Nguyên Nhân Về Sự Ra Đời Sớm Của Nhà Nước Ở Nước Ta

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Ra Đời Và Bản Chất Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Bạn Có Biết Nguyên Nhân Gây Suy Thận Là Gì?
  • Điểm Danh Các Nguyên Nhân Gây Sỏi Thận Phổ Biến Nhất
  • 6 Nguyên Nhân Sốt Siêu Vi Ở Trẻ Em Vi & 3 Cách Phòng Đơn Giản
  • Nắm Rõ Nguyên Nhân Gây Bệnh Sốt Siêu Vi Để Biết Cách Phòng Tránh Cho Chính Bản Thân Mình
  • Từ sự phân tích trên có thể giải thích về sự ra đời sớm hơn của nhà nước như sau:

    Một là cơ cấu tổ chức trong chế độ công xã nguyên thuỷ không thể đảm đương nổi công việc lớn lao trong tự vệ và trị thuỷ-thuỷ lợi mà đòi hỏi phải có một loại cơ cấu tổ chức mới khác hẳn, đó là nhà nước. Nhà nước là cơ cấu tổ chức rộng lớn bao trùm toàn xã hội và chặt chẽ nhất; nhà nước có khả năng cưỡng chế, có phương tiện tổ chức và quản lí đặc trưng là pháp luật. Vì vậy, nhà nước có khả nàng huy động được lực lượng ỉ ớn sức người, sức của để thực hiện công cuộc đấu tranh để tự vê và trị thuỷ-thuỷ lợi.

    Hai là các thủ lĩnh ngày càng có địa vị và có vai trò quan trọng trong xã hội, quyền lực và tài sản của họ tích tụ ngày càng lớn, các phương pháp, biện pháp, hình thức hoạt động nhằm duy trì trật tự xã hội cũng như địa vị xã hội, quyền lực và tài sản đó ngày càng thể hiện tính tập trung, độc đoán nhiều hơn, đòi hỏi phải có những cơ cấu tổ chức mới, thôi thúc sự ra đời sớm của nhà nước.

    NHÀ NƯỚCTRONG TRẠNG THÁI ĐANG HÌNH THÀNH Ở THỜI HÙNG VƯƠNG

    Sự hình thành các liên minh bộ lạc ở đầu thời Hùng Vương – Giai đoạn Phùng Nguyên

    Cùng với sự phát triển của kinh tế và sự phân hoá xã hội thành các tầng lớp người khác nhau và dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác, công xã nguyên thuỷ bắt đầu tan rã. Những mâu thuẫn, xung đột xảy ra ngày càng thường xuyên hơn giữa các thị tộc, bộ lạc; sự cần thiết phải tập trung sức người, sức của để thực hiện những công việc chung và để chống lại thiên tai, địch hoạ đã dẫn tới đòi hỏi có sự liên hiệp giữa các thị tộc, bộ lạc để hình thành các cơ cấu lớn hơn, đó là các liên minh thị tộc và bộ lạc. Giai đoạn này ở nước ta đã tồn tại nhiều bộ lạc, trong đó bộ lạc Vãn Lang là mạnh nhất và đến giai đoạn Phùng Nguyên thì hình thành nên liên minh bộ lạc do Hùng Vương làm thủ lĩnh. Trong Đại Việt sử kí toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết: “Bộ gọi là Văn Lang là đô của vua”.Trong Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn cũng viết: ‘Trong số 15 bộ của nước Văn Lang, 14 bộ là các thần tộc, còn Văn Lang là nơi vua đóng đô”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Gây Rỉ Ối, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Rỉ Ối
  • Nguyên Nhân Rỉ Ối Và Mối Nguy Hiểm Tiềm Tàng
  • Giải Mã Nguyên Nhân Bị Rụng Tóc Ở Phụ Nữ
  • Các Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Ở Nữ Giới Sau Sinh
  • Tổng Hợp Các Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Ở Phụ Nữ
  • Sự Ra Đời Và Bản Chất Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bạn Có Biết Nguyên Nhân Gây Suy Thận Là Gì?
  • Điểm Danh Các Nguyên Nhân Gây Sỏi Thận Phổ Biến Nhất
  • 6 Nguyên Nhân Sốt Siêu Vi Ở Trẻ Em Vi & 3 Cách Phòng Đơn Giản
  • Nắm Rõ Nguyên Nhân Gây Bệnh Sốt Siêu Vi Để Biết Cách Phòng Tránh Cho Chính Bản Thân Mình
  • Tầng Ozon Là Gì? Vai Trò Và Lý Do Tại Sao Tầng Ozone Bị Thủng
  • Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức mà thông qua đó, đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội; là một tổ chức chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội.

    Ý tưởng về một xã hội công bằng, bình đẳng và bác ái đã xuất hiện từ lâu. Ý tưởng đó xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân lao động muốn thoát khỏi sự bất công, bạo lực và chuyên chế, ước mơ xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó những giá trị chân chính của con người được tôn trọng, mọi người đều có điều kiện để tự do phát triển với tất cả mọi năng lực của mình. Những cuộc đấu tranh không ngừng của nhân dân lao động trong lịch sử đã chứng minh cho điều đó.

    Ý tưởng về một xã hội công bằng, bình đẳng và bác ái đã xuất hiện từ lâu. Ý tưởng đó xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân lao động muốn thoát khỏi sự bất công, bạo lực và chuyên chế, ước mơ xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó những giá trị chân chính của con người được tôn trọng, mọi người đều có điều kiện để tự do phát triển với tất cả mọi năng lực của mình. Những cuộc đấu tranh không ngừng của nhân dân lao động trong lịch sử đã chứng minh cho điều đó.

    Tuy nhiên, mãi đến cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, tư tưởng về chủ nghĩa xã hội (mới là chủ nghĩa xã hội không tưởng) mới được hình thành rõ nét. Thomas More (1478 – 1535), một trong những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội không tưởng, trong tác phẩm nổi tiếng “Utôpia” (Xứ không tưởng) đã phê phán chế độ chính trị – xã hội đương thời ở Anh, đồng thời phác họa một mô hình xã hội, ở đó chế độ nhà nước được xây dựng dựa trên sự bình đẳng và tự do của mọi người, tất cả những nhà chức trách đều do nhân dân bầu ra, phải báo cáo trước nhân dân và phải hoạt động vì lợi ích của nhân dân. Trong xã hội như vậy, chế độ công hữu thống trị và lao động mang tính bắt buộc. Sau Thomas More, Tomado Campanela (1568 – 1639), tác giả của tác phẩm “Thành phố mặt trời” và “Luận về thể chế nhà nước tốt nhất”, đã tiếp tục phát triển tư tưởng của chúng tôi và đi đến kết luận rằng, chế độ chính trị – xã hội lý tưởng mang lại quyền lợi cho những người lao động đó là chế độ dựa trên sở hữu xã hội. Những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa của xã hội lý tưởng sẽ kéo theo cả sự thay đổi tính chất của chế độ chính trị. T.Campanela cũng đã có tư tưởng về giáo dục trong xã hội lý tưởng đó là, giáo dục gắn liền với lao động sản xuất và đề cao vai trò của sự phát triển khoa học.

    Các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học, trên cơ sở tổng kết thực tiễn đấu tranh cách mạng và những phát hiện khoa học mới về quy luật phát triển khách quan của xã hội, đã đưa ra một lý thuyết khoa học về xã hội chủ nghĩa với lý tưởng dân chủ, công bằng và nhân đạo, chỉ ra con đường và các biện pháp để tạo lập xã hội đó. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, phù hợp với các quy luật vận động và phát triển của xã hội. Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những tiền đề kinh tế, chính trị và xã hội đã phát sinh trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa.

    Mặt khác, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những điều kiện làm cho giai cấp vô sản ngày càng phát triển nhanh về số lượng và cao về tính tổ chức kỷ luật, trở thành giai cấp tiến bộ nhất của xã hội, có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo các tầng lớp nhân dân lao động đứng lên làm cách mạng để lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, xóa bỏ nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước của giai cấp mình. Trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, các Đảng cộng sản đã được thành lập đề lãnh đạo phong trào cách mạng và trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thắng lợi của cách mạng. Giai cấp vô sản lại có chủ nghĩa Mác-Lênin là vũ khí lý luận sắc bén để nhận biết đúng đắn những quy luật vận động và phát triển của xã hội, là cơ sở lý luận để tổ chức, tiến hành cách mạng và xây dựng nhà nước của giai cấp mình sau chiến thắng của cách mạng.

    Thực tế lịch sử đã chứng minh, từ sau năm 1917 khi nhà nước Xô viết ra đời, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã được hình thành, trở thành nhân tố có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của xã hội, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cách mạng trong nhiều nước, trong đó có những nước dân tộc thuộc địa và các nước chế độ tư bản chủ nghĩa chưa phát triển, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã diễn ra trong nhiều nước và giành được thắng lợi. Nhiều nước đã tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Trong giai đoạn lịch sử hiện nay tìnhhình quốc tế có những diễn biến phức tạp. Nhưng như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ được thông qua tại Đại hội VII của Đảng đã xác định: “Đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

    Thứ hai, về sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Những tiền đề kinh tế, chính trị – xã hội và những yếu tố nêu trên tạo ra điều kiện thuận lợi cho cách mạng vô sản nổ ra. Nhưng cách mạng vô sản sẽ diễn ra với kết quả như thế nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Vì vậy, bên cạnh việc nghiên cứu những nguyên nhân khách quan dẫn đến sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa, còn cần phải nghiên cứu những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng vô sản, về việc tổ chức và thực hiện chính quyền của giai cấp vô sản sau khi cách mạng thành công. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định: Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Mục đích của cách mạng vô sản cũng chính là nhằm lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản để thiết lập chính quyền của giai cấp vô sản. Nhưng giai cấp tư sản (cũng như các giai cấp thống trị bóc lột nói chung) không bao giờ tự nguyện rời bỏ chính quyền của mình, mà sẽ tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để giữ cho được chính quyền đó.

    Vì vậy giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản phải dùng bạo lực tiến hành cách mạng để giành lấy chính quyền về tay mình. Chỉ khi nào bạo lực cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng lao động mạnh hơn bạo lực của giai cấp bóc lột thì mới có thể giành được chính quyền từ tay chúng. Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ hội nghị trung ương lần thứ VIII (năm 1941) trên cơ sở tổng kết việc chỉ đạo cách mạng ở Việt Nam đã chỉ rõ: Cách mạng Việt Nam muốn giành được thắng lợi thì nhất thiết phải vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền và sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật sẽ thành lập một chính phủ cách mạng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Chính phủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Quốc dân đại hội cử lên”.

    Bạo lực cách mạng có thể là lực lượng vũ trang, có thể là lực lượng chính trị hiểu theo nghĩa hẹp, có thể là lực lượng vũ trang kết hợp với lực lượng chính trị. Đó là sức mạnh tổng hợp của quần chúng cách mạng chống lại bạo lực phản động của giai cấp bóc lột. Nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam cũng như các đảng cộng sản khác trong nhiều nước đã coi trọng việc đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, sử dụng nhiều hình thức và phương pháp sáng tạo, phù hợp với điều kiện của mỗi nước để xây dựng lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng cách mạng để giành chiến thắng và thiết lập nhà nước của giai cấp vô sản.

    Cách mạng vô sản khác hẳn với các cuộc cách mạng khác của giai cấp bóc lột về bản chất và mục đích của cách mạng. Các cuộc cách mạng của các giai cấp bóc lột khác nhau đều nhằm mục đích xây dựng một chế độ áp bức, bóc lột ở trình độ cao hơn. Vì vậy, kết quả của các cuộc cách mạng đó là thay đổi chính quyền của giai cấp bóc lột cũ, nhưng về thực chất chỉ là một bộ máy nhà nước được hoàn bị ở trình độ cao hơn, còn bản chất của bộ máy bạo lực đó vẫn không thay đổi. C.Mác viết: “Tất cả các cuộc chính biến, đáng lẽ đập tan bộ máy đó thì lại chỉ làm cho nó thêm hoàn bị mà thôi”.

