Nguyên Nhân Sụp Đổ Của Chế Độ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Liên Xô Và Đông Âu?

--- Bài mới hơn ---

  • Bệnh Trào Ngược Dạ Dày Ở Trẻ Sơ Sinh
  • Nguyên Nhân Bệnh Trào Ngược Dạ Dày Ở Trẻ Em
  • Trào Ngược Dạ Dày Ở Trẻ Em: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Điều Trị
  • Nguyên Nhân Nào Gây Ra Chứng Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản?
  • Những Nguyên Nhân Chính Gây Trào Ngược Dạ Dày
  • -Một là, mô hình chủ nghĩa xã hội đã xây dựng có nhiều khuyết tật và thiếu sót : đường lối lãnh đạo mang tính chủ quan, duy ý chí, thực hiện cơ chế tập trung quan liêu cao cấp làm cho sản xuất trì trệ, thiếu dân chủ và công bằng xã hội.

    – Hai là, không bắt kịp sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại, đưa tới sự trì trệ, khủng hoảng về kinh tế – xã hội.

    – Ba là, chậm thay đổi trước những biến động lớn cuả tình hình thế giới (Liên Xô bị khủng hoảng từ lâu nhưng mãi đến năm 1985 mới bắt đầu cải tổ và các nhà lãnh đạo Đông Âu cho rằng chủ nghĩa xã hội là ưu việt không có gì sai sót mà sửa chữa). Sau khi sửa chữa lại tiến hành cải tổ mắt nhiều sai lầm trên nhiều mặt, làm cho khủng hoảng càng thêm nặng nề.

    – Bốn là, hoạt động chống phá cuả các thế lực chống chủ nghĩa xã hội trong và ngoài nước liên tục phát triển…có tác động không nhỉ làm cho tình hình càng thêm rối loạn.

    2. Liên bang Nga (1991 – 2000)

    – Sau khi Liên Xô tan rã, Liên Bang Nga là nước kế thừa chủ yếu của Liên Xô, từ địa vị pháp lí của Liên Xô tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các các cơ quan ngoại giao của Liên Xô ở nước ngoài.

    – Tình hình Liên bang Nga :

    + Kinh tế: t hực hiện chính sách tư nhân hoá nền kinh tế nước Nga với tốc độ nhanh, xây dựng nền kinh tế thị trường tự do. Tuy nhiên tình hình nước Nga vẫn không được cải thiện, tiếp tục rơi vào khủng hoảng trầm trọng hơn. Các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đều giảm sút mạnh.

    + Chính trị: Tháng 12 – 1993, Hiến pháp Liên bang Nga được ban hành, quy định thể chế Tổng thống Liên bang.

    + Xã hội : xuất hiện tầng lớp tư sản mới khá đông đảo. Tuy nhiên, đại bộ phận các tầng lớp nhân dân đều rơi vào tình cách khó khăn. Các vấn đề sắc tộc nổi lên gay gắt làm xuất hiện phong trào ly khai và các vụ khủng bố, nổi bật là phong trào ly khai ở Trécnia.

    – Từ năm 2000, Khi Tổng thống V. Putin lên làm tổng thống, nước Nga có nhiều chuyển biến khả quan: Kinh tế hồi phục và phát triển tăng trưởng. Chính trị và xã hội tương đối ổn định. Vị thế quốc tế được nâng cao.

    Tuy nhiên, nước Nga vẫn phải đương đầu với nhiều thách thức: nạn khủng bố do các phần tử li khai gây ra, đồng thời tiếp tục khắc phục những trở ngại trên con đường phát triển để giữ vững địa vị của một cường quốc Âu – Á.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Trị Mụn Đông Y
  • Phương Pháp Trị Mụn Tại Trung Tâm Da Liễu Đông Y Việt Nam
  • Đẩy Lùi Mụn Trứng Cá Theo Nguyên Lý Đông Y
  • Nguyên Nhân Mọc Mụn Ở Mặt
  • Nguyên Nhân Và Cách Phòng Mụn Nhọt Áp Xe Da Không Thể Chủ Quan
  • Nguyên Nhân Khủng Hoảng,sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Liên Xô Và Đông Âu

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Danh 9 Nguyên Nhân Gây Trào Ngược Dạ Dày Ai Cũng Nên Biết
  • 6 Nguyên Nhân Gây Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản Mà Bạn Nên Cảnh Giác
  • Nguyên Nhân Và Giải Pháp Về An Toàn Giao Thông
  • Tăng Axit Uric Máu: Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Nguyên Nhân Gây Ra Acid Uric Cao
  • NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG, SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU

    Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỉ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đi vào thời kì khủng hoảng. Từ tháng 4/1989 đến tháng 9/1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, tạo nên “cơn chấn động” chính trị lớn nhất trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Vấn đề đặt ra là vì sao chế độ xã hội chủ nghĩa lại bị thất bại ở Liên Xô và Đông Âu? Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng lịch sử này, đưa ra nhiều nguyên nhân cả sâu xa và trực tiếp, cả bên trong và bên ngoài để cắt nghĩa, lí giải về sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu…

    Với chúng tôi, khi nghiên cứu đề tài “Sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu”, chúng tôi xin đưa ra những nguyên nhân về sự khủng hoảng và sụp đổ ấy như sau:

    1. Nguyên nhân khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu

    Bước vào thập niên 70 của thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều biến động, báo hiệu cuộc khủng hoảng chung mang tính toàn cầu (không trừ một quốc gia nào).

    Mở đầu là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về năng lượng dầu mỏ năm 1973, chứng tỏ sự khan hiếm và thiếu hụt của nguồn năng lượng dầu mỏ, dẫn tới giá cả tăng cao, kéo theo là hàng loạt các cuộc khủng hoảng khác về kinh tế, tài chính và chính trị, đặt ra cho toàn nhân loại những vấn đề bức thiết phải giải quyết (sự bùng nổ dân số, hiểm họa môi trường, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt; sự giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển theo xu thế quốc tế hóa…) để thích nghi về kinh tế, chính trị và xã hội.

    Những biến động này đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành những cải cách điều chỉnh về cơ cấu kinh tế, chính trị – xã hội cho phù hợp với tình hình mới.

    Đây là sự thách thức và cũng là một cơ hội để vươn lên của mỗi quốc gia, nhưng những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô và Đông Âu lại không nhận thức đầy đủ những thách thức đó, chủ quan cho rằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng chung toàn thế giới nên chậm thích ứng, chậm sửa đổi và đã bỏ lỡ cơ hội này. Trước hết, là do quan niệm giản đơn, phiến diện quy luật về mối quan hệ giữa sản xuất và lực lượng sản xuất; cho rằng, có thể dùng ý chí cách mạng để xây dựng nhanh quan hệ sản xuất tiên tiến trên cái nền lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém và lạc hậu, và cho rằng, quan hệ sản xuất tiên tiến tự nó mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Liên Xô bị khủng hoảng từ lâu nhưng mãi đến năm 1985 mới bắt đầu cải tổ. Các nhà lãnh đạo Đông Âu thì cho rằng chủ nghĩa xã hội là ưu việt và bản thân họ chẳng có gì sai mà sửa chữa. Song khi thay đổi lại xa rời nguyên lí Mác – Lênin.

    Sau cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1973, các nước tư bản chủ nghĩa đã ngồi họp lại với nhau và nhận thấy một điều rằng: sự phát triển của họ không còn phù hợp, cần phải tự điều chỉnh và thích nghi hơn với tình hình mới. Vì thế, họ đã nhanh chóng tiến hành nhiều cải cách, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội, hình thức quản lí, đi sâu vào khoa học – kĩ thuật, đổi mới công nghệ, nên đã vượt qua được khủng hoảng và tiếp tục đi lên.

    Thế giới đang chứng kiến những đổi thay kì diệu do cuộc cách mạng khoa học – công nghệ mang lại. Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật thế giới hay còn gọi là cách mạng công nghệ bước sang giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu, đã đạt được những thành tựu kì diệu, có vị trí và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại: Một là, làm thay đổi các nhân tố sản xuất, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của sản xuất và tăng năng suất lao động, mở rộng lĩnh vực hoạt động của con người, sáng tạo công cụ và kĩ thuật sản xuất mới, cải tiến việc sản xuất và quản lí lao động, nâng cao không ngừng mức sống và chất lượng cuộc sống của con người. Từ đó dẫn đến những thay đổi lớn về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, những đòi hỏi mới về giáo dục và đào tạo nghề nghiệp; hai là, loài người chuyển sang một nền văn minh mới với nhiều tên gọi; ba là, kinh tế thế giới được quốc tế hóa cao độ, xu thế toàn cầu hóa – khu vực hóa đang từng bước phát triển – thế giới như thu nhỏ lại, mọi sự liên lạc, gặp gỡ có thể diễn ra hết sức nhanh chóng; bốn là, những mặt trái của khoa học – kĩ thuật mà con người chưa thể khắc phục được như tình trạng ô nhiễm môi trường trên Trái đất cũng như trong vũ trụ, những tai nạn lao động và giao thông, các loại dịch bệnh mới… và nhất là việc chế tạo những loại vũ khí hiện đại có sức công phá và hủy diệt nhiều lần sự sống trên hành tinh.

    Trong tình hình mới, mô hình và cơ chế kinh tế cũ của chủ nghĩa xã hội vốn đã tồn tại nhiều khuyết tật (phát triển kinh tế theo chiều rộng với hiệu quả thấp và thiếu sức sống, phủ nhận quy luật khách quan về kinh tế), đã cản trở sự phát triển mọi mặt của xã hội. Sau khi V.I.Lênin qua đời ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ. Thời gian đầu, kế hoạch hóa tập trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã biến dạng thành kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Sau chiến tranh thế giới lần 2, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình này. Trong mô hình này đã tuyệt đối hóa, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, thực hiện bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động.

    Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác là các nhà lãnh đạo của Liên Xô và Đông Âu đã đánh giá quá cao chủ nghĩa xã hội hiện thực và đánh giá quá thấp chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc; chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong việc hoạch định các bước đi của tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (như quan điểm của Liên Xô về “chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn thắng lợi”, “xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”, “chủ nghĩa xã hội phát triển”…), không thấy hết tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp của thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

    Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài trên cản trở sự cải tổ, cải cách, đổi mới đúng đắn là nguyên nhân sâu xa làm chế độ xã hội chủ nghĩa suy yếu, rơi vào khủng hoảng. Đó không phải những sai lầm khuyết tật do bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, mà do quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội.

    Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây dựng năng lực cầm quyền của một chính đảng cách mạng sau khi giành được chính quyền chưa thực hiện đầy đủ, khiến Đảng không phát huy được vai trò của người lãnh đạo, người tổ chức nhân dân; vừa không phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội…, dẫn đến tình trạng quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn.

    Sự bất mãn trong nhân dân ngày càng tăng trước những hiện tượng thiếu dân chủ, chưa công bằng, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, tệ quan liêu, độc đoán trong bộ máy Nhà nước làm cho đất nước lâm vào tình trạng trì trệ rồi khủng hoảng toàn diện.

    Trong những năm 1989 – 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chế độ mới được dựng lên với những nét chung nổi bật là:

    * Tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội.

    * Thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng.

    * Xây dựng Nhà nước pháp quyền đại nghị và nền kinh tế theo cơ chế thị trường.

    * Các chính đảng vô sản đều đổi tên đảng và chia rẽ thành nhiều phe phái.

    * Tên nước, Quốc kì, Quốc huy và ngày Quốc khánh thay đổi, theo hướng chung gọi là các nước cộng hòa.

    2. Nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu

    Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là do nhiều nguyên nhân.

    – Nguyên nhân sâu xa nằm trong mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp thay cho cơ chế thị trường, kế hoạch hóa cao độ. Mô hình đó đã có những phù hợp nhất định trong thời kì đặc biệt trước đây, nhưng không còn phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa, không sáng tạo và không năng động, ngày càng bộc lộ sự thiếu tôn trọng các quy luật phát triển khách quan về kinh tế – xã hội, chủ quan, duy ý chí, làm nảy sinh tình trạng thụ động xã hội, thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Xét về mặt kinh tế, khiếm khuyết và hạn chế của mô hình cũ là đã không chú trọng đầy đủ tới đặc điểm kinh tế hàng hóa và quy luật giá trị, tới cơ cấu đa dạng của sản phẩm hàng hóa có chất lượng và giá trị cao để cạnh tranh. Do quan điểm giản đơn về tính thuần nhất của sở hữu xã hội chủ nghĩa nên các hình thức sở hữu ngoài quốc doanh và tập thể không được chú trọng, tiềm năng và năng lực kinh tế cá thể, tư nhân không được khai thác. Chủ nghĩa tư bản nhà nước như một hình thức phát triển kinh tế của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Lênin nêu ra trong Chính sách kinh tế mới (NEP) đã không được vận dụng. Kinh tế hiện vật và kinh tế chỉ huy đã chi phối mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến sự cứng nhắc trong quản lí, trong cơ chế và chính sách. Năng suất, chất lượng, hiệu quả tuy vẫn được thường xuyên nhắc tới nhưng lại không dựa trên cơ sở lợi ích trực tiếp của người lao động nên không khuyến khích được sự nhiệt tình, chủ động, sáng tạo của người lao động. Tài sản, nguyên vật liệu và các nguồn lực, kể cả con người bị lãng phí rất lớn. Kĩ thuật công nghệ chậm đổi mới, bị lạc hậu.

    Xét về mặt chính trị, hạn chế của mô hình này biểu hiện ở chỗ hệ thống tổ chức và bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, dễ dẫn tới tình trạng quan liêu hóa, xa rời thực tiễn, xa dân, kém hiệu quả, không phân biệt rõ ràng, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động giữa Đảng và Nhà nước cũng như các tổ chức khác trong hệ thống tổ chức chính trị, dẫn tới sự chồng chéo dẫm chân lên nhau. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm. Quyền làm chủ của người lao động, sự tham gia của quần chúng vào hoạt động quản lí Nhà nước và đời sống chính trị – xã hội nói chung còn bị hạn chế và ít tác dụng do tính chất dân chủ hình thức, quan liêu, tham nhũng gây nên.

    Xét về mặt văn hóa – xã hội và đời sống tinh thần, những khiếm khuyết của mô hình cũ biểu hiện ở sự vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân, sự thiếu nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật, thiếu dân chủ và công bằng xã hội. Tính hình thức và bệnh giáo điều đã làm cho công tác giáo dục hệ tư tưởng và ý thức xã hội xa rời thực tế cuộc sống. Lí luận tách rời thực tiễn.

    Các lĩnh vực văn hóa tinh thần rơi vào sự đơn điệu, nghèo nàn. Sự giao lưu văn hóa quốc tế không được khuyến khích.

    – Những thiếu sót, khuyết tật lâu ngày chậm được khắc phục, sửa chữa càng làm cho các nước xã hội chủ nghĩa xa rời những tiến bộ, văn minh của thế giới, nhất là sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại, đưa tới tình trạng trượt dài từ trì trệ đến khủng hoảng nặng nề về kinh tế – xã hội. Sự thực, không phải các nhà lãnh đạo nhiều nước chủ nghĩa xã hội trước đây không nhận thấy những trì trệ đó, nhưng mọi cố gắng cải cách đều không thu được kết quả trong khuôn khổ cơ chế mô hình cũ.

    – Sau này khi tiến hành cải tổ, cải cách, những người lãnh đạo ở Liên Xô và Đông Âu lại liên tiếp phạm thêm nhiều sai lầm nghiêm trọng về bước đi, nội dung, phương pháp, trong đó điều chủ yếu là buông lỏng chuyên chính vô sản, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin, hiện thực dân chủ hóa, công khai hóa cao độ, mơ hồ về chính trị, giai cấp; bị các thế lực phản động, đễ quốc lợi dụng tiến công chủ nghĩa xã hội. Cải tổ là tất yếu, khách quan xuất phát từ bản chất của chủ nghĩa xã hội, là nhu cầu chin muồi của các nhân tố chủ quan, khách quan. Vấn đề là phải cải tổ như thế nào. Cuộc cải tổ của Goócbachốp được các nước phương Tây ngàn lần cổ vũ, hậu thuẫn… Cải tổ kiểu như thế mà chế độ xã hội chủ nghĩa không sụp đổ mới là điều đáng ngạc nhiên (Nguyễn Đức Bình – Đôi điều suy nghĩ về vận mệnh chủ nghĩa xã hội. Tạp chí Cộng sản, số 13, 7/2003, tr.10).

    Như vậy, trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô và các nước Đông Âu đã mắc sai lầm rất nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là đường lối hữu khuynh, cơ hội và xét lại, thể hiện trước hết ở những người lãnh đạo cao nhất. Những tuyên bố ban đầu: “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều chủ nghĩa xã hội hơn”, “chúng ta sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn chứ không đi ra ngoài nó”, “chúng ta tìm trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội chứ không phải ở ngoài giới hạn của nó những câu trả lời cho các vấn đề do cuộc sống đặt ra”…, rốt cuộc chỉ là những tuyên bố suông ngụy trang cho ý đồ phản bội.

    Có thể thấy sai lầm của cải tổ biểu hiện chủ yếu ở những điểm sau:

    Thứ nhất, sự dao động về tư tưởng, lập trường chính trị dẫn tới mất phương hướng chính trị và từ bỏ nguyên tắc ở những thời điểm bước ngoặt, chấp nhận đa nguyên hệ tư tưởng và đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phủ nhận tập trung dân chủ là nguyên tắc cốt tử của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, làm cho Đảng không còn là một tổ chức chính trị cầm quyền mà trở thành một câu lạc bộ bàn suông. Nhà nước không còn quyền lực điều hành và không kiểm soát nổi tình hình đất nước.

