15 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Lý Thuyết Hóa 12 Có Đáp Án: Amin, Amino Axit, Protein

--- Bài mới hơn ---

  • Xử Lý 1.000 Trường Hợp Vi Phạm Trật Tự An Toàn Giao Thông .công An Tra Vinh
  • Giải Pháp Cho Thực Trạng Giao Thông Việt Nam Hiện Nay – Webvision
  • Chấn Chỉnh Tình Trạng Vi Phạm Luật Giao Thông Trong Thanh, Thiếu Niên, Học Sinh, Sinh Viên
  • Acid Uric Cao Là Bệnh Gì? Nguyên Nhân Và Biện Pháp Làm Giảm Acid Uric Máu
  • Nguyên Nhân Gây Tăng Acid Uric Máu Và Biến Chứng Khi Acid Uric Tăng
  • I. Câu hỏi Trắc nghiệm lý thuyết hóa 12

    Câu 1: Hiện tượng nào sau đây sẽ xảy ra khi cho đồng (II) hiđroxit vào dung dịch lòng trắng trứng:

    A. Xuất hiện màu nâu.

    B. Xuất hiện màu đỏ.

    C. Xuất hiện màu vàng

    D. Xuất hiện màu tím

    Câu 2: Peptit nào sau sẽ không có phản ứng màu biure?

    A. Ala-Gly

    B. Ala-Ala-Gly-Gly

    C. Ala-Gly-Gly

    D. Gly- Ala-Gly

    Câu 3: Công thức chung của amin no đơn chức, mạch hở là:

    A. CnH2n+1N

    B. CnH2n+1NH2

    C. CnH2n+3N

    D. CxHyN

    Câu 4: Số đồng phân amin bậc II của C4H11N là:

    A. 1

    B. 2

    C. 3

    D. 4

    B. C6H5CH2NH2

    C. ( C6H5)2NH

    D. NH3

    Câu 6: Để phân biệt anilin và etylamin đựng trong 2 lọ riêng biệt, ta dùng thuốc thử nào sau đây?

    A. Dung dịch Br2

    B. Dung dịch HCl

    C. Dung dịch NaOH

    D. Dung dịch AgNO3

    Câu 7: Cho vài giọt anilin vào nước, sau đó thêm dung dịch HCl (dư) vào, rồi lại nhỏ tiếp dung dịch NaOH vào, sẽ xảy ra hiện tượng:

    A. Lúc đầu dung dịch bị vẩn đục, sau đó trong suốt và cuối cùng bị vẩn đục lại.

    B. Lúc đầu dung dịch trong suốt, sau đó bị vẩn đục và cuối cùng trở lại trong suốt.

    C. Dung dịch trong suốt.

    D. Dung dịch bị vẫn đục hoàn toàn.

    Câu 8:Cho các phát biểu sau

    Câu 9:Dung dịch etylamin tác dụng với dd nước của chất nào sau đây?

    A. NaOH

    B. NH3

    C. NaCl

    D. H2SO4

    Câu 10:Phát biểu nào sau đây là sai?

    Câu 11: Phát biểu nào sau đây là sai ?

    Câu 12:Dãy gồm các chất đều làm giấy quì tím ẩm chuyển sang màu xanh là:

    A. anilin, metyl amin, amoniac.

    B. amoni clorua metylamin natri hiđroxit.

    C. anilin amoniac natri hiđroxit.

    D. metylamin, amoniac, natri axetat.

    Câu 13: C3H9N có bao nhiêu đồng phân amin?

    A. 2

    B. 3

    C. 4

    D. 5

    Câu 14: Khi cho etylamin vào dung dịch FeCl3 ,hiện tượng nào xảy ra có:

    A. khí bay ra

    B. kết tủa màu đỏ nâu

    C. khí mùi khai bay ra

    D. Không hiện tượng gì .

    Câu 15:Nhận biết ba dung dịch chứa ba chất glixin, metylamin, axit axêtic người ta dùng:

    A . Quỳ tím

    B . Dung dịch NaOH

    C . Dung dịch HCl

    D . Tất cả đều đúng.

     

    II. Hướng dẫn giải các câu hỏi trắc nghiệm lý thuyết hóa 12:

    Câu 9:

       2C2H5 NH2 + H2SO4 → (C2H5 NH3 )2 SO4 .

    Câu 10:

    Tripeptit chứa 2 liên kết peptit làm mất màu biure→ A đúng

    Trong phân tử đipeptit của  mạch hở đó có 1 liên kết peptit. ( đipeptit mạch vòng mới chứa hai liên kết peptit)

    Protein đơn giản được tạo thành từ các gốc α −amino axit → C đúng

    Tất cả các peptit đều có khả năng tham gia phản ứng thủy phân trong môi trường axit hoặc bazo thành các α-amino axit → D đúng

    Câu 11:

    Anilin không làm đổi màu quỳ tím

    Câu 12:

    Anilin không làm quỳ tím ẩm chuyển sang màu xanh → loại A và D

    Amoni clorua làm quỳ tím ẩm chuyển sang màu hồng → loại B

    Metylamin, amoniac hay natri axetat đều làm quỳ tím chuyển sang xanh → Chọn C

    Câu 13:

    1.CH3-CH2-CH2-NH2:propan-1-amin

    2.CH3-CH2-NH-CH3:N-metyl-etan-1-amin

    3.CH3-CH(CH3)-NH2:propan-2-amin

    4.(CH3)3-N: trimetyl amin

    Câu 14:

    3C2H5NH2 + FeCl3 + 3H2O → Fe(OH)3↓ + 3C2H5NH3Cl

    Câu 15:

    Để phân biệt 3 dung dịch trên ta dùng quỳ tím:

    Glyxin → Quỳ không đổi màu.

    Axit axetc → Quỳ hóa hồng.

    Etylamin → Quỳ hóa xanh.

    III. Đáp Án Trắc nghiệm lý thuyết hóa 12

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Tính Bazơ Của Các Amin
  • Bùng Nổ Dân Số Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Thực Trạng Dân Số Việt Nam Và Ý Nghĩa Giải Quyết Vấn Đề Dân Số
  • Pháp Luật Dân Sự
  • Sự Gia Tăng Dân Số Tác Động Đến Môi Trường
  • Cách Nhận Biết Amin, Amino Axit Hay, Chi Tiết

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Làm Bài Tập Điều Chế, Nhận Biết Este Hay, Chi Tiết
  • Khái Niệm, Phân Loại, Danh Pháp Và Tính Chất Vật Lí Của Este
  • Tính Chất Hoá Học Của Oxit, Axit, Bazo Và Muối
  • In Which, On Which, For Which, Of Which Là Gì? Phân Biệt
  • At, In & On: Dùng Sao Cho Đúng?
  • Lý thuyết và Phương pháp giải

    – Khi nhận biết có các aminoaxit (nhất là khi số nhóm amin và số nhóm -COOH trong phân tử khác nhau) với nhau, hoặc aminoaxit với amin nên dùng quỳ tím

    – Các amin thơm (như anilin) có tính bazo rất yếu, không làm quỳ tím đổi màu.

    Ví dụ minh họa

    Bài 1: Trình bày phương pháp hóa học phân biệt từng chất trong nhóm sau: CH 3NH 2; NH 2-CH 2-COOH; CH 3 COONa

    Hướng dẫn:

    Trích mỗi dung dịch một ít làm mẫu thử

    – Nhúng quỳ tím lần lượt vào các mẫu thử

    – Mẫu thử không có hiện tượng gì là : NH 2-CH 2-COOH

    – Hai mẫu thử còn lại làm quỳ tím hóa xanh là : CH 3NH 2, CH 3 COONa.

    Dùng đũa thủy tinh nhúng vào dung dịch hai chất này rồi đưa lại gần miệng ống nghiệm chứa HCl đặc, mẫu nào có hiện tượng khói trắng là: CH 3NH 2, còn lại là CH 3 COONa.

    Bài 2: Trình bày phương pháp hóa học phân biệt dung dịch từng chất trong các nhóm dung dịch sau:

    Hướng dẫn:

    a) Dùng quì tím: hai dung dịch làm quì tím hóa xanh là CH 3CH 2NH 2 và CH 3COONa, còn H 2N-CH-COOH không làm quì tím đổi màu. Axit hóa hai dung dịch làm quì chuyển màu xanh, dung dịch cho khí có mùi dấm thoát ra là CH 3COONa. Hay cho hai dung dịch tác dụng với KNO 2 và HCl thì amin sẽ cho khí thoát ra: CH 3COONa + H 2SO 4 → CH 3COOH + NaHSO 4

    b) Cho vài giọt chất vào các ống nghiệm chứa nước Br 2, chất nào tạo ra kết tủa trăng là C 6H 5NH 2, chất nào làm nhạt màu dung dịch là CH 3-CHO/ hai dung dịch còn lại tác dụng với Cu(OH) 2/OH, chất hòa tan Cu(OH) 2 tạo dung dịch màu xanh lam là CH 2OH-CHOH-CH 2OH, còn lại là: H 2 N-CH-COOH

    Bài 3: Chỉ dùng 1 thuốc thử, hãy phân biệt các dung dịch glucozo, glixerol, atanol, và lòng trắng trứng.

    Hướng dẫn:

    B. Bài tập trắc nghiệm

    Bài 1: Có ba chất lỏng: benzen, anilin và stiren đựng riêng biệt trong ba lọ mất nhãn. Thuốc thử để nhận biết ba chất lỏng trên là:

    A. Nước brom

    B. Giấy quỳ tím

    C. Dung dịch phenolphtalein

    D. Dung dịch NaOH

    Đáp án: A

    C 6H-CH=CH 2 + Br 2 → C 6H 5-CHBr-CH 2 Br

    – Anilin tạo kết tủa trắng:

    Bài 2: Dãy gồm các chất đều làm giấy quỳ tím ẩm chuyển sang màu xanh là:

    A. Amin, amoniac, natri hidroxit

    B. Anilin, metyl amin, amoniac

    C. Metyl amin, amoniac, natri hidroxit

    D. Amoni clorua, metyl amin, natri hidroxit

    A. 1

    B. 2

    C. 3

    D. 4

    Bài 4: Thuốc thử nào sau đây có thể dùng để phân biệt phenol và anilin?

    A. Dung dịch brom

    B. Dung dịch NaOH

    C. Dung dịch KCl

    D. Cả A, B và C đều đúng.

    Bài 5: Để phân biệt 4 lọ mất nhãn đựng 4 dung dịch: glixerol, lòng trắng trứng, tinh bột và xà phòng, có thể dùng lần lượt các thuốc thử nào sau đây?

    A. Dung dịch iot, HNO 3 đậm đặc và Cu(OH) 2

    B. HNO 3 đậm đặc và Cu(OH) 2

    C. Dung dịch iot và Cu(OH) 2

    D. Dung dịch NaOH và Cu(OH) 2

    Bài 6: Dung dịch lòng trắng trứng được gọi là dung dịch nào sau đây?

    A. Cazein

    B. Hemoglobin

    C. Insulin

    D. Anbumin

    Bài 7: Khi cho Cu(OH) 2 vào dung dịch lòng trắng trứng thì thấy xuất hiện:

    A. Màu vàng

    B. Màu đỏ

    C. Màu nâu đỏ

    D. Màu tím

    Bài 8: Cho quỳ tím vào dung dịch chứa chất có CTCT như sau:

    Hiện tượng xảy ra là:

    A. Qùy tím hóa đỏ

    B. Quỳ tím bị mất màu

    C. Quỳ tím hóa xanh

    D. Quỳ tím không đổi màu.

    Bài 9: Để phân biệt anilin và etylamin đựng trong 2 lọ riêng biệt, ta dùng thuốc thử nào sau đây?