    Còn mục đích của cách mạng vô sản không những chỉ là lật đổ sự thống trị của các giai cấp bóc lột giành chính quyền về tay mình mà còn là xây dựng một kiểu nhà nước mới xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột. Vì vậy, giai cấp vô sản sau khi giành được chính quyền không thể sử dụng hoặc cải tạo bộ máy nhà nước cũ để phục vụ cho mục đích của giai cấp mình. Giai cấp vô sản cần phải có một kiểu chính quyền có bản chất mới phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân lao động. Để thực hiện mục đích đó, giai cấp vô sản phải đùng bạo lực cách mạng để đập tan bộ máy nhà nước cũ. Việc đập tan bộ máy nhà nước cũ đòi hỏi phải thực hiện một cách kiên quyết và triệt để. Phải tiến hành thủ tiêu ngay bộ máy quân sự – quan liêu bao gồm những công cụ bạo lực của nhà nước như: Quân đội, canh sát, tòa án, hệ thống các nhà tù, trại giam và toàn bộ hệ thống bộ máy nhà nước từ trung ương xuống địa phương. Đồng thời, phải có các biện pháp cấm mọi hoạt động của các tổ chức phản động khác đã là chỗ dựa cho chính quyền cũ. Kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam tháng 8/1945 và sau ngày giải phóng 30 tháng 4 năm 1975, cũng như của cách mạng các nước xã hội chủ nghĩa đã khẳng định sự đúng đắn của nguyên lý nói trên. Tuy nhiên, khi tiến hành đập tan bộ máy nhà nước bóc lột cần chú ý phân biệt bộ máy hành chính – quân sự quan liêu với những tổ chức và cơ sở khác như hệ thống các cơ quan thống kê, bưu điện, nhà băng… Những tổ chức và cơ sở này mặc dù dưới chế độ cũ cũng được sử dụng vào mục đích áp bức, bóc lột nhưng chúng có yếu tố cần thiết cho việc quản lý kinh tế xã hội mới. Đối với những tổ chức và cơ sở này cần phải giữ lại để cải tạo, tổ chức lại cho phù hợp với mục tiêu xây dựng một chế độ kinh tế – xã hội mới. Song song với việc tiến hành đập tan bộ máy nhà nước cũ, giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, phải nhanh chóng xây dựng bộ máy nhà nước mới của giai cấp mình để bảo vệ thành quả cách mạng, đồng thời để tổ chức và quản lý mọi mặt của xã hội trong điều kiện hoàn cảnh mới.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời là kết quả của cách mạng do giai cấp vô sản và nhân dân lao động tiến hành dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Nhưng cách mạng của mỗi nước có những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, cho nên sự ra đời của các nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng như việc tổ chức chính quyền sau khi cách mạng thành công cũng có những đặc điểm đặc thù riêng. Mỗi nước sẽ chọn cho mình những phương pháp và hình thức phù hợp. Nhưng đã ra đời trong điều kiện và hoàn cảnh nào thì nhà nước xã hội chủ nghĩa đều là nhà nước có chung một bản chất.

    Sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong lịch sử đã diễn ra ở những thời điểm quan trọng và được thể hiện dưới các hình thức sau:

    • Công xã Paris ra đời trong cuộc khởi nghĩa vũ trang của công nhân Paris năm 1871;
    • Nhà nước Xô viết, ra đời sau Cách mạng tháng Mười (1917) vĩ đại;
    • Nhà nước dân chủ nhân dân ra đời do kết quả của cuộc đấu tranh giải phóng và các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân sau chiến tranh thế giới thứ hai ở Châu Âu;
    • Nhà nước Cộng hòa Cu-ba.

    Ở Việt Nam, tháng Tám năm 1945, nắm vững thời cơ khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã phát động nhân dân ta vùng dậy làm cách mạng tháng Tám thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông nam châu á. Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước cộng hòa non trẻ đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp, năm 1954 miền Bắc được giải phóng, miền Nam vẫn tiếp tục cuộc kháng chiến chống xâm lược và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong điều kiện đó chính quyền dân chủ nhân dân ở nước ta đã làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản.

    Tháng 04/1975 đất nước hoàn toàn giải phóng, Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, trước những thử thách lớn lao của thời đại, với đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra và được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang từng bước đổi mới, vượt qua khủng hoảng, vững chắc đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

    Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa

    Về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn đã cho thấy rõ, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới có bản chất khác với bản chất của các kiểu nhà nước bóc lột. Bản chất đó do cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa và đặc điểm của quyền lực chính trị trong chủ nghĩa xã hội quy định.

    Trong chủ nghĩa xã hội, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được thiết lập và củng cố dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất – đó là kiểu quan hệ sản xuất thể hiện sự hợp tác, tương trợ không có áp bức bóc lột. Giai cấp vô sản là người giữ địa vị thống trị về chính trị. Nhưng sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản đã thể hiện bản chất và mục đích khác hẳn với sự thống trị về chính trị của các giai cấp bóc lột. Sự thống trị của giai cấp bóc lột là sự thống trị của thiểu số đối với tất cả các giai cấp bị áp bức, bóc lột, để bảo vệ lợi ích của chúng. Còn sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản là sự thống trị của đa số đối với giai cấp bóc lột, chỉ là thiểu số trong dân cư, nhằm mục đích giải phóng giai cấp mình và tất cả người lao động. Mặt cơ bản nhất trong sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản là sự lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với toàn xã hội trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, là công cụ để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp vô sản. Bản chất và mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa thể hiện ở những đặc điểm cơ bản sau đây:

    (i) Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là một bộ máy chính trị – hành chính, một cơ quan cưỡng chế, vừa là một tổ chức quản lý kinh tế xã hội của nhân dân lao động, nó không còn là nhà nước theo đúng nghĩa mà chỉ là ‘nửa nhà nước’.

    Tất cả các nhà nước bóc lột đều là nhà nước theo đúng nghĩa của nó, nghĩa là bộ máy của thiểu số những kẻ bóc lột để trấn áp đa số nhân dân lao động bị áp bức bóc lột … Phù hợp với bản chất đó, các nhà nước bóc lột đều là bộ máy hành chính – quân sự quan liêu, một bộ máy bạo lực để thực hiện sự đàn áp nhân dân lao động, bảo vệ sự thống trị của giai cấp bóc lột.

    Cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới là nội dung chủ yếu và mục đích cuối cùng của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là một sự nghiệp vĩ đại nhưng đồng thời cũng là công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp. Nó đòi hỏi nhà nước phải là một bộ máy có đầy đủ sức mạnh để trấn áp kẻ thù và những phần tử chống đối cách mạng, đồng thời nhà nước phải là một tổ chức có đủ năng lực để quản lý và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa trong đó việc tổ chức quản lý kinh tế là quan trọng, khó khăn và phức tạp nhất. Nước ta từ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất thấp, đồng thời lại phải trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề, những tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều, các thế lực thù địch thường xuyên tìm mọi cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập của nhân dân ta. Vì vậy, việc cải tạo và xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội lại càng khó khăn phức tạp hơn.

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã nhấn mạnh phải xây dựng nhà nước vững mạnh: “Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”.

    Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, dân chủ xã hội chủ nghĩa là một chế độ nhà nước chứ không phải là vô chính phủ. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta. Nhưng mặt khác, chế độ dân chủ có nghĩa là chính thức thừa nhận quyền bình đẳng giữa những công dân, thừa nhận cho mọi người có quyền ngang nhau trong việc xác định cơ cấu của nhà nước và quản lý nhà nước”. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo nguyên lý về dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện Việt Nam, nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định: Thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động thực chất là tôn trọng con người, phát huy sức sáng tạo của tầng. lớp nhân dân, hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà nước phải bảo đảm cho nhân dân thực sự tham gia vào quản lý nhà nước, thực sự có quyền lựa chọn những người đại biểu xứng đáng của mình vào các cơ quan quyền lực nhà nước, có quyền, có khả năng và điều kiện thực tế để thực hiện việc kiểm tra, giám sát, phê bình các cán bộ và cơ quan nhà nước, bãi miễn những đại biểu do mình bầu ra nhưng không còn xứng đáng nữa. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đó là phương châm mở rộng dân chủ tạo điều kiện cho nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản lý nhà nước của mình. Nhà nước phải thi hành các biện pháp kiên quyết để xóa bỏ tệ quan liêu, cửa quyền, nghiêm trị những phần tử phạm pháp, thực hiện dân chủ hóa và bảo đảm công bằng xã hội.

    (iii) Nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn giữ vai trò tích cực và sáng tạo, là công cụ để xây dựng một xã hội nhân đạo, công bằng và bình đẳng:Khác với các giai cấp trước kia, giai cấp vô sản sau khi trở thành giai cấp thống trị, nắm trong tay quyền lực nhà nước, không có mục đích dùng nhà nước đề duy trì mãi địa vị thống trị của mình, mà là để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, xóa bỏ mọi sự áp bức bóc lột và mọi sự thống trị giai cấp. Vì vậy, trong quá trình tổ chức và thực thi quyền lực giai cấp vô sản thực hiện sự liên minh với mọi lực lượng lao động của xã hội để thiết lập những nguyên tắc và cơ chế vận hành quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở quyền lực nhân dân, không ngừng mở rộng dân chủ và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.

    Xuất phát từ mục đích và cách tổ chức quyền lực như vậy, quá trình tồn tại và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ luôn phù hợp với các quy luật vận động khách quan của xã hội, và vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ luôn giữ vai trò chủ động sáng tạo, là công cụ để thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa càng phát triển cao thì tính chất xã hội của nó càng mở rộng. Đến một giai đoạn nhất định của lịch sử, khi những điều kiện xã hội đã thay đổi, cơ sở tồn tại của nhà nước không còn nữa thì nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ “tự tiêu vong”, nhường chỗ cho sự phát triển của một tổ chức tự quản mạnh mẽ, dựa hoàn toàn trên cơ sở của quyền lực nhân dân rộng rãi và hòa nhập với xã hội.

    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những mô hình đã được tìm tòi, sáng tạo dựa trên cơ sở của lý luận khoa học nói trên. Nhưng đồng thời, bên cạnh những “cái chung”, bản chất nhà nước Việt Nam còn thể hiện những nét riêng cần được làm sáng tỏ. V.I.Lênin đã từng viết: “Tất cả các dân tộc sẽ đi đen chủ nghĩa xã hội nhưng tất cả các dân tộc sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội một cách không hoàn toàn giống nhau, mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của nền chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này, nhịp độ khác của việc cải tạo XHCN đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”.

    Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định trong Hiến pháp năm 2013:”1- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. 2- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2).

    Như vậy, tính nhân dân và quyền lực nhân dân là cái cơ bản, xuyên suất, thể hiện bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản chất đó được biểu hiện cụ thể ở những đặc trưng cơ bản sau:

    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước dân chủ thực sự và rộng rãi

    Mặc dù nước ta bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp, đến nay vẫn là một nước nghèo và kém phát triển, nhưng một chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được thiết lập và đang từng bước hoàn thiện dần. Với quan điểm phát triển. Hiến pháp năm 2013 đã chỉ rõ ” Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3). Quan điểm đó là kết quả của một quá trình tìm tòi, kiểm nghiệm, sáng tạo được rút ra để định hướng cho sự phát triển của toàn bộ hệ thống chính trị nước ta nói chung và của Nhà nước ta nói riêng.

    Trở lại lịch sử hình thành và phát triển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể nhận thấy rõ quá trình hình thành và phát triển của một chế độ dân chủ mới. Nước ta là một nhà nước dân chủ đầu tiên ra đời ở Đông nam châu A. Những thiết chế nhà nước đầu tiên ra đời đã dựa trên cơ sở của dân chủ: Các hình thức Quốc dân đại hội để bầu ra chính phủ lâm ‘thời; tổng tuyển cử để bầu Chủ tịch nước và đại biểu Quốc hội những năm đầu tiên sau khi cách mạng tháng Tám thành công; sự ghi nhận chính thức trong Hiến pháp 1946, 1959, 1980, và 1992 về xác định quyền lực tối cao thuộc về nhân dân … đã khẳng đính rõ mục tiêu và những bước phát triển của chế độ dân chủ của nước ta.

    Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng cộng sản Việt Nam, một lần nữa lại khẳng định: “Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và cũng là bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta” .

    Bản chất dân chủ của Nhà nước ta thể hiện một cách toàn diện, trên các lĩnh vực kình tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và xã hội.

    Trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước thực hiện chủ trương tự do, bình đẳng về kinh tế, tạo ra những điều kiện làm cho nền kinh tế đất nước có tính năng động, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh cho phép mọi đơn vị kinh tế đều có thể hoạt động theo cơ chế tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước pháp luật. Để thực hiện chủ trương dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước ta đã chú trọng giải quyết vấn đề căn bản mang tính nguyên tắc là bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động, coi đó là động lực, đồng thời là mục tiêu của dân chủ hóa. Tuy nhiên lợi ích vật chất (kinh tế) luôn phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với các lợi ích chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội. Đồng thời, lợi ích cá nhân phải hài hòa với lợi ích của tập thể và xã hội.

    Trong lĩnh vực chính trị, nhà nước ta đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc, trong đó quy định tất cả những quyền tự do, dân chủ trong sinh hoạt chính trị, bảo đảm cho người dân được làm chủ về mặt chính trị.

    Hiến pháp của Việt Nam ghi nhận toàn bộ các quyền chính trì, xã hội và quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, mít tinh, lao động, học hành, nghỉ ngơi, tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở, tự do đi lại và bảo đảm cho tất cả công dân được hưởng các quyền đó. Điều đó phù hợp với bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, coi mục đích và động lực chính của sự phát triển dân chủ là vì con người, do con người. Chủ trương của nhà nước được thể hiện trong pháp luật là tạo khả năng rộng rãi để nhân dân tự do bày tỏ nguyện vọng của mình về những vấn đề quan tâm và bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Nhà nước kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm những người có hành vi dân chủ cực đoàn, lạm dụng chức quyền tham nhũng, cửa quyền, vi phạm quyền dân chủ và tự do của nhân dân.

    Nhà nước Việt Nam là nhà nước gần dân và thân dân. Nhà nước luôn coi trọng việc lắng nghe ý kiến của nhân dân, chú trọng việc xem xét, giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân, tổ chức để nhân dân tham gia góp ý kiến xây dựng đất nước. Trong quá trình thực hiện dân chủ hóa chính trị, Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng quyền hoạt động và các quan điểm chính trị của cá nhân, nếu những quan điểm đó phù hợp với hiến pháp và pháp luật, không đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Nhà nước kiên quyết ngăn chặn và xử lý mọi biểu hiện dân chủ cực đoan, gây rối làm mất ổn định tình hình chính trị, xâm hại đến lợi ích quốc gia và các quyền chính trị của nhân dân.