    Những người lãnh đạo cải tổ lùi dần từng bước, từng bước, thậm chí ngày càng công khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ từng hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

    Thứ hai, không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cải cách kinh tế và cải cách chính trị. Khi cải cách kinh tế tiến triển thì không kịp thời tiến hành cải cách chính trị. Đến khi cải cách kinh tế gặp khó khăn thì lại chuyển trọng tâm sang cải cách chính trị.

    Thứ ba, phiêu lưu mạo hiểm trong chính sách, bước đi và biện pháp cải tổ. Đó là tăng tốc kinh tế – kĩ thuật thời kì đầu, cấm bia rượu… là những tính toán chủ quan duy ý chí gây rối loạn kinh tế, mất ổn định xã hội. Cải tổ chính trị không dựa trên thực trạng kinh tế, tiến hành “dân chủ công khai” một cách mơ hồ, mở đường cho các thế lực phản động tấn công vào Đảng, vào chủ nghĩa xã hội, thao túng xã hội, kích động, mị dân, lừa bịp quần chúng.

    Bằng phát súng lệnh “công khai”, “dân chủ”, “không vùng cấm”, cải tổ đã nhanh chóng tạo ra làn sóng phê phán, công kích, bôi đen tất cả những gì gắn với lịch sử hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ định sạch trơn mọi thành tựu của chủ nghĩa xã hội. Nó gây hoang mang, xáo động đến cực độ trong tư tưởng xã hội, phá vỡ niềm tin của quần chúng đối với những giá trị của chủ nghĩa xã hội. Người ta sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng để làm việc này và chiến dịch tuyên truyền, đào bới, phủ định quá khứ được các đài, báo phương Tây tiếp sức mạnh mẽ và lái theo những ý đồ, mục đích của phương Tây.

    Thứ tư, không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình hình ngày một xấu đi nghiêm trọng về đời sống vật chất, tinh thần tối thiểu của quần chúng, gây nên sự thờ ơ về chính trị, thậm chí chống lại công cuộc cải tổ. Mất cơ sở xã hội và bị phân liệt về tổ chức nên Đảng đã mất sức chiến đấu và mất vai trò lãnh đạo.

    Thứ năm, các quan điểm mơ hồ, hữu khuynh, xét lại xung quanh vấn đế “tư duy chính trị mới”, phủ nhận đấu tranh giai cấp và cách mạng, tuyệt đối hóa lợi ích toàn cầu nhân loại, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản, tạo mảnh đất thuận lợi cho âm mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc.

    Chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn, thực hiện được “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên Xô và các nước Đông Âu. Các chiến lược gia phương Tây sớm nhận ra “gót chân Asin” của cải tổ: đó là đường lối xét lại, là hệ tư tưởng tư sản, là chính sách thỏa hiệp, nhân nhượng vô nguyên tắc với Mĩ và phương Tây thể hiện tập trung ở “tư duy chính trị mới”. Hứa hẹn viện trợ kinh tế được dùng làm một thứ vũ khí rất lợi hại để lái cuộc cải tổ theo quỹ đạo mà phương Tây mong muốn. Chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên Xô và Đông Âu.

    Thứ sáu, để xảy ra xung đột, nội chiến dân tộc, sắc tộc ngày càng gay gắt, dẫn tới tan rã của Nhà nước Liên bang Xô viết.

    – Ngoài ra, sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu còn do những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội trong và ngoài nước, đặc biệt là âm mưu “diễn biến hòa bình”, “cách mạng nhung”, “chiến thắng không cần chiến tranh” của chủ nghĩa đế quốc. Chiến lược diễn biến hòa bình đã được các nước đế quốc công phu thiết kế dàn dựng lâu dài từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Chống phá chủ nghĩa xã hội là một chiến lược phản cách mạng bao gồm các phương tiện và thủ đoạn tinh vi từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội. Chúng thường cấu kết với các thế lực phản động chống phá từ bên trong, tập trung vào các đối tượng nhạy cảm như thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ để lung lạc thế giới quan, hệ tư tưởng, kích động tâm lí bất mãn, chống đối, gây thù hằn dân tộc, tôn giáo, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do” với nội dung trừu tượng, phi lịch sử mà thực chất là lồng vào đó quan điểm tư sản, chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội. Chúng còn ra sức khai thác những yếu điểm, sai lầm trong các nước xã hội chủ nghĩa, thổi bùng tâm lí bất mãn, chống đối, làm suy yếu mối liên hệ xã hội của quần chúng nhân dân với Đảng và Nhà nước, tiến hành tuyên truyền, lừa mị dân, kết hợp với thâm nhập kinh tế, văn hóa để đẩy nhanh sự chệch hướng.

    Trong cuốn sách “Chiến thắng không cần chiến tranh”, Tổng thống Mĩ Níchxơn cho rằng “mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”. Ông ta viết: “Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp định mậu dịch, viện trợ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Chiến lược của Mĩ trước sau như một là đưa bất ổn vào bên trong “bức màn sắt”.

    – Nguyên nhân cuối cùng là do yếu kém về năng lực, sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào đảng, vào chế độ. Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, xét lại, phản bội lí tưởng của chủ nghĩa xã hội ở một số nhà lãnh đạo cải tổ là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự tan rã của chủ nghĩa xã hội.

    Có thể nói, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc cùng với sự phản bội từ bên trong và từ trên chóp bu của cơ quan lãnh đạo cao nhất là nguyên nhân trực tiếp làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

    Ngoài những nguyên nhân có ý nghĩa phổ biến, khái quát cho Liên Xô và các nước Đông Âu nói trên, ở mỗi nước cũng còn có những nguyên nhân riêng biệt, đặc thù dân tộc. Đối với các nước Đông Âu, đó là:

    Thứ ba, hầu hết các nước này đã trải qua nhiều năm dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, truyền thống dân chủ tư sản in đậm trong tư tưởng tập quán của nhân dân. Việc tiến hành hợp nhất các đảng công nhân sau chiến tranh diễn ra một cách vội vàng, thiếu nguyên tắc đã chứa đựng nguy cơ chia rẽ sâu sắc.

    Thứ tư, các thế lực chống đối chủ nghĩa xã hội cả ở trong và ngoài nước rất mạnh gồm công chức, sĩ quan, tư sản địa chủ, binh lính của chế độ cũ, nhà thờ Thiên Chúa giáo, Đảng Xã hội dân chủ… cùng cấu kết với nhau, có sự hỗ trợ mạnh mẽ của nước ngoài, nằm chờ, khi có thời cơ sẽ nổi dậy nhằm chống phá lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Thứ năm, trong cơn nguy kịch của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu, chính sách “không can thiệp” của chính phủ Liên Xô, đứng đầu là Goócbachốp đã tạo điều kiện thuận lợi thêm để cho các thế lực phản động cách mạng tự do hành động, chống phá chủ nghĩa xã hội ở đây.

    Sự tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trong những năm 1989 – 1991 đã gây ra những hậu quả hết sức nặng nề. Đó là một tổn thất chưa từng có trong lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, dẫn đến hệ thống thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại nữa. Từ đây, trật tự thế giới hai cực cũng đã kết thúc. Thế giới bước vào một thời kì mới với các xu thế mới đang vận động.

    Tuy nhiên, đây chỉ là sự tan rã của một mô hình chủ nghĩa xã hội chưa khoa học chứ không phải là sự tan rã của chủ nghĩa xã hội như một hình thái kinh tế – xã hội mới mà Mác và Ăngghen đã nêu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Hơn nữa, như Lênin đã viết: “Nếu người ta nhận xét thực chất của vấn đề, thì có bao giờ người ta thấy rằng trong lịch sử có một phương thức sản xuất mới nào lại đứng vững ngay được mà lại không liên tiếp trải qua nhiều thất bại, nhiều sai lầm và tái phạm không?”.

    Từ những cơ sở ấy, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam đã rủt ra được nhiều bài học kinh nghiệm xương máu, đưa công cuộc cải cách – đổi mới đi tới thắng lợi, nhằm xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa đúng với bản chất nhân văn vì giải phóng và hạnh phúc con người, phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc.

    Trong thế kỉ XX, loài người chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng, những biến đổi to lớn của tình hình thế giới, thậm chí có những đảo lộn bất ngờ, trong đó có sự khủng hoảng rồi tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm 80 – đầu 90.

    Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 bùng nổ và thắng lợi đã mở ra một thời kì phát triển mới đối với lịch sử thế giới, dẫn tới sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới – nước Nga Xô viết, sau đó là Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô), chiếm 1/6 diện tích địa cầu. Chủ nghĩa xã hội từ lí thuyết đã trở thành hiện thực. Trong những năm 20 – 30 của thế kỉ XX, Nhà nước xã hội chủ nghĩa này tồn tại sừng sững trong thế giới tư bản, đạt được nhiều thành tựu về kinh tế – xã hội, chính trị và văn hóa mà các dân tộc đang đấu tranh tự giải phóng khỏi ách áp bức dân tộc và xã hội phải ngưỡng mộ và hướng tới.

    Từ giữa những năm 40 của thế kỉ XX, với sự thắng lợi của công cuộc chống chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi một nước, trở thành hệ thống thế giới, làm thay đổi bộ mặt hành tinh chúng ta. Trong đời sống quan hệ quốc tế đã xuất hiện hai hệ thống xã hội đối lập. Chủ nghĩa tư bản không còn là hệ thống xã hội duy nhất nữa. Trong quá trình mở rộng và phát triển, chủ nghĩa xã hội đã trải rộng từ Âu sang Á và khu vực Mĩ Latinh. Những thành tựu về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học – kĩ thuật và quân sự mà hệ thống này đạt được là không thể phủ nhận. Trong khoảng hơn 30 năm, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, đã chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao, giá trị nhân văn của nó lan tỏa. Chủ nghĩa xã hội trở thành chỗ dựa của các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và phát triển.

    Tuy nhiên, do những khiếm khuyết trong quá trình xây dựng không được sớm khắc phục, do những sai lầm trong đường lối xây dựng và chính sách cụ thể, cũng như sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc cùng các thế lực phản động trong nước và quốc tế, cuối cùng vào những năm 80 – đầu 90, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô lâm vào khủng hoảng toàn diện và sau đó tan rã, lịch sử nước này bước sang một giai đoạn mới.

    Có thể nói rằng, sự tan rã của Liên bang Xô viết – hai năm sau khi Bức tường Béclin sụp đổ (1989)- là “thảm họa địa chính trị lớn nhất” trong thế kỉ XX. Nó gây ra một cú sốc trên quy mô toàn cầu.

    Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khủng hoảng và sụp đổ đã dẫn tới hệ thống chủ nghĩa xã hội ở trên thế giới thực tế là không còn tồn tại nữa. Đây là một bước tụt lùi và là một thất bại nặng nề của hệ thống chủ nghĩa xã hội.

    Trong tình hình chủ nghĩa xã hội trì trệ và khủng hoảng do những sai lầm của mô hình cũ thì cải tổ, cải cách mở cửa, đổi mới là tất yếu. Vì chỉ có một cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới sâu sắc, toàn diện mới đưa chủ nghĩa xã hội thoát khỏi khủng hoảng để bước vào thời kì phát triển mới. Cải tổ, cải cách, mở cửa, đổi mới là tất yếu nhưng sụp đổ thì không là tất yếu. Vấn đề ở chỗ: cải tổ, cải cách, mở cửa, đổi mới thế nào, nhằm mục đích gì, theo đường lối nào.

    Một số đảng cộng sản các nước trên thế giới đã nhận định nguyên nhân của sự sụp đổ này là: Sự lệch lạc về hệ tư tưởng của những người lãnh đạo đảng và sự thiếu hiểu biết về hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân dân; sự thiếu dân chủ trong xã hội và trong đảng; tình trạng quan liêu trong đảng, tham nhũng và sự xa lánh nhân dân của lãnh đạo đảng; một số sai lầm trong chính sách kinh tế của đảng cộng sản cầm quyền; và sự phá hoại tinh vi của chủ nghĩa đế quốc… Đó chính là do sự xa rời bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và tách rời tính cách mạng với tính khoa học trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội.xã

    Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất, một thất bại lớn nhất của phong trào cộng sản, nó phản ánh đúng cuộc đấu tranh cách mạng, có thắng lợi cách mạng, thất bại là tạm thời, thất bại có trong sự trưởng thành. Đây chỉ là sự thất bại của một mô hình.

    Trên thực tế, sự tan rã ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự thất bại của chế độ và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà chỉ là sự thất bại của một mô hình thực tiễn nhất định. Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô – mô hình chủ nghĩa xã hội cứng nhắc, nó không đồng nghĩa với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một hình thái kinh tế – xã hội mà loài người đang vươn tới. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cũng không vì thế mà thay đổi nội dung, tính chất của thời đại. Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Sự tan rã ấy chỉ chứng tỏ tính quanh co, phức tạp của sự phát triển xã hội mà thôi.

    Từ thất bại và tổn thất này, nhiều bài học bổ ích đã được rút ra cho các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đang tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới nhằm xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa đúng với bản chất nhân văn của nó và phù hợp với mục tiêu của thời đại. Toàn bộ thực tiễn từ năm 1941 đến nay đã chứng minh điều đó, nó khẳng định sức sống của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản vẫn là sự lựa chọn cuối cùng. Những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc, nhân dân Việt Nam đang đạt được trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội với những mô hình phù hợp, đang khẳng định sức sống của chủ nghĩa xã hội.

    Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc, không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên, cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”.

    Hay như Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (4/2001) cũng đã khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội thế giới từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc có điều kiện và khả năng vượt qua thời kì thoái trào, tạo ra bước phát triển mới. Lịch sử thế giới đã, đang và sẽ còn trài qua những bước quanh có, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

    Có thể nói, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội chưa khoa học, chưa nhân văn. Đây chỉ là một bước lùi tạm thời của chủ nghĩa xã hội chứ không phải là sự sụp đổ của lí tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân loại. Ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội đã từng tung bay trên những khoảng trời rộng lớn, từ bờ sông Enbơ đến bờ biển Nam Hải rồi vượt trùng dương rộng lớn đến tận hòn đảo Cuba nhỏ bé anh hùng. Ngọn cờ ấy tuy có dừng tung bay ở bầu trời Liên Xô và một số nước Đông Âu nhưng rồi đây sẽ lại tung bay trên nhiều khoảng trời mênh mông xa lạ: Bầu trời Đông Nam Á, bầu trời châu Phi, Mĩ Latinh và ngay trên cả cái nôi ồn ào, náo nhiệt của chủ nghĩa tư bản phương Tây… Đó là ước mơ của nhân loại tiến bộ và đó cũng là quy luật phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người. Và đó cũng chính là triển vọng của chủ nghĩa xã hội trong tương lai. Triển vọng của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quan trọng nhất là sự đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa. Chính công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước là động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa xã hội thế giới. Thực tiễn thành công trong hơn 25 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và công cuộc đổi mới ở Việt Nam 20 năm qua là minh chứng hùng hồn, là sức sống mãnh liệt của tương lai chủ nghĩa xã hội trên thế giới.