    A. Dung dịch Br 2

    B. Dung dịch HCl

    C. Dung dịch NaOH

    D. Dung dịch AgNO 3

    Bài 10: Để phân biệt phenol, anilin, benzen bằng phương pháp hóa học, ta cần dùng các hóa chất là:

    A. Dung dịch Br 2, Na

    B. Quì tím

    C. Kim loại Na

    D. Quì tím, Na.

    Ngân hàng trắc nghiệm miễn phí ôn thi THPT Quốc Gia tại chúng tôi

    amin-amino-axit-va-protein.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Dòng Điện Một Chiều Và Dòng Điện Xoay Chiều
  • Full Bộ Tài Liệu Về Điện , Cơ Điện Hơn Gần 4Gb
  • Cvt Là Gì? Hộp Số Cvt Khác Hộp Số Mt Và At Như Thế Nào?
  • Lý Thuyết Giao Tiếp Trả Lời Hội Thoại Tiếng Anh Có Đáp Án
  • Not At All Là Gì? Cách Dùng Not At All
  • Phân Biệt Axit Yếu Axit Mạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Và Cách Dùng “in, On, At” Trong Bài Thi Toeic
  • Phản Ứng Tráng Gương Của Anđehit, Glucozơ, Este, Axit Fomic
  • Work From Home Là Gì? Xu Hướng Làm Việc Của Nền Kinh Tế Hiện Đại
  • Work From Home Advantages And Disadvantages
  • “work At Home” Vs. “work From Home”
  • phân biệt axit yếu axit mạnh

    đơn giản thì muối đó phải tác dụng được với axit, hay chính là phản ứng trao đổi ion.

    Điều kiện phản ứng là sản phẩm tạo thành phải có kết tủa hoặc chất điện li yếu hoặc chất khí. HÊHÊ

    Ông ơi ông hỏi câu này con cũng hơi thấy khó hiểu. Không dùng từ tan được, chỉ dùng từ tác dụng thoai ô à. Sp sẽ trả lời câu hỏi ” Điều kiện để muối tác dụng với axit”

    – Axit tạo thành phải yếu hơn axit ban đầu, hay dễ bay hơn. OK

    Cái này chắc hỏi về kết tủa chớ ko phải muối ròi !

    Cách 1: (như trên đã nói) ngồi học thuộc lý thuyết, axit nào mạnh hơn axit nào, muối nào thủy phân ra như thế nào, từ đó suy ra !

    Cách 2: Xách xe chạy ra nhà sách, lục kiếm 1 bảng tuần hòan hoặc 1 bảng tính tan có sẵn. T có 1 cái khá đầy đủ nhưng mà cũng có nhìu lỗi chưa chỉnh, loại của NXb khoa học Tn

    các ông cứ nói gì lung tung quá. Tan trong trường hợp này chính là tác dụng đó, hắn tác dụng thì mới hết thôi.

    Ví dụ như FeS hắn tan trong HCl vì tác dụng với HCl. Mà để tác dụng thì phải tuân thủ điều kiện tui nói ban nãy đó

    cũng dùng từ tan nữa mà , ý chỉ có phản ứng giữa muối và axit đó ^^

    nếu theo điều kiện của giotbuonkhongten thì CuS + HCl, PbS + HCl có phản ứng ko kìa

    Cái ni thì phải đi vào chuyên sâu hơn. Phải nói đến tích số tan. Rõ ràng tích số tan của FeS lớn hơn tích số tan của CuS.

    Mà phản ứng này phải đi theo chiều hướng tạo thành chất ít tan hơn và điện li yếu hơn. Vì vậy trong trường hợp này FeS sẽ tác dụng với HCl để tạo thành H2S ít tan hơn và điện li yếu hơn nhưng ngược lại tích số tan của CuS lại nhỏ thua CuCl2 và H2S sẽ hôk xảy ra phản ứng này. Hihi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Axit Mạnh Và Axit Yếu Phổ Biến Và Cách Để Phân Biệt Chúng
  • Axit Clohidric Là Gì? Tính Chất, Cách Điều Chế, Ứng Dụng & Lưu Ý Khi Dùng
  • Phân Biệt Hyundai Grand I10 1.0 At Và 1.2At
  • Nên Mua Phiên Bản Hyundai Accent Nào Trong 4 Phiên Bản?
  • So Sánh Accent 2022 Mt Số Sàn Bản Thiếu Và Accent 2022 Mt Đủ Chi Tiết Nhất
  • Axit Mạnh Và Axit Yếu Phổ Biến Và Cách Để Phân Biệt Chúng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Axit Yếu Axit Mạnh
  • Phân Biệt Và Cách Dùng “in, On, At” Trong Bài Thi Toeic
  • Phản Ứng Tráng Gương Của Anđehit, Glucozơ, Este, Axit Fomic
  • Work From Home Là Gì? Xu Hướng Làm Việc Của Nền Kinh Tế Hiện Đại
  • Work From Home Advantages And Disadvantages
  • Axit mạnh và axit yếu là điều quan trọng cần biết đối với cả lớp hóa học và để sử dụng trong phòng thí nghiệm. Có rất ít axit mạnh, vì vậy một trong những cách dễ nhất để phân biệt axit mạnh và axit yếu là ghi nhớ danh sách ngắn các axit mạnh. Bất kỳ axit nào khác được coi là một axit yếu.

    Ví dụ về phản ứng ion hóa bao gồm:

    Lưu ý sự tạo ra các ion hydro tích điện dương và cả mũi tên phản ứng, chỉ hướng về bên phải. Tất cả các chất phản ứng (axit) được ion hóa thành sản phẩm.

    Axit yếu ion hóa không hoàn toàn. Một phản ứng ví dụ là sự phân ly của axit ethanoic trong nước để tạo ra các cation hydroxonium và anion ethanoat:

    Lưu ý mũi tên phản ứng trong phương trình hóa học chỉ cả hai hướng. Chỉ khoảng 1% axit ethanoic chuyển thành ion, trong khi phần còn lại là axit ethanoic. Phản ứng tiến hành theo cả hai chiều. Phản ứng thuận lợi hơn phản ứng thuận, vì vậy các ion dễ dàng chuyển trở lại thành axit yếu và nước.

    Hãy cẩn thận để không nhầm lẫn giữa các thuật ngữ mạnh và yếu với đặc và . Axit đậm đặc là axit có chứa một lượng nước thấp. Nói cách khác, axit đậm đặc. Axit loãng là dung dịch axit có chứa nhiều dung môi. Nếu bạn có axit axetic 12 M, nó đậm đặc, nhưng vẫn là một axit yếu. Bất kể bạn loại bỏ bao nhiêu nước, điều đó sẽ đúng. Mặt khác, dung dịch HCl 0,0005 M loãng nhưng vẫn mạnh.

    uống axit axetic pha loãng (axit có trong giấm), nhưng uống cùng nồng độ axit sulfuric sẽ khiến bạn bị bỏng hóa học. Nguyên nhân là do axit sunfuric có tính ăn mòn cao, còn axit axetic thì không hoạt động bằng. Trong khi axit có xu hướng ăn mòn, các (cacborane) thực sự không ăn mòn và bạn có thể cầm trên tay. Axit flohydric, trong khi một axit yếu, sẽ đi qua bàn tay của bạn và

    --- Bài cũ hơn ---

  • Axit Clohidric Là Gì? Tính Chất, Cách Điều Chế, Ứng Dụng & Lưu Ý Khi Dùng
  • Phân Biệt Hyundai Grand I10 1.0 At Và 1.2At
  • Nên Mua Phiên Bản Hyundai Accent Nào Trong 4 Phiên Bản?
  • So Sánh Accent 2022 Mt Số Sàn Bản Thiếu Và Accent 2022 Mt Đủ Chi Tiết Nhất
  • Tính Chất Hóa Học Của Muối Và Một Số Dấu Hiệu Nhận Biết
  • Phân Biệt Whey Protein Concentrate, Isolate Và Hydolyzed

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Whey Protein Hydrolyzed Và Whey Protein Concentrate
  • Fifa 20 Vs Pes 20: Đâu Mới Là Tựa Game Bóng Đá Đỉnh Cao?
  • Pes Hay Fifa Sẽ Trở Thành Ông Hoàng Bóng Đá Điện Tử 2022
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Chỉnh Bàn Phím Pes Giống Fifa Hiệu Quả
  • Pes Vs Fifa: Cuộc Đua Thống Trị Tựa Game Bóng Đá Liệu Có Hồi Kết?
  • Chúng ta đều biết rằng Protein(đạm) là một chất không thể thiếu đối với nhiều chức năng trong cơ thể chúng ta. Nếu chúng ta đang nói về whey protein, chúng ta biết rằng nó rất giàu các axit amin cần thiết để xây dựng cơ bắp. Các axit amin và các loại vitamin khoáng chất cần được phải bổ sung ngay sau khi bạn tập luyện thể lực (gym, và các môn thể thao nói chung). Ngoài ra whey protein còn đóng vai một số chức năng khác như tăng cường sự trao đổi chất, phục hồi và phát triển cơ bắp, sản xuất hoocmon tăng trưởng, tổng hợp collagen và làm cứng xương.

    Phân biệt các loại whey protein

    Whey protein được sản xuất từ sữa bò, qua quá trình tách lọc khác nhau sẽ thu được whey protein. Trong các quá trình tách lọc này, không có sự khác biệt về dinh dưỡng. Sự khác biệt cuối cùng là nồng độ, tỷ lệ hấp thu protein. Tại thời điểm này chúng tôi có 3 loại protein sau : whey protein concentrate(tập trung), whey protein isolate(cô lập) , whey protein hydrolyzed (thủy phân).

    Giống như bất kỳ các thực phẩm khác, protein cũng có khuyến nghị hàm lượng nên nạp vào hằng ngày. Đối với vận động viên tập sức bền, mức đề nghị là 1,4-1,8g/1kg trọng lượng cơ thể. Đối với vận động viên tập luyện sức mạnh, mức đề nghị là 1,8- 2,5g /1kg trọng lượng cơ thể.

    Khi biết được điều này, bạn biết là mình nên chọn mua loại whey protein nào ? concentrate, isolate hay hydrolyzed.

    Trước khi bạn chọn cho mình 1 loại whey protein, chúng tôi xin giải thích cho bạn sự khác biệt.

    Đầu tiên là Whey Protein Concentrate (WPC)

    Đây là loại protein đầu tiên thu được khi qua quá trình xử lý lọc. Loại protein này thường chứa từ 20-80% tỷ lệ protein và nó được khuyến khích dùng cho những người muốn xây dựng cơ bắp, giữ cơ bắp hoặc đơn giản là dùng như thực phẩm. Vậy 20-80% là protein thì những thứ còn lại là gì ? Đó chính là carb(tinh bột) , fat (chất béo) , lactose(đường sữa).

    Whey Protein Concentrate không được khuyến nghị dùng cho người nào đó đang muốn giảm béo, cắt nét. Ngoài ra đây không phải là 1 sự lựa chọn khả thi đối với người không dung nạp lactose. Những người không dung nạp lactose sẽ bị đi ngoài, đau bụng khi sử dụng sản phẩm whey concentrate.

    Thứ 2 : Whey Protein Isolate (WPI)

    Đây là loại protein tinh khiết, tỷ lệ thường từ 80-90% protein. Trong trường hợp này, whey protein đã được trải qua quá trình lọc kỹ lưỡng, loại bỏ gần như hoàn toàn lactose, rất thấp fat và carb. Do đó đây là loại tinh khiết, dễ hấp thu. Nó là sự lựa chọn tốt nhất cho ai muốn tránh chất béo, tinh bột, lactose. Được khuyến nghị dùng cho các vận động viên, người tập gym đang trong quá trình cắt nét giảm béo.