    Để bảo đảm thực hiện quá trình dân chủ hóa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhà nước luôn đặt ra cho mình nhiệm vụ phải tôn trọng sự kiểm tra, giám sát của nhân dân, đẩy mạnh và không ngừng đấu tranh chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng trong bộ máy nhà nước, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật và không có ngoại lệ đối với bất cứ ai có hành vi vi phạm.

    Trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa và xã hội, nhà nước thực hiện chủ trương tự do tư tưởng và giải phóng tinh thần, phát huy mọi khả năng của con người; quy định một cách toàn diện các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, học hành, lao động, nghỉ ngơi, tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở, thư tín … và bảo đảm cho mọi người được hưởng các quyền đó.

    Tuy nhiên, dân chủ hóa trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa và xã hội luôn phải đặt trên cơ sở và trong mối quan hệ mật thiết với quá trình dân chủ trong lĩnh vực chính trí và kinh tế. Hệ tư tưởng quán xuyến trong toàn bộ quá trình này là chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ quan điểm đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam đề ra. Nguyên tắc cơ bản để thực hiện dân chủ, phát huy quyền lực nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị.

    Nhà nước thông nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.Nhìn lại toàn bộ quá trình từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay, đặc điểm này luôn quán xuyến và ngày càng thể hiện một cách đậm nét hơn, cao hơn, cụ thể hơn. Với bản chất bao trùm là nhà nước của dân, do dân và vì dân thì đương nhiên trong đó đã hàm chứa tính bình đẳng giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Vấn đề quan trọng là cơ sở pháp lý, hình thức tổ chức thực hiện và kết quả của việc triển khai thực hiện trên thực tế.

    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tất cả các thời kỳ phát triển của mình đều coi “đại đoàn kết dân tộc” là một nguyên tắc cơ bản để thiết lập chế độ dân chủ, phát huy quyền lực nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, đồng thời là cơ sở để tạo ra sức mạnh của một nhà nước thống nhất.

    Chính sách đại đoàn kết dân tộc thể hiện dưới bốn hình thức cơ bản của Nhà nước Việt Nam.

    Một là, xây dựng một cơ sở pháp lý vững vàng cho việc thiết lập và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo điều kiện cho mỗi dân tộc đều có thể tham gia một cách tích cực nhất vào việc thiết lập, củng cố và phát huy sức mạnh và quyền lực nhà nước. Điều này được thể hiện rõ trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và các văn bản pháp luật quan trọng khác.

    Hai là, tổ chức thực hiện một cách mạnh mẽ, nhất quán trong các hoạt động cụ thể của nhà nước nói riêng và của toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta nói chung. Tất cả các tổ chức Đảng, Công đoàn, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên … đều coi việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc, xây dựng nhà nước Việt Nam thống nhất là mục tiêu chung, là nguyên tắc hoạt động của tổ chức mình.

    Ba là, trong khi tổ chức thực hiện, nhà nước luôn chú trọng việc ưu tiên đối với các dân tộc ít người, các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để các dân tộc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, cùng tồn tại và phát triển trên cơ sở hòa hợp, đoàn kết, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

    Bốn là, chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, tôn trọng các giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống của mỗi dân tộc, xây dựng bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam với đầy đủ tính phong phú mà vẫn bảo đảm sự nhất quán và thống nhất.

    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện tính xã hội rộng rãi:Không giống với các nhà nước khác, nhà nước ta một mặt vẫn thể hiện rõ tính chất giai cấp của mình, là nhà nước mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng mặt khác nó lại thể hiện tính chất xã hội rất rộng rãi.

    Với mục tiêu xây dựng một xã hội văn minh, nhân đạo, bảo đảm công hằng xã hội, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm một cách đặc biệt và toàn diện tới việc giải quyết các vấn đề của toàn xã hội như: Xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, đầu tư cho việc phòng chống thiên tai, giải quyết các vấn đề bức xúc như chăm sóc sức khỏe nhân dân, giải quyết việc làm, chống thất nghiệp, giúp đỡ người già cô đơn, trẻ mồ côi, chống tệ nạn xã hội…

    Nhà nước không những chỉ đặt ra cơ sở pháp lý mà còn thực hiện việc đầu tư thỏa đáng cho việc giải quyết các vấn đề xã hội. Đồng thời coi việc giải quyết các vấn đề này là nhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành và của Nhà nước nói chung.

    Những đặc điểm có tính bản chất nêu trên của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các điều kiện hiện tại đã được thể hiện cụ thể trong các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước và được pháp luật quy đính một cách chặt chẽ, đồng thời được phản ánh trong tổ chức và hoạt động thực tiễn của Nhà nước ta. Đương nhiên, để có thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu, đòi hỏi để bảo đảm giữ vững và phát huy bản chất của “nhà nước của dân, do dân và vì dân”, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn cần phải tiếp tục đổi mới nhiều mặt, cải tổ sâu sắc từ cơ cấu tổ chức đến hình thức và phương pháp hoạt động phù hợp với các quy định của luật pháp để từng bước xây dựng và phát triển thành nhà nước pháp quyền Vìệt Nam.

    Có thể nêu khái quát những đặc điểm cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền Việt Nam như sau

    (i) Nhà nước có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, trong đó các đạo luật giữ vai trò quan trọng; mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, người có chức vụ và công dân đều phải tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật.

    (ii) Nhà nước trong đó không chỉ có công dân có trách nhiệm đối với nhà nước, mà nhà nước cũng phải có trách nhiệm đầy đủ đối với công dân; khái niệm trách nhiệm ở đây được dùng theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nghĩa là quan hệ giữa công dân và nhà nước là quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.

    (iii) Nhà nước trong đó các quyền dân chủ tự do và lợi ích chính đáng của con người được pháp luật bảo đảm và bảo vệ toàn vẹn; mọi hành vi lộng quyền của bất kỳ cơ quan nhà nước và người có chức vụ nào, cũng như mọi hành vi phạm pháp khác xâm phạm quyền tự do, lợi ích chính đáng của công dân đều bị nghiêm trị.

    (iv) Nhà nước trong đó ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân định rõ ràng và hợp lý cho các hệ thống cơ quan tương ứng trong mối quan hệ cân bằng, phối hợp và chế ước lẫn nhau tạo thành cơ chế đồng bộ bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhân dân.

    (v) Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam là xây dựng một nhà nước với lý tưởng dân chủ, nhân đạo và công bằng nhất, là nhà nước mà nhân dân nói chung cũng như mỗi công dân nói riêng không chỉ là khách thể của quyền lực, mà còn là chủ thể tối cao của quyền lực đó. Ở Nhà nước pháp quyền Việt Nam quy định “mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân” trở thành hiện thực sinh động của đời sống chính trị xã hội, pháp luật thực sự bắt nguồn từ nhân dân, của nhân dân và phục vụ cho dân; là chế độ nhà nước mà công dân là trung tâm, nhà nước được tổ chức văn minh, trật tự, có cơ chế an toàn và hiệu quả, ngăn chặn mọi sự lạm quyền, vi phạm quyền công dân, mọi mặt tổ chức và hoạt động của nhà nước đều đặt trên cơ sở pháp luật, chịu sự chi phối thống nhất của pháp luật, là một cơ thể phức tạp nhưng vận động một cách hài hòa, đồng bộ bảo đảm sự thống nhất cao độ trong tổ chức quản lý xã hội.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, Quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Về Sự Ra Đời Sớm Của Nhà Nước Ở Nước Ta
  • Nguyên Nhân Gây Rỉ Ối, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Rỉ Ối
  • Nguyên Nhân Rỉ Ối Và Mối Nguy Hiểm Tiềm Tàng
  • Giải Mã Nguyên Nhân Bị Rụng Tóc Ở Phụ Nữ
  • Các Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Ở Nữ Giới Sau Sinh
  • Nước Âu Lạc: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Tổ Chức Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Brexit: 6 Lý Do Người Anh Muốn Rời Bỏ Eu?
  • Tám Lý Do Chính Anh Rời Khỏi Eu
  • Nguyên Nhân Của Những Vi Phạm Hành Chính Về Trật Tự An Toàn Giao Thông Đường Bộ Hiện Nay
  • 3 Nguyên Nhân Hàng Đầu Gây Ra Tai Nạn Giao Thông Ở Học Sinh
  • Tai Nạn Giao Thông: Nguyên Nhân Khách Quan Và Giải Pháp Kiềm Chế
  • Dưới sự tấn công của quân Tần, nhân dân hai nước Tây Âu và Lạc Việt đã kiên quyết chống trả suốt thời gian 5 đến 6 năm. Từ đó tình đoàn kết, gắn bó nảy sinh giữa hai nước. Thục Phán lúc bây giờ là người chỉ huy Tây Âu, Lạc Việt chiến đấu đã khẳng định được uy tín, tài năng của mình.

    Nhà Âu Lạc được tổ chức như thế nào?

    Nhà nước Âu Lạc đứng đầu là An Dương Vương. Trong bộ máy cai trị đất nước có Lạc tướng ở địa phương, Lạc hầu ở trong triều đình giúp đỡ vua trị nước. Nước Âu Lạc được tổ chức cai trị theo các bộ dưới sự cai quản của Lạc Tướng. Bên cạnh đó, các đơn vị khác như làng, chạ nằm dưới sự cai quản của Bồ chính.

    Sự phát triển mạnh của nghề làm gốm, dệt vải, xây dựng và luyện kim đem lại cuộc sống ấm no hơn cho nhân dân nước Âu Lạc. Các sản phẩm từ luyện kim như giáo, mác, mũi tên bằng đồng, cuốc sắt… hỗ trợ rất nhiều trong canh tác, sản xuất nông nghiệp và ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn.

    Sự phát triển của các ngành nghề dẫn đến một hiện tượng thường thấy trong xã hội đó là sự phân hóa tầng lớp. Thời kì nc Âu Lạc, dân số đông đúc.

    • Nỏ liễu (nỏ liên châu): Có thể bắn nhiều mũi tên cùng lúc.
    • Cổ loa: Công trình kiến trúc quân sự có vị trí đắc địa, là nơi giao thoa kinh tế, giao thông, kinh tế đông đúc thuận lợi cho sự phát triển đất nước.

    Sự sụp đổ của nhà nước Âu Lạc

    Nhà nc Âu Lạc sụp đổ trong hoàn cảnh nào? Đây là thắc mắc của nhiều học sinh trong chương trình lịch sử lớp 6. Lịch sử đã ghi lại rằng đất nc Âu Lạc bình yên chưa được bao lâu thì Triệu Đà đem quân đến xâm lược:

    • Vào năm 207 trước Công Nguyên, khi nhà Tần đang trong giai đoạn suy yếu thì Triệu Đà đã cắt đất ba quận để lập thành nước Nam Việt. Từ đó, Triệu Đà không ngừng mở rộng lãnh thổ nước Nam Việt bằng cách đem quân đi đánh các vùng xung quanh và đánh xuống Âu Lạc. Quân dân đất nước Âu Lạc với vũ khí tốt và tinh thần chiến đấu dũng cảm, đã đánh bại các cuộc tấn công của Triệu Đà đồng thời giữ vững nền độc lập của đất nước.
    • Triệu Đà biết rằng không thể đánh bại được quân ta, bèn vờ xin hòa để dùng mưu kế chia rẽ nội bộ nước ta.
    • Năm 179 trước công nguyên, sau khi đã chia rẽ được nội bộ nhà nc Âu Lạc khiến các tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu phải bỏ về quê thì Triệu Đà lại mang quân đánh chiếm Âu Lạc.
    • Không những thế, lúc này An Dương Vương lại lơ là không đề phòng nên bị thất bại nhanh chóng.

    Nguyên nhân mất nước Âu Lạc là gì?

    • An Dương Vương thiếu cảnh giác, thiếu sáng suốt, đồng thời quá tin vào lực lượng của mình
    • An Dương Vương do chủ quan nghĩ là Triệu Đà thực lòng hòa hiếu.
    • Mất cảnh giác để Trọng Thủy vào cung, do đó hắn đánh tráo được nỏ thần.
    • Yêu con mù quáng, quá tin vào nỏ thần, tự mãn với chiến thắng.
    • Nội bộ trong triều bị chia rẻ khiến hai tướng giỏi là Cao Lỗ và Nồi Hầu bỏ về quê.

    Bài học giữ nước thời Âu Lạc?

    Nước Âu Lạc sụp đổ cũng như sự thất bại của An Dương Vương đã để lại nhiều bài học xương máu cho đời sau:

    • Luôn phải đề cao tinh thần cảnh giác với kẻ thù xâm lược.
    • Chuẩn bị lực lượng mạnh, vũ khí tốt và sẵn sàng trong tinh thần chiến đấu.
    • Tinh thần đoàn kết của nhân dân trên dưới một lòng, tập hợp sức mạnh toàn dân chống ngoại xâm.
    • Bài học về tinh thần nội bộ, tránh sự chia rẽ nội bộ, trong nội bộ phải có sự tin tưởng lẫn nhau, đồng thời dựa vào dân để đánh giặc.