    (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Khủng Hoảng, Sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Liên Xô Và Đông Âu
  • Nguyên Nhân Gây Mụn Và Cách Chăm Sóc Da Mụn
  • Cùng Tìm Hiểu Và Làm Rõ Nguyên Nhân Bệnh Tiểu Đường Là Gì ?
  • Nguyên Nhân Gây Bệnh Tiểu Đường Là Gì Và Cách Điều Trị
  • Chảy Máu Cam Ở Người Lớn: Những Điều Cần Biết
  • Nguyên Nhân Khủng Hoảng, Sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Liên Xô Và Đông Âu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Nhân Khủng Hoảng,sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Liên Xô Và Đông Âu
  • Điểm Danh 9 Nguyên Nhân Gây Trào Ngược Dạ Dày Ai Cũng Nên Biết
  • 6 Nguyên Nhân Gây Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản Mà Bạn Nên Cảnh Giác
  • Nguyên Nhân Và Giải Pháp Về An Toàn Giao Thông
  • Tăng Axit Uric Máu: Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG, SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỉ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đi vào thời kì khủng hoảng. Từ tháng 4/1989 đến tháng 9/1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, tạo nên “cơn chấn động” chính trị lớn nhất trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Vấn đề đặt ra là vì sao chế độ xã hội chủ nghĩa lại bị thất bại ở Liên Xô và Đông Âu? Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng lịch sử này, đưa ra nhiều nguyên nhân cả sâu xa và trực tiếp, cả bên trong và bên ngoài để cắt nghĩa, lí giải về sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu Với chúng tôi, khi nghiên cứu đề tài “Sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu”, chúng tôi xin đưa ra những nguyên nhân về sự khủng hoảng và sụp đổ ấy như sau: 1. Nguyên nhân khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu Bước vào thập niên 70 của thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều biến động, báo hiệu cuộc khủng hoảng chung mang tính toàn cầu (không trừ một quốc gia nào). Mở đầu là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về năng lượng dầu mỏ năm 1973, chứng tỏ sự khan hiếm và thiếu hụt của nguồn năng lượng dầu mỏ, dẫn tới giá cả tăng cao, kéo theo là hàng loạt các cuộc khủng hoảng khác về kinh tế, tài chính và chính trị, đặt ra cho toàn nhân loại những vấn đề bức thiết phải giải quyết (sự bùng nổ dân số, hiểm họa môi trường, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt; sự giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển theo xu thế quốc tế hóa ) để thích nghi về kinh tế, chính trị và xã hội. Những biến động này đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành những cải cách điều chỉnh về cơ cấu kinh tế, chính trị – xã hội cho phù hợp với tình hình mới. Đây là sự thách thức và cũng là một cơ hội để vươn lên của mỗi quốc gia, nhưng những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô và Đông Âu lại không nhận thức đầy đủ những thách thức đó, chủ quan cho rằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng chung toàn thế giới nên chậm thích ứng, chậm sửa đổi và đã bỏ lỡ cơ hội này. Trước hết, là do quan niệm giản đơn, phiến diện quy luật về mối quan hệ giữa sản xuất và lực lượng sản xuất; cho rằng, có thể dùng ý chí cách mạng để xây dựng nhanh quan hệ sản xuất tiên tiến trên cái nền lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém và lạc hậu, và cho rằng, quan hệ sản xuất tiên tiến tự nó mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Liên Xô bị khủng hoảng từ lâu nhưng mãi đến năm 1985 mới bắt đầu cải tổ. Các nhà lãnh đạo Đông Âu thì cho rằng chủ nghĩa xã hội là ưu việt và bản thân họ chẳng có gì sai mà sửa chữa. Song khi thay đổi lại xa rời nguyên lí Mác – Lênin. Sau cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1973, các nước tư bản chủ nghĩa đã ngồi họp lại với nhau và nhận thấy một điều rằng: sự phát triển của họ không còn phù hợp, cần phải tự điều chỉnh và thích nghi hơn với tình hình mới. Vì thế, họ đã nhanh chóng tiến hành nhiều cải cách, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội, hình thức quản lí, đi sâu vào khoa học – kĩ thuật, đổi mới công nghệ, nên đã vượt qua được khủng hoảng và tiếp tục đi lên. Thế giới đang chứng kiến những đổi thay kì diệu do cuộc cách mạng khoa học – công nghệ mang lại. Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật thế giới hay còn gọi là cách mạng công nghệ bước sang giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu, đã đạt được những thành tựu kì diệu, có vị trí và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại: Một là, làm thay đổi các nhân tố sản xuất, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của sản xuất và tăng năng suất lao động, mở rộng lĩnh vực hoạt động của con người, sáng tạo công cụ và kĩ thuật sản xuất mới, cải tiến việc sản xuất và quản lí lao động, nâng cao không ngừng mức sống và chất lượng cuộc sống của con người. Từ đó dẫn đến những thay đổi lớn về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, những đòi hỏi mới về giáo dục và đào tạo nghề nghiệp; hai là, loài người chuyển sang một nền văn minh mới với nhiều tên gọi; ba là, kinh tế thế giới được quốc tế hóa cao độ, xu thế toàn cầu hóa – khu vực hóa đang từng bước phát triển – thế giới như thu nhỏ lại, mọi sự liên lạc, gặp gỡ có thể diễn ra hết sức nhanh chóng; bốn là, những mặt trái của khoa học – kĩ thuật mà con người chưa thể khắc phục được như tình trạng ô nhiễm môi trường trên Trái đất cũng như trong vũ trụ, những tai nạn lao động và giao thông, các loại dịch bệnh mới và nhất là việc chế tạo những loại vũ khí hiện đại có sức công phá và hủy diệt nhiều lần sự sống trên hành tinh. Trong tình hình mới, mô hình và cơ chế kinh tế cũ của chủ nghĩa xã hội vốn đã tồn tại nhiều khuyết tật (phát triển kinh tế theo chiều rộng với hiệu quả thấp và thiếu sức sống, phủ nhận quy luật khách quan về kinh tế), đã cản trở sự phát triển mọi mặt của xã hội. Sau khi V.I.Lênin qua đời ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ. Thời gian đầu, kế hoạch hóa tập trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã biến dạng thành kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Sau chiến tranh thế giới lần 2, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình này. Trong mô hình này đã tuyệt đối hóa, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, thực hiện bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động. Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác là các nhà lãnh đạo của Liên Xô và Đông Âu đã đánh giá quá cao chủ nghĩa xã hội hiện thực và đánh giá quá thấp chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc; chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong việc hoạch định các bước đi của tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (như quan điểm của Liên Xô về “chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn thắng lợi”, “xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”, “chủ nghĩa xã hội phát triển” .), không thấy hết tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp của thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài trên cản trở sự cải tổ, cải cách, đổi mới đúng đắn là nguyên nhân sâu xa làm chế độ xã hội chủ nghĩa suy yếu, rơi vào khủng hoảng. Đó không phải những sai lầm khuyết tật do bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, mà do quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Gây Mụn Và Cách Chăm Sóc Da Mụn
  • Cùng Tìm Hiểu Và Làm Rõ Nguyên Nhân Bệnh Tiểu Đường Là Gì ?
  • Nguyên Nhân Gây Bệnh Tiểu Đường Là Gì Và Cách Điều Trị
  • Chảy Máu Cam Ở Người Lớn: Những Điều Cần Biết
  • Các Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Nhiều Phổ Biến Hiện Nay
  • Bài Học Từ Sự Sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Liên Xô Và Đông Âu

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Liên Bang Xô Viết Sụp Đổ?
  • Vì Sao Chủ Nghĩa Xã Hội Hiện Thực Lâm Vào Tình Trạng Khủng Hoảng Và Sụp Đổ Ở Liên Xô Và Các Nước Đông Âu?
  • Quan Điểm Và Cách Nhìn Nhận Của Học Giả Việt Nam Về Sự Sụp Đổ Của Liên Xô Và Tiền Đồ Chủ Nghĩa Xã Hội.
  • “loạn Bàn” Chuyện Anh Em Rể
  • Soạn Vnen Gdcd 6 Bài 1: Em Là Công Dân Việt Nam
  • Xét trên phương diện lực lượng, đây là tổn thất to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới. Thành trì của chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã sụp đổ, chỗ dựa vững chắc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã không còn, các nước XHCN còn lại đứng trước thử thách khốc liệt do hệ quả của sự tổn thất đó để lại. Song, khi thời gian đã qua đi, những nguyên nhân về sự sụp đổ của mô hình CNXH Xô viết đã được tổng kết, các nước XHCN còn lại trên thế giới cũng từng bước vượt qua được khủng hoảng, tìm ra những con đường mới để tiếp tục kiên định đi tới lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Sự kiện Liên Xô và Đông Âu tan vỡ có lẽ cũng cần được nhìn nhận dưới một góc độ ngày càng đầy đủ hơn, không chỉ là một tổn thất, mà còn là một sự kiện mang lại những bài học quý báu cho các nước XHCN. Sự phủ định biện chứng một mô hình sai lầm, nhiều khiếm khuyết là cần thiết cho sự phát triển trong tương lai của CNXH. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ sự kiện lịch sử đau đớn ngoài ý muốn của những người cộng sản chân chính đã có ý nghĩa to lớn đối với các nước XHCN, trong đó có Việt Nam để tiếp tục đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

    Từ sự sụp đổ và tan rã của CNXH ở Liên Xô, chúng ta có thể rút ra được những bài học bổ ích sau đây:

    Một là, phải thường xuyên chăm lo xây dựng đảng để giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng, bộ máy chính quyền trong sạch vững mạnh và gắn bó với nhân dân. Xây dựng đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm chắc quần chúng và động viên được sức mạnh của nhân dân.

    Đảng lãnh đạo bằng đường lối, có đường lối lãnh đạo đúng đắn nhưng đường lối đó chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi quần chúng nhân dân hiện thực hóa trong đời sống xã hội. Do vậy, đòi hỏi mỗi đảng cộng sản phải trung thành với lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo các nguyên lý cách mạng để đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn và phù hợp với thực tiễn. Để lãnh đạo, quản lý điều hành đất nước có hiệu quả, Đảng cầm quyền, bộ máy chính quyền phải gắn bó mật thiết với nhân dân, được lòng dân, nắm chắc dân và quy tụ được sức mạnh của nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi Đảng và chính quyền bị tha hóa biến chất, xa dân và sách nhiễu dân, mối quan hệ với nhân dân bị rạn vỡ cũng đồng nghĩa với Đảng sẽ mất quần chúng, nhà nước và chế độ sẽ đánh mất cơ sở xã hội chính trị thì tất yếu bị lật đổ.

    Đảng luôn luôn phải giữ vai trò cầm quyền, có nghĩa là Đảng Cộng sản phải thể hiện quyền lực chính trị, quyền lãnh đạo về chính trị và không bao giờ chia sẻ quyền lực đó cho bất kỳ lực lượng nào khác. Đảng mất là mất hết, vì Đảng lãnh đạo toàn bộ các mặt, các lĩnh vực của xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị, nhân sự cán bộ… Lãnh đạo Nhà nước thực hiện tốt chức năng, cụ thể hóa đường lối của Đảng, quản lý tốt xã hội, kiến tạo xã hội mới, định ra chính sách xã hội đúng đắn đáp ứng lợi ích chính đáng của nhân dân, thực sự dân chủ, lắng nghe và tôn trọng những nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đảng và bộ máy chính quyền là “xương sống” của chế độ nên phải vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, thực sự vì nhân dân, thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý điều hành xã hội, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân thì mới bảo đảm cho sự tồn tại của chế độ xã hội và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

    Hai là, vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là xây dựng và thực hiện tốt chiến lược công tác cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì và xây dựng nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý kế cận, kế tiếp ở các cấp từ Trung ương đến địa phương. Trong công tác tổ chức sắp xếp cán bộ, nhất là những vị trí chủ chốt cần lựa chọn đúng những người thực sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức và lối sống, năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức thực tiễn, gần gũi nhân dân và được tín nhiệm, bảo đảm sự vững vàng về chính trị. Kiên quyết loại khỏi bộ máy lãnh đạo của Đảng và cơ quan Nhà nước những phần tử cơ hội thực dụng, tha hóa về chính trị tư tưởng và đạo đức, lối sống, sách nhiễu dân và xa dân, không được tín nhiệm. Thực hiện tốt công tác quản lý cán bộ, đánh giá và sử dụng cán bộ vì đó là gốc của mọi công việc, không để mất cảnh giác để các thế lực thù địch cài cắm các phần tử cơ hội, phần tử chống đối phản bội chui sâu, leo cao trong bộ máy của Đảng và Nhà nước.

    Ba là, xây dựng nền kinh tế ổn định và phát triển vững chắc, giữ được độc lập tự chủ trong hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế. Sự ổn định và phát triển vững chắc của nền kinh tế là nền tảng vật chất bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Khi kinh tế lâm vào khủng hoảng suy thoái, đất nước dễ lâm vào mất ổn định chính trị, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lôi kéo, kích động nhân dân chống lại Đảng và chính quyền, làm chuyển hóa chế độ xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Cần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, bảo đảm đúng định hướng phát triển của quốc gia, không để cho bất kỳ một thế lực nào điều khiển và thao túng nền kinh tế. Cần duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý và ổn định, phát huy tốt năng lực nội sinh, tạo được nhiều việc làm để tăng thu nhập của người dân, bảo đảm công bằng xã hội, an sinh xã hội, tạo cơ sở vật chất để đất nước ổn định và phát triển bền vững. Mở rộng hội nhập quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa, đặc biệt là hợp tác về kinh tế là xu thế khách quan mà các nước XHCN phải tham gia, nếu không thì khó có thể tồn tại và phát triển được. Vấn đề đặt ra là các nước XHCN mở rộng hội nhập quốc tế để tận dụng được những thành tựu khoa học cộng nghệ, tận dụng được nguồn lực tài chính của các nước phát triển làm cho sản xuất của đất nước ngày càng lớn mạnh đủ sức canh tranh, lợi ích quốc gia – dân tộc và cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ngày càng được củng cố.

    Bốn là, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, nhân dân; phòng, chống có hiệu quả chiến lược “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Công tác tư tưởng, lý luận phải trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong điều kiện Đảng cầm quyền, trước hết phải quan tâm thường xuyên đến công tác giáo dục lý luận chính trị cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là những người nắm vững bản chất các nguyên lý cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì mới trở thành những người tiên phong. Nhận thức sâu sắc nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của CNXH ở Liên xô và Đông Âu, với những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Giáo dục mục tiêu, lý tưởng của Đảng, quán triệt kịp thời những nghị quyết đến cán bộ, đảng viên. Tuyên truyền, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN. Củng cố niềm tin có cơ sở khoa học của cán bộ, đảng viên, của nhân dân vào con đường đi lên CNXH trong giai đoạn hiện nay. Cần huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong tiến hành công tác chính trị tư tưởng, đặc biệt là phải phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ chuyên trách từ Trung ương đến cơ sở.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Liên Xô Sụp Đổ: Ii. Sự Chống Phá Điên Cuồng Và Thâm Độc Của Phương Tây
  • Bài 1: Chế Độ Xhcn Ở Liên Xô Và Đông Âu
  • Tại Sao Phôi Thai Không Có Tim Thai? Băn Khoăn Của Nhiều Cặp Vợ Chồng
  • Siêu Âm 7 Tuần Chưa Có Tim Thai Có Vấn Đề Gì Không?
  • # 1【Lý Giải】 Vì Sao Có Tim Thai Rồi Lại Mất?
  • Vì Sao Chủ Nghĩa Xã Hội Hiện Thực Lâm Vào Tình Trạng Khủng Hoảng Và Sụp Đổ Ở Liên Xô Và Các Nước Đông Âu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Điểm Và Cách Nhìn Nhận Của Học Giả Việt Nam Về Sự Sụp Đổ Của Liên Xô Và Tiền Đồ Chủ Nghĩa Xã Hội.
  • “loạn Bàn” Chuyện Anh Em Rể
  • Soạn Vnen Gdcd 6 Bài 1: Em Là Công Dân Việt Nam
  • Sinh Ra Và Lớn Lên Ở Việt Nam Thì Có Phải Là Công Dân Việt Nam?
  • Gọi Ông Là Chú Hay Anh?
  • Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu bước vào thời kỳ khủng hoảng. Từ tháng 4-1989 trở đi, sự đổ vỡ diễn ra liên tiếp ở các nước Đông Âu. Chỉ trong vòng 2 năm, đến tháng 9-1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và 6 nước Đông Âu đã bị sụp đổ hoàn toàn. Sự đổ vỡ cũng diễn ra ở Mông Cổ, Anbani, Nam Tư. Sự khủng hoảng và sụp đổ này cũng chính là sự khủng hoảng và sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội.

    Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực.

    – Nguyên nhân sâu xa:

    Nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là do sự chậm đổi mới đối với những bất cập trong mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội trước những biến đổi của hoàn cảnh lịch sử.

    Cụ thể:

    Bất cứ một sự kiện lịch sử lớn nào của xã hội cũng đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Au cũng vậy.

    Ở Liên Xô, sau khi V.l. Lênin qua đời. Chính sách kinh tế mới không được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hoá tập trung cao độ. Thời gian đầu, kế hoạch hoá tập trung đã phát huy mạnh mẽ tác dụng, song đã biến dạng thành kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình này. Mô hình này đã tuyệt đối hoá cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường, thực hiện chế độ bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động.

    Do chậm đổi mới cơ chế kinh tế, hệ thống quản lý, nói chung là chậm đổi mới mô hình của chủ nghĩa xã hội, nên hậu quả là Liên Xô đang rút ngắn dần khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế so với các nước tư bản phát triển thì từ giữa những năm 70 của thế kỷ XX tình hình diễn ra theo chiều hướng ngược lại. Sự thua kém rõ rệt của Liên Xô thể hiện trong lĩnh vực công nghệ và năng suất lao động. Mà đây lại là yếu tố như V.I. Lênin nói, xét đến cùng sẽ quyết định thắng lợi hoàn toàn của chế độ mới.

    Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài đã nói ở trên cản trở sự đổi mới đúng đắn là nguyên nhân sâu xa làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa bị suy yếu, rơi vào khủng hoảng. Đó không phải những sai lầm khuyết tật do bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, mà do quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta chỉ rõ: “Do duy trì quá lâu những khuyết tật của mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, chậm trễ trong cách mạng khoa học và công nghệ” nên gây ra tình trạng trì trệ kéo dài về kinh tế – xã hội rồi đi tới khủng hoảng.

    – Nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp:

    Nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp dẫn tới sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là do những sai lầm nghiêm trọng trong đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức trong tiến trình cải tổ ở Liên Xô không được nhanh chóng sửa chữa và sự can thiệp của các thế lực thù địch đối với chủ nghĩa xã hội.

    Cụ thể:

    Thứ nhất, về những sai lầm nghiêm trọng trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức không được nhanh chóng sửa chữa.

    Cuộc cải tổ ở Liên Xô bắt đầu từ năm 1986 đã kết thúc trong sự đổ vỡ hoàn toàn năm 1991 vì đường lối cải tổ thực chất là đường lối trượt dài từ cơ bội hữu khuynh đến xét lại, đến từ bỏ hoàn toàn chủ nghĩa Mác – Lênin. Những lời tuyên bố lúc ban đầu: “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều chủ nghĩa xã hội hơn”, “chúng ta sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn chứ không đi ra ngoài nó”, “chúng ta tìm trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội chứ không phải ở ngoài giới hạn của nó những câu trả lời cho các vấn đề do cuộc sống đặt ra”, V.V., rốt cuộc chỉ là những tuyên bố suông ngụy trang cho ý đồ phản bội.

