Phan Biet Phap Luat Va Dao Duc

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Quá Khứ Đơn Và Hiện Tại Hoàn Thành
  • So Sánh (Phân Biệt) Quyền Con Người Và Quyền Công Dân
  • Cần Phân Biệt Rõ Quyền Con Người Và Quyền Công Dân
  • Quản Trị Là Gì? Phân Biệt Quản Trị Và Quản Lý
  • Quản Trị Là Gì? Phân Biệt Quản Trị Và Quản Lý Và Một Nhà Quản Trị Giỏi Cần Những Gì?
  • Published on

    Đạo đức và pháp luật là hại khái niệm hoàn toàn khác nhau, đứng trên phương diện pháp luật, đạo đức chỉ là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống. Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội.

    1. 1. PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
    2. 2. TÌNH HUỐNG T Ì N H H U Ố N G TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNGTÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNHHUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG TÌNH HUỐNG
    3. 3. TÌNH HUỐNG: Vì là bạn thân thiết với nhau nên A đã cho B và C vào nhà hút ma túy, bị công an bắt quả tang. Hỏi A có vi phạm pháp luật không hay chỉ vi phạm đạo đức vì tội “nể bạn”?
    4. 5.  Là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người.  Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống. Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội.
    5. 7.  Là hệ thống các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.  Mỗi hình thái kinh tế – xã hội đều có một kiểu Nhà nước và một kiểu pháp luật tương ứng. Lịch sử xã hội loài người đã có các kiểu pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản và pháp luật xã hội chủ nghĩa.
    6. 8. SO SÁNH SỰ KHÁC BIỆT GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT
    7. 9. Đều góp phần điều chỉnh hành vi con người cho phù hợp với lợi ích,yêu cầu chung của xã hội, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội Đều là hình thái ý thức xã hội nên chịu sự thay đổi khi tồn tại xã hội thay đổi Đều là hình thái ý thức xã hội nên chịu sự thay đổi khi tồn tại xã hội thay đổi GIỐNG NHAU:
    8. 10. ĐẠO ĐỨC PHÁP LUẬT  Ra đời trước pháp luật  Việc thực hiện mang tính tự giác  Mang tính chủ quan  Phạm vi rộng lớn  Động cơ bên trong mỗi người làm nên hành động  Ra đời khi có sự phân chia giai cấp  Mang tính bắt buộc, cưỡng chế là tất yếu  Mang tính khách quan  Phạm vi hẹp, vì có điều luật vi phạm đạo đức  Do tác động bên ngoài , dẫn tới hành vi KHÁC NHAU:
    9. 11. GIẢI ĐÁP: Mặc dù hành vi cho người bạn kia vào nhà hút heroin của A là vì nể bạn nhưng A đã phạm vào tội “tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 198 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
    10. 12. Thực hiện bởi Trần Thị Mỹ Lan và nhóm 7 lớp DB_13DQT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phí Và Lệ Phí Là Gì? Phí Và Lệ Phí Được Phân Biệt Như Thế Nào?
  • Bài 9. Quang Hợp Ở Các Nhóm Thực Vật C3, C4 Và Cam
  • Cách Phân Biệt Mỹ Phẩm Thật (Authentic) Và Giả (Fake)
  • Phân Biệt Other, Another, Others, The Other Và The Others
  • Cách Dùng Must, Have To, Should, Ought To Trong Tiếng Anh
  • Tổng Hợp Các Kiến Thức Về Cách Phan Biet Da That Va Da Gia Pvc Ngày Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nhận Biết Metan, Etilen, Axetilen Hay, Chi Tiết
  • Nắm Vững Cách Dùng Enough Và Too, Đánh Tan Nỗi Lo Ngữ Pháp
  • Phân Biệt “to” Và “for” Để Hết Sợ Sai Ngữ Pháp
  • Cách Điền Họ Tên Chính Xác Trong Tiếng Anh: First, Middle, Last, Sur, Given
  • Full Name Hay First Name, Last Name, Surname, Given Name, Family Name Là Gì?
  • Tổng hợp các kiến thức về cách phan biet da that va da gia pvc ngày nay

    phan biet da that va da gia Da giả hay còn được dùng với cái tên là simili (PVC) là sản phẩm được làm từ tấm vải lót sau đó được dệt kim bằng Polyester và được nhuộm một lớp nhựa PVC để tạo liên kết. Tiếp theo đó, chúng sẽ được xử lý như tạo vân, nhuộm màu,… để tạo thành simili.

    Da tổng hợp là sản phẩm được làm từ vụn da động vật, trải qua quá trình Polyester và các quá trình khác như tạo vân, nhuộm màu để tạo thành da tổng hợp hay da công nghiệp.

    Trong khi những sản phẩm da thật được làm hoàn toàn từ da bò, da heo, da cừu, trâu, cá sấu,… qua quá trình xử lý hóa chất là thuộc da để tạo ra những sản phẩm bóng, đẹp và bền cùng thời gian mà chúng ta vẫn dùng hàng ngày như ví da, giày da, thắt lưng,…

    phan biet da that va da giaDa thật (da tự nhiên) hay còn gọi là da thuộc, các sản phẩm bằng da thật thường được ghi real leather, genuine leather, genuine leather (da bò), 100% leather…

    Các loại da thường được sử dụng như là da trâu, da bò (giày dép, ví, thắt lưng, áo…), da heo (ví) và da cừu (áo khoác, găng tay), ngoài ra còn các loại da bò non, da dê, da ngựa, da đà điểu, da cá sấu thường dùng cho các sản phẩm cao cấp.

    Các loại da này phải qua một quá trình xử lý gọi là thuộc da. Quá trình này để da không bị mục theo thời gian và làm bóng da để da đẹp hơn. Trước khi làm ra thành phẩm da còn được phủ một lớp sơn để tạo độ bóng và màu sắc. Các sản phẩm làm từ da có giá thành khá cao.

    Da tự nhiên (da thuộc) chia làm 2 loại:

    Một tấm da thuộc có độ dày tùy thuộc vào tuổi, và loại động vật được lấy da để thuộc. Lớp da dày này có thể tách ra làm nhiều lớp. Da top-grain là lớp trên cùng của bộ da. Lớp trên cùng này dày khoảng 1.0 -1.5mm và cũng là phần tốt và đẹp nhất của tấm da.

    Da top-grain được chia làm hai loại: Da nguyên trạng (full grain) và da điều chỉnh (corrected grain). Da nguyên trạng được để giữ nguyên trạng thái tự nhiên, không điều chỉnh hạt da.Trong khi đó Da điều chỉnh được tác động bề mặt để giảm các vết xước, làm nổi để phát triển các hiệu ứng.

    Hầu hết các khách hàng ưa chuộng da điều chỉnh vì dễ lau chùi khi có đổ nước. Loại da này có lớp bảo vệ bề mặt và chống trầy xướctrong khi da nguyên trạng không có.

    Da nguyên miếng đặc tính rất bền, không bị nổ da trong quá trình sử dụng, và càng dùng da sẽ càng mềm mại hơn. Khi sử dụng quý khách nên lưu ý tránh để bề mặt da bị ma sát nhiều, đặc biệt ở các góc túi, ví để đảm bảo độ bền đẹp của sản phẩm.

    Da tách lớp là lớp dưới của bộ da sau khi đã lấy đi phần da trên cùng. Nó có thể được xử lý thành da lộn hoặc da tách lớp & phủ bề mặt. Da tách lớp và phủ bề mặt (coatedsplit) thường cứng và kém bền hơn da top-grain. Do lớp da thật bên trong và lớp phủ nhân tạo bên ngoài có độ dãn nở khác nhau, nên trong điều kiện thời tiếtnóng ẩm như ở VN, da vẫn có thể bị bong tróc, gãy nếp sau một thời gian sử dụng nhất định.

    Độ bền của da tách lớp phụ thuộc nhiều vào chất lượng của lớp phủ nhân tạo trên bề mặt da, điều này bằng mắt thường rất khó đánh giá. Tuy nhiên ưu điểm của da tách lớp và phủ bề mặt, là có thể tạo nên những tấm da có độ cứng nhất định, phù hợp để chế tác các loại túi, ví có form cứng, hộp rất thời trang- Điều mà da nguyên miếng rất khó làm được (vì da nguyên miếng càng dùng sẽ càng mềm, và nếu để lớp da miếng thật dày để có độ cứng cần thiết thì túi/ví lại quá nặng, không tiện sử dụng).

    Da tách lớp và phủ bề mặt vẫn có thể chế tác để có vân da gần giống như da thật nguyên miếng, tuy nhiên khi nhìn mặt cắt của da có thể thấy lớp da không đồng nhất (tách làm hai lớp), chất da cứng hơn, bề mặt da không có các lỗ chân lông như da miếng, hoặc nếu có thì là do chế tác tạo nên, vì thế mặt da rất đồng đều không tự nhiên, khi bấm vào bề mặt da thì độ đàn hồi của da kém hơn.

    II. phan biet da that va da gia – Đặc điểm các loại da thật

    1. Da lợn: Lỗ chân lông hiện ra trên bề mặt tròn và thô, hơi nghiêng, cứ ba lỗ chụm lại với nhau. Trên mặt thấy khá nhiều những hình tam giác nhỏ, sờ tay vào thấy cứng, phẳng,rắn, thường dùng để làm giày dép da, vali và túi.

    2. Dabò/ trâu: Da bò, lỗ chân lông có hình tròn, thẳng, không khít lại với nhau và phân bố đều. Còn da trâu thì lỗ chân lông to hơn, số lỗ ít hơn, mềm nhão hơn da bò, trông không được mịn và đẹp như da bò. Hai loại này thường được dùng làm giày, dép da.

    3. Da ngựa: Lỗ chân lông có hình bầu dục, không rõ ràng, to hơn lỗ chân lông của da bò, sắpxếp có quy tắc, trên mặt xốp mềm, tối màu. Dùng để làm vali, túi.

    4. Da dê (sơn dương): Trên mặt da có những đường vân hình vòng cung mà trên đó có 2-4 lỗ chân lông to, xung quanh có những lỗ nhỏ. Mặt da trông mịn, thớ chặt, sờ vào thấydẻo. Thường dùng dể làm bao tay, túi xách, đồ mặc đi săn.

    5. Da cừu: Mỏng, mềm, lỗ chân lông nhỏ li ti và có hình bầu dục, cứ mấy lỗ kết hợp với nhau thành hàng dài, phân bố đều khắp. Thường dùng làm túi xách.

    6. Da cá sấu: khác hẵn với những loại da trên, da cá sấu gò ghề, bề mặt da có cấu tạo không đồng nhất, mỗi phần da có một cấu trúc riền biệt, đây chính là “giá trị vàng “của da cá sấu.

    phan biet da that va da gia – Kiểm tra da bằng cách nào

    • Da bò là một loại chất liệu tốt, có độ bề cao và có giá thành đắt hơn so với một số chất liệu da, Pu khác. Được dùng trong các dòng sản phẩm thời trang , nội thất cao cấp. Vì vậy, với giá trị của da bò được nhiều người tin dùng, các sản phẩm da có có in dòng chữ “” Genuine Leather” (Da thật), không thể phân biệt da bò thật sự.
    • Với những công nghệ tiên tiến hiện nay, trong sản xuất da bò được chia thành các dòng: Full Grain, tiếp đến là Top Grain, Genuine Leather và cuối cùng là Bonded Leather. Đối với những khách hàng, lần đầu tiên tiếp xúc hoặc nhận được từ “Da bò thật”, mà chưa tìm hiểu nhiều về dòng sản phẩm này sẽ nghỉ là đó thật sự là dòng sản phẩm chất lượng cao, nhưng thật tế thì chưa thể chắc chắn được.
    • Đối với một số khách hàng lần đầu tiên tôi tiếp xúc hoặc nhận được từ “Da Bò Thật”, một số người nghĩ từ “Da Bò Thật” có nghĩa là họ sẽ được sở hữu một sản phẩm với chất lượng đỉnh nhất. Trong thực tế, đó chưa chắc là loại tốt nhất hiện có trong ngành công nghiệp Da trên thế giới hiện tại. (Da bò, Genuine Leather hiện nay được sử dụng phổ biến tại Việt Nam và thế giới)

    Nếu bạn đang muốn chọn mua cho mình một chiếc thắt lưng da bò thật. Bạn cần phải tham khảo những cách phân biệt da bò thật để kiểm tra tính “thực” của chiếc thắt lưng da bò thật mà bạn sắp đầu tư mang về nhà.

    6 phan biet da that va da gia theo cách thông thường

    – Da bò thật được làm từ da động vật (Da Bò, Da Ngựa…) – nên nó phải có mùi giống như mùi da.

    – Da bò thật có thể có mùi thơm hoặc không thơm, nhưng nó không bao giờ có mùi giống như một túi nhựa. Sử dụng mẹo này, khi một Người bán hàng nào đó nói với bạn rằng, “Nó có mùi giống nhựa, Bởi vì đó là một sản phẩm mới” thì bạn có thể không nên tin vào lời nói này.

    phan biet da that va da gia – Da thật khi nhìn sẽ giống như làn da.

    – Nhìn kỹ vào bề mặt của da. Nếu bạn nhìn thấy bề mặt không đồng đều trên da, nó có thể là một chất liệu da thật, vì da thật sự không bao giờ hoàn hảo bằng phẳng tuyệt đối.

    – Da bò thật sẽ bí những nếp nhăn và trầy nhẹ. Kết cấu và đường vân trên da thật sẽ không đồng đều.