    (Nguồn: www.youtube.com)

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Khủng Khiếp, Nhưng Liệu Có Thể Thờ Ơ Với Bùng Nổ Dân Số?
  • Tiểu Luận Bùng Nổ Dân Số Và Vấn Đề Toàn Cầu
  • Bùng Nổ Dân Số Và Vấn Đề Toàn Cầu
  • Gdcd 10 Bài 15: Công Dân Với Một Số Vấn Đề Cấp Thiết Của Nhân Loại
  • Bùng Nổ Dân Số Trên Thế Giới
  • Lịch Sử Ra Đời Của Máy Tính Cá Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam 1930
  • Sách Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Định
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu 80 Năm Lịch Sử Vẻ Vang Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Đảng Bộ Địa Phương
  • Di Tích Lịch Sử Nhà Tù Sơn La
  • Sự ra đời của máy tính cá nhân.

    Sự thống trị của Microsoft trong lĩnh vực phần mềm.

      Phần mềm máy tính PC đã được Microsoft kiểm soát và thống trị trong suốt quá trình phát triển của máy tính cá nhân.
    1. Từ năm 1981 đến 1990 là hệ điều hành MS DOS phát triển qua nhiều phiên bản và đã có trên 80% máy tính PC trên thế giới sử dụng hệ điều hành này.
    2. Năm 1991 Microsoft cho ra đời hệ điều hành Windows 3.1 và có trên 90% máy tính PC trên Thế giới sử dụng.
    3. Năm 1995 Microsoft cho ra đời hệ điều hành Windows 95 và có khoảng 95% máy tính PC trên Thế giới sử dụng.
    4. Năm 1998 Microsoft cho ra đời hệ điều hành Windows 98 và có trên 95% máy tính PC trên Thế giới sử dụng.
    5. Năm 2000 Microsoft cho ra đời hệ điều hành Windows 2000.
    6. Năm 2002 Microsoft cho ra đời hệ điều hành Windows XP với khoảng 97% máy tính PC sử dụng.
      Một điều đặc biệt quan trọng đó là có trên 95% máy tính PC trên Thế giới sử dụng các sản phẩm Windows của Microsoft, vì vậy các công ty sản xuất thiết bị ngoại vi muốn bán được ra thị trường thì phải có trình điều khiển do Microsoft cung cấp hoặc một thỏa thuận với Microsoft để sản phẩm ấy được Windows hỗ trợ. Một thiết bị máy tính mà không được Window hỗ trợ thì coi như không bán cho ai được. Đó là lý do làm cho Microsoft trở thành không những là nhà thống trị phần mềm mà còn đóng vai trò điều khiển sự phát triển phần cứng PC.

    Các nhà sản xuất phần cứng.

      Mặc dù đi tiên phong phát triển hệ thống máy tính PC, những IBM chỉ kiểm soát được thị trường phần cứng trong 7 năm từ 1981 tới 1987. Intel được thành lập năm 1968 đã nhanh chóng thay thế IBM trên thị trường phần cứng.

    – Năm 1971 Intel đã phát minh ra Vi xử lý đầu tiên có tên 4004 có tốc độ là 0,1 MHz.

    – Năm 1972 Intel giới thiệu chíp 8008 có tốc độ 0,2 MHz.

    – Năm 1979 Intel giới thiệu chíp 8088 có tốc độ 5 MHz. Hãng IBM đã sử dụng chíp 8088 để lắp cho chiếc PC đầu tiên của mình.

    – Năm 1988 Intel giới thiệu chíp 386 có tốc độ 75 MHz.

    – Năm 1990 Intel giới thiệu chíp 486 có tốc độ 100 -133 MHz.

    – Năm 1993 – 1996 Intel giới thiệu chíp 586 có tốc độ 166 – 200MHz.

    – Năm 1997-1998 Intel giới thiệu chíp Pentiun 2 có tốc độ 233 – 450 MHz.

    – Năm 1999 – 2000 Intel giới thiệu chíp Pentium 3 có tốc độ 500- 1200 MHz.

    – Từ năm 2001 – nay Intel liên tục giới thiệu các dòng chip Pentium 4 và Core i có tốc độ cực cao.

      Intel không những dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất CPU mà còn là nhà cung cấp hàng đầu về Chipset và Mainboard kể từ năm 1994 đến nay .

    Vừa rồi là bài viết về lịch sử ra đời của máy tính, mình có viết lại theo tham khảo trên internet, hy vọng mang lại kiến thức hay cho mọi người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quá Trình Hình Thành Máy Tính Ngày Nay Như Thế Nào?
  • Đáp Án Kỳ 2 Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Văn Hóa, Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Quảng Nam
  • Giáo Án Lịch Sử Địa Phương
  • Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử 90 Năm Đảng Bộ Thành Phố Hà Nội
  • Đáp Án Tuổi Trẻ Hà Nội Tuoitrehanoi.com
  • Hoàn Cảnh Ra Đời Của Đạo Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • 1. Hoàn Cảnh Ra Đời Của Đạo Phật
  • Tìm Hiểu Về Sự Hình Thành Của A Tỳ Ðạt Ma
  • Bối Cảnh Xã Hội Và Tư Tưởng Khi Đức Phật Thích Ca Ra Đời
  • Tìm Hiểu Về Nguồn Gốc, Ý Nghĩa, Nội Dung Của Bát Nhã Tâm Kinh
  • Tìm Hiểu Cội Nguồn Về Đức Phật A Di Đà
  • Hoàn cảnh ra đời của đạo Phật – Điều nên biết

    Thời kỳ đạo Phật ra đời cũng chính là thời kỳ phát triển cực thịnh của đạo Bà La Môn cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị xã hội. Dân cứ trong xã hội Ấn Độ cổ đại lúc này chia thành 4 đẳng cấp là Bà La Môn, Sát Đế Lị, Vệ Xá và Thủ Đà La.

    Bà La môn là đẳng cấp có địa vị cao nhất, bao gồm những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp.

    Sát Đế Lị là đẳng cấp của vua quan và tầng lớp võ sĩ.

    Vệ Xá là đẳng cấp của những người bình dân làm các nghề như chăn nuôi, làm ruộng, buôn bán, thợ thủ công,…

    Thủ Đà La là đẳng cấp thấp nhất, chiếm đa số, đây là con cháu của những bộ lạc bại trận, những người bị phá sản, không có tư liệu sản xuất.

    Sự phân biệt đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt, từ địa vị xã hội, quyền lợi kinh tế đến quan hệ giao tiếp, ăn mặc, đi lại, sinh hoạt tôn giáo,…Đẳng cấp Thủ Đà La ở vị trí dưới đáy của xã hội, làm nô lệ cho ba đẳng cấp trên.

    Sự phân biệt đẳng cấp diễn ra vô cùng khắc nghiệt khiến cho tầng lớp đa số trong xã hội – những người Thủ Đà La căm ghét chế độ đẳng cấp. Nhiều trào lưu tư tưởng chống lại đạo Bà La Môn và chế độ đẳng cấp của nó đã ra đời, trong đó có đạo Phật.

    Sự ra đời đạo Phật còn gắn liền với tên tuổi người sáng lập là thái tử Cồ đàm Tất Đạt Đa sinh năm 563 TCN, con vua Tĩnh Phạm nước Ca tỳ la vệ ở chân núi Hymalaya – miền đất bao gồm một phần miền Nam được Nepal và một phần của Ấn Độ ngày nay.

    Ngay từ nhỏ, Thái tử Tất Đạt Đa đã được sống trong nhung lụa, không tiếp xúc với xã hội bên ngoài, không hề biết rằng trong cuộc đời lại có những đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc.

    Năm 17 tuổi, Thái tử cưới vợ là công chúa Da giu đà la sinh ra một con trai là La ầu la. Từ đó thái tử mới được tiếp xúc với hiện thực cuộc sống ngoài chốn cung đình. Những cuộc gặp gỡ bất ngờ với những cảnh già yếu, bệnh tật, chết chóc,…đã tác động mạnh đến tâm hồn nhạy cảm của Ngài.

    Năm 29 tuổi, Ngài quyết định rời bỏ ngôi cao quyền lực, rời bỏ cuộc sống nhung lụa xa hoa để dấn thân vào con đường tu hành khổ hạnh, mong tìm được sự giải thoát cho chúng sinh.

    Sau 6 năm tu hạnh ở núi Tuyết Sơn mà không đạt được sự yên tĩnh trong tâm hồn và cũng không nhận thức được chân lý, Ngài nghiệm ra là cả cuộc sống tràn đầy vật chất, thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh đều không giúp tìm con đường giải thoát, chỉ có con đường trung đạo là đúng đắn nhất. Do đó, Ngài tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý và bỏ lối tu khỏ hạnh, đi sâu vào tư duy trí tuệ.

    Sau 49 ngày thiền định dưới gốc bồ đề tại làng Uruvela, chìm đắm trong tư duy sâu thẳm, Ngài tuyên bố đã đến được với chân lý, hiểu được bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và con đường cứu vớt. Ngài tự xưng là Phật – có nghĩa là giác ngộ. Người đời gọi Ngài là Thích ca Mâu ni – bậc thánh của dòng họ Thích ca.

    Dai Nam Travel – Niềm tin troa trọn, thỏa chí tiêu dao

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phẩm Vị Chức Sắc Trong Đạo Cao Đài
  • 5 Vị Chức Sắc Phật Giáo Trúng Cử Đại Biểu Quốc Hội
  • Hiểu Những Điều Căn Bản Về Đạo Phật Trong 5 Phút Vấn Đáp
  • Bài 1: Nhận Thức Cơ Bản Về Phật Giáo
  • 28. Vài Nét Về Phật Giáo Ở Châu Á Và Châu Âu Trong Thế Kỷ Xx
  • 1. Hoàn Cảnh Ra Đời Của Đạo Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Sự Hình Thành Của A Tỳ Ðạt Ma
  • Bối Cảnh Xã Hội Và Tư Tưởng Khi Đức Phật Thích Ca Ra Đời
  • Tìm Hiểu Về Nguồn Gốc, Ý Nghĩa, Nội Dung Của Bát Nhã Tâm Kinh
  • Tìm Hiểu Cội Nguồn Về Đức Phật A Di Đà
  • Quan Niệm Về Nhận Thức Trong Triết Học Phật Giáo Việt Nam
  • Cư dân sống trong nền văn minh lưu vực sông Ấn Độ (còn gọi là nền văn minh Harappa, theo tên gọi của thành phố lớn tên là Harappa) chủ yếu là nông dân, mặc dù những phát hiện gần đây đang cho thấy đó là một nền văn hoá phát triển cao. Những học giả có uy tín đã kết luận là nguồn gốc của việc thực hành yoga và thiền có thể bắt nguồn từ nền văn minh này. Người ta đã phát hiện được hình vẽ một người đang ngồi trong tư thế xếp chân bắt chéo, hai tay đặt trên đầu gối và mắt khép lại – rõ ràng là đang thiền định. Ngoài ra, trong giai đoạn của nền văn minh này thường nhắc đến những tu sĩ khổ hạnh đi du phương. Những tu sĩ này được cho là đã thực hành các phương pháp luyện tâm, sống độc thân, ở mình trần hoặc mặc quần áo đơn giản tối thiểu, không có nơi ở cố định, và thuyết giảng về con đường vượt qua sinh tử.

    Những trường phái tư tưởng cùng thời với Đức Phật

    Từ khoảng năm 1500 đến năm 600 trước Công nguyên, các truyền thống đối lập trên đã có nhiều sự giao thoa. Có thể nói đạo Jaina (Jainism) và đạo Phật chủ yếu là sự phát triển thêm của các nguyên tắc của văn hoá lưu vực sông Ấn Độ, trong khi Ấn Độ giáo lúc đó đang thiên về văn hoá A-ri-an nhiều hơn.

    Thời kỳ đầu của Ấn Độ giáo

    Ba nguyên tắc cơ bản có ảnh hưởng lớn tới các trường phái chính thống của Ấn Độ giáo là:

    Niềm tin vào một nguồn gốc trung tính, bao gồm tất cả, vô tận và vĩnh hằng của hiện thực tối thượng được gọi là Bà la môn (Brahman). Là lực lan toả khắp bên trong mỗi người, Brahman được coi là “bản ngã” hoặc atman (trong tiếng Phạn có nghĩa là linh hồn hoặc bản ngã) của tất cả các dạng đời sống.

    Quyền lực tối thượng của các văn bản thiêng như bộ kinh Vệ Đà (có lẽ được soạn vào khoảng năm 1500 – 1200 trước Công nguyên) và Áo nghĩa thư (Upanishad – có nội dung giải thích, diễn giảng kinh Vệ đà, được soạn vào khoảng năm 400 trước Công nguyên).

    Trong thời Đức Phật tại thế, các trường phái khác nhau của Ấn Độ giáo đang phát triển, ví dụ như trường phái Mimamsa, Vedanta và Samkhya. Ấn Độ giáo mang màu sắc cổ thần đã thay thế cho tập tục thờ cúng tế thần theo kinh Vệ đà với một hình thức thờ cúng trước một vị thần hoặc đại diện của vị thần được gọi là puja. Mục đích chính của nghi lễ này là sự kết nối với vị thần dần dần dẫn đến một mối quan hệ bền vững hơn và thậm chí gần gũi hơn giữa người thờ cúng và thần linh.

    Các vị thần chính được thờ phụng trong Ấn Độ giáo là thần Vishnu, thần Shiva và thần Shakti. Nhiều vị thần khác được thờ trong đền thờ Ấn Độ giáo được cúng vào những dịp nhất định, có thể là vào những ngày cụ thể hoặc tùy thuộc vào nhu cầu của người tu tập.