    Những người lãnh đạo cải tổ lùi dần từng bước, từng bước, thậm chí ngày càng công khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ đã từng hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

    Chủ trương đưa ra lúc đầu là “tăng tốc” về kinh tế đế chấm dứt sự trì trệ. Đẩy mạnh nhịp độ phát triển không có gì sai mà là tất yếu, bức bách. Vấn đề là tăng tốc bằng cách nào thì không có câu trả lời đúng đắn. Đổi mới công nghệ bằng cách nào cũng bế tắc. Người ta liền quy cho cơ chế quản lý kinh tế nhưng rồi cũng trầy trật; người ta đã chuyển nhanh sang cải tổ chính trị coi đây là “cái chìa khoá” cho mọi vấn đề. Hội nghị Đảng toàn quốc lần thứ 19 (năm 1988) chủ trương chuyển trọng tâm sang cải tổ hệ thống chính trị trên cơ sở cái gọi là “tư duy chính trị mới”. Thực chất đó là sự thoả hiệp vô nguyên tắc, là sự đầu hàng, là từ bỏ lập trường giai cấp, là sự phản bội chủ nghĩa Mác – Lênin, phản bội sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Cuộc cải cách chính trị đánh thẳng vào hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội, trước hết là vào tổ chức Đảng. Nhóm lãnh đạo cải tổ tìm cách loại bỏ khỏi uỷ ban Trung ương Đảng hàng loạt những người không tán thành đường lối sai lầm của cải tổ, kiên trì đường lối chủ nghĩa Mác – Lênin. Những người ngấm ngầm hoặc công khai thù địch với chủ nghĩa Mác – Lênin chiếm các vị trí chủ chốt trong bộ máy của Đảng và Nhà nước.

    Bằng phát súng lệnh “công khai”, “dân chủ”, “không có vùng cấm”, cải tổ dã nhanh chóng tạo ra làn sóng phê phán, công kích, bôi đen tất cả những gì gắn với lịch sử 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ định sạch trơn mọi thành tựu của chủ nghĩa xã hội. Nó gây hoang mang, xáo động đến cực độ trong tư tưởng xã hội, phá vỡ niềm tin của quần chúng đối với những giá trị của chủ nghĩa xã hội. Người ta sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng để làm việc này và chiến dịch tuyên truyền, đào bới, phủ định, xuyên tạc quá khứ được các đài, báo phương Tây tiếp sức mạnh mẽ và lái theo những ý đồ, mục đích đen tối của chúng.

    Thứ hai, về sự can thiệp của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội.

    Chủ nghĩa đế quốc thường xuyên tiến hành một cuộc chiến tranh khi bằng súng đạn, khi bằng “diễn biến hoà bình” chống chủ nghĩa xã hội, chống Liên Xô. Chủ nghĩa đế quốc đã gây ra cuộc chiến tranh lạnh từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Các chiến lược gia phương Tây sớm nhận ra “cái gót chân Asin” của cải tổ: đó là đường lối xét lại, là hệ tư tưởng tư sản, là chính sách thoả hiệp, nhân nhượng vô nguyên tắc với Mỹ và phương Tây thể hiện tập trung ở “tư duy chính trị mới”. Các thế lực chống chủ nghĩa xã hội ở bên ngoài theo sát quá trình cải tổ, tìm mọi cách để lái nó đi theo ý đồ của họ. Các thế lực bên ngoài tác động vào cải tổ cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Hứa hẹn viện trợ kinh tế được dùng làm một thứ vũ khí rất lợi hại để lái cuộc cải tổ theo quỹ đạo mà phương Tây mong muốn. Chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hoà bình” trong nội bộ Liên Xô và Đông Âu. Trong cuốn sách Chiến thắng không cần chiến tranh. R. Níchxơn cho rằng “mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”. Ông ta viết: toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp định mậu dịch, viện trợ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng. Chiến lược của Mỹ trước sau như một là đưa chiến tranh vào bên trong “bức màn sắt”.

    Tóm lại, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc cùng với sự phản bội từ bên trong và từ trên chóp bu của cơ quan lãnh đạo cao nhất là nguyên nhân trực tiếp làm cho Liên Xô sụp đổ. Hai nguyên nhân này quyện chặt vào nhau, tác động cùng chiều, tạo nên một lực cộng hưởng rất mạnh và nhanh như một cơn lốc chính trị trực tiếp phá sập ngôi nhà xã hội chủ nghĩa. Tất nhiên, xét cho cùng chính bọn cơ hội, xét lại và phản bội, sự mất cảnh giác cách mạng trong hàng ngũ những người cộng sản đã tạo ra “cơ hội vàng” cho chủ nghĩa đế quốc “chiến thắng mà không cần chiến tranh”.

    Trong tình hình chủ nghĩa xã hội trì trệ và khủng hoảng do những sai lầm của mô hình cũ thì cải tổ, cải cách mở cửa, đổi mới là tất yếu. Vì chỉ có một cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới sâu sắc, toàn diện mới đưa chủ nghĩa xã hội thoát khỏi khủng hoảng để bước vào thời kỳ phát triển mới. Cải tổ, cải cách, mở cửa, đổi mới là tất yếu nhưng sụp đổ thì không là tất yếu. Vấn để ở chỗ: cải tổ, cải cách, mở cửa, đổi mới thế nào, nhằm mục đích gì, theo đường lối nào?

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Liên Bang Xô Viết Sụp Đổ?
  • Bài Học Từ Sự Sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Liên Xô Và Đông Âu
  • Vì Sao Liên Xô Sụp Đổ: Ii. Sự Chống Phá Điên Cuồng Và Thâm Độc Của Phương Tây
  • Bài 1: Chế Độ Xhcn Ở Liên Xô Và Đông Âu
  • Tại Sao Phôi Thai Không Có Tim Thai? Băn Khoăn Của Nhiều Cặp Vợ Chồng
  • Sự Tan Rã Của Đảng Cộng Sản Liên Xô Và Liên Bang Xô Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Bão Lũ Xuất Hiện Dồn Dập Ở Miền Trung?
  • Miss Tram Giải Thích Hiện Tượng Phun Môi Về Bị Thâm Đen
  • Vì Sao Môi Bé Thâm Và Dài
  • Vì Sao Môi Bé Bị Thâm Và Dài Ra?
  • Những Điều Cần Biết Về Trẻ Em Bị Tím Môi
  • Cho đến nay, nhiều học giả trên thế giới vẫn cố gắng nghiên cứu, lý giải nguyên nhân tan rã của Liên Xô. Báo Thời Nay sẽ giới thiệu tư liệu do một cơ quan nghiên cứu nước ngoài mới công bố trong thời gian gần đây để bạn đọc tham khảo.

    Tháng 3-1985, Gorbachev được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 2-1986, Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ 27. Đây là Đại hội đầu tiên được triệu tập sau khi Gorbachev lên cầm quyền. Sau đó không lâu, Gorbachev chính thức đưa ra khẩu hiệu “Dân chủ hóa tính công khai, dư luận đa nguyên hóa” và lấy đó làm bước đột phá mở ra cơ chế cải cách. Lúc bấy giờ, nhân dân Liên Xô mong muốn cải cách thoát khỏi trì trệ nhưng vẫn chưa rõ, thậm chí, chưa hiểu hàm nghĩa thật sự của khẩu hiệu Gorbachev đưa ra dưới danh nghĩa “perestroika” (cải tổ) là gì.

    Tháng 6-1988, Đảng Cộng sản Liên Xô họp Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 19. Trong báo cáo, Gorbachev có đoạn bộc bạch: “Phương châm chủ yếu của cải tổ thể chế chính trị Liên Xô không chỉ là đề xướng vấn đề dân chủ hóa tính công khai và dư luận đa nguyên hóa. Mà là phải loại bỏ vấn đề Đảng Cộng sản Liên Xô là hạt nhân của thể chế chính trị Liên Xô. Là vấn đề phải chuyển trung tâm quyền lực nhà nước từ trong tay Đảng Cộng sản sang Xô Viết”.

    Tháng 7-1990, Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ 28. Đây là Đại hội cuối cùng trong lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô trước khi Liên Xô tan rã. Đại hội thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh “tiến tới Xã hội chủ nghĩa dân chủ hóa nhân đạo” và một số nghị quyết khác. Từ đây, thể chế đa đảng và thể chế dân chủ nghị viện, ý thức hệ đa nguyên cũng chính thức trở thành phương châm chỉ đạo của Đảng. Các tổ chức chống Cộng thừa cơ được thành lập hàng loạt và phát triển lớn mạnh, triển khai cuộc đấu tranh với Đảng Cộng sản Liên Xô.

    Kusov, Phó Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Nga ngày 28-2-1991 nói: “Sửa đổi Hiến pháp chỉ vẻn vẹn một năm, đã có khoảng 20 chính đảng cấp Liên bang, có hơn 500 chính đảng cấp nước cộng hòa. Hầu hết trong đó trở thành lực lượng chính trị cuối cùng thúc đẩy Đảng Cộng sản Liên Xô bị hạ bệ và giải tán”.

    Dưới sự cổ vũ của phương châm dân chủ hóa tính công khai và thể chế đa đảng của Gorbachev, tinh thần dân tộc chủ nghĩa ở các nước cộng hòa thuộc Liên Xô đã không ngừng dâng cao, khuynh hướng ly khai dân tộc hẹp hòi ngày càng trở nên trầm trọng. Tổ chức Đảng của các nước cộng hòa tham gia Liên bang cũng ngày càng xa rời trung ương. Từ năm 1989, Đảng Cộng sản của một số nước cộng hòa như Latvia, Lithuania (Lít-va), Estonia… đã đưa ra yêu cầu tách khỏi hoặc độc lập với Đảng Cộng sản Liên Xô. Bất chấp sự phản đối của Đảng Cộng sản Liên Xô, ngày 20-12-1989, tại Đại hội 20, Đảng CS Lithuania thông qua Tuyên ngôn, quyết định về địa vị của Đảng Cộng sản Lithuania, tuyên bố Đảng Cộng sản Lithuania tách khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô, giữ quan hệ đối tác bình đẳng với Đảng Cộng sản Liên Xô. Gorbachev liên tục lùi bước trước tình hình này. Cái gọi là “phái dân chủ” trong Đảng đã lợi dụng tình hình để hưởng ứng, phối hợp chặt chẽ với chủ nghĩa ly khai dân tộc ngoài Đảng, tiến hành hoạt động chia rẽ Đảng Cộng sản Liên Xô, từ đó làm tan rã Liên Xô.

    Ngày 17-3-1991, Liên Xô tiến hành trưng cầu ý kiến nhân dân toàn Liên bang. Trong đó, số phiếu bảo lưu Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết chiếm 76,4%. Số phiếu phản đối chiếm 21,7%. Nhưng sáu nước cộng hòa Gruzia, Lithuania, Moldovia, Latvia, Armenia, Estonia từ chối trưng cầu dân ý.

    Ngày 23-4-1991, Gorbachev nhân danh Trung ương Đảng Cộng sản và Xô Viết tối cao Liên Xô tiến hành gặp gỡ những người lãnh đạo của chín nước cộng hòa Liên bang (Nga, Ukraine, Belarus, Kazakstan…), ra tuyên bố 9+1 đề xuất nhanh chóng ký kết Hiệp ước Liên bang mới với tên gọi là Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG, xóa bỏ khái niệm “xã hội chủ nghĩa”. Sự kiện này về mặt luật pháp đã phá hoại thống nhất quốc gia, đặc biệt là thay đổi tính chất XHCN và phương hướng thống nhất của quốc gia. Cùng lúc, Yeltsin – Chủ tịch Xô Viết Liên bang Nga, cũng cố gắng làm tan rã nước này một cách không thương tiếc nhằm chiếm đoạt quyền lực tối cao.

    Ngày 20-8 là ngày ký Hiệp ước Liên bang mới. Ngày 19-8, để giữ lại Liên Xô XHCN đồng thời ngăn chặn cái gọi là “phái dân chủ” lên nắm quyền, một nhóm lãnh đạo cao cấp của Đảng, chính quyền và quân đội Liên Xô đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở một số địa phương trong nước và thành lập Ủy ban tình trạng khẩn cấp do Phó Tổng thống Yanaev đứng đầu. Có thể coi đây là cuộc thử nghiệm cuối cùng của một số nhà lãnh đạo trong Đảng Cộng sản Liên Xô cố nhằm cứu vãn Liên Xô XHCN, tránh cho đất nước rơi vào thảm họa. Nhưng do họ không có niềm tin XHCN rõ ràng và kiên định, lại thiếu ý chí chính trị kiên cường trong đấu tranh thực tế, nên họ đã thất bại. Gorbachev đang đi nghỉ mát, có thái độ trước là lừng chừng, sau là phản bội, và đây cũng là điều góp phần đẩy nhanh tiến trình thất bại của sự kiện.

    Sự kiện 19-8 kết thúc. Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tự giải tán trước sự thúc ép của Gorbachev. 4.228 tòa nhà làm việc, 180 trung tâm chính trị xã hội, 16 cơ sở nghiên cứu chính trị xã hội,… của Đảng Cộng sản Liên Xô đều bị nhà cầm quyền Nga niêm phong và tịch thu. Tổ chức Đảng Cộng sản khắp các khu vực Nga và ở các nước cộng hòa Liên Xô nhanh chóng bị giải tán hoặc bị cấm hoạt động. Toàn Đảng tan rã theo. Vậy là một đảng lớn, có gần 20 triệu đảng viên, đã mất địa vị cầm quyền sau 74 năm cầm quyền.

    Cho đến hôm nay, trong hồ sơ của Trung ương hay của địa phương, đều không thấy ghi chép gì khi thế lực thù địch xóa bỏ Đảng Cộng sản gặp phải sự chống đối của tổ chức các cấp của Đảng. Không hề thấy ghi chép gì về việc đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô tập hợp lại một cách có tổ chức để tiến hành bất cứ một hoạt động phản đối quy mô lớn nào nhằm bảo vệ Khu ủy, Thành ủy hoặc Huyện ủy của mình.

    Mất Đảng tất yếu đưa tới mất nước. Ngày 25-12-1991 là ngày cuối cùng Gorbachev làm Tổng thống Liên Xô, cũng là ngày tồn tại cuối cùng của Liên Xô. 10 giờ sáng, Gorbachev đến Phủ Tổng thống ở Điện Kremli chuẩn bị đơn từ chức mà ông ta sẽ đọc vào tối hôm đó. 19 giờ, Gorbachev qua máy ghi hình của Đài Truyền hình Trung ương Liên Xô và Đài Truyền hình CNN (Mỹ) đọc thư gửi nhân dân Liên Xô và toàn thế giới, tuyên bố từ chức, ngừng mọi hoạt động của mình với chức vụ Tổng thống Liên Xô. 19 giờ 32 phút, quốc kỳ Liên Xô hình búa liềm đã in đậm trong lòng nhiều thế hệ người Liên Xô và nhân dân thế giới trên nóc điện Kremli ủ rũ hạ xuống trong gió lạnh. 19 giờ 45 phút, lá cờ ba mầu của Liên bang Nga thay thế.

    Buổi sáng 26-12-1991, Viện Cộng hòa Xô Viết tối cao Liên Xô họp hội nghị lần cuối cùng. Hội trường chỏng trơ, vắng ngắt. Trên đoàn Chủ tịch chỉ có một mình Alychanov, Chủ tịch Viện Cộng hòa. Các đại biểu giơ tay biểu quyết thông qua tuyên ngôn tuyên bố “Liên Xô ngừng tồn tại”. Đảng Cộng sản Liên Xô, Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết – hai cái tên rực rỡ suốt hơn nửa thế kỷ, đã rút khỏi vũ đài lịch sử âm thầm như thế.

    Sau khi Liên Xô tan rã, theo “liệu pháp sốc” của người Mỹ, ở nước Nga người ta tiến hành cưỡng chế thực hành cải cách tư hữu hóa trong lĩnh vực kinh tế. Kết quả rất nhanh là đưa đến một nền kinh tế tiêu điều và suy thoái nghiêm trọng. Đất nước nghèo đi nhanh chóng, xã hội rơi vào hỗn loạn. Phạm tội xảy ra tràn lan. Theo tài liệu của Bộ Nội vụ Nga, lúc đó toàn quốc xuất hiện hơn 8.000 băng nhóm tội phạm cỡ lớn có tổ chức. Trong Thông điệp tình hình đất nước năm 1996, Yeltsin cũng thừa nhận: “Nước Nga hiện nay đã vượt Italia, trở thành vương quốc băng đảng mafia lớn nhất thế giới”.

    Từ năm 1991 đến cuối thế kỷ 20, tổng giá trị sản xuất trong nước của Nga giảm xuống 52% so năm 1990 (trong khi đó, vào thời kỳ chiến tranh từ năm 1941 đến năm 1945 chỉ giảm 22%). Sản xuất công nghiệp cùng thời kỳ giảm 64,5%. Sản xuất nông nghiệp giảm 60,4%. Đồng rúp mất giá. Vật giá tăng cao hơn 5.000 lần. Từ năm 1992 trở đi, dân số nước Nga luôn có xu thế giảm. Tuổi thọ bình quân của người Nga năm 1990 là 69,2 tuổi. Còn năm 2001 là 65,3 tuổi. Thậm chí, tuổi thọ bình quân của nam giới ở một số vùng giảm xuống đến 10 tuổi.

    Đảng Cộng sản Liên Xô bị diệt vong, Liên Xô tan rã mang lại hậu quả tai hại cho Nhà nước và nhân dân Liên Xô. Năm 2005 khi đọc Thông điệp Liên bang, Tổng thống Nga Putin nói: “Liên Xô tan rã là tai họa chính trị nghiêm trọng nhất của thế kỷ 20. Đối với nhân dân Nga, đó là một bi kịch thực sự”. Rất nhiều học giả Nga cũng rút ra kết luận rằng, Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã làm cho phát triển kinh tế – xã hội thụt lùi mấy chục năm.

    Một đảng do Lenin sáng lập. Một Đảng từng lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của nước Nga Sa hoàng, xây dựng thành công Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên. Một đảng từng lãnh đạo nhân dân chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng. Một đảng đã lãnh đạo chiến thắng phát-xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và cống hiến to lớn cho thắng lợi của thế giới trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Một đảng giành được thành tựu rực rỡ trong xây dựng CNXH và đi đầu trong việc đưa vệ tinh nhân tạo vào vũ trụ. Vì sao lại mất địa vị cầm quyền sau 74 năm cầm quyền?