    TUY NHIÊN, công nghệ ngày nay rất tiên tiến. Các nhà sản xuất mặc dù “giả” nhưng nhìn cũng rất “thật”. Nên xem xét nhiều yếu tố để quyết định Da bò thật hay giả.

    – Dùng ngón tay chạm vào sản phẩm da. Da thật sẽ có cảm giác mềm mại, mịn màng và tự nhiên. Dù bề mặt của da đó như thế nào, bạn cũng sẽ không hề cảm thấy “gập ghềnh” và “thô”.

    phan biet da that va da gia – Nếp nhăn trên da bò thật

    Để phan biet da that va da gia bạn hãy ấn hoặc bóp vào sản phẩm da ở bất kỳ vị trí nào. Khi đó, Trên bề mặt phải nhìn giống như “bị kéo dùn” khi bạn đặt một vết lõm trên đó. Da giả thường kém linh hoạt, và bề mặt da hầu như không bị ảnh hưởng bởi áp lực của bạn.

    • Nếp nhăn xuất hiện khi ép = Genuine Leather
    • Không nhăn = Fake Leather

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Tăc Chính Tả Và Bài Tập Chính Tả Phân Biệt L/n, Ch/tr, X/s, Gi/d/, C/q/k, I/y (Tham Khảo)
  • Cách Phân Biệt Đẩy Mụn, Nổi Mụn, Dị Ứng Và Kích Ứng
  • Phân Biệt Trợ Từ De (で) Và Ni (に) Dùng Để Chỉ Nơi Chốn
  • Ni Và De: Cách Lựa Chọn 2 Loại Trợ Từ Chỉ Vị Trí Trong Tiếng Nhật
  • Xăng Và Cách Phân Biệt, Lựa Chọn Các Loại Xăng A92, A95, E5 Sao Cho Phù Hợp Với Ô Tô, Xe Máy
  • Download Ung Dung Giai Thuat Bayes Trong Chan Doan Phan Biet Xuat Huyet Nao Va Nhoi Mau Nao Tren Leu

    --- Bài mới hơn ---

  • Ct Scan Trong Tai Biến Mạch Máu Não
  • Phân Biệt Nhồi Máu Não Và Xuất Huyết Não Trên Lâm Sàng
  • Phân Biệt Giữa Nhồi Máu Não Và Xuất Huyết Não
  • So Sánh Iphone Xs Với Xs Max: Nên Mua Iphone Nào?
  • Iphone Xs , Xs Max, Xr Cũ Miễn Phí 30 Ngày Hoàn Tiền Nếu Không Thích
  • ỨNG DỤNG GIẢI THUẬT BAYES TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT XUẤT HUYẾT NÃO VÀ NHỒI MÁU NÃO TRÊN LỀU Tóm tắt Cơ sở: Sự phân biệt giữa nhồi máu não (NMN) và xuất huyết não (XHN) trên lều hết sức quan trọng trong bước xử trí ban đầu ở bệnh nhân đột quỵ cấp. Phương pháp: Năm 2004, chúng tôi xây dựng hệ chuyên gia mô phỏng giống cách thức tư duy, học tập của người thầy thuốc dựa trên giải thuật xác suất Bayes nhằm hỗ trợ chẩn đoán phân biệt XHN và NMN trên lâm sàng. Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Nội Thần Kinh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 09/2004 đến tháng 07/2005. Kết quả nghiên cứu: kiểm chứng ở 196 bệnh nhân cho thấy hệ chuyên gia tỏ ra ưu điểm khá hơn so với thang điểm lâm sàng Siriraj và Nguyễn Bá Thắng: độ nhạy chẩn đoán XHN của hệ chuyên gia so với thang điểm Siriraj và Nguyễn Bá Thắng là 99,05% so với 75,61% và 98,04%; độ nhạy chẩn đoán NMN của hệ chuyên gia 92,54% so với 90,79% và 83,82%; độ chính xác chung 96,51% so với 82,91% và 92,35%; tỉ lệ chẩn đoán không chắc chắn 12,25% so với 19,39% và 13,27%. Kết luận: Nghiên cứu này chỉ là bước đi ban đầu tìm lời giải cho những nghiên cứu sâu hơn để xây dựng phần mềm hoàn thiện có thể ứng dụng chẩn đoán nhiều bệnh lý và được kiểm định hiệu quả, tin cậy ở nhiều trung tâm. Summary Background: Distinguishing between supratentorial cerebral infarction and cerebral haemorrhage is very important in initial treatment on patients having an acute stroke. Method: In 2004, we designed and programmed an expert system copying the way of study and thinking from clinical doctors basing on Bayes’s probability algorithm in order to support diagnosing to distinguish between supratentorial cerebral infarction and cerebral haemorrhage clinically. The research was carried out at the neurology ward of Cho Ray Hospital from September 2004 to July 2005. Results: The result of validation study from 196 patients shows that the expert system is fairly better than Siriraj’s and Nguyen Ba Thang’s clinical scale: sensitivity of the expert system for diagnosing cerebral haemorrhage in comparison with Siriraj’s and Nguyen Ba Thang’s clinical scale is 99.05% in comparison with 75.61% and 98.04%; sensitivity of the expert system for diagnosing cerebral infarction is 92.54% in comparison with 90.79% and 83.82%; overall accuracy of diagnosis is 96.51% in comparison with 82.91% and 92.35%; rate of vague diagnosis is 12.25% in comparison with 19.39% and 13.27%. Conclusion: this research is only the initial step for next well- researched one in order that we can program better softwares which are applied to diagnosing many diseases and are checked effectively and trustworthily at many hospitals. ĐẶT VẤN ĐỀ Sự phân biệt giữa nhồi máu não (NMN) và xuất huyết não (XHN) hết sức quan trọng trong bước xử trí ban đầu ở bệnh nhân đột quỵ cấp bởi vì tiên lượng và điều trị khác nhau. Hiện nay ở nước ta, máy CT scan cần thiết để chẩn đoán đột quỵ chủ yếu được trang bị tập trung một số thành phố lớn, ở một số bệnh viện lớn tuyến trung ương hay tuyến tỉnh. Trong khi đó, có khá nhiều bệnh viện, đặc biệt các bệnh viện tuyến huyện không có máy CT scan. Sự thiếu hụt thiết bị cận lâm sàng và các bác sĩ chuyên khoa sâu có thể làm gia tăng tỉ lệ tử vong cũng như để lại hậu quả nặng nề cho bản thân người bệnh và xã hội. Chương trình phần mềm máy tính giả lập trí thông minh của con người (trí tuệ nhân tạo), có thể được sử dụng để hỗ trợ bác sĩ trong việc ra quyết định lâm sàng trong hoàn cảnh không có hội chẩn trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa. Để tìm hiểu và đánh giá vai trò kỹ thuật này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán phân biệt NMN và XHN trên lều. ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu xây dựng hệ chuyên gia Chúng tôi thiết kế và xây dựng hệ chuyên gia với tên gọi “Sổ tay Lâm sàng” phiên bản 1.0, được viết bằng ngôn ngữ Microsoft Visual C# .NET phiên bản năm 2003(1,6,7,2,3). Hệ chuyên gia được thiết kế gồm ba phần chính : (1) lưu trữ dữ liệu bệnh nhân; (2) cơ sở tri thức; (3) chẩn đoán y khoa. * Thiết kế giải thuật chủ yếu dựa trên công thức xác suất Bayes : Các xác suất P(Aj), P(K / Aj), P(K) được tính toán trước, được gọi là xác suất tiền nghiệm. P(Aj / K) : xác suất xảy ra biến cố Aj khi K đã xảy ra, được gọi là xác suất hậu nghiệm. Ví dụ: Tính xác suất xuất hiện xuất huyết não (XHN) khi bệnh nhân có triệu chứng đau đầu (Đđ). P(XHN) = P(XHN/Đđ) * Trong đó : – P(XHN) : Xác suất xuất hiện XHN – P(XHN/Đđ) : Xác suất xuất hiện XHN khi triệu chứng đau đầu xuất hiện – P(Đđ/XHN) : Xác suất xuất hiện triệu chứng đau đầu khi bệnh lý XHN xuất hiện – P(Đđ/không XHN) : Xác suất xuất hiện đau đầu khi XHN không xuất hiện – P(Đđ) = P(Đđ/XHN) * P(XHN) + P(Đđ /không XHN ) * P(không XHN) Chúng tôi sử dụng một số bệnh án mẫu để hệ chuyên gia học tập, cập nhật cơ sở tri thức cho đến khi các chỉ số đánh giá kết quả hệ chuyên gia chẩn đoán thông qua độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ chính xác chung đạt đến trị số trên 85%. Mẫu nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân nhập khoa Nội Thần Kinh bệnh viện Chợ Rẫy từ 09/2004 đến tháng 07/2005 thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán đột quỵ của Tổ Chức Y Tế Thế Giới; nhập viện trong vòng 72 giờ và có hình ảnh CT sọ não trong vòng 7 ngày sau khởi phát. Nghiên cứu không bao gồm các bệnh nhân xuất huyết khoang dưới nhện, xuất huyết não thất đơn thuần hoặc có dấu chứng tổn thương thân não nguyên phát (không phải do chèn ép từ trên xuống). Nghiên cứu kiểm chứng hệ chuyên gia Các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có tiêu chuẩn chọn bệnh tương tự như phần nghiên cứu xây dựng hệ chuyên gia. Kết quả chẩn đoán bằng hệ chuyên gia và các thang điểm lâm sàng Siriraj, Nguyễn Bá Thắng được so sánh với kết quả chụp CT scan sọ não. KẾT QUẢ Nghiên cứu xây dựng hệ chuyên gia Nghiên cứu thực hiện trên 193 bệnh nhân đột quỵ trên lều thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh và không vi phạm các tiêu chuẩn loại trừ, trong đó có 101 bn XHN chiếm 52,33% và 92 bn NMN chiếm 47,67%; nam chiếm 56,48%, nữ chiếm 43,52%; tuổi trung bình là 62,7, trong đó nhỏ nhất là 27 tuổi và cao nhất là 90 tuổi. Thời gian bệnh nhân nhập viện đến lúc khám thu thập dữ liệu là 1,5 ngày. Các đặc điểm lâm sàng khảo sát gồm có tuổi, giới, các triệu chứng khởi đầu như kiểu khởi phát, đau đầu, nôn ói, mức độ ý thức khi khởi phát, co giật, tiền sử cao huyết áp, tiểu đường, cơn thoáng thiếu máu não, đột quỵ trước đó, bệnh tim, các triệu chứng biểu hiện khi thăm khám như mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở, kiểu thở, mức độ ý thức lúc thăm khám, dấu xơ vữa động mạch, xuất huyết tiêu hoá trên, dấu màng não, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn cơ vòng, nhìn chăm chăm, phản xạ lòng bàn chân, rối loạn vận động, cảm giác. Những dữ liệu của 193 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được nhập vào cơ sở dữ liệu của hệ chuyên gia và được hệ chuyên gia học tập, tính toán xây dựng nên cơ sở tri thức thể hiện bằng những trị số xác suất tiền nghiệm được tính toán trước. Bên cạnh học tập từ cơ sở dữ liệu bệnh nhân mẫu, phần mềm cho phép người sử dụng hiệu chỉnh cơ sở tri thức dựa trên những kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu trước đó hay kết quả đánh giá hệ chuyên gia chẩn đoán. Kết quả đánh giá hệ chuyên gia chẩn đoán trên mẫu nghiên cứu Mỗi bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều có một tập triệu chứng được thu thập trước. Hệ chuyên gia sẽ tính toán dựa trên tập triệu chứng của mỗi bệnh nhân, cơ sở tri thức sẵn có và giải thuật xác suất Bayes để đưa ra kết luận về xác suất xuất hiện của từng bệnh lý XHN và NMN. Dựa vào kết quả này, hệ chuyên gia chọn: (1) Trị số xác suất cao nhất trong tập hợp bệnh lý trên để đưa ra kết luận chẩn đoán; (2) Trị số này phải lớn hơn hoặc bằng một trị số cho trước (chẳng hạn P = 0,85) thì hệ chuyên gia mới đưa ra ngưỡng kết luận cuối cùng; trị số cho trước này được gọi là trị số ngưỡng. Trị số ngưỡng có thể thay đổi tùy theo yêu cầu của người sử dụng. Bảng 1: So sánh kết quả chẩn đoán của hệ chuyên gia trong trường hợp không sử dụng và sử dụng trị số ngưỡng 0,85 (N = 193) Hệ chuyên gia Không Sử dụng p sử dụng trị số trị số ngưỡng ngưỡng (N = (N = 172) 193) Độ 97,03% 98,96% 0,17 nhạy (98/101 (95/96 chẩn bn) bn) đoán XHN Độ 82,61% 95,65% < nhạy (76/92 (66/69 0,01 chẩn bn) bn) đoán NMN Giá 85,96% 96,94% < trị tiên (98/114 (95/98 0,01 đoán bn) bn) dương XHN Giá 96,2% 98,51% 0,19 trị tiên (76/79 (66/67 đoán bn) bn) dương NMN Độ 90,16% 97,58% < chính xác 0,01 (174/193 (161/165 chung bn) bn) Tỉ 0% 14,51% < lệ chẩn (0/193 (28/193 0,01 đoán bn) bn) không chắc chắn Tóm lược nghiên cứu kiểm chứng hệ chuyên gia Nghiên cứu thực hiện trên 196 bệnh nhân đột quỵ trên lều thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ như nghiên cứu xây dựng hệ chuyên gia, trong đó có 110 bn XHN chiếm 56,12% và 86 bn NMN chiếm 43,88%; nam chiếm 56,12%, nữ chiếm 43,88%; tuổi trung bình là 63,7, trong đó nhỏ nhất là 33 tuổi và cao nhất là 90 tuổi. Thời gian bệnh nhân nhập viện đến lúc khám thu thập dữ liệu là 1,7 ngày. Bảng 2: So sánh kết quả chẩn đoán của hệ chuyên gia với thang điểm Siriraj & Nguyễn Bá Thắng (N = 196)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu So Sánh Nhồi Máu Não Và Xuất Huyết Não
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Xe Đạp Điện Và Xe Máy Điện !
  • Cách Phân Biệt Hàng Thật Và Hàng Nhái Khi Mua Iphone Xs/ Xs Max
  • Bài 52. Tinh Bột Và Xenlulozơ
  • Phân Biệt Xe Mô Tô “xe Máy” Và Xe Gắn Máy Theo Luật Pháp Việt Nam
  • Phân Biệt Everyday Or Every Day Phan Biet Everyday Or Every Day Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Marketing Và Sales
  • Concept Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Marketing Concept Và Selling Concept
  • Các Quan Điểm Quản Trị Marketing, Ưu Nhược Điểm Của Từng Quan Điểm
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa 2 Mã Màu Rgb Và Cmyk
  • Sự Khác Nhau Giữa Máy Phát Điện Dùng Dầu Diesel Và Dùng Xăng
  • Phân Biệt EVERYDAY or EVERY DAY

    EVERYDAY or EVERY DAY khi dịch nghĩa sang tiếng Việt theo kiểu “bình dân” là MỖI NGÀY . Bản thân tôi và có lẽ nhiều người cũng thường dùng lẫn lộn chúng !!??