    Hầu hết các trường phái của Ấn Độ giáo vẫn nhấn mạnh đến những khía cạnh được kế thừa từ truyền thống của người Arian như hệ thống đẳng cấp, quyền lực của những bộ kinh như kinh Vệ đà, và việc hiến tế. Tuy nhiên, những yếu tố quan trọng của văn hoá thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn Độ, ví dụ như buông xả, thiền định, tái sinh, nghiệp, và giải thoát cũng vẫn được Ấn Độ giáo hấp thụ.

    Thực hành yoga được biết là có truyền thống khá lâu đời, và cũng có thể có nguồn gốc từ nền văn hoá trước thời kỳ tộc người Arian đến ngụ cư.

    Đạo Jaina (Jainism)

    Mahavira (tên thật là Vardhamana) sống trong thời gian khoảng năm 570 – 490 trước Công nguyên và là một người sống cùng thời với Đức Phật. Ông được coi là nhà tiên tri lớn (Tirthankara), người đã sáng lập ra đạo Jaina trong thời kỳ này. Tương tự như Phật giáo, đạo Jaina dạy rằng các nguyên tắc của họ đã được các bậc thầy giác ngộ thuyết giảng trong quá khứ và sẽ lại được thuyết giảng trong tương lai.

    Các nguyên tắc cơ bản của đạo Jaina có thể được tóm tắt như sau:

    • Ahimsa: bất bạo động, một kết quả của việc tin vào Nghiệp (karma)

    • Anekantvad: sự tồn tại của nhiều quan điểm khác nhau

    • Apirigraham: tránh sở hữu vật chất

    • Satya: buông xả đời sống thế tục.

    Có nhiều sự tương đồng giữa triết lý của đạo Jaina và đạo Phật, như việc tin vào nghiệp, buông xả, thiền định và tính tương đối (nhận thức rằng luôn có nhiều hơn một quan điểm). Ngoài ra, những khía cạnh ít rõ ràng hơn cũng có sự tương đồng nhất định, ví dụ như sự tương đồng về vũ trụ luận trong Kalachakra Tantra. Hình ảnh của Mahavira từ thời cổ đại cũng được khắc hoạ trong tư thế ngồi thiền.

    Để minh hoạ cho quan niệm của đạo Jaina về tính tương đối của các quan điểm khác nhau, họ thường sử dụng câu chuyện ngụ ngôn về năm ông mù sờ voi.

    Một nhóm năm ông mù gặp một con voi. Người đầu tiên sờ vào chiếc chân to lớn của con voi và nói: “Vật này rất giống một cái cây.” Người thứ hai đứng ở gần tai voi, sờ tai voi và nói: “Đây là một cái quạt dùng để quạt thóc!” Người thứ ba tóm được cái vòi voi đang chuyển động và nói: “Không. Hãy cẩn thận. Đây là một con mãng xà.” Người đứng ở phía đuôi con voi nói: “Tôi không nghĩ thế. Đây chỉ là một mẩu dây thừng bị xơ”. Ông mù cuối cùng nói: “Tất cả các ông đều sai rồi. Tôi đã sờ vào hai bên của vật này và đây chỉ là một bức tường.”

    Đạo Jaina dạy rằng khi một người đã áp dụng ba nguyên tắc về buông xả, nghiệp và tính tương đối, người đó có thể trải nghiệm và chia sẻ “từ bi” (Maitri) có nghĩa là hiểu biết và tình yêu thương thanh tịnh đối với hết thảy mọi chúng sinh (một khía cạnh đặc biệt quan trọng trong Phật giáo Đại thừa).

    “Trong kinh Majjhima Nikaya (Trung Bộ Kinh) của Phật giáo, chính Đức Phật đã kể lại cho chúng ta nghe về cuộc sống khổ hạnh của Ngài và những quy định của cuộc sống khổ hạnh đó tuân theo giới luật của các tu sĩ đạo Jaina. Đức Phật nói: “Vì thế, hỡi Xá Lợi Phất, ta đã đi trong sự ăn năn. Ta đi mà trên người không mặc quần áo. Ta ăn bằng tay. Ta không nhận đồ ăn được đem đến hoặc có chủ ý dành riêng cho ta. Ta không nhận lời mời ăn.” Bà Rhys Davids, một học giả nghiên cứu đạo Phật, đã phát hiện ra là Đức Phật tìm được hai bậc thầy là Alara và Uddaka tại Vaisali và bắt đầu cuộc sống tâm linh của Ngài với tư cách là một đệ tử của đạo Jaina.

    Những trường phái triết học khác

    Lúc này, xã hội Ấn Độ phân chia thành bốn giai cấp rõ rệt: Tăng-lữ thuộc giai cấp Bà-La-Môn (Brahman), vua chúa thuộc giai cấp Sát-Ðế-Lợi (Ksatriya), bình dân thuộc giai cấp Vệ-Xá (Vaisya), tiện dân thuộc giai cấp Thủ-Ðà-La (Sùdra). Hai giai cấp trước là giai cấp thống trị, hai giai cấp sau là giai cấp bị trị. Phải kể thêm một hạng người nữa khốn khổ thấp kém nhất chẳng được xếp vào giai cấp nào, gọi là Harijans hay Paraiyans (Hạng ghê tởm), bao gồm những kẻ làm nghề sát sinh súc vật, thuộc da… Các giai cấp này theo chế độ thế tập, cha truyền con nối, nên giai cấp nô lệ cứ phải đời đời làm nô lệ, gây ra một tổ chức xã hội bất công. Sống dưới một chế độ bất công và phân biệt giai cấp nặng nề như thế, xã hội Ấn Độ bấy giờ vô cùng bế tắc, lâu ngày dân chúng đâm ra chán nản, hằng ước ao có một cuộc đổi mới. Rất nhiều trường phái, học thuyết ra đời, mong muốn cải cách những quan niệm bất công, giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong xã hội nhưng không thực sự chiếm được ưu thế. Bởi vậy, các trường phái, học thuyết đều song song tồn tại. Có tới 96 tôn giáo, học thuyết “ngoại đạo” trong thời kỳ này.

    Đặc biệt phải kể đến sự ra đời của hệ tư tưởng Sa- môn (Sramana-ascetism) có thể nói là sự phản ánh quan điểm mới về nhân sinh quan và vũ trụ quan của dân tộc Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI chúng tôi phản kháng lại sự độc đoán của tư tưởng Bà-la-môn, phủ nhận quyền lực tuyệt đối của kinh Vệ đà và vai trò tối thượng của giới tăng sĩ Bà-la-môn.

    Như thế, tư tưởng chính thời thời kỳ này có thể chia thành hai loại: (1) Dòng Bà-la-môn và (2) Dòng Phi Bà-la-môn, hay còn gọi là Sa môn (Sramana).

    Các trường phái Phi Bà-la-môn gồm 96 tôn giáo, học thuyết đó có thể được chia thành 5 hệ tư tưởng:

    • Tư tưởng thứ nhất gọi là Nhất thần giáo: tức là tin rằng vũ trụ hoàn toàn do thượng đế an bài. Thượng đế là người tạo ra vũ trụ, là người quyết định sự khổ đau hay hạnh phúc của con người.

    • Tư tưởng thứ hai gọi là Túc mạng luận: cho rằng con người có định mệnh bất biến, không thể thay đổi. Sinh ra đã sẵn số mệnh sướng hoặc khổ, đã thuộc một giai cấp trong xã hội thì sẽ mãi mãi với giai cấp đó không hoán cải được. Tư tưởng này chẳng khác gì tư tưởng câu nói cửa miệng của nhiều người Việt Nam “Sống chết có số”.

    • Tư tưởng thứ ba gọi là Ngẫu nhiên luận: cho rằng con người sinh ra tất cả mọi cái đều ngẫu nhiên tình cờ. Không có quy luật nhân quả, không có thiện ác.

    • Tư tưởng thứ tư là Đa thần giáo: tôn thờ vô số vị thần như thần lửa, thần nước, thần bò, thần voi…

    • Tư tưởng thứ năm là Duy vật luận, là tinh thần hoàn toàn vô thần, mọi thứ chỉ phụ thuộc vào ngoại cảnh và các yếu tố bên ngoài.

    Đương thời, người ta còn biết tới sáu vị ngoại đạo sư nổi tiếng như sau:

    • Purana Kassapa: theo Ngẫu nhiên luận, cho rằng những hành động tốt và xấu không tạo ra quả báo riêng biệt lên người tạo tác. Không tin luật nhân quả.

    • Makkhali Gosala: theo Định mệnh luận, phủ nhận thuyết nhân quả. Đệ tử của ông được gọi là Ajivakas thực hành lối tu khổ hạnh khắc nghiệt.

    • Ajita Kesakambali: Phái này chủ trương Duy vật luận. Con người do tứ đại hợp thành, chết rồi là hết, nên tận hưởng những khoái lạc, bác bỏ luân lý.

    • Pukudha Kaccayan: chủ trương Duy tâm luận, phủ nhận quả báo, sự sống chết của con người chỉ là sự tụ tán của bảy yếu tố tạo thành con người, những yếu tố này là bất diệt.

    • Sãnjaya Belatthiputta: theo chủ nghĩa hoài nghi. Nếu cảm thấy thế nào thì nói thế ấy đối với thế giới hiện tượng, không xác quyết là có hay không, đúng hay sai. Phái nầy chủ trương thuyết tu định. Họ cho chân lý không phải là không biến đổi, nên việc tu đạo là vô ích mà chỉ lo tu thiền định.

    • Nigantha Nataputta: phái này chủ trương thực hành khổ hạnh cực đoan và nghiêm trì giới bất sát để cầu giải thoát. Ông còn được biết đến với tên Mahavira, một trong những người sáng lập ra giáo phái Ni kiền tử (Nigantha), sau này đổi tên là đạo Jaina (Jainism) (xem phần Đạo Jaina ở trên).

    Năm hệ tư tưởng và triết thuyết của các vị ngoại đạo sư nói trên đều có những ưu khuyết riêng nhưng không thể trả lời cho con người những vấn đề gốc rễ của khổ đau và con đường tìm thấy hạnh phúc chân thật. Bởi theo họ, hoặc tất cả do Thượng đế quyết định, hoặc do số mệnh an bài, hoặc tất cả đều là ngẫu nhiên, hay do hoàn cảnh, hay do các vị thần. Con người không hề có vai trò trong đó và sẽ không cần hoặc không thể làm gì. Nói cách khác, con người hoàn toàn vô trách nhiệm với khổ đau hay hạnh phúc của chính mình.

    Cũng vì có quá nhiều luận lý và ý tưởng, chúng khiến con người thời đại đó hoang mang, không có một tư tưởng chủ đạo nhất quán. Và khi triết lý Phật pháp hình thành, điều vĩ đại của Đức Phật là trực tiếp đối thoại với từng quan điểm trên để dẫn đến một chủ trương thu nhiếp, dân chủ tiến bộ hơn. Triết lý của Ngài, dẫu vẫn còn chịu ảnh hưởng trực tiếp những khái niệm về thế giới quan hay tập quán ngôn ngữ của thời đại đó, tuy nhiên đã siêu việt lên trên những giới hạn của các học thuyết và tôn giáo đương thời, thể hiện ở việc đề cao vai trò chủ động của con người trong cuộc sống thực tại, nêu rõ lý nhân quả là quy luật vận động chung của toàn vũ trụ, đề cao sự bình đẳng (giai cấp, giới tính và giữa người với người và giữa con người với muôn loài sinh linh hàm thức), tinh thần từ bi, bác ái đại đồng, tinh thần tự do và sức mạnh vô úy trong tâm mỗi người.

    Phật giáo và Ấn Độ giáo

    Hầu như không có học giả nào phản đối quan điểm cho rằng vào thời kỳ của Đức Phật, một nền văn hoá tâm linh phát triển mạnh mẽ ở Ấn Độ. Thực tế lịch sử đã chấp nhận tư tưởng đạo Phật một cách rộng rãi chứng tỏ rằng Phật giáo không phải là sự phản kháng và cũng không phải là sự phát triển của Ấn Độ giáo (ví dụ: quan điểm này thậm chí được thể hiện trong Bách khoa toàn thư Brittanica). Phật giáo đơn thuần là một trong những trường phái tư tưởng mới thành công hơn trong số vô vàn trường phái triết học, đặc biệt sau khi Vua A dục (Ashoka) trở thành một Phật tử vào năm 297 trước Công nguyên, và đã khiến Phật giáo trở thành một quốc giáo. Do tranh luận là một phương tiện truyền thống rất lâu đời trong việc kiểm chứng các bậc thầy tâm linh trong văn hoá Ấn Độ, đương nhiên, chúng ta có thể tìm thấy nguồn gốc của nhiều tác phẩm triết học (đặc biệt theo truyền thống Phật giáo Đại thừa), có thể được hiểu với tư cách là sự phản kháng hoặc tranh luận với các truyền thống tôn giáo khác. Các triết gia phương Tây có thể đã hiểu lầm các tác phẩm này là “sự phản kháng”, do các tác phẩm như vậy là điều gần như không thể tưởng tượng được trong các hệ thống tôn giáo phương Tây.