    Một đảng khi có 20 nghìn đảng viên đã lãnh đạo Cách mạng tháng Hai lật đổ ách thống trị chuyên chế Sa hoàng; khi có 35 vạn đảng viên đã giành được thắng lợi của Cách mạng XHCN tháng Mười và nắm chính quyền toàn quốc; khi có hơn 5.540.000 đảng viên lãnh đạo nhân dân chiến thắng phát-xít Đức hung bạo, lập chiến công bất hủ, chấm dứt Chiến tranh Thế giới thứ hai, vậy mà khi có gần 20 triệu đảng viên thì lại mất địa vị cầm quyền, mất Đảng, mất nước. Rốt cuộc, vấn đề là ở chỗ nào?

    Theo NDĐT-THỜI NAY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Nào Đưa Liên Bang Xô Viết Đến Chỗ Tan Rã
  • Vì Sao Lá Cây Có Màu Xanh Lục?
  • Tại Sao Lão Hạc Tìm Đến Cái Chết Mặc Dù Ông Có Thể Sống Câu Hỏi 86362
  • Vì Sao Lão Hạc Lại Chọn Cách Ăn Bả Chó Để Tìm Đến Cái Chết
  • Vì Sao Lỗ Chân Lông Trên Da Mặt Càng Ngày Càng To?
  • Phê Phán Quan Điểm: “sự Sụp Đổ Của Liên Xô Và Đông Âu Bắt Nguồn Từ Chủ Nghĩa Mác – Lênin” !

    --- Bài mới hơn ---

  • Xử Lý Chứng Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản Ở Trẻ
  • Sự Gia Tăng Dân Số Tác Động Đến Môi Trường
  • Pháp Luật Dân Sự
  • Thực Trạng Dân Số Việt Nam Và Ý Nghĩa Giải Quyết Vấn Đề Dân Số
  • Bùng Nổ Dân Số Trong Tiếng Tiếng Anh
  • (TG) – Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 1980 – đầu thập niên 1990 được coi là là thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ XX, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin bị thách thức nghiêm trọng từ cả hai phía bên ngoài và bên trong, gây xáo trộn mạnh về tư tưởng không chỉ đối với các đảng Cộng sản mà còn với nhiều đảng phái chính trị khác.

    Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 1980 – đầu thập niên 1990 được coi là chấn động lớn nhất trong nền chính trị thế giới nửa cuối thế kỷ XX. Trong Thông điệp Liên bang Nga năm 2005, Tổng thống V. Putin từng gọi đây là thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ XX. Chỉ trong vòng ba năm từ 1989 đến 1992, toàn bộ 8 nước XHCN ở Đông Âu, Liên Xô và Mông Cổ đã sụp đổ. Các đảng cộng sản nắm quyền bị giải thể, ngừng hoạt động hoặc phải đổi tên gọi. Hàng triệu đảng viên cộng sản rời bỏ hàng ngũ và lý tưởng của mình. Nhiều thành quả đạt được trong thời gian dài xây dựng CNXH ở các nước này bị xóa bỏ. Phong trào công sản thế giới rơi vào khủng hoảng trầm trọng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Các đảng xã hội chủ nghĩa và công nhân tại các nước Tây Âu đi vào thoái trào. Quá trình “phi marxit hóa” lan rộng. Xu hướng chuyển dịch quan điểm chính trị từ tả sang hữu diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới.

    Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác-Lênin bị thách thức nghiêm trọng từ cả hai phía bên ngoài và bên trong. Từ bên ngoài, đó là sự tấn công dồn dập của các học thuyết tư sản như chủ nghĩa tự do mới, quan điểm tân bảo thủ, cũng như sự thâm nhập gây xói mòn từ các quan điểm chống cộng kể cả ôn hòa lẫn cực đoạn, theo đó sự sụp đổ của Liên Xô và phe XHCN Đông Âu được coi vừa là kết quả, vừa là cáo chung của chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ bên trong, các xu hướng xét lại, cả cấp tiến lẫn bảo thủ, cải lương lẫn thỏa hiệp, … liên tục nổi lên, gây chia rẽ nội bộ các đảng cộng sản, các đảng xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân, trong khi chủ nghĩa trotskyism, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy, các quan điểm “tân Marxit”, “hậu marxit”, … trỗi dậy, gây xáo trộn mạnh về tư tưởng.

    Tình hình phức tạp đó đòi hỏi chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách là một học thuyết khoa học phải có những bước phát triển mới thận trọng nhưng quyết đoán, một mặt làm sáng tỏ những lập luận, phê phán có cơ sở khoa học và giá trị tham khảo, mặt khác vạch rõ những luận điệu xuyên tạc, ngụy biện, phi logic, đánh tráo khái niệm, chỉ ra những bằng chứng thực tiễn không thể chối cãi để bác bỏ tính chất vô căn cứ và sai lầm nguy hiểm của những luận điệu này.

    1. Các quan điểm sai trái về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu 

    Không còn nghi ngờ gì rằng sự sụp đổ bất ngờ và nhanh chóng của siêu cường Xô-viết sau hơn 7 thập kỷ tồn tại đã giáng một đòn nặng nề không chỉ vào mô hình phát triển của Liên Xô và các nước XNCH, mà vào chính học thuyết Mác-Lênin và hệ tư tưởng XHCN. Sự đổ vỡ này xảy ra ngay tại Liên Xô – quê hương của Cách mạng tháng Mười, nơi khai sinh ra nhà nước Marxit-Lêninit đầu tiên trên thế giới, thành trì của CNXH và phong trào cộng sản quốc tế khiến cho uy tín của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như lòng tin của các tầng lớp xã hội vào sức mạnh khoa học của học thuyết này bị tổn hại nghiêm trọng.

    Thứ nhất, nhiều học giả phương Tây, cả cánh tả và cánh hữu, từ tân bảo thủ đến tân tự do, tin rằng sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đặt dấu chấm hết đối với chủ nghĩa Mác-Lênin sau hơn 150 năm tồn tại. Đại diện cho quan điểm này là triết gia tân bảo thủ Francis Fukuyama với công trình nổi tiếng “Sự cáo chung của lịch sử và người cuối cùng” xuất bản năm 1992, trong đó cho rằng cùng với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và sự sụp đổ của bức tường Berlin thì cuộc đấu tranh giữa các hệ tư tưởng như là động lực của sự tiến bộ nhân loại đã đến hồi kết với thắng lợi cuối cùng thuộc về nền dân chủ tự do và chủ nghĩa tư bản thị trường.

    Cuộc tấn công của các quan điểm tân tự do (neoliberalism) và tân bảo thủ (neoconservatism) không chỉ dừng ở việc cho rằng thất bại của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu chính là sự “thất bại” của học thuyết của Mác và Lênin, mà còn nhằm chứng minh sự phá sản của nền tảng lý luận Mác-Lênin. Một mặt, phái “Shumpeter mới” (neo-shumpeterianism) phê phán rằng, học thuyết này chỉ thấy được khía cạnh “phá hủy” của CNTB, mà không thấy được khả năng “sáng tạo” của nó trong vòng chuyển động không ngừng của “sự phá hủy mang tính sáng tạo”. Một số học giả cho rằng, Mác và Lênin đã không lường trước được khả năng thích nghi, tiến hóa của CNTB, chẳng hạn trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa chủ và thợ, giữa tư bản và lao động. Mặt khác, họ cho rằng, học thuyết này đã chỉ ra con đường sai lầm để thoát khỏi CNTB, chẳng những không dẫn đến CNXH, mà còn đưa tới một chế độ “toàn trị độc đoán”, hay nói như học giả tân tự do hàng đầu Friedrich F. Hayek là dẫn tới “chủ nghĩa nô lệ”.

    Trên thực tế, trong giai đoạn này, các nước TBCN đứng đầu là Mỹ đã có bước phát triển lớn, vượt qua được các cuộc khủng hoảng dầu lửa thập niên 1970, khủng hoảng nợ thế giới thập niên 1980, đi đầu trong cuộc Cách mạng khoa học-công nghệ lần thứ 3 hay còn gọi là Cách mạng tin học và khuấy động một cao trào toàn cầu hóa mới có tác động lôi kéo ngày càng nhiều các nước trên thế giới tham gia. Mô hình phát triển dựa vào chủ nghĩa tự do mới dường như trở nên lấn át, từ thập niên 1990 thậm chí còn “vượt mặt” cả mô hình nhà nước phúc lợi rất phổ biến ở Tây Âu và mô hình nhà nước phát triển của Nhật Bản. Tại các nước TBCN, các thế lực tân tự do và tân bảo thủ đồng loạt thắng cử và nắm quyền, trong khi các tổ chức công đoàn suy yếu, phúc lợi xã hội bị cắt giảm. Theo sự quả quyết của học giả Mỹ Stephan Walt, chủ nghĩa Mác-Lênin đã sai lầm khi cho rằng các nước TBCN không thể tránh khỏi chiến tranh, trong khi xung đột lại luôn nổ ra giữa các nước trong phe XHCN.

    Thứ hai, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cũng kích thích cuộc đấu tranh tư tưởng ngay trong lòng các đảng cộng sản do sự trỗi dậy của hàng loạt các quan điểm mạo danh Marxit-Lêninit, kêu gọi bảo vệ học thuyết này, nhưng thực chất gây nghi ngờ, chia rẽ, xói mòn cơ sở lý luận Mác-Lênin. Không thể phủ nhận rằng, thất bại của mô hình phát triển của Liên Xô và các nước XHCN đã chứng tỏ một số luận điểm quan trọng như chuyên chính vô sản, kế hoạch hóa tập trung, tổng khủng hoảng của CNTB, … đã không còn phù hợp trong điều kiện mới. Nhưng cũng chính điều này lại khiến cho một số người, cả vô tình lẫn cố ý, quay sang phủ nhận tính khoa học của toàn bộ hệ thống lý luận Mác-Lênin.

    Theo phái marxit mới (neo-marxism), động lực chính gây sụp đổ Liên Xô chính là giới tinh hoa nắm đặc quyền, đặc lợi ở nước này (nomenklatura). Quan điểm này lý giải rằng, khi chế độ chính trị ở Liên Xô không còn đảm bảo an toàn cho địa vị của giới tinh hoa, thì những người này tìm cách thay đổi chế độ, tiến hành tư hữu hóa các tài sản của đất nước nhằm chuyển đổi đặc quyền, đặc lợi thành các tài sản tư nhân để tiếp tục duy trì địa vị lũng đoạn của họ. Bất chấp việc thổi phồng vai trò của giới tinh hoa, quan điểm này đã phần nào phản ánh đúng tình trạng tham nhũng khá phổ biến ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước khi sụp đổ.

    Những người cánh tả theo quan điểm hậu marxit (post-marxism) tìm cách rũ bỏ khỏi chủ nghĩa Mác các quan điểm của Lênin, cho rằng mô hình xây dựng CNXH ở một nước riêng lẻ có trình độ phát triển lạc hậu bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN mà Lênin đặt nền móng ở nước Nga tuy là một trong số nhiều lý luận khác nhau phân nhánh từ chung một gốc là học thuyết của Mác, nhưng đã chệnh hướng khỏi các nguyên lý Marxit cơ bản. Vì thế, thất bại của mô hình do Lênin chủ xướng chỉ mang tính cục bộ, khu biệt, trong khi các nhánh lý luận Marxit khác vẫn có thể tiếp tục phát triển ở nhiều nước Tây Âu, châu Á, Mỹ Latin, …

    Có thể nói, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã thách thức nghiêm trọng nền tảng lý luận và cơ sở xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, gây hoài nghi về tính khoa học của học thuyết này, cũng như mất phương hướng về tư tưởng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

    2. Nguyên nhân của sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu

    Cho đến nay đã đạt được sự nhất trí tương đối rộng rãi rằng sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu có nguyên nhân sâu xa từ thất bại của mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp. Vấn đề là ở chỗ, có phải ngay từ đầu mô hình này đã thất bại và đã xa rời chủ nghĩa Mác hay không? Không thể phủ nhận rằng, trong nhiều thập kỷ kể từ Cách mạng tháng Mười năm 1917, mô hình này đã thể hiện được sức sống bền bỉ và sức sáng tạo lớn, tạo được những thành quả phát triển vĩ đại, đưa Liên Xô từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành siêu cường thế giới về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự với mức sống, phúc lợi, công bằng và bình đẳng xã hội được đảm bảo ở mức độ tương đối cao. Mô hình này cũng đã được áp dụng thành công ở hàng loạt nước Đông Âu và một số nước thuộc địa mới giành độc lập sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, làm hình thành phe XNCN thế giới. Tính chất Marxit của mô hình này thể hiện rõ ở việc thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân do các đảng cộng sản lãnh đạo, tiến hành chuyên chính vô sản, xóa bỏ chế độ tư hữu và giai cấp tư sản, tập trung tư liệu sản xuất vào tay nhà nước hay còn gọi là kế hoạch hóa tập trung, thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa và phổ cập phúc lợi xã hội miễn phí, v.v.

    Như vậy, câu hỏi đặt ra là từ khi nào và tại sao mô hình này lại thất bại? Trên thực tế, từ thập niên 1970, lực lượng sản xuất thế giới bước vào giai đoạn phát triển tăng tốc mới với 2 động lực chính là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 hay còn gọi là cuộc cách mạng tin học, và quá trình toàn cầu hóa. Trong khi đó, Liên Xô và các nước XHCN theo mô hình Xô-viết lại trở nên xơ cứng, trì trệ, không bắt kịp với những thay đổi của thời đại, ngày càng chệch hướng khỏi các nguyên lý Marxit-Lêninit. Các đảng cộng sản cầm quyền ngày càng xa rời thực tiễn, rơi vào tình trạng giáo điều về tư tưởng, sa sút về tinh thần, suy thoái về tổ chức, tha hóa về đạo đức, đánh mất lòng tin của quần chúng nhân dân. Nền dân chủ XHCN bị xói mòn bởi tình trạng tập trung quyền lực và tệ sùng bái cá nhân ngày càng trở nên chuyên chế, quan liêu, độc đoán, duy ý chí, khiến cho các mâu thuẫn xã hội tích tụ không được giải quyết, bức xúc xã hội gia tăng. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mất dần tính hiệu quả và động lực phát triển do các quan hệ sản xuất trở nên xơ cứng, coi nhẹ lợi ích cá nhân, khuyến khích vật chế, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của con người, cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất, khiến cho tăng trưởng kinh tế mất đà, hiệu quả kinh tế-xã hội ngày càng giảm sút.

    Việc chi phí những nguồn lực khổng lồ cho chạy đua vũ trang với Mỹ, viện trợ cho các nước XHCN anh em và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, sa lầy về quân sự ở Afghanistan hay tình trạng giá dầu thế giới sụt giảm trong thập niên 1980, … cũng thường được nhắc đến như những nhân tố góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng trì trệ của Liên Xô, chứ không phải là nguyên nhân dẫn đến sụp đổ.

    Cần lưu ý rằng, mặc dù khủng hoảng của mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp mà cốt lõi là việc không giải quyết được mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong bối cảnh mới theo nguyên lý của Mác, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những biến cố ở Liên Xô và Đông Âu, cũng như ở nhiều nước XHCN khác trên thế giới, nhưng rõ ràng không phải là điều tất yếu gây sụp đổ dây chuyền chế độ chính trị ở các nước này. Nói một cách khác, đây không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự đổ vỡ hàng loạt. Sự “vượt thoát” bằng cải cách và đổi mới của CNXH ở Trung Quốc, Việt Nam là những minh chứng không thể chối cãi cho điều đó.

    Những sai lầm nghiêm trọng của ban lãnh đạo Liên Xô đứng đầu là Gorbachev trong quá trình cải tổ chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu. Sự thực, đổ vỡ đã có thể không xảy ra nếu công cuộc cải tổ được tiến hành từng bước thận trọng, chứ không ồ ạt trên cả 4 phương diện: tự do hóa kinh tế, dân chủ hóa chính trị, phi ý thức hệ tư tưởng và mở cửa ra bên ngoài. Chính đường lối phiêu lưu, nguy hiểm này đã làm bùng nổ và lan tràn đến mức không thể kiểm soát nổi các mâu thuẫn chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo, sắc tộc, các xu hướng ly tâm, cấp tiến hóa, cực đoan hóa.

    Cải tổ (perestroika) bắt đầu bằng chính sách “tăng tốc” (uskorenia) nhằm nâng cao năng suất lao động thông qua cắt giảm chi phí, thắt chặt kỷ luật lao động và bước đầu áp dụng một số nhân tố thị trường vào mô hình kinh tế kế hoạch của Liên Xô. Tuy nhiên, sau một vài thành công ban đầu, các rối loạn về giả cả, khan hiếm hàng tiêu dùng bùng phát, khủng hoảng kinh tế bắt đầu. Trước sự phản đối trong đảng và ngoài xã hội, để duy trì quyền lực của mình Gorbachev tiến hành bước phiêu lưu mới – phát động chính sách công khai hóa (glasnost) và dân chủ hóa mà thực chất là kích động dư luận công kích, bôi nhọ Đảng Cộng sản, phủ nhận thành tựu của 70 năm xây dựng CNXH, tiến tới xóa bỏ quyền kiểm soát của Đảng đối với lĩnh vực truyền thông, bật đèn xanh cho quá trình tư nhân hóa ồ ạt các xí nghiệp quốc doanh, làm mất chỗ dựa kinh tế của quyền lực lãnh đạo của Đảng. Để duy trì và thâu tóm quyền lực cho mình, chống lại sự phản đối ngày càng tăng trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev đã phá vỡ nguyên tắc tổ chức tập trung dân chủ trong đảng, tùy tiện khởi động cải cách chính trị nhằm hạn chế tiến tới xóa bỏ quyền lực của Đảng Cộng sản, phi chính trị hóa công an và quân đội, tước bỏ chức năng bảo vệ Đảng của các lực lượng vũ trang.