    Thứ 3: Whey Protein Hydrolyzed (WPH)

    Đây không phải là 1 loại protein mới. Đơn giản nó là quá trình thủy phân whey protein isolate. Trong quá trình này, các phân tử protein được cắt nhỏ, chia nhỏ ra thành các chuỗi nhỏ cực kỳ dễ hấp thu và tiêu hóa, Nó hấp thu và tiêu hóa rất nhanh.

    Tỷ lệ Protein của dạng này thường là trên 90% . Nó được dùng tốt nhất là ngay sau giai đoạn tập luyện của bạn

    1,650,000 đ

    Platinum HydroWhey 3,5 lbs (1,59kg)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Sự Khác Nhau Về Sở Thích Và Sự Tham Gia Giữa Khách Du Lịch Người Trung Quốc, Nhật Bản Và Hàn Quốc
  • So Sánh Content Facebook Và Content Website
  • So Sánh Fructose Và Glucose Có Trong Trái Cây, Đường, Mật Ong
  • Sự Khác Biệt Giữa Glucose Và Fructose (Khoa Học)
  • Sự Khác Biệt Giữa Glucose Và Fructose 2022
  • Các Phương Pháp Phân Tách Và Nhận Diện Các Axit Amin Và Peptit Từ Các Hợp Chất Tự Nhiên (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Sản Xuất Acid Amin
  • Hướng Dẫn Áp Dụng Thỏa Thuận Trước Về Phương Pháp Xác Định Giá Tính Thuế (Apa)
  • Cơ Chế Thỏa Thuận Trước Về Phương Pháp Xác Định Giá Tính Thuế – Chi Cục Thuế Quận 1
  • Hướng Dẫn Con Học Toán Finger Math — Toán Tư Duy Nhật Bản Fuji Soroban
  • Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Tân Việt (Tvsi)
  • BioMedia

    1. Giới thiệu

    Các chất chiết xuất tự nhiên từ thực vật là nguồn cung quan trọng các hợp chất có hoạt tính sinh học mới có tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm. Liệu pháp thực vật đặc biệt đang được phát triển hướng nghiên cứu quá trình phân lập những hợp chất có cấu trúc hóa học đặc thù – những hợp chất được xem là có hoạt tính dược học cao từ các loài cây thảo mộc. Các số liệu thống kê thường niên gần đây cho thấy có trên 1500 hợp chất mới được phát hiện trong các loài thực vật khác nhau, và có khoảng một phần tư trong tổng số thuốc kê theo đơn chứa các chất có nguồn gốc thực vật.

    Có rất nhiều các loại hợp chất đã được tìm thấy trong rượu, các chất chiết xuất tự nhiên bao gồm: các amino acid, peptide, protein nhỏ, các phenol, chuỗi polyphenol, saponin, flavonoit, và các đường. Các hợp chất được đặc biệt quan tâm là các amino acid tự do và các peptide từ các chất chiết xuất này, có hoạt tính quan trọng ngăn chặn sự phát triển của các khối u.

    Các phương pháp phân tích cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ trước đây chỉ dựa trên một vài thông số lý hóa, như: nhiệt độ nóng chảy, độ hòa tan, phân tích nguyên tố, trọng lượng phân tử, và/ hoặc độ quay cực riêng, thì ngày nay các kỹ thuật hiện đại hơn, đặc biệt một loạt các kỹ thuật quang phổ trở thành những công cụ cực kỳ hữu hiệu trong việc phân tích và đặc tính hóa quá trình sàng lọc hóa học các hợp chất tự nhiên.

    Hóa học các hợp chất tự nhiên gồm ba phần chính: phân lập, xác định cấu trúc, và các phương pháp tổng hợp. Phân lập được xem là một phần trong giai đoạn xác định cấu trúc phân tử, nên các phương pháp phân tích và xác định đặc tính, như phương pháp phổ UV-VIS và phổ hồng ngoại, phổ khối và các kỹ thuật sắc ký khác đều là những công cụ quan trọng trong việc xác định đúng các thành phần của một chất chiết xuất tự nhiên.

    1. Quá trình chuẩn bị mẫu

    Bước cơ bản, đặc biệt cần thiết cho quá trình phân tách các axit amin và peptit, là việc xác định qui trình phân đoạn các chiết xuất phù hợp với các dung môi khác nhau để loại bỏ các hợp chất không mong muốn như polysaccarit, các lipid, phenol và các chất khác.

    Điện di mao quản (CE) cho phép tách các axit amin mà không cần cơ chế tạo dẫn xuất. Bước tạo các dẫn xuất thường cần trong các kỹ thuật phát hiện quang học để làm tăng khả năng phát hiện. Một số tác nhân tạo dẫn xuất phổ biến: FMOC, NDA, OPA hoặc FITC.

    Thông thường, trong các phân tích axit amin, các liên kết peptit phải bị phá vỡ trước tiên thành các axit amin độc lập. Trình tự và bản chất của các axit amin trong một protein hoặc peptit sẽ quyết định các đặc tính của phân tử.

    Có nhiều phương pháp thủy phân được dùng trước khi phân tích axit amin, nhưng phổ biến nhất là phương pháp thủy phân axit. Tuy nhiên, phương pháp này có thể làm biến tính một số loại axit amin. Chẳng hạn, methionine và cystine sẽ bị phá hủy một phần hoặc bị oxy hóa thành axit cysteic và methionine sulphone. Cách tốt nhất trong trường hợp này là dùng dung dịch axit HCL nóng có thêm từ 0.1% đến 1% phenol để tránh quá trình halogen hóa của tyrosine.

    Phương pháp thủy phân kiềm làm giới hạn các ứng dụng vì tác dụng phá hủy cấu trúc của các amino acid: arginine, serine, threonine, cysteine và cystine.

    Phân tách và xác định các thành phần hóa học của một hợp chất tự nhiên từ một thảo dược đòi hỏi một quy trình rất công phu. Ví dụ, đối với một loại thảo dược đa được biết đến như loài Chelidonium majus L, phải tiến hành chiết lần lượt trong các dung môi hexane, ethyl acetate, chloroform, và n-butyl alcohol. Mỗi dịch chiết thu được được phân tích chi tiết bằng các kỹ thuật sắc ký và quang phổ khác nhau.

    Nghiên cứu khoa học gần đây đã phát triển một số kỹ thuật và cải tiến nhằm nhận biết các axit amin tự do, như việc định tính bằng quang phổ sử dụng các phương pháp so màu. Các thuốc thử thường được sử dụng như 2,4-dinitrofluorobenzene và genipin. Đồng thời, đề tài nghiên cứu khoa học cũng trình bày về kỹ thuật quang phổ hồng ngoại (viết tắt là IR) trong việc nghiên cứu các dịch chiết khác nhau của cây Angelica.

    Phổ UV-VIS của các hợp chất tự nhiên chứa thông tin về các đặc tính khác nhau (như: thành phần hóa học và cấu trúc phân tử). Những phương pháp như vậy tiến hành đơn giản, nhanh chóng, chi phí không cao, và an toàn; nên được sử dụng phổ biến.

    Tuy nhiên, kỹ thuật này có một số nhược điểm, độ chính xác của kết quả phân tích phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sự thay đổi chiều dài của chuỗi polypeptit, số lượng và các loại tồn dư axit amin, sự có mặt của các thuốc thử nhuộm màu, sự xuất hiện của các dung dịch đệm, các chất ổn định, và các loại tá dược khác, các yếu tố này có thể tác động trở lại với thuốc thử nhuộm màu hoặc bị hấp thụ ở bước sóng phát hiện.

    Nguyên lý hoạt động của quang phổ hồng ngoại IR dựa trên những dao động của phân tử, đại diện cho các liên kết hoặc nhóm liên kết hóa học đặc trưng. Hầu hết năng lượng dao động phân tử (dao động kéo, dao động xoắn, và dao động quay) tương ứng với các vùng hồng ngoại của quang phổ điện từ. Có nhiều kiểu dao động không đại diện cho một dao động liên kết đơn mà phụ thuộc rất nhiều vào các liên kết xung quanh và các nhóm chức. Một trong những ưu điểm lớn của phương pháp này cho các sản phẩm tự nhiên là có thể thu được phổ ở hầu hết các môi trường (dung dịch nước, dung môi hữu cơ, …) với lượng mẫu tương đối nhỏ.

    – Quang phổ hồng ngoại của các axid amin và peptit có gắn ion K+;

    – Quang phổ hồng ngoại của các amin bị bớt đi một proton (H+) ;

    – Quang phổ hồng ngoại của một số chất dẫn xuất của các axit amin, còn gọi là các amit (kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự xuất hiện của nhóm chức C=O trong vùng số sóng từ 1675-1680 cm-1 đối với hầu hết các hợp chất được nghiên cứu);

    – Quang phổ IR của 5 axit amin tự nhiên: valine, proline, isoleucine, phenylalanine và leucine. Năm phổ đồ thu được tương tự nhau ở vị trí của nhóm C=O, và tần số hấp thụ của nhóm OH. Những khác biệt nhỏ xuất hiện chỉ trong trường hợp của dao động kéo của các nhóm C-H.

    Từ đó có thể thu được các thông tin trong phổ IR của leucin (theo phổ đồ ở hình 1) như sau:

    – Dải hấp thụ axit amin và peptit trong vùng sóng 3400 cm-1 là do lực kéo của các liên kết O-H và N-H.

    – Các dải hấp thụ rộng trong vùng 3030-3130 cm-1 được cho là do những dao động hóa trị bất đối xứng của ion NH3+.

    – Những dao động hấp thụ đối xứng trong vùng 2080-2140 cm-1 hoặc 2530-2760 cm-1, phụ thuộc vào các cấu trúc hóa học của các axit amin.

    – Những dao động biến dạng nhóm amoni (NH3+) tại số sóng 1500-1600 cm-1, cùng với đặc tính hấp thụ của ion carboxyl.

    – Các dải biến dạng bất đối xứng từ 1610-1660 cm-1 gắn liền với nhóm cacboxyl (COO–), và nó biểu trưng cho sự hấp thụ yếu.

    – Các dải trong vùng 1724-1754 cm-1 tương ứng với dao động của nhóm carbonyl (C=O).

    Hình 1. Phổ đồ FT-IR của leucine

    Hình 3: Phổ đồ IR của dịch chiết Chelidoniummajus L. (sau khi chiết xuất liên tục với các dung môi: hexane, ethyl acetate, chloroform và n-butul alcohol)

    Các số sóng xuất hiện trên phổ đồ IR có thể do: OH (3405.67 cm-1), CH2 và CH3 (2975.62 cm-1), C=C (1644.02 cm-1), và C-O (1382.71    cm-1). Đồng thời, phổ UV-VIS của dịch chiết Chelidonium majus L. cho thấy sự tồn tại của 3 dải hấp thụ tương ứng ở các bước sóng: 734 nm, 268 m và 198 nm.

    Để hoàn thiện việc nghiên cứu, có thể tiến hành các phương pháp phân tích sâu hơn (bao gồm cơ chế tạo dẫn xuất và HPLC).