    Bản thân Đức Phật đã thực sự từ chối tranh luận về những vấn đề tâm linh, Ngài nói rằng chỉ thuyết giảng những gì Ngài nhận thức là chân lý, quy luật của vũ trụ. Mặt khác, Phật giáo xuất hiện từ một nền văn hoá đang tồn tại, và không thể tránh khỏi việc nhiều yếu tố của các truyền thống (tư tưởng triết học) đương thời cũng được tìm thấy trong Phật giáo. Nếu hiểu theo cách đó, người ta cũng có thể nói rằng Ki tô giáo (Christianity) là một sự phát triển (hoặc là sự phản kháng) đối với đạo Do Thái (Judaism) và đạo Hồi là một sự phát triển (hoặc là sự phản kháng) đối với Ki tô giáo…

    Dường như Phật giáo đã có được nguồn cảm hứng từ văn hoá tâm linh của nền văn minh lưu vực sông Ấn Độ; như các yếu tố buông xả, thiền định, tái sinh, nghiệp, và giải thoát. Ngoài ra, nhiều biểu tượng của nền văn minh lưu vực sông Ấn có ý nghĩa tâm linh và cũng được coi là có ý nghĩa thiêng liêng đối với Phật giáo. Các biểu tượng đó bao gồm cây đa (pipal tree) (về sau được gọi là cây bồ đề – bodhi tree, tên khoa học là ficus religiosa), và các loài vật như voi và hươu.

    Vishnu là một vị thần Ấn Độ giáo hiện thân dưới nhiều hình dạng khác nhau, được gọi là các hiện thân (avatar). Một hiện thân của thần Vishnu là vị vua anh hùng Rama, người đã chiến đấu với quỷ Ravana với sự trợ giúp của Hanuman (vị anh hùng đầu khỉ), một hiện thân khác của thần là Krishna, người được mô tả là người thổi sáo màu xanh dương. Do nhiều người theo Ấn Độ giáo (chứ không phải là các Phật tử) cho rằng Đức Phật là một trong những hiện thân của thần Vishnu, vì thế Ấn Độ giáo và Phật giáo có thể sẽ tiếp tục có những mối quan hệ qua lại khá bền chặt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoàn Cảnh Ra Đời Của Đạo Phật
  • Tìm Hiểu Về Phẩm Vị Chức Sắc Trong Đạo Cao Đài
  • 5 Vị Chức Sắc Phật Giáo Trúng Cử Đại Biểu Quốc Hội
  • Hiểu Những Điều Căn Bản Về Đạo Phật Trong 5 Phút Vấn Đáp
  • Bài 1: Nhận Thức Cơ Bản Về Phật Giáo
  • Bật Mí Cách Để Các Lọ Nước Hoa Chiết Ra Đời

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Chiết Nước Hoa Sang Lọ Nhỏ Đơn Giản Tại Nhà
  • Phương Pháp Ngâm Trong Kỹ Thuật Bào Chế
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Curcumin Từ Nghệ
  • Phương Pháp Chiết Pha Rắn
  • Nghiên Cứu Chiết Tách Polyphenol Từ Cây Điều Để Làm Chất Kháng Oxi Hóa
  • Đăng bởi Trịnh Thị Khánh Vân ngày

    Nước hoa chiết là gì? Đặc điểm của nước hoa chiết

    Điểm sơ qua về các lọ nước hoa chiết, hẳn bạn rất thắc mắc tại sao nó mang các thương hiệu lớn, chính hãng nhưng lại có giá thành rẻ? Về cơ bản thì những lọ nước hoa chiết là các sản phẩm nước hoa chính hãng được xách tay từ các store, về đến Việt Nam sẽ được chiết ra thành những lọ nước hoa nhỏ hơn với dung tích phổ biến như 10ml, 20ml, 30ml,…Vì các vấn đề về bản quyền hoặc giá quá cao trên 1 chai full nên người ta chiết ra các chai lọ có dung tích nhỏ. Tuy nhiên vì là nước hoa chính hãng nên về khoản chất lượng và độ lưu hương hoàn toàn giống so với hàng nước hoa nguyên chai.

    Cách chiết nước hoa ra các chai nhỏ

    • Bước 1: Chuẩn bị một số dụng cụ cần thiết như: chai xịt nhỏ có dung tích phù hợp với nhu cầu: 20ml, 30ml,…, ống tiêm y tế
    • Bước 2: Sau đó kiểm tra cẩn thận phần vòi xịt của chai nước hoa lớn có thực sự phù hợp với miệng chai nhỏ hay không.
    • Bước 3: Tháo vòi xịt của chai nước hoa nhỏ ra và kê gần sát vào phần vòi xịt của chai nước hoa lớn. Cần phải xịt thử trước một đến hai lần trước, tránh trường hợp xịt ra ngoài gây lãng phí. Xịt liên tục cho tới khi chai nhỏ gần đầy.
    • 1 phương pháp khác tiện và tránh rủi ro hơn là sử dụng ống tiêm y tế. Bạn chỉ cần rút dung dịch từ chai lớn, chiết sang những chai nhỏ hơn.

    Dung tích của những ống chiết nước hoa

    Thực sự trên thị trường có rất nhiều các loại nước hoa chiết khác nhau. Ngoài việc lựa chọn trên tiêu chí thương hiệu, mùi hương, chất lượng thì giờ đây, còn phải chọn theo dung tích của lọ chiết nước chúng tôi nhu cầu, sở thích của mỗi người thì có thể chọn lọ chiết nước hoa 5 ml, 10ml, 20ml, 30ml… Đối với những người muốn dùng thử, trải nghiệm một loại mùi hương mới nhưng lại đắn đo thì hoàn toàn có thể tìm mua những chai chiết nước hoa 5ml.

    Những dòng nước hoa chiết Pháp của Vperfume

    Vperfume hiện nay đang bán rất nhiều các dòng nước hoa chiết Pháp với giá cả hợp túi tiền. Phải kể đến một số sản phẩm:

      Dòng nước hoa Chiết Good Girl: Nước hoa Good Girl hẳn là cái tên khá quen thuộc trong giới nước hoa. Nếu chị em vẫn còn e dè bởi giá cả thì có thể yên tâm với dòng nước hoa chiết Good Girl có chỉ vài trăm ngàn. Hương thơm của nó rất hợp với những ai theo đuổi phong cách cá tính và nổi bật.

      Dòng nước hoa chiết Pháp của Chanel: Đến từ một thương hiệu đình đám, hẳn các sản phẩm nước hoa của Chanel là niềm mơ ước, yêu thích của rất nhiều người. đã có rất nhiều mặt hàng các dòng nước hoa chiết Pháp của Chanel.

      Dòng nước hoa chiết Lancôme: Các sản phẩm nước hoa Lancôme khá được ưa chuộng bởi chất lượng tốt và mùi hương tinh tế. Các dòng nước hoa chiết của Lancôme vẫn luôn giữ được những ưu điểm đó, thêm vào còn giảm được giá thành tiết kiệm chi phí.

    Nước hoa Mỹ – sản phẩm được ưu yêu thích hiện nay

    Nếu như nhắc tới nước hoa, người ta thường chỉ nhớ tới những thương hiệu nước hoa Pháp đình đám thì hiện nay nước hoa Mỹ cũng đang rất được ưa chuộng. Nhờ vào chất lượng tốt, mùi hương ấn tượng và khả năng xâm nhập thị trường thì hiện nay các dùng nước hoa đến từ Mỹ đang dần trở thành những cơn sốt. Phải kể đến một số thương hiệu nước hoa Mỹ làm nao nức người dùng như nước hoa Marc Jacobs, nước hoa Tom Ford, …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chiết Nước Hoa Ra Chai Nhỏ Đơn Giản
  • Phương Pháp Ngấm Kiệt Là Gì? Ứng Dụng Trong Chiết Xuất Dược Liệu
  • Các Phương Pháp Ngấm Kiệt Cải Tiến
  • Xác Định Hàm Lượng Chất Béo Bằng Thiết Bị Chiết Soxhlet.
  • Tiêu Chuẩn Tcvn 8103:2009 Phương Pháp Chiết Lipit Trong Sữa Và Sản Phẩm Sữa
  • Thế Nào Là Nhà Nước “của Nhân Dân, Do Nhân Dân, Vì Nhân Dân”

    --- Bài mới hơn ---

  • How About Going To Cinema? Sự Khác Biệt Nhỏ Giữa How About?
  • Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Giữa Quá Khứ Hoàn Hảo Và Quá Khứ Hoàn Hảo Liên Tục
  • Sự Khác Biệt Giữa Quá Khứ Đơn Và Hiện Tại Hoàn Thành Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa “quản Trị” Và “quản Lý” Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Quản Trị, Hành Chính Và Quản Lý Là Gì?
  • Trình bày sự hiểu biết của anh (chị) về nhà nước “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

    Nhà nước phải là của toàn thể nhân dân

    – Nhà nước phải là của toàn thể nhân dân mà không phải là của riêng giai cấp, tầng lớp nào. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nên quyền lực của nhà nước cũng như của mỗi cơ quan nhà nước đều nhận được từ nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho, nhà nước chỉ là công cụ để đại diện và thực hiện quyền lực của toàn thể nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.

    Nhà nước phải do nhân dân trực tiếp nắm giữ và thực hiện quyền lực nhà nước

    – Nhân dân có thể trực tiếp làm việc trong các cơ quan nhà nước khi được bầu, bổ nhiệm hoặc tuyển dụng, qua đó, trực tiếp nắm giữ và thực hiện quyền lực nhà nước.

    Nhà nước là do nhân dân bầu ra các cơ quan nhà nước

    – Nhà nước là do nhân dân tổ chức thông qua việc trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra các cơ quan nhà nước. Các đại biểu do nhân dân bầu ra chỉ là những người được sự ủy quyền của nhân dân nên chỉ là “công bộc”, là “đầy tớ” của dân. Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu không còn xứng đáng với sự ủy quyền, sự tín nhiệm của nhân dân.

    Nhà nước là do nhân dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ

    – Nhân dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ để cho Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.

    – Nhà nước vì nhân dân là nhà nước phục vụ cho lợi ích và đáp ứng tốt nhất những nguyện vọng chính đáng của nhân dân. “Vì con người, cho con người và bảo vệ con người” là mục tiêu cao nhất của mọi chính sách, quy định pháp luật và hoạt động của nhà nước. Nhà nước phải liêm chính, phải kiến tạo sự phát triển và bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

    – Cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước vừa là đầy tớ, vừa là người lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân hoạt động nên phải luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; phải thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, không có đặc quyền, đặc lợi.

    Một nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì cũng là nhà nước xã hội chủ nghĩa và có tính xã hội rộng rãi, rõ rệt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Lực Công Cộng, Sự Tha Hóa Quyền Lực Công Cộng Và Tham Nhũng
  • Phân Biệt Pháp Luật Với Các Quy Tắc Xử Sự Khác Trong Xã Hội
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Mèo Động Dục Và Cách Trấn Tĩnh Chúng
  • Mrs Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Mrs
  • Bật Mí Cách Phân Biệt Mật Ong Thật Giả Chính Xác Nhất Hiện Nay
  • Sớm Tìm Ra Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Sông Cái Nước Đục

    --- Bài mới hơn ---

  • Xuất Hiện Váng Dầu Nước Đầu Nguồn Nhà Máy Sông Đà Tăng Hóa Chất Khử Mùi
  • Phải Giải Được “bài Toán” Ô Nhiễm Nguồn Nước!
  • Hiệu Quả Xử Lý Ô Nhiễm Môi Trường Nước Sông Tô Lịch, Sông Nhuệ
  • Gan Nhiễm Mỡ Độ 1 Nguyên Nhân Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Thế Nào?
  • Gan Nhiễm Mỡ Độ 1: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị
  • Trong những ngày vừa qua, cá nuôi lồng trên sông Cái nước đục của hộ dân thuộc địa bàn xã Vĩnh Thuận Đông (huyện Long Mỹ) và phường Thuận An, (TX. Long Mỹ), tỉnh Hậu Giang chết hàng loạt. Nhiều người dân ở đây cho rằng, lý do khiến cho cá của họ bị chết là do chất thải từ Nhà máy đường Long Mỹ Phát thải ra sông làm cho nguồn nước bị ô nhiễm.

    Anh La Bảo Khánh ở ấp 5, xã Vĩnh Thuận Đông, huyện Long Mỹ cho biết: Vào rạng sáng ngày 20/4/2019 nghe tiếng cá lóc nuôi trong vèo nhảy liên tục, anh tưởng có người trộm cá nên chạy ra nhưng không thấy ai. Đến sáng, khi ra vèo thăm cá thì anh Khánh hốt hoảng phát hiện cá trong vèo đã nổi trắng trên mặt nước.

    Chị Phạm Thị Thúy Linh, ở khu vực 5, P. Thuận An, TX. Long Mỹ nuôi khoảng 8.000 con ếch, tuy nhiên do nguồn nước trên sông Cái nước đục có mùa đen và hôi, khiến cho con ếch bị tuột nhớt và chết. “Tôi nhẩm tính tiền mua con giống khoảng 8 triệu đồng với tiền thức ăn nuôi thời gian qua khoảng hơn 20 triệu nữa, toàn bộ số tiền này đều đang nợ của người ta, sau khi bán ếch xong mới có tiền trả cho người ta, giờ ếch chết hết tiền đâu để trả…” – chị Linh than thở.