    Tại Hội nghị đại biểu lần thứ 19 của Đảng Cộng sản Liên Xô họp vào tháng 6/1988, Gorbachov đã áp đặt “tư duy mới” về “CNXH mới dân chủ và nhân đạo” mà thực chất là chuyển hướng sang các giá trị tư sản phương Tây, thay thế nguyên tắc tập trung dân chủ bằng dân chủ bầu cử hình thức, giải tán 23 ban trung ương của Đảng mà thực chất là tước bỏ các công cụ cầm quyền của Đảng, thực hiện đa nguyên hóa chính trị thông qua cái gọi là “phân chia lại quan hệ quyền lực giữa Đảng và các Xô-viết” mà thực chất là xóa bỏ vai trò của đảng như đội tiền phong của giai cấp công nhân, chuyển trung tâm quyền lực nhà nước từ tay Đảng Cộng sản sang các Xô-viết. Đây là một trong những bước ngoặt căn bản dẫn đến đổ vỡ hệ thống chính trị Liên Xô. Bằng nhiều thủ đoạn chính trị tinh vi, quyền lực của Đảng đã bị chuyển sang tay Xô-viết tối cao, và sau đó việc sửa đổi Hiến pháp đã cho phép Gorbachev thâu tóm được chức Chủ tịch Xô-viết tối cao vào năm 1988 và trở thành Tổng thống đầu tiên của Liên Xô vào năm 1989. Ngày 14/3/1990 điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị sửa đổi, chính thức bãi bỏ quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, quy định đa nguyên chính trị và hệ thống đa đảng.

    Những bước đi nguy hiểm này đã hủy hoại uy tín của Đảng Cộng sản, làm mất phương hướng dự luận xã hội, phá vỡ niềm tin của quần chúng đối với những giá trị XHCN tốt đẹp, thổi bùng chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa ly khai tại các nước cộng hòa tự trị và các nước XHCN anh em, tạo điều kiện cho các phần tử bất đồng chính kiến, những kẻ cơ hội chính trị đủ mọi phe phái trỗi dậy, tập hợp thành các phong trào chống đối.

    Cùng với những sai lầm trong chính sách đối nội, ban lãnh đạo do Gorbachev cầm đầu thi hành chính sách đối ngoại phản động theo hương từng bước nhượng bộ, thỏa hiệp với phương Tây. Không chỉ dừng lại ở chủ trương hòa dịu, chấm dứt chạy đua vũ trang, tiến hành giải trừ quân bị, ban lãnh đạo Liên Xô đã chủ động rút quân khỏi Afghanistan và các nước Đông Âu, đánh mất kiểm soát tình hình chính trị tại các nước này. Nguy hiểm hơn, “tư duy đối ngoại mới” còn kêu gọi mở cửa về văn hóa-tư tưởng, cấp tập “nhập khẩu” các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây. Điều này đã tiếp tay cho các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng những khó khăn trong nước, đẩy mạnh “diễn biến hoà bình”, kích động tâm lý bất bình, bức xúc trong dân chúng, hỗ trợ tập hợp lực lượng, hình thành các phong trào đối lập, phản kháng, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu.

    Sự tan rã của Liên bang Xô viết diễn ra đồng thời với sự sụp đổ của khối XHCN Đông Âu. Năm 1989, chế độ XHCN tại 5 nước Đông Âu là Balan, Hungary, CHDC Đức, Bulgary và Rumani sụp đổ. Năm 1990 các nước cộng hòa vùng Baltic tuyên bố độc lập, rút khỏi Liên Xô. Ngày 20/8/1991, đến lượt các thế lực chống đối lên nắm quyền tại 3 nước cộng hòa chủ chốt là Nga, Ucraina và Beloruxia cũng tuyên bố độc lập. Ngày /12/1991 Liên Xô chính thức giải thể. Năm 1992 đến lượt các chế độ XHCN ở Albani và Nam Tư cũng bị lật đổ.

    Không còn nghi ngờ gì nữa, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu bắt nguồn từ việc xa rời các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, bắt đầu từ việc giáo điều, xơ cứng hóa học thuyết này, và kết thúc bằng việc xuyên tạc, phá bỏ các nguyên lý Marxit-Lêninit cơ bản.

    3. Giá trị và sức sống đích thực của chủ nghĩa Mác-Lênin

    Phân tích trên chứng tỏ rõ ràng rằng, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu vào cuối thập niên 1980 – đầu thập niên 1990 không bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác-Lênin, mà trái lại, có nguyên nhân sâu xa và trực tiếp từ những sai lầm và vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trên cả hai khía cạnh: máy móc, giáo điều và bóp méo, xuyên tạc. Hơn thế nữa, thực tiễn thế giới những năm tháng sau những biến cố lịch sử đó đã chứng tỏ, chân lý vẫn thuộc về chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp tục khẳng định những giá trị đích thực, cũng như sức sống mãnh liệt của học thuyết cách mạng vĩ đại này.

    Thành công của công cuộc cải cách ở hàng loạt các nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, như Đổi mới ở Việt Nam, cải cách mở cửa ở Trung Quốc, cải cách kinh tế ở Lào, kết quả bước đầu của chính sách “cập nhật hóa mô hình kinh tế” ở Cuba, … đưa các nước này không chỉ vượt qua được giai đoạn khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, mà còn tạo được những bước đột phá phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, là những bằng chứng rõ ràng về sự hồi sinh của chủ nghĩa Mác-Lênin. Cốt lõi của những thành công này là việc kết hợp hài hòa các quy luật của kinh tế thị trường với các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN với mở cửa và hội nhập quốc tế, giữa việc củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản với việc xây dựng nhà nước pháp quyền và dân chủ hóa xã hội. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện thực tiễn mới không phải là việc tân trang, cắt xén hay sửa đổi tùy tiện hệ thống lý luận này, mà là việc đổi mới nhận thức, tư duy lại một cách thấu đáo các nguyên lý Marxit-Lêninit trong tình hình mới, bổ sung và phát triển lý luận lên ngang tầm thời đại bằng những tinh hoa tri thức mới của nhân loại cũng như kinh nghiệm thực tiễn mới từ cuộc sống.

    Sự trỗi dậy mạnh mẽ trong gần hai thập niên qua của phong trào cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latin trong điều kiện o bế gắt gao của các thế lực tư bản và đế quốc, là bằng chứng sống động về sự bền bỉ của lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Có thể ở đây người ta không nói nhiều đến chủ nghĩa Mác-Lênin, về cách mạng vô sản hay vai trò của Đảng Cộng sản, nhưng các quan điểm cánh tả và xã hội chủ nghĩa về độc lập, tự do, công bằng, bình đẳng, chống áp bức, bóc lột, bất công, đói nghèo; ưu tiên chăm lo sức khỏe, giáo dục và bảo đảm an sinh xã hội cho đông đảo người lao động; không chấp nhận sự thống trị của thị trường, của tư bản và của giai cấp tư sản đang chứng tỏ được sức lôi cuốn, ngày càng thẩm thấu sâu rộng vào nhận thức của các tầng lớp nhân dân.

    Cũng tương tự như vậy, cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo suy thoái kinh tế toàn cầu “trăm năm mới có một lần” nổ ra đầu tiên tại Mỹ và các nước TBCN phát triển vào năm 2008 một lần nữa lại cho thấy sức mạnh khoa học phi thường của học thuyết Mác-Lênin. Người ta lại tìm đọc những tác phẩm mà các nhà kinh điển đã viết ra cách đây hàng trăm năm để tìm câu trả lời cho những vấn đề hiện tại. Nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ Michael Burawoy (2000) nhận xét, chủ nghĩa Mác như chiếc boomerang – càng cố tình ném nó đi xa thì càng khiến nó mau quay trở lại vì cốt lõi của học thuyết này chính là sự phê phán sâu sắc nhất về CNTB. Còn học giả bảo thủ Robert Kagan (2008) phải thừa nhận “kết thúc của sự cáo chung của lịch sử” với hàm ý mỉa mai những người đã “mừng hụt” gần hai thập niên trước đây. Chủ nghĩa tư bản có thể chưa hết dư địa để phát triển, nhưng không thể thoát khỏi những căn bệnh hiểm nghèo do chính nó sinh ra.

    Với tư cách là một thế giới quan và phương pháp luận khoa học, học thuyết Mác-Lênin vẫn không ngừng đổi mới và phát triển, còn với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động thực tiễn của những người vô sản, chủ nghĩa Mác-Lênin đòi hỏi chúng ta phải luôn biết vận dụng sáng tạo để đi tới thành công.   

    GS.TS Nguyễn Xuân Thắng

    Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Nguyên Nhân Bị Mụn Kể Cả Nam Hay Nữ
  • Cách Trị Mụn Vào Mùa Đông Đạt Hiệu Quả Không Ngờ
  • Mọc Mụn Ở Trán Là Bệnh Gì Kèm Nguyên Nhân Và Biểu Hiện Nhận Biết
  • Nguyên Nhân Khiến Mẹ Sau Sinh Bị Nổi Mụn Và Những Lưu Ý Trong Cách Chăm Sóc Da Sau Sinh
  • Da Mụn Sau Sinh, Đâu Là Nguyên Nhân Và Giải Pháp Khắc Phục?
  • Tại Sao Liên Xô Tan Rã?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Sao Bạn Bị Lỗ Chân Lông To Và Cách Nào Khắc Phục Hiệu Quả?
  • Bé 4 Tuổi Ngộ Độc Sau Khi Ăn Bầu Xào Bị Đắng, 3 Loại Rau Bị Đắng Cần Vứt Bỏ
  • “giải Mã” Vì Sao Mướp Đắng Rừng Giúp Chữa Bệnh Tiểu Đường?
  • Vì Sao Miền Trung Mưa Lũ Kéo Dài?
  • Vì Sao Miền Trung Mưa Lớn Kéo Dài Gây Lũ Vượt ‘đại Hồng Thuỷ’ Năm 1979, Ngập Sâu Nhiều Nơi?
  • Trong giai đoạn 1918 – 1920, nước Nga Xô viết nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và bị bọn Bạch vệ (được sự hậu thuẫn của nước ngoài) tấn công từ bốn phía. Trong giai đoạn đặc biệt khó khăn này, nước Nga Xô viết non trẻ lâm vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Lênin và Đảng Bonsevich, nước Nga Xô viết đã vượt qua thách thức hiểm nghèo để tiếp tục phát triển.

    Cuộc duyệt binh của các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô ở Quảng trường Đỏ.

    Sau hơn bảy chục năm tồn tại, phát triển không ngừng, vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Liên Xô đã trở thành một cường quốc hàng đầu thế giới. Với sức mạnh to lớn về quân sự, khoa học công nghệ và kinh tế, Liên xô đủ sức đương đầu với hệ thống tư bản thế giới và có khả năng ngăn chặn mọi âm mưu, hoạt động hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ hòa bình thế giới.

    Liên Xô tan rã khi đã đạt đến đỉnh cao.

    Đã có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn bài viết, công trình chuyên khảo và sách lý giải vấn đề này, trong đó các cuốn sách của những người trong cuộc đưa ra lời giải có sức thuyết phục nhất. Nhân kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng Mười Nga (7/11/1917 – 7/11/2013), bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn cận cảnh về sự tan rã của Liên Xô.

    1. Hệ thống XHCN hiện thực với Liên Xô làm trụ cột đã có đóng góp hết sức to lớn vào sự phát triển của thế giới.

    Trong nửa sau của thế kỷ XX, trên thế giới có hơn một chục Đảng Cộng sản cầm quyền, hình thành một hệ thống XHCN hùng mạnh đủ sức kiềm chế mọi hành động đơn phương, hiếu chiến chống phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ.

    Chính nhờ sự tồn tại của hệ thống XHCN hùng mạnh, hàng trăm dân tộc bị nô dịch, áp bức đã vùng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, làm suy sụp chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới. Xét đến cùng, sự hình thành và phát triển của phong trào không liên kết là thành quả của cuộc đấu tranh vô sản – tư sản trên phạm vi toàn cầu, là thành tựu to lớn của các Đảng Cộng sản cầm quyền trong thế kỷ XX. Nói cách khác, chính những người cộng sản, trước hết là các Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước thuộc hệ thống XHCN, đã ghi tạc một mốc son chói lọi vào tiến trình phát triển văn minh nhân loại.

    Các Đảng Cộng sản cầm quyền đã xây dựng được một hệ thống xã hội hùng mạnh (hệ thống XHCN), trên nhiều lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội tốt đẹp hơn, ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Cho đến nay, sau 22 năm Liên Xô tan rã, vẫn có 59% người Nga được hỏi ý kiến cho rằng ở chủ nghĩa xã hội nhiều điều tích cực hơn là tiêu cực, và đa số người Nga vẫn nuối tiếc thời Xô viết vàng son.

    Thật trớ trêu, chính các Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống XHCN hùng mạnh được họ dẫn dắt hàng trăm triệu người xây dựng nên sụp đổ, tan rã. Cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

    Thực chất, Đảng Cộng sản Liên Xô, trực tiếp và chủ yếu là Bộ Chính trị, BCHTƯ đã tha hóa, đã tự đánh mất mình và làm cho Liên Xô tan rã. Chính những người lãnh đạo cao nhất, các ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSLX đã thừa nhận điều đó. Tất nhiên, hoạt động chống phá của các thế lực chống cộng quốc tế thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” cũng là một nguyên nhân làm cho Liên Xô tan rã, nhưng chắc chắn không phải là nguyên nhân chính, không phải là nguyên nhân chủ yếu.

    2. Đảng Cộng sản Liên Xô đã tha hóa, biến chất như thế nào?

    Sơ bộ có thể nêu ra một số biểu hiện lớn sau đây:

    – Một là, Đảng Cộng sản Liên Xô đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Đi liền với nó là các bệnh tật: độc đoán, chuyên quyền, không chấp nhận những ý kiến khác với mình; coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, tự cho mọi ý kiến của mình là chân lý buộc mọi người phải tuân theo, coi những ai có ý kiến ngược lại là chống đối, thậm chí là thù địch, khi cần thiết bảo vệ “cái uy” của mình, họ sẵn sàng đối xử với đồng chí, đồng đội như đối với kẻ thù. Kết quả là trong sinh hoạt, đảng mất hết sinh khí, mất hết tính chiến đấu. Sinh hoạt đảng trở nên tẻ nhạt, khô cứng, độc thoại một chiều. Trong điều kiện đó nhiều đảng viên trung kiên, trong sáng không được trọng dụng, cố nín nhịn để tồn tại, những kẻ cơ hội, nịnh bợ có điều kiện được thăng tiến.

    – Hai là, Bộ Chính trị, BCHTƯ Đảng Cộng sản Liên Xô đã quan liêu xa rời thực tiễn, để mất quan hệ máu thịt giữa Đảng CSLX với nhân dân Liên Xô. Tệ quan liêu làm cho những người lãnh đạo các cấp của Đảng CSLX xa rời thực tế, không có hiểu biết đúng đắn hiện trạng xã hội mà mình đang lãnh đạo, quản lý. Họ thờ ơ trước những nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thậm chí không có rung động, phản ứng trước những nỗi thống khổ, oan ức của một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một bộ phận đảng viên, cán bộ cấp dưới.

    – Ba là, những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: Sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.

    Chỉ khi nào sự thoái hóa, biến chất diễn ra tại trung tâm quyền lực (chóp bu) của Đảng thì mới trở thành nguy cơ đối với Đảng, đó là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ. Đảng Cộng sản Liên Xô và các “phiên bản” Đông Âu của nó thuộc trường hợp này.

    Thông thường các biểu hiện trên không tồn tại biệt lập, mà luôn song hành, có quan hệ với nhau, tác động với nhau, có lúc cái này làm tiền đề, điều kiện cho cái kia tồn tại và phát triển. Những biểu hiện thoái hoá nói trên, không bỗng nhiên xuất hiện, mà có một quá trình từ chớm nở như một ung nhọt nhỏ rồi phát triển qua nhiều giai đoạn. Những bệnh tật này lặng lẽ tích dồn liên tục trong nhiều tháng, nhiều năm làm Đảng mất sức chiến đấu, thiếu nhạy bén, không đưa ra được đường lối, quyết sách đúng đắn, khả thi. Trong Đảng CSLX đã thực sự có phân hoá: Một bộ phận cán bộ, đảng viên giàu lên nhanh chóng do đặc quyền, đặc lợi, đại bộ phận sống khó khăn; nhiều đảng viên nói một đằng làm một nẻo, trong cuộc họp nói khác ngoài cuộc họp, suy nghĩ một đằng phát biểu một nẻo. Tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng dần dần nguội lạnh, nhiều đảng viên trở nên thờ ơ trước những vấn đề chính trị có quan hệ đến vận mệnh của Đảng CSLX.

    Theo Ph. M. Rudinxki, có thể chia 20 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô làm 4 loại: 1, Những đảng viên chân chính thường chiếm tỷ lệ nhỏ, 2. Những người thực hiện, chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng như cái máy (chiếm khoảng hơn 96 %); 3. Những kẻ cơ hội , xu thời, nịnh bợ (phần lớn trong bộ máy công quyền) ; 4. Những người im lặng (phần lớn họ là những người có hiểu biết nhưng sợ bị trù dập nên họ giữ im lặng, không dám phát biểu).

    N. I. Rưscôp, nguyên ủy viên Bộ Chính trị ĐCS Liên Xô, Thủ tướng Liên Xô (1985 – 1990) cho rằng: Tồn tại hai Đảng trong Đảng Cộng sản Liên Xô: Một đảng của hàng chục triệu đảng viên bình thường và một đảng của những quan chức chóp bu trong hệ thống đảng, nhà nước Liên Xô . Những đảng viên nắm quyền lực ở cấp cao ngày càng xa rời, cách biệt với hàng chục triệu đảng viên bình thường. Số đảng viên này, về thực chất, không đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp, của dân tộc, mà chỉ tìm mọi cách bám giữ quyền lực vì lợi ích cá nhân của họ.