    Chúng tôi xin chia sẻ sự khác biệt giữa chúng:

    I.”Everyday” là mộ t tính từ (adjective). Vì vậy, từ này nằm trước danh từ để miêu tả cho danh từ ấy. Mang nghĩa “thông thường, bình thường, lệ thường, mỗi ngày”.

    – These shoes are great for everyday wear .

    Những chiếc giày này thích hợp để mang mỗi ngày.

    – Don’t let the problems of everyday life get you do wn.

    Đừng để những vấn đề của cuộc sống hằng ngày làm bạn buồn.

    – Alex thought he found a diamond ring on the street. It turned out to be an everyday glass stone .

    (Alex tưởng là đã lượm được một chiếc nh ẫ n kim cương ai dè nó lại là cục thủy tinh bình thường hay gặp hằng ngày )

    Những đôi giày này rất tuyệt để mang hàng ngày.

    II.EVERY DAY

    – I learn English EVERY DAY

    -Eve ry day she goes to work on foot. Hàng ngày, cô ta đi bộ đến nơi làm việc.

    * Vì làm nhiệm vụ như 1 trạng từ nên EVERY DAY có thể đứng đầu câu hoặc cuối câu .

    – I go to the park every day.

    Tôi đến công viên mỗi ngày.

    – I have to work every day this week except Friday.

    Tôi phải đi làm mỗi ngày trong tuần này trừ thứ 6.

    – Every day I feel a little better.

    Mỗi ngày tôi cảm thấy tốt hơn một chút.

    – I read the newspaper every day. (Thứ 2 đến Chúa Nhật – Ngày nào tôi cũng đọc báo cả)

    * EVERY DAY đồng nghĩa với EACH DAY.

    – Trong những câu trên, EVERY DAY làm nhiệm vụ như một trạng từ nhưng trong câu sau đây thì EVERY DAY không làm nhiệm vụ như 1 trạng từ nữa mà trở về là 1 TÍNH TỪ + 1 DANH TỪ và làm chủ ngữ trong câu.

    “I learn English EVERY DAY”

    Cách phát âm

    – Everyday đồng nghĩa với ordinary (thông thường) . Every day đồng nghĩa với each day (mỗi ngày). Vì vậy, một bí quyết nhỏ để sử dụng chính xác everyday và every day là dùng từ đồng nghĩa của mỗi từ vào câu bạn muốn diễn đạt. Nếu ordinary hợp lý thì bạn dùng everyday, còn nếu each day hợp lý thì bạn dùng every day.

    Phân biệt Everyday, Every day và Daily

    – Poverty affects the daily lives of mil lions of people. Nghèo nàn ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người.

    – The machines are inspected twice daily. Máy móc được kiểm tra hai lần mỗi ngày .

    Để chúng ta thấy rõ hơn sự khác biệt giữa EVERYDAY VÀ EVERY DAY , hãy quan sát ví dụ sau đây:

    – I read the newspaper every day , but it’s mostly filled with everyday stories about politicians and economy.

    (Tôi đọc báo hàng ngày, nhưng chẳng có chuyện gì lạ lùng cả, cũng các chính trị gia và cũng chuyện kinh tế; chuyện hằng ngày).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Cách Dùng However, Therefore, But Và So Thật “chuẩn”
  • Sự Khác Biệt Giữa Phiên Tòa Sơ Thẩm Và Phiên Tòa Phúc Thẩm Vụ Án Dân Sự
  • Sự Khác Nhau Giữa Require, Request Và Offer Khi Sử Dụng
  • 60 Câu Hỏi Và Trả Lời Phỏng Vấn Quản Trị Mạng Hàng Đầu (Phần 1)
  • Giải Sách Giáo Khoa Tiếng Anh 8 Unit 4 : Our Customs And Traditions ( Phong Tục Và Truyền Thống Của Chúng Ta)
  • Meo Phan Biet Dong San Pham Tang Luc Bo Cung Thai By Hongthanhxuan2020 On Deviantart

    --- Bài mới hơn ---

  • #5 Mẹo Giúp Bạn Nhận Biết Đời Xe Dream Chính Xác Nhất
  • Vợ Và Bồ Cùng Mang Thai, Chồng Đòi Ly Dị Để Đón Con Trai Của Bồ Về
  • Cách Phân Biệt Nhân Sâm Hàn Quốc Và Nhân Sâm Trung Quốc
  • Cách Phân Biệt Nhân Sâm Hàn Quốc
  • Cách Phân Biệt Nhân Sâm Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam
  • Redbull là một dòng sản phẩm nước tăng lực khá nổi tiểng thế giới được sở hữu bởi công ty Red Bull GmbH. Ngày nay, sản phẩm này đã có mặt trên thị trường hơn 30 năm qua và là 1 trong các dòng thức uống ưa thích nhất của các vận động viên thể thao. Nước uống tăng lực này được điều chế ra để kích thích sự hoạt động của bộ não con người do vậy không nên dùng nó như một loại nước giải khát thông thường. Và vấn đề phân biệt nước tăng lực bò húc Thái Lan và Việt Nam là vấn đề được nhiều người quan tâm. Biết cách phân biệt sản phẩm sẽ giúp bạn lựa chọn đúng loại mặt hàng cần thiết để sử dụng.

    Nước uống tăng lực Red bull của Công ty Red Bull Việt Nam, vốn là công ty đầu tiên sản xuất hàng này tại Việt Nam, đang bị làm giả tràn lan. Tình trạng hàng nhái, hàng giả tràn lan thị trường không phải người tiêu dùng nào cũng phân biệt được.

    Có muôn vàn kiểu hàng nhái, từ kiểu lon, màu sắc lon đến dung tích lon. Tuy nhiên, sự nhái, giả tập trung chủ yếu vào hình ảnh 2 con bò húc nhau, nếu không cũng là 2 con trâu, sư tử hay con gì đó tương tự. Có loại còn nhái đúng hiệu 2 con bò húc nhau và lấy tên gọi Red Bull hoặc sản xuất loại nước uống tăng lực chai nhựa 200 ml. Những nhãn mác nhái đó vẫn được đăng ký chất lượng, cấp mã số mã vạch.

    Cách phân biệt nước tăng lực bò húc Thái Lan và Việt Nam qua vỏ lon

    dòng nước tăng lực Thái Lan trên vỏ lon có ghi chữ Thái và dòng chữ Krating Daeng; trong tiếng Thái daeng nghĩa là đỏ, và krating nghĩa là trâu, bò tót. Krating Daeng được bán ở Thái Lan và một số nước ở châu Á với lon có vỏ màu vàng với tên Krating Daeng hay Red Bull Classic. Hai sản phẩm này được sản xuất độc lập với nhau bởi những công ty riêng biệt.

    Trên vỏ lon sản phẩm nước tăng lực Redbull Việt Nam cũng in chữ giống dòng nước tăng lực Bò cụng Thái Lan, nhưng có thêm dòng chữ tiếng việt là “Nước uống tăng lực”.

    Redbull Thái Lan chính hãng là nắp bật có màu đỏ, còn nước tăng lực bò húc Việt Nam nắp bật trắng. Ngoài cái nắp màu đỏ, để phân biệt, người mua có thể xem mã code sản phẩm. Nếu 3 số đầu 893 là của Việt Nam. Còn của Thái thì 3 số đầu là 885.

    Redbull Thái Lan, khi bật nắp có mùi thơm, uống vào có vị ngọt thanh, còn Redbull Việt Nam uống vào có vị hơi gắt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Unit 27: Present Perfect And Past Simple
  • Present Perfect Vs. Past Simple: Learn The Key Differences And Never Confuse The Two Again
  • Difference Between Elder And Older
  • Mbr Với Gpt Và Legacy Với Uefi Phân Biệt
  • Phân Biệt Mbr Partition Và Gpt Partition
  • Bệnh Giang Mai Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng & Cách Chữa * Chao Bacsi

    --- Bài mới hơn ---

  • Bệnh Sùi Mào Gà Là Gì? Nguyên Nhân Và Dấu Hiệu (Chi Tiết Nhất)
  • Dấu Hiệu, Triệu Chứng Bệnh Sùi Mào Gà Ở Nam Giới Và Phụ Nữ
  • Bệnh Sùi Mào Gà Ở Phụ Nữ Và Nguyên Nhân, Dấu Hiệu Cách Điều Trị Dứt Điểm
  • Cách Phân Biệt Bệnh Giang Mai Và Bệnh Sùi Mào Gà
  • Dấu Hiệu Bệnh Giang Mai Ở Nam Và Nữ
  • Cho đến nay, giang mai được biết đến là bệnh lây truyền qua đường tình dục nguy hiểm và đáng sợ nhất trong số các bệnh xã hội. Nó không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe mà còn khiến tính mạng bệnh nhân bị đe dọa, ngoài nguy cơ lây nhiễm ở người lớn nó còn có khả năng lây truyền sang cả trẻ em.

    Bệnh giang mai là gì?

    Bệnh giang mai (tên tiếng Anh là Syphilis), do xoắn khuẩn giang mai Treponema pallidum gây ra. Xoắn khuẩn này có hình lò xo và khi xâm nhập vào cơ thể chỉ sau từ 3 – 90 ngày bệnh nhân sẽ có những triệu chứng rõ rệt ở từng giai đoạn. Bệnh không trừ một ai, bất kỳ đối tượng nào cũng có thể dễ dàng nhiễm bệnh ngay cả trẻ nhỏ.

    Xoắn khuẩn giang mai lây nhiễm chủ yếu qua đường tình dục không an toàn, ngoài ra nó có thể lây bệnh khi niêm mạc của người bệnh tiếp xúc với vết thương hở hoặc vùng niêm mạc ẩm ướt trên cơ thể người khác như da, khoang miệng, hậu môn.

    Cũng giống như những bệnh xã hội khác, tuy nguy hiểm nhưng nếu được phát hiện kịp thời và điều trị đúng cách thì giang mai có thể được kiểm soát và không gây nên bất kỳ tổn thương nào nguy hại. Nhưng nếu để bệnh kéo dài không được điều trị, người bệnh không những phải chịu biến chứng do bệnh gây ra mà còn có nguy cơ lây nhiễm bệnh cho nhiều người khác.

    Bệnh giang mai có thể lây nhiễm cho tất cả mọi người tuy nhiên có nhiều nghiên cứu chỉ ra từ năm 2010 tỷ lệ nữ giới bị giang mai giảm hơn so với nam giới rất nhiều, những bệnh nhân giang mai là nam giới thường bị mắc bệnh do quan hệ với người đồng tính.

    Bệnh giang mai rất dễ lây nhiễm khi ở 2 giai đoạn đầu, những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh giang mai đó là:

    – Những đối tượng bị nhiễm HIV, hệ miễn dịch kém rất dễ bị lây truyền giang mai.

    – Thai phụ bị giang mai có nguy cơ lây nhiễm cho con rất cao.

    – Người từng bị giang mai và đã được điều trị nhưng có cơ thể không tự miễn dịch được với bệnh vẫn có nguy cơ mắc bệnh trở lại.

    Bệnh giang mai là một bệnh rất dễ lây lan, theo các bác sĩ chuyên khoa các nguyên nhân chính khiến người bệnh bị nhiễm xoắn khuẩn giang mai có thể kể đến là:

    – Do quan hệ tình dục không an toàn:

    Quan hệ tình dục không an toàn có lẽ là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh giang mai, theo thống kê những bệnh nhân bị giang mai lây truyền qua con đường này chiếm đến 95%.

    – Lây nhiễm qua đường máu:

    Trường hợp này thường xảy ra ở thời gian ủ bệnh, vì người mắc giang mai sẽ không thấy bất kỳ dấu hiệu triệu chứng nào trong thời gian này nhưng trong máu của họ đã tồn tại xoắn khuẩn giang mai nên hoàn toàn có thể lây nhiễm cho người khác qua đường truyền máu hoặc dùng chung bơm kim tiêm.