     

    (Còn tiếp…)

    Nguồn: Peptide and Amino Acids Separation and Identification from Natural Products – Tác giả: Ion Neda1, Paulina Vlazan1, RalucaOana Pop1, Paula Sfarloaga1, Ioan Grozescu1 và Adina-Elena Segneanu DOI: 10.5772/51619

    Sách: “Analytical Chemistry”, book edited by Ira S. Krull, ISBN 978-953-51-0837-5, Published: November 7, 2012

    Tổng hợp và dịch: BioMedia Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Từ Vựng Tiếng Anh Về Toán Học
  • 80 Tính Từ Tiếng Anh Về Tính Cách Thường Dùng
  • Phương Pháp Tính Toán Trong Tiếng Tiếng Anh
  • 4 Cách Tính Nhẩm Nhanh Và Hiệu Quả Không Tìm Thấy Trong Sgk
  • Mẹo Tính Nhẩm Nhanh Thần Tốc Mà Học Sinh Nào Cũng Nên Biết
  • Xác Định Và Phân Biệt Axit Mạnh, Axit Yếu, Bazơ Mạnh, Bazơ Yếu

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Dùng In On At Trong Tiếng Anh Chuẩn Nhất, Kèm Bài Tập Và Đáp Án!
  • Phân Biệt Cách Dùng 3 Giới Từ In, At, On Trong Tiếng Anh
  • Bài Tập Phân Biệt Các Lọ Mất Nhãn Bao Gồm Axit Axetic
  • Nhận Biết Rượu Etylic ; Axit Axetic ; Dung Dịch Glucozơ.
  • Nhận Biết Hợp Chất Hữu Cơ
  • Cách xác định và phân biệt axit mạnh, axit yếu, bazơ mạnh, bazơ yếu được biên soạn từ đội ngũ giáo viên bộ môn hóa nhiều kinh nghiệm giảng dạy. Sẽ giúp các em hiểu rõ bản chất axit, bazơ là gì? sự khác nhau giữa axit và bazơ từ đó có những phương pháp xác định, phân biệt thế nào là axit mạnh, axit yếu, bazơ mạnh, bazơ yếu.

    Cách xác định và phân biệt axit mạnh, axit yếu, bazơ mạnh, bazơ yếu thuộc phần: CHƯƠNG I: SỰ ĐIỆN LI

    I. Axit là gì? cách phân biệt và xác định Axit mạnh, Axit yếu?

    – Axit là chất khi tan trong nước phân li ra ion H+ theo thuyết điện li. Theo thuyết Bronsted axit là những chất có khả năng cho proton (ion H+).

    * Axit và bazơ theo quan điểm của Bronsted

    – Axit gồm:

    + Các axit vô cơ, hữu cơ: HCl, H2SO4, CH3COOH, (COOH)2,…

    + Các kim loại ở dạng hiđrat hóa (trừ các ion Na+, K+, Ba2+ và Ca2+): Al(H2O)33+, Cu(H2O)22+,…

    + Các ion: H+, NH4+, H3O+, RNH3+, HSO4-,…

    Cách xác định axit mạnh, axit yếu

    a) So sánh định tính tính axit của các axit

    – Nguyên tắc chung: Nguyên tử H càng linh động thì tính axit càng mạnh.

    – Đối với các axit có oxi của cùng một nguyên tố: càng nhiều O tính axit càng mạnh.

    HClO < HClO2 < HClO3 < HClO4

    – Đối với axit của các nguyên tố trong cùng chu kì: nguyên tố trung tâm có tính phi kim càng mạnh thì tính axit của axit càng mạnh (các nguyên tố đều ở mức hóa trị cao nhất).

    H3PO4 < H2SO4 < HClO4

    – Đối với axit của các nguyên tố trong cùng một nhóm A thì:

    + Axit không có oxi: tính axit tăng dần từ trên xuống dưới:

    HF < HCl < HBr < HI (do bán kính ion X- tăng)

    + Axit có O: tính axit giảm dần từ trên xuống dưới:

    – Với các axit hữu cơ RCOOH: (nguyên tử H được coi không có khả năng hút hoặc đẩy e)

    + Nếu gốc R hút e (không no, thơm hoặc có halogen…) sẽ làm tăng tính axit.

    * Xét với gốc R có chứa nguyên tử halogen:

    + Halogen có độ âm điện càng lớn thì tính axit càng mạnh:

    + Gốc R có chứa càng nhiều nguyên tử halogen thì tính axit càng mạnh:

    + Nguyên tử halogen càng nằm gần nhóm COOH thì tính axit càng mạnh:

    – Với một cặp axit/bazơ liên hợp: tính axit càng mạnh thì bazơ liên hợp của nó càng yếu và ngược lại.

    – Với một phản ứng: axit mạnh đẩy được axit yếu khỏi dung dịch muối (trường hợp trừ một số đặc biệt).

    b) So sánh định lượng tính axit của các axit

    – Với axit HX trong nước có cân bằng:

    HX ↔ H+ + X- ta có hằng số phân ly axit: KA

    – KA chỉ phụ thuộc nhiệt độ, bản chất của axit. Giá trị của KA càng lớn tính axit của axit càng mạnh.

    II. Bazo là gì? Cách phân biệt và xác định Bazơ mạnh, Bazơ yếu?

    – Bazơ là chất khi tan trong nước phân li ra ion OH- theo thuyết điện li. Theo thuyết Bronsted Bazơ là những chất có khả năng nhận proton (nhận H+).

    -Bazơ gồm:

    + Oxit và hiđroxit của kim loại (trừ các oxit và hiđroxit lưỡng tính: Al2O3, Al(OH)3, ZnO, Zn(OH)2…).

    + Các anion gốc axit không mạnh không còn H có thể tách thành ion H+ (CO32-, CH3COO-, S2-, SO32-, C6H5O-…).

    + NH3 và các amin: C6H5NH2, CH3NH2…

    Cách phân biệt và xác định Bazơ mạnh, Bazơ yếu?

    a) So sánh định tính tính bazơ của các bazơ

    – Nguyên tắc chung: khả năng nhận H+ càng lớn thì tính bazơ càng mạnh.

    – Với oxit, hiđroxit của các kim loại trong cùng một chu kì: tính bazơ giảm dần từ trái sang phải.

    – Với các nguyên tố thuộc cùng một nhóm A: tính bazơ của oxit, hidroxit tăng dần từ trên xuống dưới.

    LiOH < NaOH < KOH < RbOH

    – Với amin và amoniac: Gốc R đẩy e làm tăng tính bazơ ngược lại gốc R hút e làm giảm tính bazơ.

    (C6H5)3N < (C6H5)2NH < C6H5NH2 < NH3 < CH3NH2 < (CH3)2NH

    – Trong một phản ứng bazơ mạnh đẩy bazơ yếu khỏi muối.

    – Axit càng mạnh thì bazơ liên hợp càng yếu và ngược lại.

    b) So sánh định lượng tính bazơ của các bazơ

    – Với bazơ B trong nước có phương trình phân ly là:

    B + H2O ↔ HB + OH- ta có hằng số phân ly bazơ KB.

    – KB chỉ phụ thuộc bản chất bazơ và nhiệt độ. Giá trị KB càng lớn thì bazơ càng mạnh.

    III. Chất lưỡng tính

    – Chất lưỡng tính là chất trong nước có thể phân li theo cả kiểu axit và kiểu bazơ theo thuyết điện li. Theo thuyết Bronsted chất lưỡng tính là những chất vừa có khả năng cho proton H+, vừa có khả năng nhận proton H+.

    – Chất lưỡng tính gồm:

    + H2O, oxit và hiđroxit lưỡng tính (ZnO, Zn(OH)2, Al2O3, Al(OH)3, Cr2O3, Cr(OH)3 …)

    + Aminoaxit, muối amoni của axit hữu cơ (R(COOH)x(NH2)y, RCOONH4…)

    + Anion gốc axit không mạnh vẫn còn khả năng tách H+ (HCO3-, HS-, HSO3‑, H2PO4-, HPO42-…)

    IV. Chất trung tính

    – Là những chất không có khả năng cho và nhận proton (H+).

    – Chất trung tính gồm:

    + Cation của bazơ mạnh: K+, Na+, Ca2+, Ba2+.

    + Anion của axit mạnh không còn H: Cl-, SO42-, Br-, I-, NO3-…

    V. Sự kết hợp giữa các ion

    – Các dấu hiệu nhận biết axit, bazơ, lưỡng tính, trung tính qua sự kết hợp của các ion như sau:

    * Các gốc axit của axit mạnh (Cl-, NO3- , SO42- ,…) và các gốc bazơ của bazơ mạnh (Na+, K+, Ba2+, Ca2+) được xem là trung tính.

    * Các gốc axit của axit yếu (ClO-, NO2- , SO32-,…) được xem là bazơ.

    * Các gốc bazơ của bazơ yếu (NH4+ , Al(H2O)3+) và các gốc axit (có H phân ly thành H+) của axit mạnh được xem là axit.

    * Các gốc axit (có H phân ly thành H+) của axit yếu: lưỡng tính.

    Xem Video bài học trên YouTube

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Xác Định Và Phân Biệt Axit Mạnh, Axit Yếu, Bazơ Mạnh, Bazơ Yếu
  • Tính Chất Hoá Học Của Axit Clohidric Hcl, Hiđro Clorua Và Muối Clorua
  • Axit Bazơ Muối Và Hidroxit Lưỡng Tính Theo Thuyết Arêniut Và Thuyết Bronsted
  • Tổng Hợp Kiến Thức Về Axit, Bazơ, Muối Lớp 11
  • Above The Line (Atl), Below The Line (Btl) Là Gì?
  • Các Phương Pháp Phân Tách Và Nhận Diện Các Axit Amin Và Peptit Từ Các Hợp Chất Tự Nhiên (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Phân Tích Acid Amin
  • Thỏa Thuận Trước Về Phương Pháp Xác Định Giá Tính Thuế
  • Phương Pháp Tính Bằng Ngón Tay Giúp Bé Thông Minh Hơn
  • Bé Học Toán Siêu Nhanh Với Toán Soroban Tính Nhẩm Bằng Ngón Tay
  • Phương Pháp Tính Nhẩm Bằng Ngón Tay
  • Là kỹ thuật đơn giản nhất được sử dụng để tách và định tính các sản phẩm tự nhiên được quan tâm. Bằng phương pháp này, có thể dễ dàng thu được thông tin định tính và cung cấp dữ liệu cho việc định lượng. Pha tĩnh thường là silicagel phủ lên tấm TLC hoặc HPTLC (TLC hiệu năng cao) – các tấm này thường là các tấm thủy tinh silica hoặc oxit nhôm hoặc nhựa. Pha động là chất rửa giải (hỗn hợp dung môi). Trên thực tế, các hợp chất được quan tâm phải được hòa tan ở các độ tan khác nhau. Tiếp tục quá trình tách một lần nữa để hình thành sự phân bố cân bằng các cấu tử trong hỗn hợp.

    2) lực hấp dẫn hoặc sự hấp thụ giữa hợp chất và SiO 2, càng có nhiều hợp chất tương tác với silica, thì càng ít cấu tử bị di chuyển đi lên,

    Vì các axit amin là những hợp chất không màu, nên ninhydrin thường được dùng để làm chất chỉ thị phát hiện ra các axit amin đó, nhờ vào sự hình thành phức chất Ruhemann màu tím xanh khi ninhydrin tác dụng với axit amin. Người ta cũng áp dụng phương pháp khác để phát hiện axit amin là sử dụng tác nhân anisaldehyde-H 2SO 4, kết hợp với gia nhiệt (120 o C, trong 5 phút).

    Các dung môi hữu cơ khác (alcohol, dioxane, methyl cellosolve, pyridine, và phenol) được sử dụng để thúc đẩy nhanh sự hình thành phức màu, cường độ màu thu được cũng khác nhau, hỗn hợp phenol-pyridine được xem là dung môi hiệu quả nhất. Dưới nhiệt độ 105 o C trong vòng 3-5 phút làm tăng hiệu quả tạo màu đối với hầu hết các acid amin, trừ trytophan và lysine.

    Các acid amin là các phân tử rất phân cực, do vậy các phương pháp sắc ký thông thường như sắc ký lỏng hiệu năng cao kiểu phân bố pha đảo ( RP-HPLC), hay không thể thực hiện mà không tạo dẫn xuất.