    Theo ông Lưu Văn Sáu, Phó trưởng ấp 5, xã Vĩnh Thuận Đông, huyện Long Mỹ, trước đây mấy ngày, người dân ở khu vực này có báo cho tôi và trực tiếp tôi thấy nước ở sông Cái nước đục bị ô nhiễm, người dân làm ruộng cũng cho biết nước từ sông chảy vào kinh Quảng Tấn ở khu vực này cũng bị ô nhiễm, bốc mùi hôi thối. Sau đó vèo cá của cháu Khánh bị chết, tôi và một số cán bộ Công an xã, UBND xã và huyện có xuống tận nơi thấy cá của gia đình cháu Khánh chết khá nhiều, nhiều hộ dân gần đây cũng bị thiệt hại như: cá lóc, cá trê, lươn, ếch thiệt hại ban đầu ước tỉnh khoảng 2 đến 3 tấn…

    Trao đổi với Phóng viên, một một vị Lãnh đạo Nhà máy đường Long Mỹ Phát cho rằng, cặp tuyến sông Cái nước đục, ngoài Nhà máy đường còn có nhiều cơ sở sản xuất khác có cùng điểm tiếp nhận nguồn xả thải là sông Cái nước đục. Việc người dân khăng khăng cho rằng nguồn nước trên sông này bị ô nhiễm làm cá chết từ Nhà máy là chưa thỏa đáng. Vì vậy, Nhà máy đường Long Mỹ Phát mong muốn các cơ quan chức năng tỉnh Hậu Giang sớm xác định những nguyên nhân làm cho nguồn nước bị ô nhiễm để xử lý.

    Báo TN&MT sẽ theo dõi để thông tin đến bạn đọc khi có kết luận vụ việc này từ cơ quan chức năng của tỉnh Hậu Giang. Lê Hùng – Báo TN&MT

    Theo Tài nguyên & Môi trường

    Ảnh: Vèo cá lóc và lươn của hộ anh Khánh bị chết vì nguồn nước sông Cái nước đục bị ô nhiễm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Ô Nhiễm Nguồn Nước Ở Các Vùng Nông Thôn Và Cách Khắc Phục
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Gồm Các Nguyên Nhân Nào?
  • Hãy Nêu Rõ Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Và Hậu Quả Của Việc Nguồn Nước Bị Ô Nhiễm
  • Tình Trạng Ô Nhiễm Nguồn Nước Tại Thành Phố Hà Nội
  • Ô Nhiễm Nguồn Nước Tại Hà Nội Và Những Biện Pháp Khắc Phục
  • George Dyson: George Dyson: Sự Ra Đời Của Máy Tính

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Cuốn Sách Hay Về Lịch Sử Việt Nam
  • Những Cuốn Sách Hay Nhất Về Lịch Sử Việt Nam Nên Đọc
  • 8 Cuốn Sách Hay Để Bạn Yêu Thích Về Lịch Sử Việt Nam
  • Nhà Tù Sơn La: Trường Học Cách Mạng
  • Tìm Hiểu Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Ngày Tết Trung Thu
  • Năm ngoái tôi đã kể cho các bạn nghe một câu chuyện về Dự án Orion, một công nghệ

    rất bất hợp lý (nghiên cứu thiết kế tàu vũ trụ

    sử dụng lực đẩy hạt nhân), lẽ ra đã có thể thành công,

    nhưng nó gặp rắc rối về chính trị kéo dài suốt một năm

    nên nó đã không được tiến hành. Đó là một giấc mơ không thành hiện thực.

    Năm nay tôi sẽ kể với các bạn câu chuyện về sự ra đời của điện toán số.

    Đây là một màn giới thiệu hoàn hảo.

    Và một câu chuyện có thật, đã xảy ra,

    và các loại máy ứng dụng của nó hiện rất phổ biến.

    Và là một công nghệ tất yếu.

    Những người đã sáng tạo ra công nghệ này mà tôi sắp kể với các bạn

    nếu họ không thực hiện được thì sẽ có người khác làm được.

    Thời thế tạo anh hùng, ý tưởng đúng đắn vào đúng thời điểm.

    Đây là vũ trụ của Barricelli, là vũ trụ chúng ta đang sống.

    Đó là vũ trụ nơi các cỗ máy này

    đang làm đủ mọi công việc, kể cả thay đổi sinh học.

    Tôi sẽ bắt đầu câu chuyện với quả bom nguyên tử đầu tiên ở Trinity,

    nằm trong dự án Manhattan. Nó hơi giống TED:

    nó tập hợp rất nhiều nhà khoa học xuất chúng.

    Và 3 trong số những người tài giỏi nhất là

    Stan Ulam, Richard Feynman và John von Neumann,

    và sau khi chế tạo quả bom, Neumann là người đã nói rằng

    ông đang chế tạo 1 cỗ máy quan trọng hơn các quả bom rất nhiều:

    ông đang suy nghĩ về máy tính.

    Ông không chỉ nghĩ đến mà ông còn chế tạo được một chiếc. Đây là cái máy ông đã làm.

    (Tiếng cười)

    Ông chế tạo cái máy này,

    và chúng ta đã được xem cơ chế hoạt động của nó.

    Và đó là một ý tưởng quay trở lại.

    Người đầu tiên giải thích cặn kẽ

    là Thomas Hobbes,

    năm 1651, ông đã diễn giải số học và logic là một

    và nếu muốn tư duy hay tính toán logic nhân tạo,

    bạn có thể thực hiện cả 2 bằng số học.

    Ông nói cần phép cộng và phép trừ.

    Leibiniz, người đến sau một chút — năm 1679 —

    cho thấy bạn thậm chí chẳng cần phép trừ.

    Tất cả chỉ cần phép cộng.

    Chúng ta có toàn bộ số học và logic nhị phân

    thúc đẩy cuộc cách mạng vi tính,

    và Leibiniz là người đầu tiên nói đến việc chế tạo một cỗ máy như thế.

    Ông nói về quá trình làm gồm các viên bi,

    các cổng và thanh ghi dịch chuyển, như chúng ta gọi bây giờ

    nơi bạn dịch chuyển các cổng, thả các viên bi xuống các rãnh ghi.

    Và đó là công việc mà tất cả những cái máy này đang làm,

    ngoại trừ thay vì làm với các viên bi

    chúng đang làm với các electron.

    Tiếp đến chúng ta hãy nghe về Neumann

    năm 1945, ông ấy đã tái phát minh lại một chiếc máy tương tự.

    Năm 1945, sau chiến tranh, điện tử được ứng dụng

    vào việc chế tạo một chiếc máy như thế

    Tháng 6 năm 1945, quả bom vẫn chưa được thả,

    và Neuman đang tổng hợp mọi lý thuyết nhằm chế tạo được chiếc máy này,

    lại nhớ đến Turing,

    trước đó Turing đã đề xuất ý tưởng bạn có thể làm được tất cả công việc này

    với một cỗ máy trạng thái hữu hạn rất ngớ ngẩn

    bằng việc đọc một cuộn băng đầu vào và đầu ra.

    Một lý do khác thúc đẩy Neumann làm cái đó

    là do sự khó khăn trong công tác dự báo thời tiết.

    Lewis Richardson đã nhìn thấy khả năng làm được điều này với một ma trận mảng tổ ong của người,

    đưa cho mỗi người một đoạn dữ liệu, và lắp ráp lại.

    Đây chúng ta có một sơ đồ điện mô phỏng một cái đầu kiên định

    nhưng chỉ có 2 ý kiến.

    (Cười)

    Và đó là chiếc máy tính đơn giản nhất.

    Lý do bạn cần qubit (bit lượng tử)

    vì nó chỉ có 2 ý niệm.

    Bạn lắp ráp chúng với nhau,

    thì sẽ được những phần cơ bản của một chiếc máy tính hiện đại:

    đơn vị số học, bộ điều khiển trung tâm, bộ nhớ,

    phương tiện ghi, đầu vào, đầu ra.

    Nhưng có một đoạn ghi chép nữa. Đây là một lỗi không thể tránh —

    chúng ta đã thấy nó khi khởi động các chương trình.

    Các chỉ thị quản lý việc điều hành

    phải chi tiết và đầy đủ.

    Nên việc lập trình phải hoàn hảo nếu không nó sẽ không làm việc.

    Hãy xem nguồn gốc của cái này,

    lịch sử cổ điển sẽ đưa chúng ta trở về với hệ thống điện toán ENIAC.

    Nhưng thực ra, cái máy tôi sắp kể với bạn

    cỗ máy của Viện Nghiên Cứu Tiên Tiến, ở trên đó

    thì lẽ ra là ở dưới. Thế nên tôi đang cố gắng xem lại lịch sử,

    và ghi nhận lại công lao của các vị này vì mọi người chưa đánh giá được hết.

    Một cái máy tính như thế sẽ mở ra vũ trụ

    hiện đang nằm ngoài tầm phủ sóng của mọi thiết bị,

    nó mở ra một thế giới mới, và những vị này đã thấy được nó.

    Người đã có công chế tạo cái máy này

    là anh chàng ở giữa, Vladimir Zworykin từ RCA.

    RCA, tập đoàn radio Hoa Kỳ, có thể đã đưa ra một trong các quyết định kinh doanh tồi nhất

    mọi thời đại, đã quyết định không tiến sâu vào lĩnh vực máy tính

    Nhưng trong các cuộc họp đầu tiên vào tháng 11,1945 tại các văn phòng của RCA.

    RCA đã khởi xướng trào lưu và cho rằng

    tivi là tương lai chứ không phải máy tính.

    Nó có hết mọi điều cần thiết —

    những thứ làm hoạt động các cỗ máy này.

    Von Neumann, cùng một nhà logic học, một nhà toán học từ quân đội

    đã lắp ráp chiếc máy này. Tiếp đến họ cần một nơi để xây dựng nó.

    Khi Tập đoàn RCA từ chối, họ đã quyết định chế tạo nó ở Princeton,

    ở viện nghiên cứu mà Freeman đang làm việc.

    Đó là nơi tôi trải qua thời thơ ấu của mình.

    Đấy là tôi,chị gái tôi, Esther cũng là một diễn giả tại TED,

    cả 2 chúng tôi đều quay trở lại xem xét sự ra đời của cái máy này.

    Đó là Freeman, cách đây khá lâu rồi

    và kia là tôi.

    Đây là Von Neumann và Morgenstern,

    tác giả của cuốn Lý Thuyết các Trò Chơi.

    Đội quân hùng hậu này tập hợp lại ở Princeton.

    Oppenheimer, người đã chế tạo bom.

    Cỗ máy chủ yếu được dùng để tính toán việc xếp các quả bom.

    Và Julian Bigelow là kỹ sư đảm nhận

    luôn công việc của công nhân, sử dụng điện tử,

    và cách chế tạo nó. Toàn bộ đội ngũ các nhà khoa học bắt tay chế tạo cỗ máy

    và những người phụ nữ ở phía trước chịu trách nhiệm phần mã hóa, họ là các lập trình viên đầu tiên.

    Đây là những người lập dị, đầu to mắt cận.

    Họ không hòa nhập được tại Viện nghiên cứu.

    Đây là bức thư từ giám đốc, bày tỏ quan ngại về —

    “đặc biệt không công bằng trong vấn đề ăn đường.”

    (Cười)

    Các bạn có thể đọc đoạn văn.

    (Cười)

    Đây là các tay hacker gặp khó khăn lần đầu tiên.

    (Cười)

    Những người này không phải các nhà vật lý lý thuyết.

    Họ thuộc tuýp người dám nghĩ dám làm, và đã chế tạo ra cái máy này.

    Và chúng ta phải công nhân rằng mỗi chiếc máy này

    có hàng tỷ tranzito, thực hiện thành công hàng tỷ chu trình mỗi giây.

    Chúng sử dụng hàng tỷ ống chân không, các kỹ thuật rất hạn hẹp và sơ sài

    để lấy cách xử lý nhị phân ra khỏi các ống chân không radio đó.

    Họ sử dụng 6J6, ống radio thông thường,

    vì họ thấy chúng đáng tin cậy hơn các loại ống đắt tiền khác.

    Và tại Viện, họ đã xuất bản từng bước trong quá trình.

    Các báo cáo được đệ trình nhằm sản xuất các cỗ máy giống hệt

    ở 15 nơi khác trên khắp thế giới.

    Và đề nghị đó đã được chấp thuận. Đó là bộ vi xử lý thuở sơ khai.

    Tất cả các máy tính hiện này là bản copy cỗ máy đó.

    Bộ nhớ trong các ống tia ca tốt —

    một mạng điểm trên mặt ống,

    cực kỳ nhạy với các xáo trộn điện từ.

    Có 40 ống như vậy,

    giống 1 động cơ V-40 chạy bộ nhớ.

    (Cười)

    Đầu vào và đầu ra ban đầu theo kiểu băng điện tín.

    Đây là bộ dẫn động dây,sử dụng các bánh xe đạp.

    Đây là nguyên mẫu ổ cứng trong máy tính của bạn hiện nay.

    Tiếp đến chúng chuyển sang 1 trống từ trường.

    Đây là thiết bị IBM cải tiến,

    là nguồn gốc của toàn bộ ngành xử lý dữ liệu sau này tại IBM.

    Và đây là tổ tiên của ngành đồ họa vi tính.

    ” Graph’g-Beam Turn On.” Slide tiếp theo này,

    đó là — theo tôi được biết — màn hình BMP số đầu tiên, năm 1954.

    Von Neumann đã ở trong đám mây lý thuyết

    tóm tắt các nghiên cứu về cách chế tạo

    các cỗ máy đáng tin cậy từ những linh kiện không ổn định.

    Mấy anh này đang uống trà có đường

    đang viết trong nhật ký máy, cố làm cho cái máy này hoạt động

    với 2,600 ống chân không, mà nó thì có đến 1 nửa thời gian không chạy được.

    Và đó là công việc tôi đang làm trong 6 tháng qua, đọc nhật ký máy.

    “Thời gian chạy: 2 phút. Đầu vào, đầu ra: 90 phút.”