    Do những bệnh tật kể trên, đại bộ phận quần chúng nhân dân giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng CSLX, thờ ơ đối với những vấn đề chính trị trọng đại của đất nước, thậm chí có một số trông chờ, mong muốn có sự thay đổi. Chính đó là trạng thái trong Đảng Cộng sản Liên Xô và trong xã hội Liên Xô vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, đêm trước của sự sụp đổ, tan rã (1989 – 1991).

    3. Thử bàn về các nguyên nhân.

    Về hoạt động chống phá của Mỹ và các thế lực chống cộng quốc tế thì rõ ràng, có đầy đủ thông tin, tư liệu để khẳng định. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác.

    Mặt trái của cơ chế thị trường cũng là một nguyên nhân. Nhưng nếu quá nhấn mạnh, cường điệu mặt trái của cơ chế thị trường thì khó lòng giải thích được những thoái hoá của Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ Mao Trạch Đông, Xtalin và Prêz nép lãnh đạo, vì thời Mao, thời Xtalin, thời Prêz nép chưa có kinh tế thị trường.

    – Một là, về mặt tổ chức, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, Đảng Cộng sản Liên Xô chưa xây dựng được cơ chế hữu hiệu để đảm bảo dân chủ thực sự trong sinh hoạt Đảng. Đảng CSLX đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong suốt quá trình hoạt động. Theo chúng tôi, đây là điểm khởi thuỷ, nguồn gốc của mọi biểu hiện khác về sự thoái hoá của Đảng CSLX (quan liêu, tha hoá về tư tưởng chính trị, thoái hoá về đạo đức, lối sống, chia rẽ mất đoàn kết…). Ở đâu và khi nào trong sinh hoạt đảng thể hiện sục sôi dân chủ, thì đảng có sức sống mãnh liệt. Đảng Cộng sản Bôn – sê – vích Nga dưới thời lãnh đạo của Lênin là một ví dụ điển hình.

    Xét đến cùng, do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng nên cơ quan lãnh đạo của Đảng CSLX thiếu thông tin nhiều mặt về một vấn đề, đặc biệt là những vấn đề hệ trọng quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Thiếu dân chủ cho nên trong sinh hoạt đảng thường là độc thoại một chiều từ những người lãnh đạo cao nhất, thiếu hẳn thông tin phản hồi từ dưới lên. Thiếu dân chủ, nên những đảng viên ưu tú, nhạy bén, sắc sảo, thông minh không có chỗ để thể hiện ý tưởng của mình. Trong một tổ chức như vậy, bộ tham mưu cao nhất không có đủ thông tin nhiều chiều, toàn diện, do đó những quyết định về đường lối, sách lược thường không phù hợp với thực tiễn, thậm chí trái ngược với quy luật, ngược với hiện thực khách quan. Phải chăng, đó là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng nghị quyết, chỉ thị rất nhiều nhưng việc đưa vào cuộc sống không được bao nhiêu. Theo ngôn ngữ y học, thuốc rất nhiều nhưng không có loại đặc trị, nên bệnh tình sẽ ngày càng trầm trọng.

    Dưới góc độ lý thuyết hệ thống, có thể xem một tổ chức đảng như một hệ thống. Để đảm bảo cho hệ thống đó tồn tại bền vững, nhất thiết phải có trao đổi thông tin. Nếu thiếu trao đổi thông tin (theo 2 chiều thuận – nghịch, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong) thì sớm muộn hệ thống đó sẽ bị đổ vỡ để chuyển sang một trạng thái khác. Thiếu dân chủ trong sinh hoạt đảng, tức là thiếu trao đổi thông tin (trên xuống, dưới lên, trong đảng ra ngoài xã hội và ngược lại). Nếu trạng thái này kéo dài thì sẽ sinh ra thoái hóa của hệ thống đảng dưới nhiều biểu hiện như đã trình bày ở trên. Nếu không khắc phục được, để kéo dài, thì sớm muộn sự thoái hóa của một số đảng viên ở vị trí chủ chốt sẽ dẫn đến sự thoái hóa của đảng cầm quyền.

    Thực tế xác nhận: Đảng CSLX trước đây không có lực lượng nào và không có cơ chế nào thực hiện giám sát và phản biện hoạt động của Tổng Bí thư, của Bộ Chính trị. Một nhóm nhỏ này, có khi chỉ dăm ba người nắm quyền lực tối cao, tự tung tự tác, ai có ý kiến khác sẽ bị họ chụp cho cái mũ là “chống đối”, “là phản động”, “là chống Đảng”, thậm chí là “phản bội Tổ quốc”…

    Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà các thành viên trong tổ chức có quan hệ với nhau rất lỏng lẻo, đảng mất hết sức sống, tính chiến đấu chỉ còn lại trong nghị quyết.

    Do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng, mà một thời gian dài trước khi sụp đổ, tan rã, trong Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như trong các Đảng Cộng sản ở các nước XHCN ở Đông Âu đã lặng lẽ diễn ra một quá trình phân hóa trong đảng, cả trong sinh hoạt Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Các đảng viên nghĩ một đằng phát biểu một đằng, không dám thể hiện chính kiến của mình ngay cả đối với vấn đề quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Trong cuộc họp người ta nói một đằng, mà phần lớn không thật lòng, ngoài cuộc họp người ta nói riêng với nhau lại khác, cấp trên áp đặt, cấp dưới điều chỉnh hành vi cho phù hợp với cấp trên, mọi thông tin chính thức từ trên xuống và đặc biệt là từ dưới lên đều thiếu chân thật. Chưa đến một tháng trước khi tan rã, mất quyền lãnh đạo, những người lãnh đạo của một Đảng Cộng sản cầm quyền vẫn khẳng định sức chiến đấu của đảng mình, vẫn tuyên bố tuyệt đại bộ phận nhân dân còn ơn đảng, theo đảng, tin đảng và tuyệt đại đa số đảng viên là tin cậy, trung thành…!

    Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà Đảng CSLX đã mắc sai lầm trong việc đánh giá cán bộ, đào tạo cán bộ, tuyển chọn và bố trí, sử dụng cán bộ vào vị trí chủ chốt trong Đảng, trong Nhà nước. Thiếu dân chủ là bà đỡ của thói nịnh bợ, luồn lọt, là điều kiện tốt cho chủ nghĩa thực dụng, cơ hội vị kỷ phát sinh tồn tại trong đảng, nhất là ở các cơ quan lãnh đạo cấp cao. Ai cũng biết cán bộ quyết định tất cả, và thực tiễn cũng xác nhận điều đó. Nhưng Đảng CSLX phạm sai lầm trong công tác sử dụng, bố trí cán bộ.

    – Hai là, sự thoái hóa của Đảng CSLX là do các đảng viên, trước hết và chủ yếu là các đảng viên trước hết giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp cao, chưa đủ độ chín muồi về mặt chính trị, chưa thực sự giác ngộ về giai cấp, về lý tưởng cộng sản. Khi kết nạp mọi đảng viên đều tuyên thệ về sự giác ngộ lý tưởng cộng sản của mình, hứa hẹn một lòng một dạ phấn đấu vì lợi ích của giai cấp, của những người lao động, nguyện trung thành với lý tưởng cộng sản… Nhưng khi đã vào đảng rồi thì họ thiếu rèn luyện và trong hoạt động thực tiễn, họ dần dần xa rời những lời tuyên thệ, hứa hẹn của mình. Đó là quá trình tha hóa của đảng viên, và kéo theo sự tha hóa của đảng. Tất nhiên, không phải mọi đảng viên đều diễn ra quá trình tha hóa đó.

    Tất nhiên, còn nhiều vấn đề thuộc về nguyên nhân và điều kiện làm cho Đảng CSLX thoái hóa, Liên Xô tan rã. Ở đây chúng tôi không có điều kiện để trình bày tất cả, chỉ nêu ra những nhân tố quan trọng nhất, cơ bản nhất. Có thể xem nó là nguồn gốc của mọi thoái hóa của Đảng cầm quyền nói chung, của Đảng CSLX nói riêng.

    Sau chừng ấy thời gian, cho phép chúng ta khái quát ba vấn đề lớn sau:

    – Một là, từ Cách mạng tháng Mười Nga đến khi Liên Xô tan rã (1917 – 1991) có thể phân kỳ như sau: 1. Thế hệ cách mạng đầu tiên do Lênin lãnh đạo đã đưa nước Nga Xô viết non trẻ vượt qua thử thách “ngàn cân treo sợi tóc” 1917 – 1920 để tồn tại và phát triển; 2. Thế hệ lãnh đạo thứ hai do Stalin lãnh đạo đã tiêu diệt Chủ nghĩa phát xít Đức – Nhật – Ý và đưa Liên Xô trở thành cường quốc thế giới; 3; Thế hệ lãnh đạo thứ ba ở Liên Xô từ Khơrusốp đến Bregiơnép là những người đã tham gia Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941 – 1945) và họ đã đưa Liên Xô trở thành cường quốc hàng đầu thế giới; 4. Thế hệ lãnh đạo thứ tư với hạt nhân là Góocbachop, là những người sinh ra trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc vĩ đại và chưa nếm trải thử thách của chiến tranh.

    Chính thế hệ lãnh đạo thứ tư đã làm cho Đảng CSLX mất quyền lãnh đạo, làm cho Liên Xô tan rã.

    Hóa ra, việc thâu tóm được mọi quyền lực và mọi nguồn lực quốc gia không khó bằng nắm được lòng dân. Những ai không nắm được lòng dân thì họ đã thất bại ngay khi đang nắm quyền lực.

    – Ba là, các đảng cộng sản đang cầm quyền và chưa cầm quyền cần rút ra bài học từ thất bại của Đảng CSLX, từ sự tan rã của Liên Xô để vượt qua chính mình vì hạnh phúc của nhân dân và sự hưng thịnh của đất nước.

    Sai lầm và khuyết điểm rất khó tránh, nhưng không thực sự nguy hiểm. Điều nguy hiểm nhất là không dám thừa nhận sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là không có quyết tâm chính trị để tránh sai lầm, khắc phục khuyết điểm.

    Theo Lê Văn Cương (Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Bộ Công an)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Liên Xô Sụp Đổ: I. Đường Lối Cải Tổ Sai Lầm Và Sự Phản Bội Của Gorbachev
  • Vì Sao Thai Nhi Không Có Tim Thai
  • Siêu Âm Không Có Tim Thai Lý Do Vì Sao Và Cần Làm Gì?
  • Bạn Có Biết Vì Sao Apple Lại Không Làm Iphone 9?
  • Bạn Có Biết Lý Do Vì Sao Lại Không Có Giải Nobel Toán Học?
  • Nguyên Nhân Nào Đưa Liên Bang Xô Viết Đến Chỗ Tan Rã

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Tan Rã Của Đảng Cộng Sản Liên Xô Và Liên Bang Xô Viết
  • Vì Sao Bão Lũ Xuất Hiện Dồn Dập Ở Miền Trung?
  • Miss Tram Giải Thích Hiện Tượng Phun Môi Về Bị Thâm Đen
  • Vì Sao Môi Bé Thâm Và Dài
  • Vì Sao Môi Bé Bị Thâm Và Dài Ra?
  • Sự sụp đổ có vẻ bất ngờ của Liên Xô đã từng được lý giải bằng nhiều lập luận. Người ta thường đề cập đến các lý do chính trị: sự suy yếu của các Bộ sức mạnh (khối an ninh-quốc phòng), do nội phản hay vì sự tấn công của các thế lực thù địch bên ngoài… Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu ở cả phương Tây và Đông Âu lại cho rằng đây chỉ đơn thuần là cái chết về kinh tế. Bị trượt bánh ở ngã ba đường từ phát triển kinh tế kiểu “quảng canh” sang giai đoạn phải tất yếu “thâm canh”, liên bang chính trị-kinh tế-quân sự có quy mô địa lý lớn nhất hành tinh đã đột ngột tan đàn sẻ nghé ngay sau khúc dạo đầu hùng tráng của các “bản nhạc” Perestroika và Glasnost… Sự tan rã của Liên Xô còn là minh chứng cho lề lối điều hành kinh tế theo kiểu quan liêu bao cấp, tạo điều kiện cho tham nhũng tràn lan, gây nên tình trạng tê liệt trong mọi lĩnh vực sản xuất. Kỷ niệm 20 năm thực hiện công cuộc Đổi mới ở nước ta, chúng tôi xin trích dịch giới thiệu với bạn đọc để tham khảo những bài học đưa đến sự sụp đổ của một cường quốc quân sự nhưng lại không làm chủ được vận mệnh kinh tế của mình. Đây cũng là những bài học cho chúng ta suy ngẫm trước tình trạng tham nhũng hiện nay ở nước ta. Đầu đề là của chúng tôi.

    Như một cầu chì cho thời kỳ chiến tranh lạnh, vũ khí hạt nhân có bốn công dụng. Thứ nhất, nó phù hợp với logic đầy nghịch lý của chiến lược, khả năng hủy diệt của vũ khí hạt nhân vượt quá đòi hỏi đề ra cho giới quân sự, nhưng lại có tác dụng răn đe cả hai phía. Thứ hai, những đề xuất áp dụng vũ khí hạt nhân trên chiến trường bằng cách đánh sụt sức công phá của nó đều bị dẹp đi, vì hiệu quả chiến thuật của phương án này sẽ bằng không nếu đối phương đánh trả cũng bằng vũ khí hạt nhân, nhưng với độ công phá cao hơn một tý. Thứ ba, việc ngăn ngừa các hoạt động tác chiến phi hạt nhân giữa các cường quốc hạt nhân vì thế mà trở nên dễ dàng hơn, vì người ta hiểu rằng chiến thắng vừa đạt được nhờ xung đột bằng vũ khí thông thường sẽ lập tức bị đảo ngược, nếu bên vừa thua chuyển sang dùng đòn hạt nhân. Cuối cùng, vũ khí hạt nhân gạt bỏ khí thế bừng bừng đã tạo đà cho một vài cuộc chiến. Vì nếu vũ khí hạt nhân được sử dụng, hiệu quả chiến tranh sẽ không thể khái toán, còn các hậu quả thảm khốc lại nhỡn tiền, tạo ra tác động cảnh tỉnh mạnh tới mức ngay cả những người cứng rắn như Stalin và Mao, từng điềm tĩnh chứng kiến cái chết của hàng triệu, hàng chục triệu đồng bào mình, cũng phải dè chừng, như bất cứ chính khách nào có dục vọng vừa phải, một khi chạm đến vấn đề hạt nhân.

    Chiến tranh lạnh đã được tiến hành mà không cần giao chiến trực tiếp. Các cuộc chiến diễn ra ở Triều Tiên, Việt Nam, Afganistan… dưới các thấu kính loại khác sẽ hiển hiện với quy mô lớn hơn, vì có các bên thứ ba đan xen vào. Chiến tranh nóng, buộc nhân loại phải trả giá ghê gớm về người và của, (phần nào do cố đạt bằng được liên minh về chính trị), không thể xem là giải pháp cho chiến tranh lạnh. Các chiến dịch viễn chinh hay xung đột vũ trang trực tiếp giữa các bên can thiệp cũng thế. Còn sự can thiệp hay đánh thuê bởi các đồng minh của mỗi bên cùng lắm chỉ giải quyết được những vấn đề khu vực mà thôi.

    Tuy nhiên, các sản phẩm quân sự đủ loại vẫn được chế tác trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, cứ thỉnh thoảng lại rộ lên. Bên yếu hơn thường cần cù hơn trong việc cải tiến, nâng cấp và đa dạng hóa các ứng dụng hạt nhân trong quân sự, vì thế họ thường bị chú ý và chỉ trích nhiều hơn. Vì vũ khí hạt nhân và phụ tùng rất đắt, những ai chống duy trì lực lượng hạt nhân luôn kêu ca rằng nó rất tốn kém mà quên rằng lực lượng chiến đấu không hạt nhân còn tiêu tốn hơn nhiều, chiếm tới bốn phần năm tổng số chi phí cho quân sự. Một số ý kiến chỉ trích tỏ ra có lý hơn khi cho rằng tăng cường vũ khí hạt nhân sẽ hoặc là vô ích, hoặc là nguy hiểm. Họ còn chỉ ra rằng những tính năng cụ thể nào của vũ khí hạt nhân sẽ làm mất đi sự răn đe đối với cả hai bên. Chẳng hạn các tên lửa đạn đạo đạt độ chính xác cao tới mức hủy diệt được hầm chứa tên lửa, nhưng vì phòng thủ chống tên lửa đạn đạo cũng có tính năng chính xác không kém trong việc ngăn chặn đòn trả đũa, nên việc đánh trước đòn hạt nhân trở nên được chú trọng hơn…

    Một khi cuộc chạy đua hạt nhân tầm chiến lược có tác dụng ru ngủ cả hai bên, nó không còn là yếu tố quyết định nữa. Và cuộc chiến tranh lạnh đã được sốt sắng tiếp tục bằng các biện pháp khác như tuyên truyền và lật đổ, đặc biệt là ở châu Âu; hoặc phổ biến hơn, gây được hậu quả lớn hơn – là chạy đua kinh tế. Trong tuyên truyền và lật đổ, cả hai bên từng tạo lực lượng hùng hậu cho đến tận hồi kết, và đều đã dựa dẫm các đồng minh tự phát nhưng vô cùng ngoan cường trong hậu địch. Khu vực yếu kém nhất trong tiền đồn của khối Varsava chính là Ba Lan, một đối tác chưa bao giờ thực sự trung thành với Nga, bất chấp màu quân phục mà họ mang và lý tưởng mà họ nhiệt liệt tán thưởng. Về phần mình, Hoa Kỳ cũng phải đấu đá với trào lưu chống Mỹ xuất phát từ chủ nghĩa phản hiện đại (anti-modernism) được cổ súy bởi một số phần tử cực hữu, cũng như phái cực tả, cả cũ lẫn mới. Ngoài các môn đồ của chủ nghĩa cộng sản, Liên Xô từng thu nạp được những cổ động viên ở phương Tây trung thành với tinh thần chống Mỹ hơn là thân Xô, vì họ vẫn kịch liệt chống Mỹ cả khi Liên Xô không còn nữa.