    Một số phương pháp sắc ký lỏng chuyên dụng trong định lượng amino acid như vàsắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (). Hai phương pháp này đều cần bước tạo dẫn xuất tiền cột hoặc sau cột. Mặc dù kỹ thuật này cho độ phân giải và độ nhạy phù hợp, nhưng quá trình tạo dẫn xuất lại làm tăng độ phức tạp, giá thành và thời gian phân tích.

    * kết hợp bộ tạo dẫn xuất sau cột với tác nhân Kỹ thuật ninhydrin là một trong những phương pháp được ứng dụng phổ biến nhất để định lượng axit amin. Quá trình tách các axit amin trên cột trao đổi ion được thực hiện kết hợp với sự thay đổi độ pH và độ mạnh yếu của các ion (cation). Để tăng hiệu quả tách áp dụng thêm chu trình Gradient nhiệt độ.

    Nhưng có lẽ phương pháp hiệu quả nhất hiện nay là phương pháp sắc ký trao đổi cation ( CEC) trong môi trường dung dịch đệm (thường là một dung dịch đệm liti), kết hợp bộ tạo dẫn xuất sau cột với tác nhân ninhydrin, đầu dò hấp thụ UV. Bằng cách này ta tách được các axid amin mong muốn, dựa theo màu sắc (cấu trúc) của dẫn xuất tạo thành. Các axit amin chứa các amin cơ sở (trừ axit imino) cho màu tím, và có thấy độ hấp thụ tối đa ở bước sóng 570 nm. Các axit imino (như proline) tạo màu vàng, và độ hấp thụ cực đại ở bước sóng 440nm. Phản ứng sau cột giữa ninhydrin và axit amin (được rửa giải khỏi cột sắc ký) được điều chỉnh trong vùng bước sóng 440 và 570 nm.

    OPA là một loại tác nhân khác được dùng cho cả quá trình tạo dẫn xuất sau cột và tiền cột. Ortho-phthaldehyde (OPA) phản ứng tại vị trí nhóm amino, trong sự có mặt của một thiol (mercaptoethanol), kết quả tạo ra một dẫn xuất huỳnh quang, quang hoạt tử ngoại tại bước sóng 340 nm.

    Một ví dụ về hệ thống sắc ký lỏng kết nối khối phổ (LC-EI-MS/MS) – Nguồn: chúng tôi

    Thông thường, các tác nhân silyl hóa là: (N,O-bis-(tri-methyl-silul)-trifluorocetamide và (N-methyl-silyl-trifluoro-acetaide). Nhược điểm của phương pháp này là tác nhân và dẫn xuất dễ bị tác động bởi độ ẩm và tính không ổn định của dẫn xuất. Có một số axit amin không bền (như arginine và axit glutamic). Arginine phân hủy thành ornithine, còn axit glutamic bị sắp xếp lại cấu trúc thành axit pyro-glutamic.

    là phương pháp phân tích với độ lặp lại thời gian lưu tốt, và dễ tự động hóa.

    Nhược điểm chính của kỹ thuật này là do tính kém bền với nhiệt độ của một số hợp chất và/hoặc dẫn xuất của chúng, rất khó để phân tích dưới hầu hết các điều kiện của là một trong số những kỹ thuật hiệu quả nhất để xác định cấu trúc của các hợp chất tự nhiên. Kỹ thuật khối phổ hoạt động dựa trên việc tách ra của các ion tạo bởi nguồn ion hóa và tỷ lệ khối lượng/điện tích (sắc ký khí (GC). m/z) của chúng.

    Phương pháp ion hóa thông thương có nhược điểm (chẳng hạn, ion hóa bằng nhờ sự va chạm electron, API) là chỉ áp dụng được với các hợp chất có độ bay hơi, độ phân cực và khối lượng phân tử MW phù hợp. Khả năng bay hơi của hợp chất có thể tăng lên khi bị tác động bởi phản ứng hóa học (quá trình tạo dẫn xuất, như: quá trình metyl hóa, trimetylsilyl hóa hay phản ứng triflouro acetyl hóa).

    Đối với các peptit, hiện có một số kỹ thuật ion hóa mới hiệu quả cao, như: phương pháp ion hóa chùm điện tử() và ion hóa mẫu hấp thụ dựa trên sự hỗ trợ của các chất nền và năng lượng lazer ().

    – Warren đã sử dụng phương pháp của điện di mao quản CE, và điện di mao quản kết hợp nguồn huỳnh quang laze cảm ứng ( capillary electrophoresislaser-induced fluorescence CE-LIF) để định lượng các axit amin từ các chiết xuất từ đất với ưu điểm về giới hạn phát hiện thấp và độ đặc hiệu cao.

    – Li và cộng sự đã phát triển một phương pháp mới trong phát hiện các axit amin từ măng tây. Sau khi dẫn xuất hóa của các mẫu bằng 4-chloro-3,5-dinitro-benzotrifluoride (), tiếp tục chiết pha rắn trên cột C18, và cuối cùng được phân tích bằng .

    Nguồn: Peptide and Amino Acids Separation and Identification from Natural Products – Tác giả: Ion Neda1, Paulina Vlazan1, RalucaOana Pop1, Paula Sfarloaga1, Ioan Grozescu1 và Adina-Elena Segneanu DOI: 10.5772/51619

    Sách: “Analytical Chemistry”, book edited by Ira S. Krull, ISBN 978-953-51-0837-5, Published: November 7, 2012

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Phân Tích Định Tính Và Định Lượng Protein
  • Lương Cơ Bản Tiếng Anh Là Gì? Cách Tính Lương Cơ Bản 2022
  • Top 7 Cách Tính Nhẩm Nhanh Phép Nhân Hiệu Quả Nhất
  • 7 Phương Pháp Dạy Trẻ Tính Nhẩm Nhanh Và Phát Triển Tư Duy
  • Bài 9: Phương Pháp Tính Giá
  • Phương Pháp Phân Tích Acid Amin

    --- Bài mới hơn ---

  • Thỏa Thuận Trước Về Phương Pháp Xác Định Giá Tính Thuế
  • Phương Pháp Tính Bằng Ngón Tay Giúp Bé Thông Minh Hơn
  • Bé Học Toán Siêu Nhanh Với Toán Soroban Tính Nhẩm Bằng Ngón Tay
  • Phương Pháp Tính Nhẩm Bằng Ngón Tay
  • Bài Tập Phương Pháp Tính Giá
  • Các phương pháp để phân tích acid amin thường dựa trên việc tách các acid amin có trong mẫu thử bằng phương pháp sắc ký. Các thiết bị sắc ký tự động thường chiếm lợi thế. Thiết bị phân tích acid amin điển hình là một máy sắc ký lỏng áp suất thấp hoặc áp suất cao, có khả năng thực hiện chương trình dung môi để tách các acid amin khi qua cột sắc ký. Máy cần có thêm thiết bị tạo dẫn chất acid amin sau cột, trừ khi mẫu thử được tạo thành dẫn chất trước cột. Để phát hiện kết quả, thường dùng detector hấp thụ từ ngoại – khả kiến hoặc detector huỳnh quang, tùy thuộc vào cách tạo dần chất đã áp dụng. Một thiết bị tích phân cho phép chuyển đổi tín hiệu tương tự đi từ detector ra và cho phép định lượng.

    Thường sử dụng các máy chuyên dụng để phân tích acid amin.

    Nhiễu đường nền luôn là mối quan tâm của người tiến hành phân tích acid amin. Để khắc phục, phải dùng các thuốc thử có độ tinh khiết cao (ví dụ acid hydrocloric có độ tinh khiết thấp có thể gây nhiễm glycin). Thông thường cách một vài tuần lại phải thay mới các thuốc thử. Chỉ dùng các dung môi dùng cho sắc ký lỏng. Lọc lại các dung môi trước khi dùng để giảm thiểu sự nhiễm khuẩn và các tạp chất. Đậy kín các bình đựng dung môi. Không để các

    thiết bị phân tích acid amin tiếp xúc trực tiếp với tia sáng mặt trời.

    Chất lượng thực hành phòng thí nghiệm có thể quyết định chất lượng phân tích acid amin. Giữ phòng thí nghiệm sạch sẽ. Đặt thiết bị phân tích trong phòng thí nghiệm tại chỗ riêng biệt, ít bị ảnh hưởng của các hoạt động khác.

    Định kỳ rửa sạch và chuẩn hóa lại các pipet. Bảo quản đầu pipet trong hộp đậy kín. Không được cầm đầu piped bằng tay trần, phải mang găng tay bằng cao su không xoa bột talc hoặc loại khác có chất lượng tương đương. Hạn chế số lần mở và đóng bình đựng mẫu thử vì bụi có thể làm gia tăng kết quả về hàm lượng các chất glycin, serin và alanin.

    Cần bảo dưỡng tốt thiết bị phân tích acid amin để có kết quả chấp nhận được. Nếu thiết bị được dùng thường ngày thì hàng ngày phải kiểm tra độ rò rỉ dung môi của thiết bị, độ ổn định của đèn và detector, độ phân giải của cột. Định kỳ làm sạch hoặc thay thế các kính lọc của thiết bị và các linh phụ kiện cần bảo dưỡng khác

    Các chất đối chiếu

    Trên thị trường có sẵn các acid amin chuẩn để dùng trong phân tích acid amin; chúng thường là dung dịch hỗn hợp các acid amin chuẩn trong nước. Khi cần xác định thành phần acid amin trong một mẫu thử, các protein hoặc peptid chuẩn phải được phân tích song song với mẫu thử để kiểm tra sự toàn vẹn của thử nghiệm. Trong trường hợp này, chuẩn protein được sử dụng là albumin huyết thanh bò tinh khiết cao.

    Chuẩn hóa thiết bị

    Việc chuẩn hóa thiết bị phân tích acid amin được thực hiện bằng cách phân tích một chuẩn acid amin, gồm hỗn hợp các acid amin chuẩn đã biết trước hàm lượng của từng chất, để xác định hệ số đáp ứng và khoảng tuyến tính ứng với mỗi một acid amin chuẩn đã thử. Pha loãng mẫu chuẩn acid amin thành nhiều dung dịch có nồng độ khác nhau, nằm trong khoảng tuyến tính dự đoán trước của các acid amin có trong mẫu chuẩn. Tiến hành phân tích nhiều lần với mỗi nồng độ. Biểu thị kết quả thu được trên biểu đồ thể hiện tương quan giữa diện tích pic thu được ứng với mỗi nồng độ của acid amin đã thử. Nhờ biểu đồ này, có thể xác định được khoảng tuyến tính của mỗi acid amin, tại đó, các diện tích pic thu được có tương quan xấp xỉ tuyến tính với các nồng độ của các acid amin đã thử. Khi phân tích acid amin, để có kết quả đúng và lặp lại, điều quan trọng là phải pha và thử nghiệm trên các mẫu thử có nồng độ nằm trong khoảng tuyến tính tương ứng với kỹ thuật phân tích đang áp dụng.

    Để xác định hệ số đáp ứng cho mỗi acid amin, ta phân tích hệ 4 nồng độ đến 6 nồng độ của acid amin chuẩn tương ứng. Hệ số đáp ứng tính được là giá trị trung bình của diện tích pic (hoặc của chiều cao pic) ứng với nồng độ 1 nanomol của dung dịch acid amin chuẩn. Thiết lập một dãy chuẩn hóa bao gồm hệ số đáp ứng tương ứng của các acid amin và sử dụng dãy này để tính nồng độ (nanomol) của mỗi acid amin có trong mẫu thử bằng cách chia diện tích pic (hoặc chiều cao pic) thu được của acid amin đó cho hệ số đáp ứng tương ứng có trong dãy chuẩn hóa.