    – Lây truyền từ mẹ sang con:

    Thai phụ bị mắc bệnh giang mai rất dễ lây nhiễm cho con thông qua nhau thai, thông thường bệnh có thể lây truyền khi thai nhi phát triển qua tháng thứ 4 của thai kỳ, điều này lý giải vì sao có rất nhiều trẻ sơ sinh bị giang mai.

    – Lây qua tiếp xúc với tổn thương giang mai của người bệnh:

    Trường hợp bạn tiếp xúc trực tiếp với tổn thương giang mai của người bệnh hoặc tiếp xúc với các vật dụng của người bệnh có chứa dịch mủ thì sẽ rất dễ bị nhiễm bệnh. Đặc biệt trong giai đoạn săng giang mai thì những hành động như ôm hôn, sờ vào vết thương, dùng chung quần áo, khăn tắm… là có khả năng lây nhiễm cao nhất.

    Triệu chứng của bệnh giang mai

    Triệu chứng của bệnh giang mai sẽ thể hiện tùy thuộc vào từng giai đoạn, mỗi giai đoạn sẽ có diễn biến phức tạp với nhiều triệu chứng khác nhau mà nếu không có kiến thức chính xác bạn có thể sẽ dễ nhầm lẫn với những bệnh lý khác. Thời gian ủ bệnh giang mai khá dài, có trường hợp lên đến 90 ngày và trong thời gian này nó không có bất kỳ dấu hiệu cụ thể nào nên dễ lây lan bệnh cho người khác.

    Các triệu chứng của bệnh giang mai sẽ thể hiện cụ thể qua 3 giai đoạn sau:

    Triệu chứng bệnh giang mai giai đoạn 1:

    Giai đoạn này, nam giới sẽ thấy xuất hiện săng giang mai tại quy đầu, dương vật; nữ giới là ở âm hộ, cổ tử cung, tử cung, âm đạo. Ngoài ra, các tổn thương do săng giang mai có thể xuất hiện tại tứ chi, vùng lưng, ngực, trực tràng.

    Triệu chứng ở giai đoạn 2 rõ rệt hơn, các nốt ban đỏ hồng xuất hiện cày đặc trên da tập trung nhiều ở vùng da ngực, hai bên sườn, phần bụng và cánh tay. Những nốt ban này không nhô cao, không bong vảy nhưng khi ấn tay vào chúng sẽ mất đi. Những đối tượng uống nhiều rượu bia thì các biểu hiện giang mai này sẽ nặng hơn thậm chí còn nổi sẩn mủ, khiến người bệnh đau đớn.

    Ngoài ra người bệnh giang mai ở giai đoạn 2 còn bị đau họng, giảm cân không rõ lý do, cơ thể mệt mỏi và sốt thường xuyên. Một số trường hợp hiếm đi kèm theo đó là viêm thận, viêm gan, viêm dây thần kinh thị giác. Cũng giống như giai đoạn 1, các triệu chứng ở giai đoạn 2 xuất hiện trong khoảng 6 tháng sẽ biến mất.

    Triệu chứng giang mai ở giai đoạn tiềm ẩn:

    Sở dĩ gọi giai đoạn này là giai đoạn tiềm ẩn vì nó không biểu hiện bất kỳ dấu hiệu nào, thậm chí chúng còn chia ra giai đoạn tiềm ẩn dưới 1 năm và giai đoạn tiềm ẩn trên 1 năm sau khi trải qua giai đoạn 2.

    Giai đoạn tiềm ẩn dưới 1 năm có thể khiến các triệu chứng tái phát trở lại còn giai đoạn tiềm ẩn trên 1 năm không có triệu chứng, không lây lan. Đây là giai đoạn vô cùng nguy hiểm vì người bệnh chủ quan không đi thăm khám khiến bệnh nặng hơn đồng thời có nguy cơ lây nhiễm cho người khác rất dễ dàng.

    Biểu hiện của bệnh giang mai giai đoạn 3:

    Các dấu hiệu bệnh giang mai ở giai đoạn 3 sẽ xuất hiện sau vài năm có khi đến vài chục năm với những triệu chứng là thần kinh có vấn đề, bị bại liệt, đột quỵ, mù lòa.

    – Giang mai thần kinh:

    Đây là hình thức chiếm khoảng 6,5% của người bị bệnh giang mai giai đoạn 3, xảy ra do tổn thương khu vực màng não, mạch máu não, sau khi nhiễm bệnh khoảng từ 4 – 25 năm người bệnh sẽ thấy cơ thể suy nhược, bị trầm cảm hoặc có dấu hiệu động kinh, bị ảo giác và có nguy cơ đột quỵ cao.

    – Giang mai tim mạch:

    Xoắn khuẩn giang mai gây tổn thương tới các mạch máu, thường xảy ra sau 10 – 30 năm bị bệnh, triệu chứng thường gặp là người bệnh bị phình mạch, hình thức giang mai này chiếm khoảng 10%.

    – Củ giang mai:

    Bệnh giang mai – dùng bao cao su chưa chắc đã an toàn

    Như đã nói, bệnh giang mai là bệnh lý lây nhiễm qua việc quan hệ tình dục trực tiếp, hoặc tiếp xúc với các tổn thương giang mai của người bệnh. Bao cao su chỉ có tác dụng bảo vệ bộ phận sinh dục còn những vị trí khác như hậu môn, khoang miệng người bệnh hoàn toàn có thể tiếp xúc trực tiếp với người khác thông qua các cử chỉ thân mật. Vì thế có thể nói cho dù có sử dụng bao cao su thì bệnh giang mai vẫn có nguy cơ lây nhiễm cao hơn HIV rất nhiều.

    Do những triệu chứng của bệnh giang mai tương tự rất nhiều bệnh không nguy hiểm khác nên khiến người bệnh chủ quan không đi khám, đến khi bệnh nặng thì việc điều trị không còn dễ dàng nữa. Chính vì đặc điểm này mà nó còn được gọi với một cái tên ấn tượng khác đó là: Kẻ bắt chước vĩ đại.

    Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế Giới WHO trong năm 2022, có đến hơn 45 triệu người trên thế giới bị mắc bệnh giang mai, trong đó số người tử vong lên đến hơn 100 nghìn người.

    Đối với những bệnh nhân mắc bệnh không điều trị, giang mai có thể khiến họ gặp phải các biến chứng nguy hiểm như:

    – Các vết loét bị loại tử hoặc thành sẹo sâu trên da.

    – Phình động mạch chủ.

    – Nhiễm trùng mắt ảnh hưởng tới thị lực thậm chí bị mù.

    – Viêm màng não, thoái hóa não, rối loạn tâm thần, đâu đầu và tê liệt một số bộ phận trên cơ thể do não bị tổn thương.

    – Trẻ sơ sinh nếu nhiễm giang mai từ mẹ có thể bị chết non hoặc sống sót nhưng bị dị tật bẩm sinh.

    Chẩn đoán bệnh giang mai

    Để chẩn đoán bệnh nhân có đúng mắc bệnh giang mai hay không, bác sĩ sẽ thực hiện những xét nghiệm cần thiết. Khi người bệnh nghi ngờ mình mắc giang mai hoặc có một số dấu hiệu bất thường thì nên đến ngay bệnh viện, phòng khám đa khoa uy tín thực hiện những xét nghiệm sau để chẩn đoán bệnh:

    – Phương pháp soi kính hiển vi:

    Bác sỹ sẽ tiến hành lấy một mẫu vật ở các vết loét trên da và niêm mạc của người bệnh sau đó soi trên kính hiển vi xem có sự xuất hiện của xoắn khuẩn giang mai hay không.

    – Xét nghiệm máu:

    Tiến hành lấy máu để xét nghiệm và kiểm tra RPR và TPHA nếu người bệnh đã mắc giang mai thì kết quả xét nghiệm máu sẽ là dương tính.

    – Xét nghiệm nước ối:

    Trường hợp các bà mẹ đang mang thai mà nghi ngờ mình bị bệnh giang mai, các bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra bệnh lý đồng thời xét nghiệm cả nước ối xem xoắn khuẩn đã lây sang thai nhi hay chưa và tiến triển ở mức nào.

    Cách điều trị bệnh giang mai

    Đối với việc điều trị bệnh giang mai, các chuyên gia đầu ngành cho biết sẽ tùy thuộc vào từng giai đoạn bệnh mà có các biện pháp điều trị hiệu quả khác nhau:

    – Giai đoạn 1 là giai đoạn dễ dàng để điều trị và loại bỏ vi khuẩn giang mai nhất. Thời điểm này vác sĩ có thể điều trị bằng kháng sinh qua đường tiêm hoặc uống.

    – Giai đoạn 2 việc sử dụng kháng sinh sẽ kéo dài hơn nhiều kết hợp với các biện pháp khác để khống chế vi khuẩn. Thời điểm này bác sĩ sẽ thường xuyên kiểm tra xem bạn đã hoàn toàn khỏi bệnh hay chưa.

    Vì giang mai là một bệnh cực kỳ nguy hiểm nên quá trình điều trị thường kéo dài, người bệnh cần phối hợp với bác sĩ để kết quả điều trị được tốt nhất. Một điều quan trọng khác điều trị giang mai cần chẩn đoán sớm, điều trị sớm với phương pháp chính xác thì việc ngăn chặn bệnh cũng như tác hại của bệnh mới hiệu quả nhất.

    Những lưu ý phòng tránh bệnh giang mai

    Cách tốt nhất để không gặp phải những biến chứng của bệnh giang mai đó là phòng tránh để bản thân không bị bệnh. Việc phòng tránh tốt nhất là có một lối sống lành mạnh, chung thủy 1 vợ – 1 chồng và cả hai đều là người không mắc bệnh. Quan hệ sử dụng bao cao su tuy có thể giảm nguy cơ gây bệnh nhưng không hoàn toàn vì thế hãy là người có một lối sống tình dục an toàn.

    Các bà mẹ đang mang thai cũng được khuyến cáo nên đi xét nghiệm giang mai ở lần khám thai đầu tiên và ở 3 tháng thai kỳ cuối cùng để việc điều trị diễn ra sớm nhất nếu có kết quả dương tính với bệnh.

    Nguồn tham khảo bài viết:

    Webmd: https://www.webmd.com/sexual-conditions/syphilis#1

    Healthline: https://www.healthline.com/health/std/syphilis

    Nhs.uk: https://www.nhs.uk/conditions/syphilis/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biểu Hiện Của Bệnh Lậu Và Giang Mai Có Gì Giống Và Khác Nhau?
  • Phân Biệt Bệnh Lậu Và Giang Mai Qua Dấu Hiệu
  • Phân Biệt Dấu Hiệu Của Bệnh Lậu Và Giang Mai
  • So Sánh Bệnh Lậu Và Bệnh Giang Mai
  • Bệnh Lậu Ở Nam Và Nữ: Nguyên Nhân, Dấu Hiệu Và Cách Chữa
  • Hình Ảnh Bệnh Giang Mai Ở Nam, Nữ Giới Từng Giai Đoạn * Chao Bacsi

    --- Bài mới hơn ---

  • Dấu Hiệu Bệnh Lậu Ở Nam Giới
  • Bệnh Lậu Và Giang Mai Phân Biệt Như Thế Nào?
  • Bệnh Giang Mai Ở Miệng: Hình Ảnh Nguyên Nhân Dấu Hiệu Cách Chữa
  • Dấu Hiệu Của Bệnh Giang Mai Ở Nam Giới Và Nữ Giới
  • Tp.hcm: Dấu Hiệu Bệnh Sùi Mào Gà Ở Nam Và Nữ Giai Đoạn Đầu Hay Gặp
  • Nhận biết về hình ảnh bệnh giang mai ở nam giới và nữ giới qua từng giai đoạn – một trong những căn bệnh xã hội nguy hiểm, có tốc độ lây lan chóng mặt sẽ giúp người bệnh cũng như bạn đọc có thể sớm phát hiện được dấu hiệu, mức độ của bệnh. Từ đó, có được phương pháp điều trị bệnh hiệu quả, nhanh chóng, tránh tình trạng bệnh biến chứng nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến tính mạng của bản thân.

    Bệnh giang mai hình thành do sự tấn công của một xoắn khuẩn nhạt màu có tên khoa học là Treponema pallidum gây ra. Bệnh chủ yếu lây truyền qua con đường tình dục không an toàn, ngoài ra giang mai còn lây truyền qua tiếp xúc vết thương hở trên người bệnh, lây truyền qua đường máu, lây truyền từ mẹ sang con.

    Mọi người đều có nguy cơ mắc bệnh giang mai, trong đó những người có đời sống tình dục phức tạp, gái mại dâm là những đối tượng có nguy cơ mắc bệnh giang mai cao hơn cả đồng thời cũng là nguồn gây bệnh chính cho xã hội.

    Bệnh giang mai nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, bệnh sẽ diễn tiến nặng và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm đến sức khỏe như: viêm loét bộ phận sinh dục, gây bại liệt, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ quan nội tạng, gây vô sinh, hiếm muộn… thậm chí khiến người bệnh tử vong.

    Nữ giới bị giang mai khi đang mang thai có thể phải đối mặt với tình trạng thai ngoài tử cung, sinh non, sảy thai, thai chết lưu hoặc bé sinh ra đời có nguy cơ cao bị viêm màng não, mù lòa bẩm sinh,… Chính vì vậy, việc điều trị bệnh giang mai nên được tiến hành càng sớm càng tốt.