    Bây giờ mới rõ ra rằng, cho dù thời chiến tranh lạnh từng có những hy vọng ngắn ngủi hoặc những hồi còi báo động, cả hai phe đã không hề tạo dựng nổi bất cứ phương cách tuyên truyền hay lật đổ nào khả dĩ thay đổi được vạch biên giới ngăn cách đôi bên.

    Vậy thì mọi sự quy về thi đua kinh tế. Nói thế không có nghĩa là coi nhẹ uy lực quân sự. Đúng ra, uy lực này đã được bố trí khấm khá ở mỗi bên, đến mức một sự ổn định đáng quý đã được duy trì, do mỗi bên đều ngán tiềm năng của bên kia. Đây được xem là một lợi lộc nữa được vũ khí hạt nhân ban cho, bởi chưng các lực lượng phi hạt nhân của cả đôi bên đều mang tính bất ổn, không dự báo được, và mất cân đối trầm trọng.

    Nhiều nhà kinh tế cảm thấy có sự ngụy biện mà vẫn cố tin rằng, ít nhất cho tới cuối những năm 1960, cơ chế kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết vẫn khá hiệu quả. Niềm tin này có ngọn nguồn của nó: bất chấp những khoản chi khổng lồ để hiện đại hóa quân sự ồ ạt và gấp gáp, cơ chế này vẫn hoàn thành được công cuộc xây dựng dân dụng vĩ đại tới mức thời đó, mỗi gia đình đều được phân căn hộ khép kín thay phòng ở trong những nhà tập thể nhớp nhúa; còn những năm 1970, đã tiến gần tới năng lực sản xuất đủ để bán cho mỗi gia đình một xe ôtô con, thậm chí hai chiếc.

    Liên Xô không hề kém về năng lực sản xuất. Vào những năm 1980, sản lượng theo đầu người về điện của nước này cao hơn Ý, về thép cao hơn Mỹ, về phân bón cao hơn Nhật, về máy kéo cao hơn Tây Đức, về xi măng cao hơn Pháp. Đồng thời, mức sống Xô viết thấp ghê gớm so với Pháp, Ý, Nhật, Tây Đức, hay Hoa Kỳ. Các nhà thống kê từng cãi nhau về từng con số, tìm cách quy đổi chúng về dạng so sánh được. Nhưng thực ra các con số thống kê thật vô nghĩa, vì không thể đo lòng kiên trì, hay sự khéo léo, bằng một cân bơ hay một đôi giày. Sự tương phản ghê gớm giữa các con số hoành tráng về tổng sản phẩm với sự nghèo nàn trong đời sống thường ngày được đả thông là do tham vọng đắt giá về quân sự của Liên Xô. Rất nhiều sắt thép đã biến thành xe tăng, tàu chiến, còn xi măng thì biến thành các sở chỉ huy ngầm khổng lồ, thành vô số những đường băng và hầm chứa tên lửa v.v… Nhưng máy cày và phân bón mà sản lượng theo đầu người của Liên Xô đều vượt trội so với Đức, Nhật và Hoa Kỳ thì chẳng được tích sự gì sao?

    Trên thực tế, bấy nhiêu máy kéo và phân bón đã không sản xuất ra đủ lúa mì đáp ứng nhu cầu của nhân dân Xô viết, trong khi đó Pháp và Mỹ lại xuất siêu đến mức ngũ cốc của họ tràn ngập thị trường thế giới. Theo những đánh giá mạnh dạn nhất, ngân sách quân sự ngốn mất khoảng 30% tổng sản phẩm quốc nội của Liên Xô; nhưng tỉ suất tiêu hao nguyên nhiên liệu đầu vào so với sản phẩm đầu ra của nền sản xuất này còn ảnh hưởng tới đời sống người dân nghiêm trọng hơn nhiều.

    Một lập luận xuất hiện trước khi cơ chế lập kế hoạch tập trung của Liên Xô khởi sự, cho rằng các nhà lập kế hoạch trên trung ương khó mà chỉ đạo nên dùng nhiều thép, hay bê tông cốt thép thì sẽ lợi hơn cho một công trình cụ thể, lại càng không thể dự trù thật chính xác sản lượng của từng loại polime nên đạt là bao nhiêu trong khi có tới hàng trăm loại polime. Cũng thật khó dự kiến được loại máy vi tính nào, hay vặt vãnh hơn, mũ xanh hay giày nâu, sẽ hợp thị hiếu tiêu dùng. Tác giả bài này từng thấy một cửa hiệu ở Leningrad chất đầy giày màu xanh lục chẳng ai thèm mua. Chỉ có thực tiễn tăng hay rớt giá thị trường của từng mặt hàng mới cập nhật được tin chính xác cho nhà sản xuất, và cả người tiêu dùng. Một lý giải nữa là: nền kinh tế Xô viết không biết cách tự hủy hoại – tức là tái tạo, cung ứng nguồn bổ sung ổn định về lao động, vốn đầu tư và mặt bằng sản xuất được giải phóng trong quá trình sa sút, hay phá sản trực tiếp của các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Thiếu vắng cạnh tranh thông qua thị trường, các doanh nghiệp trì trệ, già nua cứ việc tồn tại vui tươi, còn các doanh nghiệp mới, làm ăn năng động và hiệu quả hơn thì không được nhả cho các nguồn nhân tài vật lực bị đóng băng. Vào những ngày cuối đời, Liên Xô vẫn tiếp tục sản xuất các loại ô tô cọc cạch đời 1950, 60 và 70 ở các nhà máy với trình độ tự động hóa lạc hậu hàng vài ba chục năm. Khả năng thanh lý tự giác là điều tối mật của chủ nghĩa tư bản mà KGB đã không phát hiện được.

    Bất chấp hai khuyết tật bẩm sinh nói trên, chế độ Xô viết vẫn hào hùng với tư cách một nền công nghiệp chiến tranh sản xuất được vô khối súng ống và xe tăng tàu bò theo mệnh lệnh. Nhưng trong kiến thiết dân sự, hệ thống này đã ngày một hụt hẫng, từ chỗ è cổ lo không nổi nhu cầu ăn ở tối thiểu cho dân tới chỗ trì trệ, để rồi thực sự đình đốn vào cuối thập kỷ 1970. Bông Uzbek, một nguyên liệu phẩm chất cao có thể đem đổi ngoại tệ mạnh trên trường quốc tế, bị biến thành áo xống “môve gu” (2) tới mức ngay cả người Xô viết cũng chẳng muốn xài. Toàn bộ khâu quay tơ, dệt, nhuộm, cắt, may đã biến nguyên liệu quý giá này thành đám giẻ chỉ còn cách dùng làm phế liệu cho ngành giấy. Số phận hẩm hiu cũng đến với da, len, sợi tổng hợp, gỗ, nhựa, cũng như các nguyên liệu khác của nền công nghiệp nhẹ Xô viết. Về sắt thép và xi măng cũng vậy. Nhiều công trình vĩnh hằng trong tình trạng thi công dở dang vì tiến độ xây dựng quá chậm, khiến cho số xi măng được dự trù trước hàng năm bị hóa đá, còn các cuộn thép thì rỉ sét hết dưới mưa dập tuyết vùi.

    Vào thập kỷ 1980, nông nghiệp Xô viết trở nên xa xỉ còn hơn cả nền quân sự. Trong khi quân đội Xô viết ít nhất cũng bảo quản nghiêm được tăng pháo của họ để dùng cho hàng chục năm, nhà nước Liên Xô và các nông trang tập thể đã cùng đánh hỏng cơ man là máy cày, máy kéo và gặt đập liên hợp có chất lượng gần như hàng hiệu Tây Âu, chỉ sau một năm sử dụng, vì việc bảo dưỡng bị xem nhẹ, xe cộ bị bỏ mặc ngoài trời giữa ngày đông giá. Các rơ moóc chở phân bón cũng phơi ngổn ngang giữa đồng, phân bón mất hết phẩm chất trước khi sử dụng.

    Về cuối đời, cơ chế quản lý kiểu Xô viết trở nên phản tác dụng đến mức bọn ăn cắp của công và bọn phe phẩy gặt hái ghê gớm. Bông tơ từ mạng phân phối nhà nước bị bẻ ghi tuồn ra ngoài cho các tay thợ vườn, hay các xưởng may lậu chuyên nhái hàng ngoại biến thành các sản phẩm dễ tiêu thụ. Các hạng mục công trình xây dựng trường kỳ bị moi ruột trước khi vật liệu xây dựng kịp thoái hóa, rồi biến thành dạng nhà lầu hoặc datcha (nhà nghỉ nông thôn) nhờ thuê nhân công bất hợp pháp hoặc tự xây cất. Tình trạng tùy tiện sử dụng xe công là nguồn chính cấp xăng dầu cho các phi vụ “chuyển đổi mục đích sử dụng tài sản XHCN” bất hợp pháp, hoặc thuần túy dùng để chạy việc riêng.

    Nhờ vào phân bón và công cụ xoáy được của nông trang mà các mảnh ruộng vườn phần trăm cho sản lượng bằng tổng sản lượng nông nghiệp của toàn Liên bang. Sự bất lương ngày càng đẻ số ra, dẫn đến xu thế chia nhỏ tài nguyên làm hệ thống kinh tế Xô viết hoạt động thêm khật khừ. Tuy nhiên, thủ phạm chính lật đổ chế độ Xô viết đâu phải là sự suy đồi về đạo đức: vào thời điểm khâm liệm Liên bang, hãy còn khối thứ khả dĩ để chụp giựt, chia chác. Chính nỗ lực điều trị chế độ đã vô tình đem lại những năm tháng cuối đời cho nó. Những gì xảy ra thời cải tổ đã minh chứng hùng hồn cho luận điểm của Marx, rằng tính tình, nhân cách, hoặc ý chí của lãnh tụ không thể tác động đến các biến đổi của hệ thống, và dù cho các lãnh tụ cải cách có đủ phẩm chất và quyền lực, họ vẫn phá sản hoàn toàn trong thực hiện chủ trương của mình. Trong khi tìm cách làm trong sạch hệ thống bằng cách kỳ cọ những cáu bẩn đã ken lại, các nhà cải tổ vô tình khám phá ra chúng chính là chất mỡ bôi trơn cho sự hoạt động. Chất này còn biến đổi muôn hình vạn trạng, thành chất keo kết dính tham ô tập thể, hay thành thuốc an thần: hàng hóa dồi dào, giá cả phải chăng. Rượu vodka chẳng hạn, giá rất bình dân. Nhân tiện, đối với rượu, các nhà cải tổ từng có một cách tiếp cận rất Stalinist: thay vì tăng dần giá rượu để đánh sụt cầu tiêu dùng, hoặc triển khai các chiến dịch tuyên truyền chống nạn say xỉn, người ta đã dùng mệnh lệnh hành chính đột ngột khoá van các nhà máy rượu trên toàn Liên bang. Hệ quả của giải pháp cộc lốc này là sự tăng trưởng tệ nạn phe phẩy và nấu rượu lậu, làm cuốc lủi xuất hiện thay cho vodka. Tỉ lệ say xỉn được bảo đảm như cũ, nhưng tai ách do ngộ độc cồn và kỹ thuật chưng cất không đảm bảo vệ sinh thì tăng lên. Nếu “các cụ” ngẩn ngẩn ngơ ngơ kia còn tiếp tục lãnh đạo Liên Xô thì cho tới nay siêu quốc gia này hẳn vẫn cùng ta chung sống, có điều nó sẽ cứ tiếp tục lụ khụ, hom hem, chẳng khác gì trò hề trơ trẽn hiện vẫn trêu ngươi thiên hạ năm này qua năm khác ở Saudi Arabia. Còn ở Liên Xô, ngay sau cú mở màn ngoạn mục vở cải lương của gánh hát thiên tài đầu voi đuôi chuột, toàn sân khấu chính trị đổ cái rụp.

    Ngược lại, nếu những hứa hẹn của chế độ kế hoạch hóa tập trung biến thành hiện thực (một giả thuyết hão huyền ngay cả trên lý thuyết), mang lại một sự phồn vinh mọi mặt mà nhân loại chưa từng biết, Liên Xô sẽ biến ngay thành miền đất hứa, bất chấp cả bàn tay sắt KGB, lẫn mọi nỗi khổ nhục phải chịu đựng nền độc tài tương tự như cỗ máy áp bức hiện hành ở Saudi Arabia.

    Vậy là cuộc thi thố giữa hệ thống kinh tế do thị trường điều tiết và hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung chính là hồi kết của chiến tranh lạnh. Trong cuộc chơi này đã không hề có bàn thắng của các nhà ngoại giao hay các chiến binh, lại càng không có công tích của các gián điệp. Chính các thể chế dân chủ tư sản, vận hành trên những người dân cụ thể của xã hội tư bản để phục vụ cho chính họ, đã tạo ra kết cục cho cuộc chiến tranh lạnh.

    LÊ ĐỖ HUY (lược dịch) Chú thích:

    1. Edward Luttwak, “We Managed” (Chúng ta đã xoay xở) đăng trong Times Literary Supplement, tháng 3-2006. Tác giả là cán sự đầu ngành của Viện Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế của chính phủ Mỹ, đã có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về quan hệ quốc tế.
    2. Mauvais gout: phản thị hiếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Lá Cây Có Màu Xanh Lục?
  • Tại Sao Lão Hạc Tìm Đến Cái Chết Mặc Dù Ông Có Thể Sống Câu Hỏi 86362
  • Vì Sao Lão Hạc Lại Chọn Cách Ăn Bả Chó Để Tìm Đến Cái Chết
  • Vì Sao Lỗ Chân Lông Trên Da Mặt Càng Ngày Càng To?
  • Tại Sao Lỗ Chân Lông Trên Mặt Lại To? Nguyên Nhân
  • Vì Sao Liên Xô Tan Rã

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Trị Hôi Nách Bằng Mướp Đắng
  • Vì Sao Bão Hay Đổ Bộ Vào Các Tỉnh Miền Trung?
  • 1001 Thắc Mắc: Vì Sao Bão Hay Đổ Bộ Vào Miền Trung?
  • Điềm Báo Mắt Phải Giật, Nháy Mắt Phải Liên Tục Nam Và Nữ Theo Khung Giờ
  • Nếu Mắt Phải Giật (Hoặc Nháy): 21 Điềm Báo Buồn Sắp Xảy Ra
  • Vì sao Liên Xô tan rã

    Chủ nghĩa Mac cho những nhà hoạch định kế hoạch tập trung

    Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, các nhà kinh tế thường tranh cãi về những giá trị tương đối của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, Liên Xô từ bỏ kế hoạch hóa tập trung theo chủ nghĩa Marx sau năm 1990 và bắt đầu quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Năm 2003 các cổ động viên của các câu lạc bộ bóng đá Chelsea chào đón ông chủ mới Rorman Abramovitch người đi lên trong kinh tế thị trường, bắt đầu là một nhà buôn bán dầu mỏ và sau đó là chủ tịch một trong những công ty dầu mỏ hàng đầu ở Nga.

    Bức tường Berlin sụp đổ vì Liên Xô đã tụt hậu xa so với các nền kinh tế thị trường ở phương Tây. Những khó khăn cốt yếu nảy sinh là:

    §Quá tải thông tin:

    Các nhà hoạch định kế hoạch không thể theo kịp chi tiết của những hoạt động kinh tế. Máy móc thiết bị bị gỉ sét vì không có người lắp đặt sau khi giao hàng, mùa màng thu hoạch bị thối rữa vì lưu kho và phân phối không phối hợp được.

    §Động lực kém:

    Việc đảm bảo việc làm tuyệt đối làm giảm động cơ làm việc. Những người quản lý các nhà máy đặt hàng nguyên vật liệu vượt quá số lượng cần thiết để đảm bảo nguyên vật liệu cho năm kế tiếp vì các nhà hoạch định kế hoạch có thể điều hành số lượng dễ dàng hơn so với chất lượng nên các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu mục tiêu số lượng bằng cách bỏ qua yêu cầu chất lượng. Thiếu những tiêu chuẩn về môi trường, các doanh nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng. Kế hoạch hóa tập trung dẫn đến hàng hóa chất lượng thấp và làm hại cho môi trường.

    § Cạnh tranh phi hiệu quả:

    Các nhà hoạch định kế hoạch tin tưởng rằng to lớn là tốt đẹp. Nhưng quy mô lớn làm các nhà hoạch định kế hoạch mất thông tin từ các hãng cạnh tranh, nên rất khó đánh giá hiệu quả. Thiếu sự cạnh tranh để chọn lựa thì không thể tránh được những sai lầm kinh tế.

    Theo David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch. Kinh tế học. Bản dịch tiếng Việt, phiên bản thứ 8. 2008. Nhà xuất bản Thống Kê. Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Lá Cây Có Màu Xanh?
  • Vì Sao Lỗ Chân Lông To Và Khắc Khắc Phục Như Thế Nào?
  • Vì Sao Lỗ Chân Lông To?
  • Tại Sao Lỗ Chân Lông Của Bạn Ngày Càng To?
  • Tại Sao Không Có Iphone 9? Những Gì Đã Xảy Ra Với Iphone 10? 【Topvn】
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×