    Trong việc phân tích thường ngày, khi dùng dây chuẩn hóa, ta chỉ cần xác định một diện tích pic là đủ. Tuy nhiên, dây chuẩn hóa này phải thường xuyên được thử lại bằng các phân tích kiểm tra và được cập nhật để bảo đảm tính toàn vẹn của nó.

    Muốn có các kết quả phân tích acid amin có chất lượng ổn định tại một phòng thí nghiệm phân tích, cần quan tâm đến độ lặp lại của phép định lượng, cần có một hệ thống thiết bị phân tích các acid amin có khả năng cung cấp các giá trị lặp lại của thời gian lưu của pic (để định tính) và các giá trị lặp lại của diện tích pic (để định lượng). Cách xác định tiêu biểu độ lặp lại bao gồm việc pha chế một dung dịch chuẩn các acid amin, rồi tiến hành đo mẫu đó nhiều lần (6 lần hoặc nhiều hơn). Sau đó, tính độ lệch chuẩn của các giá trị thời gian và độ lệch chuẩn các giá trị diện tích pic đã được tích phân, ứng với mỗi acid amin đã được phân tích. Việc xác định độ lặp lại còn được mở rộng bằng cách nhiều người phân tích khác nhau cùng tiến hành xác định độ lặp lại đó trong nhiều ngày. Người ta còn thực hiện vì ổn định lượng nhiều dung dịch có nồng độ khác nhau của chuẩn gốc đồ xác định sự biến thiên do việc pha chế mẫu thử. Thường người ta phân tích thành phần acid amin của một protein chuẩn (ví dụ albumin huyết thanh bò) để đánh giá độ lặp lại. Nhờ việc xác định độ lệch chuẩn. Ta có thể thiết lập các giới hạn phân tích để đạt kết quả tốt, với độ lệch chuẩn thấp nhất. Để giảm bớt sai số trong phân tích, nhiều yếu tố cần được quan tâm và xem xét đầy đủ như: cách chuẩn bị mẫu thử, nhiễu đường nền do chất lượng của các thuốc thử, việc thực hành thí nghiệm, tính năng và việc bảo dưỡng máy móc thiết bị, các dữ liệu phân tích và cách biện giải và cuối cùng là việc thực thi thành thạo của người làm phân tích.

    Chuẩn bị mẫu thử

    Muốn có kết quả phân tích acid amin đúng, phải dùng các mẫu thử protein và peptid đã tinh chế. Các tạp chất như các muối, ure, chất tẩy rửa… có thể gây nhiễu, nên cần phải loại khỏi mẫu thử trước khi tiến hành phân tích. Phương pháp điều chế dẫn chất sau cột sắc ký không bị nhiễm bởi các tạp chất ờ mức độ lớn như khi điều chế dẫn chất trước cột sắc ký. Nên giảm số thao tác trên mẫu thử để giảm nhiễu đường nền, tăng kết quả tìm thấy và giảm công lao động. Các cách thông thường để loại tạp chất trong mẫu thử protein bao gồm:

    Tách bằng sắc ký lỏng cao áp pha đảo, thu protein bằng một dung môi bay hơi có chứa một lượng thích hợp thành phần hữu cơ rồi làm khô bằng ly tâm chân không;

    Thấm tách loại bỏ tạp chất;

    Ly tâm siêu lọc;

    Kết tủa protein bằng một dung môi hữu cơ (ví dụ aceton);

    Lọc qua gel.

    Chất chuẩn nội

    Cần dùng một chất chuẩn nội để kiểm soát những mất mát và biến đổi lý hóa học xảy ra trong quá trình phân tích acid amin. Do đó, trước khi tiến hành thủy phân phải thêm một lượng chính xác chất chuẩn nội vào dung dịch protein cần phân tích. Lượng chuẩn nội tìm thấy được số lá một thông số chung cho lượng tìm thấy được của các acid amin có trong protein. Tuy nhiên các acid amin tự do và các acid amin liên kết trong cấu trúc protein không giống nhau về tốc độ thủy phân hoặc phân hủy. Vì vậy việc dùng chất chuẩn nội để hiệu chỉnh sự mất mát trong quá trình thủy phân có thể cho kết quả không đáng tin cậy. Cần chú ý điều này khi biện giải kết quả phân tích. Ta còn có thể thêm chất chuẩn nội vào hỗn hợp các acid amin sau khi đã được thủy phân để hiệu chỉnh những sai lệch về kết quả phân tích gây ra do các sai lệch khi tiêm mẫu. Do thay đổi độ ổn định của thuốc thử cũng như tốc độ dòng của dung môi. Chất chuẩn nội lý tưởng là một acid amin bậc nhất nhân tạo. Có sẵn trên thị trường với giá rõ. Chất này phải bền vững trong quá trình thủy phân, có hệ số đáp ứng tuyến tính với nồng độ và phải được rửa giải cho một pic có thời gian lưu duy nhất và được phân giải tốt với các pic tương ứng với các acid amin khác. Các chất chuẩn nội thường được dùng bao gồm norleucin, nitrotyrosin và acid a-aminobutyric.

    Thủy phân protein

    Kỹ thuật thủy phân 1

    Thủy phân bằng acidhydrocloric có chứa một lượng phenol là kỹ thuật thông dụng nhất để thủy phân mẫu thử protein/peptid trước khi tiến hành phân tích acid amin.

    Thêm phenol vào môi trường thủy phân cốt để ngăn ngừa hiện tượng halogen hóa tyrosin.

    Dung dịch thủy phân: Dung dịch acid hydrocloric 6 M chứa từ 0.1 % đến 1 % phenol.

    Thủy phân pha lỏng: Cho vào ống thủy phân mẫu thử protein/peptid rồi làm khô (để loại nước, tránh pha loãng dung dịch thủy phân). Cứ 500 μg mẫu thử đông khô, ta thêm 200 μl dung dịch thủy phân. Làm lạnh ống thử trong aceton đông băng khan. Hàn ống thủy phân ở chân không. Thủy phân mẫu thử trong 24 h ở 110 °C và trong chân không hoặc khí trơ để tránh oxy hóa. Nếu lo ngại mẫu thử chưa được thủy phân hoàn toàn, cần nghiên cứu kéo dài thêm thời gian thủy phân (ví dụ trong 48 h và 72 h).

    Thủy phân pha hơi: Đây là một trong các kỹ thuật thủy phân thông dụng nhất được ưa dùng để làm vi phân tích. khi chỉ có một lượng nhỏ mẫu thử. Kỹ thuật này cũng cho phép giảm thiểu việc mẫu thử bị nhiễm bẩn bởi dung dịch thủy phân. Đặt ống thủy phân chứa mẫu thử đã làm khô trong một ống thử to hơn, ống này chứa một lượng thích hợp dung dịch thủy phân và như vậy ngăn không cho mẫu thử tiếp xúc trực tiếp với dung dịch thủy phân. Hút chân không (áp suất thấp hơn 200 μm thủy ngân hoặc 20,7 Pa), hoặc bơm một khí trơ vào phần trên của ống thử. Hàn ống lớn và thủy phân ở 110 °C trong 24 h. Hơi acid sẽ thủy phân mẫu thử và lượng acid ngưng tụ trong ống thủy phân chứa mẫu thử là tối thiểu. Sau khi thủy phân xong, sấy khô mẫu thử trong chân không để loại bỏ acid dư thừa.

    Kỹ thuật thủy phân 2

    Giảm hiện tượng oxy hóa tryptophan trong khi thủy phân bằng cách dùng acid mercaptoethansulfonic (MESA) làm acid khử.

    Dung dịch thủy phân: Dung dịch MESA 2,5 M.

    Thủy phân pha hơi: Làm khô 1 μg đến 100 μg mẫu thử protein/peptid trong ống thủy phân. Đặt ống thủy phân trong một ống lớn hơn, chứa khoảng 200 μl dung dịch thủy phân. Hàn ống lớn trong chân không (áp suất khoảng 50 μm thủy ngân hoặc 6,7 Pa). Thủy phân ở 170 °C đến 185 °C trong khoảng 12.5 min. Sau khi thủy phân xong làm khô ống thủy phân ở chân không trong 15 min để loại acid dư thừa.

    Kỹ thuật thủy phân 3

    Ngăn ngừa hiện tượng oxy hóa tryptophan bằng cách dùng acid thioglycolic (TGA) làm acid khử.

    Dung dịch thủy phân: Dung dịch acid hydrocloric 7 M chứa 1% phenol, 10 % acid trifluoroacetic và 20 % acid thioglycolic.

    Thủy phân pha hơi: Làm khô từ 10 μg đến 50 μg mẫu thử protein/peptid trong một ống thủy phân. Đặt ống thủy phân trong một ống lớn hơn, chứa khoảng 200 μl dung dịch thủy phân. Hàn ống lớn trong chân không (áp suất khoảng 50 μm thủy ngân hoặc 6,7 Pa). Thủy phân mẫu thử ở 166°C trong khoảng 15 min đến 30 min. Sau khi thủy phân xong, làm khô ống thủy phân trong chân không trong 5 min để loại acid dư thừa.

    Lượng tryptophan tìm thấy có thể phụ thuộc vào lượng mẫu lấy thử.

    Kỹ thuật thủy phân 4

    Oxy hóa cystein/cystin và methionin bằng acid performic trước khi thủy phân mẫu thử.

    Dung dịch oxy hóa: Dùng acid performic mới pha bằng cách trộn đều 1 thể tích hydrogen peroxyd 30 % (TT) với 9 thể tích acid formic khan (TT), rồi để ở nhiệt độ phòng trong 1 h.

    Tiến hành: Hòa tan mẫu thử protein/peptid trong 20 μl acid formic khan (TT) và để ở 50 °C trong 5 min. Sau đó thêm 100 μl dung dịch oxy hóa. Để phản ứng xảy ra trong 10 min đến 30 min. Cystein sẽ chuyển thành acid cysteic, còn methionin thành methionin sulfon. Ly tâm chân không để loại thuốc thử thừa, rồi thủy phân mẫu thử đã được oxy hóa theo kỹ thuật 1 hoặc 2 nói trên.

    Kỹ thuật 4 này có thể làm biến đổi tyrosin khi môi trường có muối halid.

    Kỹ thuật thủy phân 5

    Oxy hóa cystein/cystin trong quá trình thủy phân pha lỏng bằng natri azid.

    Dung dịch thủy phân: Thêm vào dung dịch acid hydrocloric 6 M (TT) có chứa 0,2 % phenol một lượng natri azid (TT) để có nồng độ 0,2 %. Phenol có trong dung dịch thủy phân ngăn ngừa sự halogen hóa của tyrosin.

    Thủy phân pha lỏng: Thủy phân mẫu thử protein/peptid ở 110 °C trong 24 h. Trong quá trình thủy phân, cystein/ cyslin trong mẫu thử chuyển thành acid cysteic bởi tác dụng của natri azid có trong dung dịch thủy phân. Kỹ thuật 5 này cho kết quả tìm thấy của tyrosin tốt hơn kỹ thuật 4 nhưng lại không định lượng được methionin. Methionin chuyển thành hỗn hợp của methionin với 2 dẫn chất oxy hóa là methionin sulfoxid và methionin sulfon.

    Kỹ thuật thủy phân 6

    Oxy hóa cystein/cystin bằng dimethyl sulfoxid (DMSO) (TT).

    Dung dịch thủy phân: Thêm vào dung dịch acid hydrocloric 6 M, chứa 0,1 °/o đến 1 % phenol, một lượng DMSO để được dung dịch nồng độ DMSO 2 % (tt/tt).