    XEM THÊM:

    Hình ảnh bệnh giang mai qua từng giai đoạn

    Các chuyên gia cho biết, bệnh giang mai diễn tiến qua 3 giai đoạn chính và 1 giai đoạn tiềm ẩn, mỗi giai đoạn lại có những triệu chứng – hình ảnh bệnh giang mai biểu hiện ra bên ngoài khác nhau, cụ thể:

    Giai đoạn sơ cấp – Xuất hiện săng giang mai

    Giang mai có thời gian ủ bệnh trong khoảng 3 – 90 ngày, trong thời gian này người bệnh hoàn toàn không xuất hiện bất kỳ một triệu chứng nào.

    Săng giang mai xuất hiện là triệu chứng đầu tiên của bệnh giang mai sau thời gian dài ủ bệnh. Lúc này, trên cơ thể người bệnh sẽ bắt đầu xuất hiện các vết loét, nốt đỏ hình ô van hoặc bầu dục, nông, nhẵn và hoàn toàn không gây đau đớn hay ngứa ngáy, không có mủ.

    Các dấu hiệu săng giang mai xuất hiện trong khoảng 3 – 6 tuần thì tự biến mất mà không cần điều trị khiến nhiều người lầm tưởng bệnh đã tự khỏi, nhưng thực chất lúc này xoắn khuẩn giang mai đang phát triển âm thầm, ăn sâu vào máu và diễn tiến sang giai đoạn khác.

    Các săng giang mai biến mất được khoảng vài tuần thì trên cơ thể người bệnh giang mai bắt đầu xuất hiện các nốt ban màu đỏ hoặc thâm tím, rải rác ở khắp các vùng da trên cơ thể, đặc biệt là ở lưng, bụng, vùng bẹn, cánh tay, cánh chân,… Phát ban này thường không đau, không ngứa và có một số dấu hiệu kèm theo như: mệt mỏi, chán ăn, đau nhức xương khớp.

    Những dấu hiệu này có thể tự biến mất trong khoảng vài tuần hoặc tái đi tái lại nhiều lần trong vòng 1 năm.

    Giai đoạn 3 – Giai đoạn tiềm ẩn

    Bệnh giang mai nếu không được điều trị sớm và đúng cách sẽ chuyển sang giai đoạn tiềm ẩn.

    Đúng như tên gọi, ở giai đoạn này người bệnh giang mai hầu như không còn bất kỳ dấu hiệu nào, các hình ảnh của bệnh giang mai không biểu hiện ra bên ngoài, nhưng các xoắn khuẩn giang mai bên trong cơ thể lại vẫn đang tồn tại và phát triển ngày một nhanh chóng, gây tổn thương đến nhiều cơ quan trong cơ thể: hệ thần kinh, tim mạch, hệ cơ, xương, nội tạng,… khiến việc điều trị bệnh vô cùng khó khăn.

    Giai đoạn cuối – Giai đoạn biến chứng nguy hiểm

    Sau 2 – 40 năm kể từ ngày xoắn khuẩn giang mai xâm nhập vào cơ thể, người bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn cuối. Thời gian bệnh chuyển sang giai đoạn cuối tùy thuộc vào cơ địa và tình hình sức khỏe của người bệnh.

    Xuất hiện gôm giang mai, củ giang mai là triệu chứng điển hình nhất của bệnh giang mai giai đoạn cuối. Gôm giang mai rất dễ vỡ nhưng khó lành, khi vết thương khô sẽ đóng vảy và để lại sẹo. Củ giang mai thường có hình cầu, màu đỏ mận, có thể ngả tím với kích thước khoảng bằng hạt ngô.

    Gôm, củ giang mai xuất hiện báo hiệu tình trạng bệnh giang mai đã vô cùng nghiêm trọng, các xoắn khuẩn giang mai có thể tàn phá thậm chí ăn mòn cấu trúc nội tạng của người bệnh đồng thời làm tăng nguy cơ người bệnh mắc: giang mai thần kinh, giang mai tim mạch,.. Sau đó, bệnh tiếp tục biến chứng gây mù lòa, bại liệt, tâm thần, thậm chí là tử vong.

    BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ:

    Cdc: https://www.cdc.gov/std/syphilis/images.htm

    Gettyimages: https://www.gettyimages.com/photos/syphilis

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Triệu Chứng Của Bệnh Lậu Và Giang Mai
  • Dấu Hiệu Của Bệnh Giang Mai Ở Lưỡi Và Cách Điều Trị
  • Bệnh Giang Mai Ở Lưỡi Dấu Hiệu Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Biểu Hiện Và Triệu Chứng Của Bệnh Lậu, Giang Mai
  • Bệnh Lậu Giang Mai, Triệu Chứng Dễ Nhận Biết
  • Phân Biệt Dấu Hiệu Nhận Biết Của 6 Thì Lớp 7 Thí Điểm Phan Loai Dau Hieu Nhan Biet Cua Cac Thi Sau Docx

    --- Bài mới hơn ---

  • (Cách Nhận Biết) Các Thì Trong Tiếng Anh Thông Dụng (Full)
  • 10 Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Alzheimer
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Alzheimer Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Ý Nghĩa Chỉ Số Xét Nghiệm Amh Trong Sức Khỏe Sinh Sản Của Phụ Nữ
  • Những Dấu Hiệu Bị Trĩ Nội
  • last September three times when I was a child never five weeks ago

    twice once last winter ever already

    one hour ago so far for since before

    yesterday last week yet many times several times

    last month up to now up to psent last year every day

    often at the moment tomorrow usually at 7 am tomorrow

    sometimes next week at this time tomorrow seldom always

    Look! at psent at the moment never at this moment

    next week every night next year at this time right now now

    next month every morning

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc As Soon As Trong Tiếng Anh Và Cách Sử Dụng A
  • Dấu Hiệu Anh Ấy Thích Bạn Thật Lòng 99%
  • 10 Dấu Hiệu Cho Thấy Anh Ấy Yêu Thầm Bạn
  • 8 Dấu Hiệu Chứng Tỏ Anh Ấy Yêu Say Đắm Bạn
  • 5 Dấu Hiệu Đàn Ông Hết Yêu Mà Bạn Có Thể Tinh Ý Nhận Ra Trước Khi “bị Đá”
  • Ngua Thai Va Pha Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Tránh Thai Bằng Các Biện Pháp Nhân Tạo Thì Có Phạm Tội Không?
  • Ngừa Thai Bằng Phương Pháp Rào Chắn Dành Cho Nữ
  • Các Màng Chắn Ngừa Thai
  • Luận Văn So Sánh 2 Phương Pháp Định Lượng Berberin Nguyên Liệu Bằng Hplc Theo Dược Điển Trung Quốc (2005)
  • Đồ Án So Sánh Hai Phương Pháp Định Lượng Berberin Nguyên Liệu Bằng Hplc Theo Dược Điển Trung Quốc (2005) Và Bằng Đo Quang Phổ Hấp Thụ Uv
  • Vấn

    Nạn Ngừa Thai Và Phá Thai

    Lm.

    Trần Mạnh Hùng, DCCT

     

    Prepared

    for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

    Ngừa

    Thai (Phần I)

    Việc

    Ngừa Thai trong Thế Kỷ 20

     

    Bài

    viết sau đây xin được hân hạnh gởi đến quí vị độc giả

    như một đóng góp khiêm tốn, trong công cuộc không ngừng

    tìm kiếm những câu trả lời, một cách nào đó gọi là

    lý, đầy hóc búa, có tính cách éo le và đầy cam go, đôi

    lúc dường như cảm thấy tắt nghẽn, không lối thoát đối

    với một số Ki-tô hữu hôm nay. Ðề tài mà tôi mạo muội

    xin được đề cập trong những bài viết tiếp nối liên tục,

    hy vọng sẽ được ra mắt và cống hiến cùng quí vị độc

    giả trong thời gian sắp tới, đó chính là vấn đề “ngừa

    thai” và “phá thai”. Ước mơ và hy vọng nhỏ bé

    lại lợi ích thực tiễn cho quí độc giả, nhất là đối

    với những cặp vợ chồng đang gặp phải khó khăn trong vấn

    đề điều hòa sinh sản, ngõ hầu họ có được những thông

    tin cần thiết và sau khi đã cùng nhau bàn thảo cẩn thận, họ

    có thể đi đến quyết định với một lương tâm ngay thẳng,

    hạn định số con cái mà cả hai mong muốn cho ra đời, nhờ

    đó họ sẽ ra sức kiến tạo và xây dựng hạnh phúc gia

    đình một cách tốt đẹp hơn.

    khuôn khổ nội dung của bài viết và để cho quí vị độc giả

    vấn đề ngừa thai – nên tôi xin được chia bài viết ra làm

    5 phần như sau:

    1.

    Việc ngừa thai trong thế kỷ 20 (phần I)

    2.

    Phản ứng của giới thần học gia đối với Humanae Vitae (phần

    II)

    3.

    Việc đánh giá Luân Lý những phương pháp ngừa thai nhân

    tạo (phần III)

    4.

    Ngừa thai nhân tạo và tự nhiên: những cách thức, kỹ

    thuật khác nhau ra sao? (phần IV)

    5.

    Bất đồng có trách nhiệm về Giáo Huấn của Giáo Hội (phần

    V – kết thúc bài viết)

     

    Phần

    Dẫn Nhập

    Thông

    thường thì chúng ta vẫn nghĩ rằng, mục đích của hôn nhân

    thì nó gắn liền với mục đích của tình yêu tình dục. Tuy

    là như thế nhưng có lẽ, chúng ta cần phải phân biệt, vì

    chưng chúng không nhất thiết lại là đồng nhất với nhau.

    Ðời sống hôn nhân không chỉ có mục đích duy nhất là sinh

    sản con cái – như vẫn thường được quan niệm trước đây -

    tỷ dụ như quan điểm của Thánh Âu-tinh. Nhưng trong thực tế,

    nó còn có những mục đích khác, chẳng hạn như việc giáo

    dục con cái hay là sự nâng đỡ mật thiết giữa hai vợ

    chồng:

    “Tự

    bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu lứa đôi

    qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp

    đỉnh hoàn thành hôn nhân. Như thế bởi, bởi giao ước hôn

    nhân, người nam và người nữ “không còn là hai, nhưng

    là một xương thịt” (Mt 19:6), phục vụ và giúp đỡ lẫn

    nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành

    động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất

    với nhau mỗi ngày mỗi đầu đủ hơn. Sự liên kết mật

    thiết vẫn sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi

    ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín

    và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly.” (Trích

    Công Ðồng Va-ti-ca-nô II, trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội

    trong thế giới hôm nay, Gaudium et Spes số 48).

    Cho

    nên, chúng ta thấy rằng: một trong những mục đích khác của

    đời sống hôn nhân là sự tương trợ lẫn nhau trong một

    cách thức rất cụ thể được thể hiện ngang qua cuộc sống

    hằng ngày, ví dụ như chăm lo săn sóc cho nhau, đặc biệt khi

    đau yếu, đây cũng là một hình thức biểu lộ sự yêu

    thương của tình nghĩa vợ chồng, song song với việc chăn gối.

    Nói cách khác, đời sống và mục đích của hôn nhân không

    chỉ hạn hẹp trong việc sinh sản và các hành động hợp giao.

    Do

    vậy, ta phải công nhận đã có sự tiến triển trong nhận

    thức của Giáo Hội về mục đích của việc giao hợp trong

    cuộc sống vợ chồng. Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, phần

    lớn do chịu ảnh hưởng liên tục từ các suy tư và quan

    điểm thần học của thánh Augustinô. Các tư tưởng này khá

    phổ biến vào những thời điểm trên, cho nên ý kiến của

    các nhà thần học, lúc bấy giờ, vốn cho rằng cặp vợ

    chồng khi họ giao hợp mà không có ý truyền sinh, nhưng chỉ

    vì muốn tìm lạc thú hay sử dụng việc đó như là phương

    thế để ngăn ngừa sự ngoại tình, thì mắc tội nhẹ. Cũng

    vậy, việc giao hợp trong thời gian người phụ nữ có kinh hay

    đang thai nghén đều bị cấm chỉ, xét về mặt luân lý bởi

    khả năng truyền sinh lúc đó chắc chắn đã bị loại trừ.

    Những

    huấn lệnh như trên, may thay đã được bãi bỏ từ lâu.

    Trên thực tế, vào giữa thế kỷ XIX, chúng ta có thể xác

    định ba giai đoạn triển khai lập trường chính thức của Giáo

    Hội về mục đích riêng biệt của sự giao hợp.

    1.

    Ðầu tiên, cặp vợ chồng được khuyến cáo là phải có ý

    định truyền sinh cách tích cực trong việc giao hợp;

    2.

    Sau đó họ được đề nghị rằng những mục tiêu khác mà

    việc giao hợp nhắm đến đều được luân lý chấp nhận bao

    lâu họ không tích cực loại trừ ý định truyền sinh, đặc

    biệt bằng những phương cách tránh né, chận ngang hoặc ngăn

    ngừa việc thụ thai trong khi giao hợp;

    3.

    Sau cùng, giáo huấn nhìn nhận rằng trong một vài trường

    hợp, cặp vợ chồng được phép giao hợp cách hợp với

    Luân Lý, với ý định và ý muốn ngừa thai cách minh nhiên.