    Cái này bao gồm 1 lượng lớn lỗi do con người.

    Họ luôn phải cố xác định xem lỗi của cái máy là gì? Lỗi do người là gì?

    mật mã là gì, phần cứng là gì?

    Đó là 1 kỹ sư đang xem xét cái ống số 36,

    cố tìm nguyên nhân tại sao bộ nhớ không tập trung.

    Anh ấy phải tập trung được bộ nhớ — có vẻ ổn rồi.

    Anh ấy phải tập trung tất cả các ống thì bộ nhớ mới chạy được,

    chứ chắng dám nói đến các vấn đề phần mềm.

    “Vô ích, về nhà thôi.” (Tiếng cười)

    “Không thể theo cái thứ này được, thư mục ở đâu rồi? ”

    Họ đã phàn nàn về quyển sách hướng dẫn rồi:

    “trước khi bực mình đóng máy.”

    Số học tổng quát — các nhật ký vận hành máy,

    khiến họ phải thức khuya làm việc.

    MANIAC, trở thành từ viết tắt cho cỗ máy,

    có tên máy tính và bộ tích phân,’ đánh mất bộ nhớ của nó.”

    MANIAC lấy lại bộ nhớ của nó khi tắt máy,” “máy hay người?”

    “Aha!” Họ đã xác định ra được: đó là một vấn đề về mã:

    “Đã tìm thấy vấn đề nằm trong bộ mã, mình hy vọng thế.”

    ” ỗi bộ mã, cái máy chả có tội gì.”

    “Chết tiệt, cái máy này cứng đầu y như mình vậy.”

    (Cười)

    “Bình minh đã lên.” Thế là họ đã làm việc cả đêm.

    Cái máy này chạy 24h/ngày, chủ yếu tính toán các quả bom.

    “Mọi thứ thật là phí thời gian.” ” Lợi ích gì chứ? Chúc ngủ ngon.”

    ” Trình điều khiển chính tắt rồi. Chết tiệt. Pó tay.” (Cười)

    “Có gì đó không ổn với cái máy điều hòa —

    mùi khét, hình như cháy cái dây đai chữ V.”

    “Chú ý — đừng có bật cái máy lên.”

    “Cái máy IBM thả một chất giống nhựa đường lên các thẻ. Chắc nó rơi từ trên mái xuống.”

    Họ đã phải làm việc dưới điều kiện rất khắc nghiệt các bạn ạ.

    (Cười)

    Đây , “Một con chuột đã trèo vào quạt gió

    đằng sau giá điều chỉnh, làm cái quạt gió rung bần bật. Kết quả: Tiêu đời em chuột.”

    (Cười)

    (Cười)

    Ai đó đã viết một câu đùa bằng bút chì vào đó:

    Nếu bạn là một nhà toán học, bạn sẽ hiểu,

    vì Marston là nhà toán học

    đã phản đối máy tính được chế tạo ở Princeton.

    “Nhặt một con đom đóm ra khỏi cái trống, chạy máy với tốc độ 2 kilohetz.”

    2 kHz là 2 nghìn chu kỳ trên giây —

    “uh, mình là gà” — suy ra 2 kHz là tốc độ chậm.

    Tốc độ cao là 16 kHz,

    tôi không biết liệu các bạn có nhớ một chiếc Mac 16 MHz.

    Đó là tốc độ chậm.

    “Bây giờ mình đã nhân đôi cả 2 kết quả.

    Giả sử 1 kết quả là đúng, thì làm sao mình biết cái nào là đúng?

    Bây giờ là đầu ra khác nhau thứ 3.

    Mình biết khi nào thì bị một vố đau.”

    (Cười)

    “Chúng tôi đã nhân đôi các lỗi trước đó.”

    “Máy chạy ổn. Đoạn mã thì không.”

    “Chỉ xảy ra khi máy đang chạy.”

    Và đôi khi mọi thứ đều ổn.

    ” Cái máy này là vẻ đẹo và niềm vui bất diệt.” “Máy chạy hoàn hảo.”

    “Đã nghĩ rằng: khi có các lỗi lớn hơn và nhẹ hơn, chúng tôi sẽ giải quyết được”

    Chẳng ai biết họ đang thiết kế bom.

    Họ đang thiết kế các quả bom hidro. Nhưng ai đó giữa đêm khuya,

    đã vẽ 1 quả bom vào quyển nhật ký máy.

    Vậy đó là kết quả. Mike,

    quả bom nhiệt hạt nhân đầu tiên vào năm 1952.

    Nó được thiết kế trên cái máy đó

    trong khu rừng phía sau viện nghiên cứu.

    Von Neuman đã mời một nhóm chuyên gia

    từ khắp thế giới đến giải quyết các vấn đề đó.

    Barriceli đã đến để làm cuộc sống nhân tạo, như cách gọi bây giờ

    cố tìm xem liệu trong vũ trụ nhân tạo này —

    ông là 1 nhà di truyền học virus — cực kỳ đi trước thời đại.

    Ông hiện vẫn là chuyên gia đầu ngành của các dự án hiện đang được thực hiện .

    Cố gắng bắt đầu một hệ thống di truyền học nhân tạo chạy trong máy tính.

    vũ trụ của ông ta bắt đầu vào 3/3/1953.

    Thứ 3 tới sẽ tròn 50 năm.

    Và ông ta nhìn thấy mọi thứ về —

    Ông có thể đọc các đoạn mã nhị phân ngay ở máy.

    Ông rất tâm đầu ý hợp với cái máy.

    Trong khi những người khác không thể làm cho cái máy chạy

    thì ông cứ động vào là được. Kể cả các lỗi cũng nhân đôi.

    (Cười)

    “Tiến sĩ Barricelli tuyên bố đoạn mã thì đúng nhưng lỗi là tại cái máy.”

    Nên ông ấy đã thiết kế vũ trụ này và cho chạy nó.

    Khi các đồng nghiệp về nhà, ông được phép ở lại đó.

    Ông cho chạy nó suốt đêm, chạy các máy này.

    Nếu ai đó còn nhớ Stephen Wolfram,

    người đã tái phát minh cái máy này.

    Và ông đã công bố nó. Nó không bị bỏ xó.

    Nó được xuất bản thành tập san khoa học.

    “Nếu tạo ra các cơ quan sống lại dễ dàng như thế, thì tại sao không tạo ra một vài nhân bản của mình chơi ta?”

    Thế là ông ấy quyết định thử một phen,

    bắt đầu áp dụng ngành sinh học nhân tạo vào máy móc.

    Và ông đã tìm thấy những thứ này —

    Nó giống như 1 nhà tự nhiên học đi vào

    và nhìn thấy vũ trụ 5,000 byte nhỏ bé này

    và thấy mọi điều xảy ra

    trong thế giới bên ngoài, thế giới sinh học.

    Đây là 1 số thế hệ vũ trụ của ông.

    Nhưng chúng chỉ là các con số mà thôi;

    sẽ không trở thành các cơ quan được.

    Chúng cần có 1 cái gì đó.

    Bạn có 1 kiểu di truyền và phải có 1 kiểu hình nữa.

    Họ phải ra ngoài làm 1 việc. Và ông ta bắt đầu thực hiện việc đó,

    bắt đầu cho các cơ quan số này những thứ chúng có thể chơi,

    chơi cờ với các máy khác,…

    Và chúng bắt đầu “tiến hóa”.

    Ông ấy sau đó đã đi khắp đất nước.

    Mỗi khi có 1 cỗ máy mới tốc độ nhanh, ông lại bắt đầu sử dụng nó,

    và thấy được chính xác điều gì đang diễn ra:

    rằng các chương trình, thay vị bị tắt đi — khi bạn thoát khỏi chương trình,

    nó vẫn tiếp tục chạy

    đó chính là điều mà các chương trình trong Window đang làm —

    là 1 cơ thể đa bào chạy trên nhiều máy —

    ông đã hình dung được diễn biến trong tương lai.

    Và ông đã thấy bản thân cuộc tiến hóa ấy chính là một quá trình thông minh.

    Nó không phải trí thông minh của người tạo ra,

    mà bản thân nó đã là 1 phép tính song song khổng lồ

    có trí tuệ.

    Và ông đã phá lệ khi nói rằng

    ông không nói nó sẽ sinh động như thật

    hoặc là một dạng sống mới;

    nó chỉ là 1 phiên bản khác của cùng 1 thứ.

    Và không có sự khác biệt giữa những gì ông đang thực hiện trong máy tính

    và những gì tự nhiên đã làm cách đây hàng triệu năm.

    Còn bạn, bạn có thể làm lại lần nữa không?

    Khi tôi đi sâu vào các tài liệu lưu trữ này, thì kỳ lạ thay,

    người lưu trữ văn thư 1 hôm báo với tôi,

    ” Tôi nghĩ chúng tôi đã tìm thấy 1 cái hộp nữa, nó đã bị vứt đi.”

    Và đó chính là vũ trụ của ông ấy trên các phiếu đục lỗ.

    50 năm sau, nó vẫn ở đó, 1 loại hoạt họa dang dở.

    Đó là các hướng dẫn chạy chương trình —

    đây chính là mã nguồn

    cho 1 trong các vũ trụ đó,

    với 1 ghi chú từ các kỹ sư

    cho biết họ đang gặp phải 1 số khó khăn.

    “Chắc hẳn đoạn mã này có cái gì đó mà ông vẫn chưa giải thích.”

    Và tôi nghĩ đó là sự thật. Chúng ta vẫn không hiểu

    làm thế nào mà các hướng dẫn đơn giản này có thể dẫn tới sự phức tạp tăng dần.

    Ranh giới giữa

    khi nào nó giống như thật và khi nào nó thực sự sống là gì?

    Các thẻ này đang được giữ lại.

    Và câu hỏi đặt ra là, liệu có nên chạy chúng không?

    Chúng ta liệu có thể chạy chúng không?

    Bạn có muốn phát tán nó trên mạng?

    Các máy này sẽ nghĩ chúng —

    những cơ thể này, nếu bây giờ chúng được hồi sinh

    thì liệu sẽ chết và bay lên thiên đường không, có một vũ trụ —

    chiếc laptop của tôi to gấp 10 tỉ lần

    kích thước của vũ trụ chúng đã sống trong đó khi Barricelli rút khỏi dự án.

    Ông ấy đã nhìn xa trông rộng, nghĩ đến

    việc làm sao nó có thể phát triển 1 cuộc sống mới.

    Và đó là điều đang diễn ra!

    Khi Juan Enriquez kể với chúng tôi về

    12 nghìn tỷ bit của các dữ liệu hệ gen được chuyển đi chuyển lại,

    đến phòng thí nghiệm protein,

    đó chính là điều Barricelli đã tưởng tượng:

    rằng đoạn mã số trong các máy này

    sẽ bắt đầu mã hóa —

    nó đang mã hóa từ các acid nucleic.

    Chúng ta đang tiến hành công việc đó kể từ khi bắt đầu PCR

    và tổng hợp các sợi nhỏ của DNA.

    Và chúng ta sẽ sớm tổng hợp được các protein,

    và như Steve đã cho chúng ta thấy, mở ra cả 1 thế giới hoàn toàn mới.

    Một thế giới mà bản thân Von Neumann đã hình dung ra.

    Cái này đã được xuất bản sau khi ông ấy qua đời: các ghi chép còn dở dang của ông

    về các cỗ máy tự tái lập.

    Vậy cần gì để những chiếc máy loại tăng thế này

    tới nơi chúng bắt đầu tái lập?

    Chúng cần 3 người:

    Barricelli quan niệm mật mã là 1 vật hữu sinh.

    Von Neumann đã nhìn thấy cách chế tạo các cỗ máy đó.

    Theo thống kê mới nhất, hiện nay có 4 triệu

    máy kiểu Von Neumann được xây dựng mỗi ngày.

    Và Julian Bigelow đã qua đời cách đây 10 ngày —

    đây là cáo phó John Markoff đã viết cho ông ấy —

    ông là sợi dây gắn kết quan trọng bị thiếu,

    người kỹ sư đã đến

    và biết cách lắp ráp các ống chân không và làm cho nó hoạt động.

    Và tất cả máy tính của chúng tôi đều có bên trong chúng

    các bản sao chép kiến trúc ông đã phải thiết kế

    chỉ vọn vẹn có 1 ngày trên giấy bút.

    Chúng ta mang nợ ông rất nhiều vì cống hiến to lớn đó.

    Và ông đã giải thích rất cặn kẽ

    tinh thần đã mang những người khác nhau này

    đến Viện Nghiên Cứu Tiên Tiến ở những năm 40 để thực hiện dự án này,

    và khiến dự án dễ dàng được tiếp cận vì không có bằng sáng chế, không giới hạn

    không quyền sở hữu trí tuệ gây khó khăn cho phần còn lại của thế giới

    khi cái máy dừng hoạt động vào tháng 7 năm 1958.

    Và Julian Bigelow là người đã chạy máy cho tới nửa đêm

    khi nó chính thức bị tắt.

    Câu chuyện xin kết thúc ở đây.

    Cảm ơn quý vị rất nhiều.

    (Vỗ tay)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đã Tìm Được “quán Quân” Cuộc Thi Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Thành Phố Hà Nội
  • Phú Yên: Trao Giải Thưởng Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Lịch Sử Và Tuyên Dương Gương “Người Tốt, Việc Tốt”
  • Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Kiên Giang Về Nguồn Tại Bến Tre
  • Lịch Sử, Ý Nghĩa Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Của Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×