    Thủy phân pha hơi: Tiến hành thủy phân mẫu thử protein/ peptid ở khoảng 110 °C trong 24 h. Trong quá trình thủy phân, cystein/cystin có trong mẫu thử sẽ bị DMSO có trong dung dịch thủy phân chuyển thành acid cysteic. Để hạn chế sự bất ổn định của kết quả thu được và để chỉnh lý những sai lệch do sự phân hủy từng phần, người ta khuyên nên xác định kết quả tìm thấy acid cysteic sau khi đã thủy phân oxy hóa các mẫu protein chuẩn chứa từ 1 mol đến 8 mol cystein. Các hệ số đáp ứng thu được từ các dung dịch thủy phân protein/peptid thường thấp hơn khoảng 30 % so với hệ số đáp ứng thu được từ các chuẩn acid cysteic không qua thủy phân.

    Vì histidin, methionin, tyrosin và tryptophan đều bị biến đổi nên kỹ thuật 6 này không cho kết quả phân tích đầy đủ thành phần cấu tạo của protein/peptid.

    Kỹ thuật thủy phân 7

    Khử oxy và alkyl hóa cystein/cystin bằng phản ứng pyridylethyl hóa ở pha hơi.

    Dung dịch khử: Cho vào một bình thích hợp: 83,3 μl pyridin (TT), 16,7 μl 4-vinylpyridin, 16.7 μl tributyl phosphin và 83,3 μl nước cất rồi trộn đều.

    Tiến hành: Cho vào ống thủy phân một lượng mẫu thử protein/peptid (trong khoảng từ 1 μg đến 100 μg). Đặt ống thủy phân vào một ống lớn hơn đã có sẵn dung dịch khử.

    Hàn kín ống lớn ở chân không (áp suất khoảng 50 μm thủy ngân hoặc 6,7 Pa) rồi làm nóng ở 100 °C trong 5 min. Sau đó lấy ống thủy phân ra, làm khô trong bình hút ẩm chân không trong 15 min để loại bỏ thuốc thử dư thừa. Cuối cùng thủy phân mẫu thử đã được pyridylethyl hóa, theo một trong các kỹ thuật thủy phân mô tả ở trên. Song song, tiến hành pyridylethyl hóa trong cùng điều kiện một mẫu chuẩn protein chứa 1 mol đến 8 mol cystein để xác định giá trị tìm thấy của pyridylethyl cystein.

    Chú ý: Việc kéo dài thời gian phản ứng pyridylethyl hóa sẽ gây biến đổi các nhóm a-amino và f-amino của lysin có trong mẫu thử protein/peptid.

    Kỹ thuật thủy phân 8

    Khử oxy và alkyl hóa cystein/cystin bằng phản ứng pyridylethyl hóa ở pha lỏng.

    Các dung dịch gốc: Pha chế và lọc 3 dung dịch trong nước sau đây:

    Dung dịch cốc A: Dung dịch Tris-hydroclorid 1 M (pH 8,5) chứa 4 mM dinatri edetat.

    Dung dịch gốc B: Dung dịch guanidin hydroclorid 8 M.

    Dung dịch gốc C: Dung dịch 2-mercaptoethanol 10 %.

    Dung dịch khử: Pha hỗn hợp gồm 1 thể tích dung dịch gốc A và 3 thể tích dung dịch gốc B để có dung dịch đệm guanidin hydroclorid 6 M trong Tris-hydroclorid 0,25 M.

    Tiến hành: Hòa tan khoảng 10 μg mẫu thử protein/peptid trong 50 μl dung dịch khử, rồi thêm 2,5 μl dung dịch gốc C. Để 2 h ở nhiệt độ phòng, trong khí nitrogen hoặc argon và ở chỗ tối. Để thực hiện phản ứng pyridylethyl hóa, thêm vào khoảng 2 μl 4-vinylpyndin và để yên 2 h trong tối, ở nhiệt độ phòng. Sau đó, loại tạp bằng cách tách bằng sắc ký lỏng cao áp pha đảo. Làm khô mẫu thử protein/peptid sau khi qua sắc ký bằng cách ly tâm chân không rồi tiến hành thủy phân bằng acid.

    Kỹ thuật thủy phân 9

    Khử oxy và alkyl hóa cystein/cystin bằng phản ứng carboxymethyl hóa ở pha lỏng.

    Các dung dịch gốc: Pha như ở kỹ thuật thủy phân 8.

    Dung dịch carboxymethyl hóa: Dung dịch iodoacetamid 10 % trong ethanol 96 %.

    Dung dịch đệm: Dùng dung dịch khử của kỹ thuật thủy phân 8.

    Tiến hành: Hòa tan mẫu thử protein/peptid trong 50 μl dung dịch đệm, thêm khoảng 2,5 μl dung dịch gốc C. Bảo quản 2 h trong khí nitrogen hoặc argon ở nhiệt độ phòng và trong tối. Thêm một lượng dung dịch carboxymethyl hóa gấp 1,5 lần tổng lượng các thiol có trong mẫu thử theo lý thuyết. Nếu không biết hàm lượng các thiol trong mẫu thử thì cứ 20 nanornol protein dùng 5 μl dung dịch iodoacetamid 100 mM. Để tiếp 30 min trong tối ở nhiệt độ phòng. Sau đó thêm lượng dư 2-mercaptoethanol để dừng phân ứng. Loại tạp và thu phần protein/peptid bằng cách phân tách trên sắc ký lỏng pha đảo. Làm khô phần protein/ peptid thu được bằng ly tâm chân không trước khi thủy

    phân bằng acid. Chất S-carboxyamidomethylcystein mới tạo thành được chuyển đổi thành S-carboxymethylcystein trong quá trình thủy phân.

    Kỹ thuật thủy phân 10

    Cystein/cystin tác dụng với acid dithiodiglycolie hoặc acid dithiodipropionic để cho một disulfid hỗn tạp. Tùy theo yêu cầu về độ phân giải của kỹ thuật phân tích acid amin được áp dụng mà chọn dùng acid dithiodiglycolic hoặc acid dithiodipropionic.

    Dung dịch khử: Dung dịch acid dithiodiglycolic (hoặc acid dithiodipropionic) 1 % trong dung dịch NaOH 0,2 M.

    Tiến hành: Cho vào ống thủy phân khoảng 20 μg mẫu thử protein/peptid. Thêm 5 μl dung dịch khử và 10 μl isopropanol. Ly tâm chân không để loại pha lỏng rồi thủy phân mẫu thử theo kỹ thuật thủy phân 1.

    Kỹ thuật 10 này có lợi là các thành phần acid amin khác trong mẫu thử không bị ảnh hưởng của phản ứng và không cần loại tạp trước khi thủy phân.

    Kỹ thuật thủy phân 11

    Trong quá trình thủy phân bằng acid, asparagin và glutamin được chuyển đổi thành acid aspartic và acid glutamic tương ứng. Asparagin và acid aspartic được biểu thị bằng một đại

    lượng chung Asx, còn glutamin và acid glutamic bằng Glx. Trái lại, khi thủy phân bằng acid với sự có mặt của thuốc thử bis ( 1,1-trifluoroacetoxy)iodbenzen (BTI), asparagin và glutamin bị tác dụng và chuyển tương ứng thành acid diaminopropionic và acid diaminobutyric. Nhờ đó, ta xác định được asparagin và glutamin trong protein/peptid ngay

    khi có mặt của acid aspartic và acid glutamic.

    Các dung dịch khử: Pha chế và lọc 3 dung dịch sau:

    Dung dịch A: Dung dịch acid trifluormacetic 10 mM.

    Dung dịch B: Dung dịch chứa guanidin hydroclorid 5 M và acid trifluoroacetic 10 mM.

    Dung dịch C: Dung dịch mới pha BTI 3,6 % trong dimethylformamid.

    Tiến hành: Cho vào một ống thủy phân sạch khoảng 200 μg mẫu thử protein/peptid, 2 ml dung dịch A hoặc dung dịch B và 2 ml dung dịch C. Hàn ống thủy phân trong chân không. Để 4h ở nhiệt độ 60 °C, trong tối. Sau đó tham tách mẫu thử bằng nước cất để loại bỏ thuốc thử dư thừa. Chiết mẫu thử đã thẩm tách 3 lần bằng 3 thể tích tương đương butyl acetat(TT), rồi làm đông khô. Cuối cùng thủy phân mẫu thử đông khô theo các kỹ thuật

    thủy phân đã nói ở trên.

    Các acid α,β-diaminopropionic và α,γ- diaminobutyric đều không được phân giải rõ ràng với lysin có trong mẫu thử, khi phân tách bằng sắc ký trao đổi ion. Vì vậy, khi dùng sắc ký trao đổi ion để tách các acid amin, hàm lượng của asparagin và của glutamin có mặt trong mẫu thử được xác định bằng hiệu số giữa hàm lượng của acid aspartic và của acid glutamic tương ứng thu được khi thủy phân acid không có BTI và hàm lượng của acid aspartic và của acid glutamic tương ứng thu được khi thủy phân có BTI.

    Hàm lượng của threonin, methionin, cystein, tyrosin và histidin có thể bị sai lệch khi thủy phân bằng acid có BTI.

    Vì vậy, muốn có giá trị đúng của các hàm lượng này, mẫu thử phải được thủy phân bằng acid, không có thuốc thử BTI.

    Tách và phát hiện các acid amin

    Tính kết quả

    Khi xác định hàm lượng các acid amin trong một mẫu thử protein/peptid, cần nhớ rằng, trong quá trình thủy phân bằng acid, tryptophan và cystein bị phá hủy, serin và threonin bị phá hủy một phần, valin và isoleucin không được tách hoàn toàn, methionin có thể bị oxy hóa và một vài acid amin như glycin và serin thường bị nhiễu. Tiến hành phân tích ở môi trường chân không thích hợp (áp suất thấp hơn 200 μm thủy ngân hoặc 26,7 Pa) hoặc ở môi trường có khí trơ (như argon) khí thủy phân pha hơi, có thể giảm mức phân hủy do bị oxy hóa. Các kết quả định lượng cystein, tryptophan, threonin, isoleucin, valin, methionin, glycin và serin trong một mẫu thử protein/peptid đã thủy phân có thể thay đổi và do đó thường cần tiến hành xem xét đánh giá bổ sung.

    Tính tỷ lệ phần trăm hàm lượng của một loại acid amin có trong mẫu thử protein/peptid

    Đó là số lượng nanomol của một loại acid amin có trong 100 nanomol của toàn thể các acid amin có trong mẫu thử protein/peptid. Tỷ lệ này có ích trong việc đánh giá các dữ liệu thu được khi phân tích các acid amin trong một protein mà ta chưa biết khối lượng phân tử. Nó giúp củng cổ kết quả định tính một protein/peptid chưa biết bằng cách so sánh tỷ lệ phần trăm hàm lượng mỗi loại acid amin trong mẫu thử chưa biết với tỷ lệ phần trăm hàm lượng của mỗi loại acid amin tương ứng có trong các protein/peptid đã biết.

    Tính tỷ lệ phần trăm hàm lượng của một acid amin trong protein/peptid theo công thức sau

    100 ri / rl

    Trong đỏ:

    là đáp ứng (hàm lượng) tính theo nanomol của acid amin i;

    là đáp ứng (hàm lượng) tính theo nanomol của tất cả các acid amin thu được trên sắc đồ.

    Mẫu thử protein/peptid chưa biết

    Xác định khối lượng Q, (tính theo microgam) của mọi loại acid amin có mặt trong mẫu protein/peptid chưa biết Tính bằng công thức sau:

    Trong đó:

    Q i là khối lượng (tính theo microgam) của acid amin i có trong mẫu thử;

    m i là hàm lượng (tính theo nanomol) của tất cả các acid amin i tìm thấy trên sắc đồ;

    M i là phân tử lượng trung bình (tính theo gam) của acid amin i, đã được hiệu chỉnh về khối lượng H 20 bị loại khi tạo thành liên kết peptid.