    Nhưng họ không được trực tiếp hay cố ý ngăn chận hoặc

    can thiệp vào khả năng thụ thai của việc giao hợp. Nói cách

    khác, trong giai đoạn tiến trình thứ ba này của giáo huấn

    Hội Thánh, luân lý thừa nhận cách minh nhiên, việc kiêng

    giao hợp có định kỳ, như ta sẽ tìm hiểu sâu xa hơn, việc

    này không được thông báo cách chính thức cho tới giữa

    thế kỷ 20 này. Tuy nhiên, chuẩn nhận việc kiêng cữ có

    thời hạn này có nghĩa cho phép vì những lý do chính đáng,

    vợ chồng có thể chủ động chỉ giao hợp với nhau vào

    những lúc mà người vợ cảm thấy hay nhận biết mình không

    thể thụ thai. Việc kiêng cữ giao hợp trong thời kỳ người

    vợ có thể mang thai được xem như một phương pháp ngừa thai

    tự nhiên, trong khi dứt khoát loại trừ việc triệt sản,

    nghĩa là tất cả mọi cố gắng khác nhằm ngăn chận tiến

    trình truyền sinh trong khi giao hợp vốn bị xem như những hình

    thức ngừa thai nhân tạo.

    Trong

    loạt bài này chúng ta tập chú vào giáo huấn của Giáo Hội

    Công Giáo về vấn đề ngừa thai và một vài vấn nạn khác

    hằng duy trì lập trường là mọi hành vi tính giao phải mở

    ngỏ cho việc truyền sinh; cho nên Giáo Hội cấm chỉ việc sử

    dụng những phương pháp gọi là ngừa thai nhân tạo, trong khi

    chuẩn nhận hết mình việc thực hành tuân theo các chu kỳ sinh

    học tự nhiên nơi cơ thể người nữ, vốn được xem như

    những cách thức kế hoạch hóa gia đình theo phương pháp tự

    nhiên.

    Do

    vậy, giáo huấn Hội Thánh Công Giáo khác biệt với huấn

    dụ của của các Hội Thánh Ki-tô giáo khác, vốn chỉ đòi

    buộc rằng: các chiều kích truyền sinh và thông hiệp tình yêu

    của tính dục được giữ lại trong nguyên tắc, chứ không

    phải trong từng hành vi của việc giao hợp. Quan điểm này,

    nhìn nhận người chồng và người vợ chỉ truyền sinh từ

    và trong mối thông hiệp tình yêu của họ cho nhau, và họ sẽ

    đi vào sự hiệp nhất tình yêu để trở nên một thân xác

    không phải vì một cách ích kỷ, nhưng là với tình yêu cho

    nhau, bởi vì người này đều mong ước người kia trở nên

    cha hoặc mẹ của đứa con thân thiết sắp có của mình.

    lẽ đó, tôi sẽ cố gắng trình bày những tư tưởng trên

    theo tiến trình như sau:

    1.

    Quan điểm chính thức của Giáo Hội về vấn đề ngừa thai

    được trình bày – đan xen nhau – trong những văn kiện chủ

    chốt được ban hành ở thế kỷ 20.

    2.

    Phân tích một vài giải đáp cho lập trường Giáo Hội, đặc

    biệt được trình bày trong Thông điệp Humanae Vitae (Sự Sống

    Con Người).

    3.

    Thử cố gắng đánh giá về mặt Luân Lý – phương pháp

    ngừa thai nhân tạo – theo như sự phê bình của một vài nhà

    thần học luân lý về thông điệp Humanae Vitae;

    4.

    Phê bình về những phương cách hoặc kỹ thuật và phương

    pháp tự nhiên về kế hoạch hóa gia đình;

    5.

    Sau cùng, chúng ta xem thử về khả năng gây bất đồng ý

    kiến nêu lên từ giáo huấn chính thức của Giáo Hội.

     

    Phần

    I:

    Việc

    Ngừa Thai trong Thế Kỷ 20

     

    Nhằm

    cố gắng tìm hiểu lập trường hiện nay của Giáo Hội Công

    Giáo Rô-ma về vấn đề ngừa thai, tôi xin phép được bắt

    đầu bằng việc nhìn lại bốn văn kiện chính thức của Giáo

    Hội đề cập đến vấn đề này trong thế kỷ 20. Trước hết,

    ta cần xác định với nhau là chính việc “ngừa thai”

    đã được hiểu như bao hàm tất cả mọi phương cách nhằm

    hạn chế số trẻ sinh ra, ngay cả phá thai hằng được xem như

    là một phương pháp ngừa thai, nhưng trong thực tế thì không

    phải như vậy. Ngừa thai, cho dẫu mang hình thức triệt sản

    bán vĩnh viễn hay tạm thời, đều bao hàm mọi và từng hành

    vi tiến hành nhằm vào việc ngăn ngừa sự thụ thai, trong khi

    “phá thai” là hành vi được tiến hành khi người

    nữ đã thụ thai rồi. Như hai thực tế khác nhau, ngừa thai

    và phá thai kéo theo những vấn đề và vấn nạn luân lý

    khác nhau, như chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu sau này. Vậy bây

    giờ, ta thử xem giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo quan niệm

    như thế nào về vấn đề ngừa thai.

     

    1.

    Ðức Pi-ô XI và Thông Ðiệp Casti Connubii

    Chính

    Giáo Hội Công Giáo Rô-ma ngày nay, thường hay bị chỉ trích

    gay gắt về lập trường cũng như giáo huấn của Giáo Hội

    suy nghĩ hiện nay, ta vẫn thường có khuyng hướng tin rằng cho

    đến thế kỷ 20, các Hội Thánh Ki-tô Giáo, cách chung, thừa

    nhận là việc ngừa thai là mối nguy hiểm đe dọa đến thể

    chế hôn nhân. Dẫu vậy, vào năm 1930, sau những cố gắng

    bất thành vào các năm 1908 và 1920, Hội Ðồng Giám Mục Anh

    Giáo họp tại Lambeth, đã dè dặt thừa nhận cho phép ngừa

    thai đối với các cặp vợ chồng theo Anh Giáo. Theo nghị quyết

    tháng 8 năm đó, các giám mục Anh Giáo trong khi bãi bỏ sự

    cấm chỉ tuyệt đối việc ngừa thai, tuy nhiên, các ngài đã

    kêu gọi đến sự nhạy cảm của các tín hữu vốn hằng

    biết tự chủ đúng mực :

    Dẫu

    sao còn đó cách minh nhiên, bổn phận luân lý trong việc hạn

    chế số con sẽ được sinh ra, hầu có thể có đầy đủ khả

    năng – tinh thần cũng như vật chất – để nuôi nấng và giáo

    dục con cái cho tốt đẹp. Cho nên cách thức ngừa thai như

    thế nào thì vẫn cần dựa trên những nguyên tắc luân lý

    căn bản của đạo Ki-tô Giáo. Phương pháp tiên thiên và

    hiển nhiên đó là kiêng cữ hoàn toàn việc giao hợp (bao

    lâu còn thấy cần thiết) trong cuộc sống tự chủ và có kỷ

    luật được Thần Khí Chúa thúc đẩy. Tuy nhiên, trong những

    trường hợp cảm thấy cần có bổn phận luân lý phải hạn

    chế hay tránh mang thai, và khi có lý do chấp nhận được về

    mặt luân lý nhằm tránh sự kiêng cữ hoàn toàn, Hội

    Ðồng Giám Mục Anh Giáo cho phép sử dụng những phương pháp

    khác nữa, miễn sao phù hợp cũng cùng những nguyên tắc

    của đạo Chúa Ki-tô. Hội đồng đó cũng lên án gắt gao

    việc sử dụng bất cứ các phương pháp ngừa thai nào, chỉ

    nhắm đến những mục tiêu vị kỷ, dâm ô, hay tương tự như

    thế.

    Ðể

    phản ứng lại, hay ít ra cũng phần nào như thế, đối với

    giáo huấn đã bị xét lại và sửa đổi của bên Anh giáo,

    Ðức Pi-ô XI, vào tháng 12 năm 1930, đã phổ biến thông

    điệp Casti Connubii, trong đó giáo huấn truyền thống của Giáo

    Hội Công Giáo về việc ngừa thai vẫn được dứt khoát duy

    trì. Trong thông điệp, Ðức Giáo Hoàng nêu dẫn một số

    điểm quan trọng:

    a)

    Ngài bảo vệ thể chế hôn nhân chống lại những lạm dụng

    của chủ thuyết “tự do luyến ái” vốn đang lan tràn

    phổ biến trên thế giới;

    b)

    Ngài phủ nhận quan điểm cho rằng người phụ nữ cần

    được giải thoát khỏi cái “ách nô dịch” từ phía

    con cái, trong đó bao hàm cái cảm thức cho rằng có con có

    cái thì trở thành gánh nặng cho cuộc sống hơn là ý nghĩa

    được chúc phúc.

    Xét

    đến vấn đề riêng của tính dục hôn nhân, Casti Connubii rõ

    rệt nêu lên hai mục đích của việc giao hợp, một mục đích

    chính và một mục đích phụ như sau: “… Hành vi giao hợp

    tiên thiên theo bản tính phải nhắm đến việc có con… (nhưng)

    do quyền lợi trong đời sống hôn nhân, cũng còn có những

    mục đích phụ nữa, như trợ giúp lẫn nhau, chăm sóc tình

    yêu đôi lứa, và việc làm dịu cơn thèm khát xác thịt mà

    chồng và vợ không bị cấm đoán xét đến bao lâu họ vẫn

    tuân thủ mục đích đầu tiên và bao lâu mà bản chất nội

    tại của hành vi đó vẫn được gìn giữ vẹn toàn”.

    Trong mạch văn đó, điểm nêu dẫn trên cho rằng bất cứ

    lúc nào giao hợp, họ phải tiến hành “sao cho hành vi

    không được tự ý tránh né khả năng tự nhiên dẫn đến

    sự sinh sản,” do vậy ta phải đối diện với sự vi phạm

    đến điều luật của tự nhiên và của Thiên Chúa, “và

    ai vi phạm thì không thể không mắc tội nặng.”

    Trong

    khi ngăn cấm sự tự ý ngăn ngừa khả năng sinh sản của

    hoạt động tính giao, thông điệp không chỉ danh rõ rệt những

    hình thức ngừa thai riêng biệt nào bị ngăn cấm. Dẫu vậy,

    cách chung, vào lúc đó, theo như Noonan từng nhận xét, thì

    cách thức mà hầu như các nhà thần học ám chỉ đến, khi

    đề cập đến ngừa thai, đó là tội Ô-năng (onanism). Tội

    mà Ô-năng đã phạm là sự từ chối tuân thủ luật hôn

    nhân của Lê-vi-ra trong Cựu Uớc (x. Ðệ Nhị Luật 25, 5 – 6),

    theo đó người đàn ông phải buộc lo sao cho người anh của

    mình có hậu duệ nối dõi tông đường, khi người này chết

    mà chưa có con cái. Trong trường hợp của Ô-năng, anh ta

    đã “ăn ở” với chị dâu của mình tên là Ta-ma,

    nhưng mỗi lần ăn ở, “anh ta đều trút tinh trùng của

    mình trên đất”, do vậy mà Ðức Ya-vê đã khiến anh

    phải chết (Kn 38, 6 – 10).

    Do

    vậy tội ô-năng nhằm ám chỉ hành vi giao hợp giữa chừng,

    qua đó dương vật được rút ra khỏi âm hộ trước lúc

    xuất tinh, nhưng trong lãnh vực từ ngữ thần học trước khi

    xuất hiện thông điệp Casti Connubii, thì tội này lại có ý

    nghĩa rộng hơn nữa. Ngoài nghĩa giao hợp giữa chừng theo sau

    sự xuất tinh, nó còn bao hàm tất cả những hành vi tính giao

    khác có nhắm đến việc ngăn chận sự truyền sinh bằng

    những phương tiện tích cực như đặt vòng xoắn, màng bao cổ

    tử cung, hoặc việc sử dụng hóa chất để tránh mang thai.

    Và rồi theo suy luận của Noonan, nếu ta đọc kỹ thông điệp

    thì có lẽ còn cho thấy có việc cấm đoán cả hai hành vi,

    đó là việc giao hợp giữa chừng và sử dụng “bao cao

    su” (condom – từ ngữ chuyên môn bằng Anh ngữ được sử

    dụng là: Prophylactic), trong khi giải thích rộng hơn nữa thì

    còn phải cấm thêm việc lau rửa sau lúc giao hợp, cũng như

    cấm đặt các màng chắn và những dụng cụ khác mà sau này

    được gọi là “những phương pháp ba-ri-e” nhằm ngăn

    chận sự thụ thai.

     

    2.

    Ðức PI-ô XII ngỏ lời với Hiệp Hội Những Cô Ðỡ Công

    Giáo người Ý

    Năm

    1951, Ðức Pi-ô XII lần đầu tiên công bố cách chính thức

    và minh nhiên thừa nhận cho phép thực hành sự kiêng cữ

    định kỳ, qua đó vợ chồng tránh việc giao hợp với nhau khi

    người nữ có thể thụ thai và do vậy chỉ giao hợp vào

    những giai đoạn không thể thụ thai tính theo chu kỳ kinh nguyệt

    nơi người vợ. Trong buổi nói chuyệ�n với giới cô đỡ

    người Ý, Ðức Pi-ô XII minh nhiên cho rằng vợ chồng phải

    có lý do chính đáng để giới hạn việc giao hợp vào

    những lúc người ta có thể phỏng đoán việc thụ thai không

    thể xảy ra. Ngài nêu ra các đánh giá về phương diện y học,

    ưu sinh học, xã hội và kinh tế, như là những cơ sở khả

    dĩ có thể biện minh luân lý cách xứng hợp cho việc thực

    hành này nơi các cặp vợ chồng. Ngài cũng nhìn nhận là

    những dấu chỉ y khoa, ưu sinh, kinh tế-xã hội như trên,

    dường như thuộc về bản tính tự nhiên bảo đảm cho việc

    thực hành sự tiết dục định kỳ như vậy trong cuộc sống

    hôn nhân. Khi nhấn mạnh đến lý do chính đáng để giới

    hạn việc chỉ giao hợp vào những thời gian không thể thụ

    thai đó, thì Ðức Pi-ô XII cũng lên tiếng nêu rõ việc vợ

    chồng có thể hành xử cách vô trách nhiệm và do vậy bất

    xứng cách luân lý khi giới hạn sinh hoạt tình dục của họ

    như vậy.

