngay ngắn, hòa nhã với mọi người, mắt không nhìn bậy bạ, tai không nghe những điều khiếm nhã, miệng không nói điều xằng bậy, tâm không có tà ý,… thì bé mới phát triển tốt về cả thể chất lẫn tinh thần.

    Mỗi quốc gia đều có một cách thai giáo riêng song tựu trung lại vẫn là phương pháp giáo dục cho thai nhi phát triển về các giác quan và trí não. Ở Việt Nam, việc giáo dục sớm ngay từ khi còn trong bụng mẹ cũng đang dần được xem trọng và có sự tiếp thu của các nước khác, các bà mẹ đã tự tin hơn và thông minh hơn trong việc lựa chọn phương pháp thai giáo phù hợp cho con mình. Chúc các mẹ sẽ tìm được cho mình những phương pháp thai giáo phù hợp để bé yêu của bạn phát triển tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phương Pháp Thai Giáo Giúp Bé Yêu Thông Minh, Khỏe Mạnh Ngay Từ Trong Bụng Mẹ
  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Là Gì?
  • Giá Thầu Quảng Cáo Facebook Và 10 Bí Mật Bạn Chưa Biết
  • Id Facebook Là Gì? Cách Xác Định Id Facebook Cá Nhân Nhanh Chóng
  • Tấm Thiếp Đặc Biệt Của Vị Hiệu Trưởng Trường Y
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×