    Ước lượng tổng khối lượng của mẫu thử protein/peptid:

    Tổng khối lượng ∑Qi của các loại acid amin tìm thấy cho phép ta ước lượng khối lượng của protein/peptid đem thử sau khi đã hiệu chỉnh về khối lượng mất mát do có sự phân hủy từng phần hoặc toàn phần của một số acid amin dễ bị phân hủy trong quá trình thủy phân.

    Xác định số lượng của mỗi loại acid amin tham gia cấu tạo mẫu thử protein/peptid chưa biết. Nếu xác định được phân tử lượng M p của protein/peptid đem thử (ví dụ bằng khối phổ), ta tính số lượng của mỗi loại acid amin i theo công thức sau:

    mi / ( 1000 Qp / Mp) = ( mi x Mp )/ 1000 Qp

    Trong đó:

    là hàm lượng (tính theo nanomol) của acid amin i tìm thấy trong mẫu thử;

    là khối lượng (tính theo microgam) của protein đem thử;

    là phân tử lượng của protein đem thử (tính theo gam).

    Mẫu thử protein/peptid đã biết phân tử lượng và thành phần cấu tạo

    Khi phân tích acid amin, một số acid amin cho kết quả tìm thấy tốt, trái lại, một số cho kết quả tìm thấy không sử dụng được vì hoặc bị phân hủy một phần hay toàn phần (ví dụ: tryptophan, cystein, threonin, serin, methionin), hoặc liên kết peptid không được tách hoàn toàn (như liên kết của isoleucin, của valin), hoặc bị nhiễu bởi một số acid amin tự do (như bởi glycin và serin). Các acid amin cho kết quả tìm thấy tốt điển hình là aspartat-asparagin, glutamatglutamin, alanin, leucin, phenylalanin, lysin và arginin.

    Danh sách này có thể thay đổi tùy thuộc vào hệ thống phân tích đã dùng. Các acid amin cho kết quả tìm thấy tốt đại diện cho protein, do đó ta lợi dụng chúng để xác định hàm lượng protein và số lượng của mỗi loại acid amin (còn gọi là thành phần của acid amin) có trong mẫu thử.

    Xác định hàm lượng protein trong mẫu thử

    Chia hàm lượng (tính theo nanomol) của mỗi loại acid amin có giá trị tìm thấy tốt cho số lượng dự đoán của acid amin đó trong protein để có hàm lượng protein tính theo loại acid amin đó. Tính giá trị trung bình của tất cả các hàm lượng protein tính được theo từng loại acid amin có giá trị tìm thấy tốt của mẫu thử. Các hàm lượng protein tính theo từng loại acid amin riêng rẽ phải được phân bố đồng đều xung quanh giá trị trung bình của hàm lượng protein mới tính được ở trên. Phải loại bỏ các giá trị hàm lượng protein riêng rẽ của từng acid amin quả sai lệch với giá trị trung bình đã tính được. Thường các giá trị sai lệch quá 5 % phải loại bỏ. Khi đó, phải tính lại giá trị trung bình của hàm lượng protein mới, dựa trên các giá trị còn lại (không bị loại bỏ) của hàm lượng protein riêng rẽ tính theo từng loại acid amin còn lại.

    Xác định số lượng của từng loại acid amin trong mẫu thử

    Chia hàm lượng của mỗi loại acid amin cho giá trị trung bình của hàm lượng protein đã tính ở trên, ta được số lượng của loại acid amin đó (tức thành phần acid amin) trong mẫu thử.

    Tính sai số tương đối (theo tỷ lệ phần trăm) về thành phần trong mẫu thử Áp dụng công thức sau để tính sai số tương đối về thành phần đối với một loại acid amin i:

    100 mi / mis

    Trong đó:

    m i là hàm lượng, tính theo nanomol, xác định bằng thực nghiệm, của loại acid amin i có trong mẫu thử;

    m is là hàm lượng (tính theo nanomol) đã biết của loại acid amin i có trong mẫu thử.

    Giá trị sai số tương đối trung bình về thành phần của mẫu thử là giá trị trung bình của tất cả các sai số tương đối về thành phần tính theo từng loại acid amin riêng rẽ, trừ tryptophan và cystein. Giá trị sai số tương đối trung bình về thành phần của một mẫu thử cung cấp thông tin quan trọng về độ ổn định của phép phân tích theo thời gian. Sự phù hợp giữa giá trị thành phần acid amin trong mẫu thử, tìm thấy bằng thực nghiệm với giá trị thành phần acid amin đã biết trước của protein đem thử có thể giúp cho việc củng cố kết quả định tính và xác định độ tinh khiết của protein trong mẫu thử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Phân Tách Và Nhận Diện Các Axit Amin Và Peptit Từ Các Hợp Chất Tự Nhiên (Phần 2)
  • Phương Pháp Phân Tích Định Tính Và Định Lượng Protein
  • Lương Cơ Bản Tiếng Anh Là Gì? Cách Tính Lương Cơ Bản 2022
  • Top 7 Cách Tính Nhẩm Nhanh Phép Nhân Hiệu Quả Nhất
  • 7 Phương Pháp Dạy Trẻ Tính Nhẩm Nhanh Và Phát Triển Tư Duy
  • Cách Xác Định Và Phân Biệt Axit Mạnh, Axit Yếu, Bazơ Mạnh, Bazơ Yếu

    --- Bài mới hơn ---

  • Xác Định Và Phân Biệt Axit Mạnh, Axit Yếu, Bazơ Mạnh, Bazơ Yếu
  • Cách Dùng In On At Trong Tiếng Anh Chuẩn Nhất, Kèm Bài Tập Và Đáp Án!
  • Phân Biệt Cách Dùng 3 Giới Từ In, At, On Trong Tiếng Anh
  • Bài Tập Phân Biệt Các Lọ Mất Nhãn Bao Gồm Axit Axetic
  • Nhận Biết Rượu Etylic ; Axit Axetic ; Dung Dịch Glucozơ.
  • Vậy bằng cách nào chúng ta phân biệt và xác định được axit nào mạnh, axit nào yếu, bazo nào mạnh và bazo nào yếu chính là thắc mắc của đa số các em học sinh. Để giải đáp thắc mắc đó, bài viết này chúng ta cùng tìm hiểu các căn cứ để xác định độ mạnh yếu của các axit và bazo.

    I. Axit là gì? cách phân biệt và xác định Axit mạnh, Axit yếu?

    + Thuyết điện li: Axit là chất khi tan trong nước phân li ra ion H+.

    + Thuyết Bronsted: Axit là những chất có khả năng cho proton (ion H+).

    * Axit và bazơ theo quan điểm của Bronsted – Axit gồm:

    2. Cách xác định axit mạnh, axit yếu

    a) So sánh định tính tính axit của các axit

    – Nguyên tắc chung: Nguyên tử H càng linh động thì tính axit càng mạnh.

    – Đối với các axit có oxi của cùng một nguyên tố: càng nhiều O tính axit càng mạnh.

    – Đối với axit của các nguyên tố trong cùng chu kì: nguyên tố trung tâm có tính phi kim càng mạnh thì tính axit của axit càng mạnh (các nguyên tố đều ở mức hóa trị cao nhất).

    – Đối với axit của các nguyên tố trong cùng một nhóm A thì:

    + Axit không có oxi: tính axit tăng dần từ trên xuống dưới:

    HF < HCl < HBr < HI (do bán kính ion X tăng)

    + Axit có O: tính axit giảm dần từ trên xuống dưới:

    – Với các axit hữu cơ RCOOH: (nguyên tử H được coi không có khả năng hút hoặc đẩy e)

    + Nếu gốc R hút e (không no, thơm hoặc có halogen…) sẽ làm tăng tính axit.

    * Xét với gốc R có chứa nguyên tử halogen:

    + Halogen có độ âm điện càng lớn thì tính axit càng mạnh: + Gốc R có chứa càng nhiều nguyên tử halogen thì tính axit càng mạnh: + Nguyên tử halogen càng nằm gần nhóm COOH thì tính axit càng mạnh: – Với một cặp axit/bazơ liên hợp: tính axit càng mạnh thì bazơ liên hợp của nó càng yếu và ngược lại. – Với một phản ứng: axit mạnh đẩy được axit yếu khỏi dung dịch muối (trường hợp trừ một số đặc biệt).

    b) So sánh định lượng tính axit của các axit

    – Với axit HX trong nước có cân bằng:

    HX ↔ H+ + X ta có hằng số phân ly axit: K A

    – K A chỉ phụ thuộc nhiệt độ, bản chất của axit. Giá trị của K A càng lớn tính axit của axit càng mạnh.

    II. Bazo là gì? Cách phân biệt và xác định Bazơ mạnh, Bazơ yếu?

    + Thuyết điện li: Bazơ là chất khi tan trong nước phân li ra ion OH.

    + Thuyết Bronsted: Bazơ là những chất có khả năng nhận proton (nhận H+).

    + Oxit và hiđroxit của kim loại (trừ các oxit và hiđroxit lưỡng tính: Al 2O 3, Al(OH) 3, ZnO, Zn(OH) 2…).

    2. Cách phân biệt và xác định Bazơ mạnh, Bazơ yếu?

    a) So sánh định tính tính bazơ của các bazơ

    – Nguyên tắc chung: khả năng nhận H+ càng lớn thì tính bazơ càng mạnh.

    – Với oxit, hiđroxit của các kim loại trong cùng một chu kì: tính bazơ giảm dần từ trái sang phải.

    – Với các nguyên tố thuộc cùng một nhóm A: tính bazơ của oxit, hidroxit tăng dần từ trên xuống dưới.

    LiOH < NaOH < KOH < RbOH

    – Với amin và amoniac: Gốc R đẩy e làm tăng tính bazơ ngược lại gốc R hút e làm giảm tính bazơ.

    – Trong một phản ứng bazơ mạnh đẩy bazơ yếu khỏi muối.

    – Axit càng mạnh thì bazơ liên hợp càng yếu và ngược lại.

    b) So sánh định lượng tính bazơ của các bazơ

    – Với bazơ B trong nước có phương trình phân ly là:

    B + H 2O ↔ HB + OH ta có hằng số phân ly bazơ K B.

    – K B chỉ phụ thuộc bản chất bazơ và nhiệt độ. Giá trị K B càng lớn thì bazơ càng mạnh.

    + Thuyết điện li: Chất lưỡng tính là chất trong nước có thể phân li theo cả kiểu axit và kiểu bazơ.

    + Thuyết Bronsted: Chất lưỡng tính là những chất vừa có khả năng cho proton H+, vừa có khả năng nhận proton H+.

    + Aminoaxit, muối amoni của axit hữu cơ (R(COOH) x(NH 2) y, RCOONH 4…)

    – Là những chất không có khả năng cho và nhận proton (H+).

    – Chất trung tính gồm:

    V. Sự kết hợp giữa các ion

    – Các dấu hiệu nhận biết axit, bazơ, lưỡng tính, trung tính qua sự kết hợp của các ion như sau:

    * Các gốc bazơ của bazơ yếu (NH 4+ , Al(H 2O) 3+) và các gốc axit (có H phân ly thành H+) của axit mạnh được xem là axit.

    * Các gốc axit (có H phân ly thành H+) của axit yếu: lưỡng tính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Chất Hoá Học Của Axit Clohidric Hcl, Hiđro Clorua Và Muối Clorua
  • Axit Bazơ Muối Và Hidroxit Lưỡng Tính Theo Thuyết Arêniut Và Thuyết Bronsted
  • Tổng Hợp Kiến Thức Về Axit, Bazơ, Muối Lớp 11
  • Above The Line (Atl), Below The Line (Btl) Là Gì?
  • Phân Biệt Giữa Ttl , Atl Và Btl
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100