    Dẫu

    vậy, dựa trên sự phán đoán hữu lý và công bằng, nếu

    không có những lý do cá nhân đủ nghiêm chỉnh, hoặc những

    lý do đủ thuyết phục xuất phát từ những hoàn cảnh ngoại

    tại, thì ý định thường xuyên tránh né kết quả đẹp đẽ

    của việc hiệp nhất (tính giao), trong khi đồng thời tiếp tục

    hoàn toàn thỏa mãn tình tư dục, là một hành động không

    thể chấp nhận. Hành vi như thế chỉ có thể phát xuất từ

    sự đánh giá sai lầm về cuộc sống (hôn nhân) và từ

    những lý lẽ chống lại những tiêu chuẩn đích thực của

    hành vi luân lý. (Ðức Pi-ô XII ngỏ lời với giới cô

    đỡ người Ý năm 1951).

    Nhận

    định sau cùng về bài nói chuyện trên của Ðức Pi-ô XII là

    một khi phương pháp tiết dục định kỳ hoặc ngừa thai theo chu

    kỳ kinh nguyệt của phụ nữ, hoặc việc kế hoạch hóa gia

    đình cách tự nhiên được thừa nhận hợp pháp cách luân

    lý như vậy, ta cũng phải xác quyết rằng vợ chồng có thể

    được phép cách luân lý giao hợp với nhau mà không cần

    phải có ý định hay ý muốn cách minh nhiên là phải có con

    với nhau. Cho rằng vợ chồng có đủ lý do chính đáng để

    không muốn truyền sinh, mỗi khi họ giao hợp với nhau, do vậy

    bật ra câu hỏi khơi gợi chú ý: liệu việc tiết dục định

    kỳ chỉ là phương thế Luân Lý duy nhất cho vợ chồng để

    tránh thai thôi sao? Như chúng ta sẽ thấy, tranh luận xoay quanh

    câu hỏi này, theo ý nghĩa nào đó, đã đạt tới cao điểm

    của thập niên 60 vừa qua.

     

    3.

    Công Ðồng Vatican II và hôn nhân gia đình

    Năm

    1965, kết thúc khóa họp khoáng đại thứ tư và sau cùng,

    Công Ðồng Vatican II đã phổ biến Hiến Chế Mục Vụ về Giáo

    Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes), trong đó liệt kê

    nhiều điểm quan trọng về hôn nhân Ki-tô giáo và ý nghĩa

    nồng cốt:

    (1)

    Như một “cộng đồng tình yêu (#47), cộng đồng thân thiết

    thông chia cuộc sống và tình yêu” (#48). Hôn nhân cùng

    phản ánh lẫn thông dự vào giao ước tình yêu nối kết

    Ðức Ki-tô với Giáo Hội của Ngài. Vẻ tốt đẹp đầy ý

    nghĩa của cuộc sống gia đình Ki-tô hữu nằm trong mối kỳ

    vọng là “qua tình yêu san sẻ giữa vợ chồng dẫn đến

    sự quảng đại và sinh hoa kết trái nơi họ. Cũng như qua sự

    hiệp nhất và chung thủy với nhau và qua cuộc sống yêu

    thương mà mọi thành viên trong gia đình đối xử với nhau”,

    thì Ðức Ki-tô vốn hằng hiện diện sống động nơi dương gian

    này có thể tỏ hiện rõ nét cho mọi người (#48).

    (2)

    Việc ăn ở với nhau nhằm diễn tả tình yêu phu-phụ (vợ

    chồng) được xem như một giá trị thiết yếu nhưng lại độc

    lập với việc sinh con. Những hành vi yêu thương này được

    đánh giá là “cao thượng” và “xứng hợp”,

    và trong cách diễn tả thuần túy nhân loại, những hành vi

    này “đem lại ý nghĩa và thăng tiến cho sự tự hiến

    hỗ tương, khiến cho vợ chồng làm giàu cho nhau bằng một ý

    chí tươi vui và cảm tạ” (#49).

    (3)

    Tuy nhiên đồng thời, tình yêu vợ chồng không tách rời

    khỏi bổn phận truyền sinh cũng như việc giáo dục con cái.

    Chính cuộc hôn nhân cũng như tình yêu vợ chồng, cả hai

    “đều được phối hợp cho sự truyền sinh và giáo dục

    con cái, và tìm thấy qua những phận vụ này triều thiên cao

    cả nhất của mình” (#48). Hơn nữa, con cái là ân huệ cao

    quý nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến

    tạo hạnh phúc của cha mẹ” (#50).

    (4)

    Khi vợ chồng thực hành có hiệu quả khả năng truyền sinh

    của mình, thì họ đạt đến sự vui hưởng, theo một cách

    thế nào đó, vào công trình sáng tạo của chính Thiên Chúa.

    Khi cẩn thận nêu ra vị trí của con cái trong cuộc sống hôn

    nhân, Gaudium et Spes khuyến dụ, “dù không nên xem nhẹ giá

    trị của các mục đích khác của hôn nhân… cha mẹ cần xem

    như sứ mệnh riêng biệt của mình trong bổn phận truyền sinh

    và giáo dục những kẻ đã được trao phó cho mình”

    (#50). Về điểm này, ta cần ghi nhận là văn kiện đã dứt

    khoát từ chối sử dụng hạn từ truyền thống vốn so sánh

    việc phân chia “cấp trật của các mục đích hay mục tiêu”

    theo đó thì sự truyền sinh và giáo dục con cái được xem

    như mục đích đầu tiên của hôn nhân và tính dục vợ

    chồng, trong khi đó – phận sự biểu lộ và nuôi dưỡng tình

    yêu giữa vợ chồng với nhau – lại trở thành mục đích

    thứ nhì của hôn nhân.

    Theo

    các chuyên gia giám sát và theo dõi diễn tiến Công Ðồng

    Vatican II về mặt soạn thảo văn kiện cho biết: đã có nhiều

    đề nghị tu chính bản văn, đòi tái đem vào ý tưởng về

    “cấp trật mục đích” cốt để phân biệt những mục

    đích, mục tiêu chính và phụ. Tuy nhiên những đề nghị sửa

    đổi này đều bị bác bỏ, trong đó có đề nghi rõ rệt như

    sau “tình yêu phu-phụ được sắp đặt cho mục tiêu chính

    của hôn nhân, đó là việc sinh con nối dõi dòng họ”. Do

    vậy, hôn nhân và tính dục vợ chồng được xem là có hai

    mục đích, nhưng các nghị phụ Công đồng từ chối đánh giá

    về tầm quan trọng của các mục tiêu này, tránh cho cái nào

    là chính cái nào là phụ.

    (5)

    Vợ chồng mang trọng trách sinh sản và giáo dục con cái “với

    đầy đủ trách nhiệm trong tư cách con người và Ki-tô hữu”.

    Trong việc tổ chức cuộc sống gia đình, vợ chồng cần quan

    tâm đúng mức đến hạnh phúc của riêng họ cũng như của

    con cái, những đứa đã được sinh ra và cả những đứa

    sắp sinh. “Bậc làm cha mẹ có trách nhiệm – có nghĩa vợ

    chồng” cần dự trù các điều kiện cả hai mặt vật chất

    lẫn tinh thần về số con cũng như hoàn cảnh sống của chúng”.

    Tóm lại vợ chồng “phải tham khảo những lợi ích của

    cộng đồng gia đình, xã hội hiện nay và của chính Giáo Hội

    nữa.” Cha mẹ nào phải chăm sóc một gia đình tương đối

    đông đúc cần được quan tâm đặc biệt, họ được nhắc

    bảo đến bổn phận phải nuôi dạy con cái của họ “cho

    xứng hợp,” do vậy khi quyết định có đông con, họ nên

    khôn ngoan bàn thảo với nhau trước” (#50).

    Như

    đoạn trích dẫn trên cho thấy, Giáo Hội Công Giáo không

    chống lại việc cha mẹ sinh sản có trách nhiệm và có kế

    hoạch. Gaudium et Spes không đề cao việc sinh sản bừa bãi

    khiến không thể giáo dục con cái đàng hoàng. Do vậy đối

    với vợ chồng, là người Ki-tô hữu, làm cha mẹ có trách

    nhiệm bao hàm ba việc: (1) họ cần hành xử mở ngõ cho việc

    sinh sản; (2) cần chăm sóc đúng mức con cái đã được sinh

    ra, và sau cùng, (3) khi thấy cần thiết, vợ chồng cần phải

    hạn chế cách xứng hợp khả năng sinh sản của mình. Tuy

    nhiên, cách nào để hạn chế sinh sản thì vẫn còn là đề

    tài bỏ ngõ cho tranh luận.

    (6)

    Về việc quyết định số con sinh ra, “chính cha mẹ phải là

    người quyết định sau cùng, mang trách nhiệm trước mặt Chúa,”

    nhưng họ cần nhận thức là “họ không được tiến hành

    cách tùy tiện được.” Hơn nữa, vợ chồng Ki-tô hữu

    cần quyết định có ý thức trách nhiệm, nghĩa là “họ

    luôn được lương tâm hướng dẫn, một lương tâm phù hợp

    với chính lề luật Thiên Chúa, và họ cần tuân phục huấn

    quyền Hội thánh hằng giải thích một cách chân thật lề

    luật này dưới ánh sáng Tin Mừng” (#50).

    (7)

    Sau cùng, nên thừa nhận việc vợ chồng thường phải “rơi

    vào những cảnh huống này là, ít ra tạm thời, họ cần

    giới hạn số người trong gia đình của họ.” Do vậy để

    chu toàn bổn phận làm cha mẹ có trách nhiệm, họ cần phải

    tiết dục, nhưng điều ấy lại xung đột với ý muốn biểu

    lộ tình yêu vợ chồng của họ về mặt sinh lý. Bị đẩy vào

    trạng huống này, vợ chồng phải đối mặt với hai thực tế:

    trách nhiệm đều ràng buộc họ phải tránh việc thụ thai và

    đồng thời phải duy trì cho bằng được “tình yêu chung

    thủy của họ qua cuộc sống lứa đôi thân mật.” Thất

    bại trong việc duy trì “sự thân mật lứa đôi” là

    mối đe dọa rõ rệt cho tình yêu chung thủy hỗ tương của vợ

    chồng, cũng như có nguy cơ phá vỡ hạnh phúc của những

    đứa con đã sinh ra và làm giảm sút sự can trường và

    quảng đại của cha mẹ trong việc đón nhận những đứa con

    mới. (#51).

    Nhằm

    hướng dẫn vợ chồng trong nỗ lực “hòa hợp tình yêu

    đôi lứa với việc truyền sinh có trách nhiệm,” Gaudium et

    Spes cảnh báo chống lại những giải pháp không xứng hợp

    với chuẩn mực luân lý, được đề ra bởi Giáo Hội. Và

    khuyến dụ họ là đặc tính luân lý của những cách biểu

    lộ tình yêu vợ chồng�, được xác định bằng những tiêu

    chuẩn khách quan có nền tảng dựa trên bản tính của nhân

    vị và những hành vi đó phải “duy trì đầy đủ ý nghĩa

    của sự tự hiến thân cho nhau và sản sinh con cái bằng một

    tình yêu đích thật” (#51).

    Ðiều

    diễn tả tình yêu vợ chồng không thể bị xem xét đơn thuần

    chỉ trên chiều kích sinh học, hay trên phương diện thể lý

    của hành động giao hợp, nhưng đúng hơn phải xét trong mối

    tương quan với toàn thể nhân vị con người, được coi là

    chủ thể của hành động. Thật quá giản lược việc văn

    kiện bắt nguồn từ lý lẽ đã được lặp đi lặp lại

    chống lại sự ngừa thai vốn chỉ nhìn đến cơ cấu sinh học

    của hành vi tính giao được xem xét tách lìa khỏi những yếu

    tố khác, đặc biệt là chủ thể đang thực hiện hành vi đó.

    Tiêu

    chuẩn luân lý tính được xem như có gốc gác nhiều hơn nơi

    bản tính của nhân vị, chứ không phải nơi mục tiêu riêng

    rẽ của từng hành vi riêng biệt. Tỷ dụ như ta không thể

    đánh giá một con người tốt hay xấu ngang qua những hành vi

    riêng biệt của kẻ ấy. Ta thử lấy một ví dụ, có thể hôm

    nay anh ta vì vui chén với bạn bè, nên đã say rượu và có

    lời ăn tiếng nói không hay, nhưng qua hôm sau khi anh ta hết say

    rượu, thì thái độ và cách cử xử của anh ta sẽ khác.

    Các

    nghị phụ Công Ðồng kết thúc phần tranh luận của mình về

    cuộc sống hôn nhân và gia đình bằng cách khuyến khích vợ

    chồng thực tập đức trong sạch hôn nhân, vốn phần nào

    đó có nghĩa là trong khi nhằm hạn chế sinh sản, vợ chồng

    cần tránh các phương pháp “bị Huấn Quyền Giáo Hội cho

    là sai trái vì không phù hợp với lề luật Thiên Chúa”

    (#51). Không thể hướng dẫn người ta được gì thêm bằng

    cách phân biệt giữa những hình thức ngừa thai được

    hoặc không được chấp nhận, nhưng trong phần chú thích văn

    kiện, các nghị phụ giải thích lý do sự im lặng của các

    ngài như sau: “Vài vấn đề cần được xem xét kỹ càng

    hơn nữa, thì theo lệnh Ðức Giáo Hoàng, chúng đã được

    chuyển giao lại cho tiểu ban nghiên cứu về dân số, gia đình,

    và sinh suất, để rồi sau khi hoàn tất sẽ được Ðức Giáo

    Hoàng chuẩn y. Do quá đặt nặng lý thuyết về huấn quyền

    đến như vậy, mà Thượng Hội Ðồng Giám Mục lúc đó đã

    không có ý đưa ra ngay lập tức những giải pháp cụ thể.

     

    4.

    Humanae Vitae và bối cảnh của nó

    Tiểu

    ban đặc biệt giáo hoàng nhằm nghiên cứu vấn đề ngừa thai

    đã được Ðức Giáo Hoàng Gio-an XXIII thiết lập năm 1963;

    một năm sau đó Ðức Giáo Hoàng Phao-lô VI bổ nhiệm thêm

    nhiều nhân vật nữa vào tổ chức này. Cả giáo dân lẫn

    giáo sĩ đếm được từ 60 đến 70 vị, bao gồm giới nghành

    y, các nhà khoa học xã hội, các cặp vợ chồng, Linh Mục,

    Giám Mục, Hồng Y.

    Sau

    khi tiểu ban biểu quyết vào tháng 6 năm 1966, hai bản tường

    trình khác nhau được đệ trình lên Ðức Phao-lô VI; trong

    bản tường trình của nhóm ý kiến thiểu số, có bốn nhà

    thần học ký tên thì những cấm đoán truyền thống về mọi

    hình thức ngừa thai nhân tạo đều được giữ lại; còn

    bản tường trình theo ý kiến số đông bao gồm hầu như toàn

    bộ những thành viên còn lại của tiểu ban thì khuyến cáo

    Giáo Hội nên có thay đổi trong huấn quyền chính thức về

    các phương pháp ngừa thai.

    Tháng

    2 năm 1966, trước khi nhận các bản tường trình, Ðức Giáo

    Hoàng Phao-lô VI ngỏ lời tại Trung tâm Hội Nghị Phụ Nữ

    Quốc Gia Ý. Trong bài phát biểu, Ngài nêu lên tính phức

    trong tiểu ban vốn được đặc biệt triệu tập “với

    nhiệm vụ xem xét những vấn đề này cách sâu xa hơn từ

    nhiều quan điểm – khoa học, lịch sử, xã hội và giáo thuyết

    – với sự cố vấn phong phú của các giám mục và chuyên

    viên.” Khi khuyến dụ thính giả “hãy chờ đợi những

    kết quả của công trình nghiên cứu này…” Ngài lưu ý

    Giáo Hội cần bước đi cẩn trọng và xem xét cẩn thận trong

    nỗ lực giáo huấn cho Dân Thiên Chúa.

    Huấn

    Quyền Giáo Hội không thể đưa ra những chuẩn mực Luân Lý

    mà không bảo đảm là mình đang diễn tả ý Chúa. Ðể đạt

    tới chân lý này, Giáo Hội không buộc phải theo những tìm

    tòi cũng như phải xem xét tất cả những vấn đề do từ

    mọi góc nẻo trần gian đặt ra. Ðôi khi những công việc đó

    đòi hỏi nhiều thời gian và không phải dễ dàng gì.

    Tâm

    tình được giãi bày như trên của Ðức Phao-lô VI cho thấy

    bối cảnh, một khi những khuyến cáo từ bản phúc trình của

    nhóm ý kiến đa số trong tiểu ban giáo hoàng được công bố

    cho công chúng, người ta rất hy vọng chờ mong từ giữa

    lòng Giáo Hội Công Giáo quyết định thay đổi sự cấm đoán

    sử dụng những phương pháp ngừa thai gọi là nhân tạo.

    Liệu Ðức Giáo Hoàng sẽ đáp ứng ra sao đối với những

    gợi ý của tiểu ban? Sự đáp ứng này chỉ xảy ra hai năm

    sau đó khi ngài công bố thông điệp Humanae Vitae (HV: Sự sống

    con người), tháng 7 năm 1968.

    Mở

    đầu Thông Ðiệp, Ðức Phao-lô VI cám ơn Tiểu Ban Giáo Hoàng

    về công tác đã thực hiện, nhưng ngài cho rằng những kết

    luận của phúc trình không thể được xem như có tính quyết

    định được cũng như chúng không thể cho phép cá nhân ngài

    bỏ qua việc xem xét vấn đề cách tường tận hơn nữa. Sau

    đó ngài nhận định là tiểu ban đã “không đạt được

    chuẩn mực luân lý;” hơn nữa, ngài cho rằng trong bản

    phúc trình của tiểu ban, một vài giải pháp đề nghị cho vấn

    đề ngừa thai thực ra đã “vượt quá xa khỏi giáo huấn

    luân lý về hôn nhân mà Huấn Quyền Giáo Hội vẫn hằng

    mạnh mẽ giảng dạy.”

    Sau

    cùng, với niềm xác tín rằng mình đã “chủ động xem

    xét tường tận tất cả thông tin tài liệu” đệ trình

    lên ngài, Ðức Giáo Hoàng, “sau khi cân nhắc, đắn đo

    và cầu nguyện liên lỷ” tuyên bố duy trì là không thể

    có sự thay đổi trong lập trường của Giáo Hội về việc

    chống lại sự sử dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo

    (HV, #6).

    Thông

    Ðiệp đưa ra luận chứng cơ bản như sau: “Mọi và từng

    hành vi trong việc giao hợp phải mở ngõ cho sự truyền sinh (HV,

    #11), vì Thiên Chúa đã muốn “sự nối kết không thể

    phân chia… giữa hai ý nghĩa của hành vi phu-phụ: ý nghĩa

    phối hợp yêu thương và ý nghĩa sinh sản.” Nhờ sự

    kết giao thân mật, “hành vi phu-phụ trong khi hiệp nhất

    chặt chẽ vợ chồng với nhau, khiến họ có khả năng thông

    ban sự sống mới, thể theo những định luật được ghi khắc

    trong tận hữu thể của người đàn ông và đàn bà” (HV,

    #12).

    Do

    vậy, được coi là hành vi “xấu ngay tự bản chất” (HV,

    #14), và “không bao giờ hợp pháp” (HV, #16) cho vợ

    chồng khi giao hợp với nhau mà đồng thời lại toan tính cách

    tích cực có chủ ý ngăn cản khả năng truyền sinh của hành

    vi này. Nghĩa là vợ chồng không được phép dùng phương

    pháp ngừa thai nhân tạo.

    Khi

    phê bình những xác quyết cơ bản của thông điệp, cố thần

    học gia luân lý, Richard McCormick, S.J. nêu nhận xét như sau:

    nội dung chủ yếu của thông điệp là: sự giao hợp giới

    tính “chỉ là hành vi đơn độc với hai khía cạnh hay hai ý

    nghĩa nội tại: hiệp nhất và truyền sinh”; hơn nữa, hai ý

    nghĩa này lại “bất khả phân ly theo sự hoạch định của

    Thiên Chúa”, do vậy bất cứ ai chủ ý làm cho hành vi giao

    hợp không thể thụ thai cũng đều “tấn công vào chính

    ý nghĩa của hành vi vốn là sự biểu lộ của tình tự hiến

    cho nhau.”

    McCormick

    ghi nhận là phân tích như trên là điều không mới mẻ gì,

    nhiều nhà luân lý đã từng phát biểu từ lâu những

    dòng chữ đó, và McCormick thừa nhận rằng: chính ông ta

    trước đây cũng đã từng đưa ra các luận điệu tương

    tự như thế “qua việc loại trừ khả năng cưu mang một

    thai nhi, vốn là dấu hiệu thường trực của tình yêu được

    diễn tả trong sự giao hợp, người ta đã chủ động ngừa

    thai trong hành vi tính giao và do vậy đã tước bỏ dấu hiệu

    đó khỏi hành vi vốn làm cho tình yêu hiệp nhất cách khách

    quan.”

    Nhưng

    sau này, McCormick đã không còn giữ lập trường này nữa.

    Ðồng ý rằng, con cái là hoa quả tình yêu giữa hai vợ

    chồng, được biểu lộ qua hành vi ái ân. Tuy nhiên, nếu

    chúng ta chấp nhận quan điểm này, thì phải nói rằng, có lẽ

    không biết bao nhiêu triệu con người đang có mặt trong thế

    giới ngày hôm nay đã không là kết quả của tình yêu tự

    hiến trong đời sống hôn nhân, nhưng chẳng qua đó chỉ là

    kết trái của một cuộc tri hoan nhằm thỏa mãn tính dục và

    đứa con là kết quả của một sự việc ngoài ý muốn.

    Không biết Giáo Hội nghĩ sao về vấn đề này?

    Theo

    cách thức suy tư hiển lộ trong Humanae Vitae, các ý nghĩa thông

    hiệp và truyền sinh của hành vi tính giao nối kết chặt chẽ

    với nhau đến độ không thể bị phân lìa. Ðiều này có

    nghĩa bất cứ sự can thiệp thể lý có chủ ý nào trên

    một trong hai ý nghĩa thì đều tất yếu kéo theo ảnh hưởng

    phân rẽ hay phân hủy đối với ý nghĩa kia, đến độ ý

    nghĩa luân lý của hành vi tính dục xét như là một tổng

    thể đã bị phá hủy.

    Do

    vậy tính bất khả phân ly của những chiều kích thông hiệp

    và truyền sinh của tình yêu phu-phụ nằm ở cội rễ của

    việc Giáo Hội cấm đoán bất cứ sự giao hợp nào có kèm

    theo chủ ý tích cực ngăn cản sự truyền sinh; đồng thời,

    cần ghi nhận là cùng một luận chứng về tính bất khả phân

    chia của hai chiều kích trong tình yêu phu-phụ, cũng giải thích

    phần lớn việc Giáo Hội chống lại bất cứ sự toan tính

    nào của vợ chồng nhằm có con mà không thông qua con

    đường biểu lộ tình yêu thân mật hỗ tương qua sự giao

    hợp.

    Do

    vậy, Giáo Hội giữ vững lập trường cố hữu chống lại

    chẳng những phương pháp cấy tinh nhân tạo dùng tinh trùng

    người khác, được gọi là Artificial Insemination using a Donor’s

    sperm, viết tắt là (AID) mà ngay cả phương pháp cấy tinh nhân

    tạo nhờ tinh trùng của chồng, được gọi là Artificial

    Insemination using the Husband’s sperm, viết tắt là (AIH) và phương

    pháp thụ tinh trong ống nghiệm IVF (In Vitro Fertilization) theo đó

    cả trứng lẫn tinh trùng đều thuộc của vợ chồng.

     

    Lm.

    Trần Mạnh Hùng, DCCT (Roma)

     

    (Trích

    dẫn từ Ehpata Việt Nam số 64, năm 2002)

    Back

    to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Ngày An Toàn Khi Quan Hệ Để Không
  • Tiêm Thuốc Tránh Thai: Lợi Và Hại
  • 17 Phương Pháp Ngừa Thai Hiệu Quả Và Dễ Thực Hiện Nhất Hiện Nay
  • Tư Vấn Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Sau Sinh
  • Bài 6 : Lươngtâm Công Giáo Và Vấn Đề Điều Hoà Sinh Sàn
  • Mô Hình Var ( Value At Risk)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Chính Hành Vi Và Quản Lý Rủi Ro
  • Quy Trình Tính Vách Cứng Bê Tông Cốt Thép
  • Vốn Bình Quân Gia Quyền (Wacc) Là Gì? Cách Tính Chi Phí Sử Dụng Vốn Bình Quân Gia Quyền – Wacc (File Excel)
  • Wacc Là Gì Và Được Tính Theo Công Thức Nào Chính Xác?
  • Chỉ Số Aqi Là Gì? Và Cách Tính Cụ Thể
  • Giới Thiệu Độ Đo Rủi Ro VaR và Ứng dụng trên TTCK Việt Nam

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Quý nhà đầu tư và bạn đọc thân mến, quản trị rủi ro là một vấn đề không mới khi mà chúng ta đã dần quen thuộc với cụm từ này trong những năm gần đây, dù đây lại là lĩnh vực được quan tâm và triển khai trên thế giới từ lâu. Quản trị rủi ro đang được chú ý hơn đối với lĩnh vực Tài chính Ngân hàng ở nước ta, khi mà các định chế tài chính lớn trong nước đang từng bước nâng cấp hoạt động quản trị rủi ro để tiệm cận gần hơn với tiêu chuẩn chung của Thế giới hiện nay ( Các vấn đề Quản trị rủi ro theo Tiêu chuẩn Basel I, II và III).

    Thực sự chúng ta cũng đang từng ngày giải quyết vấn đề quản trị rủi ro theo những cách khác nhau, với mục đích nắm bắt và phần nào kiểm soát được mức độ thiệt hại nếu rủi ro xảy ra. Chúng tôi xin được giới thiệu đến quý nhà đầu tư và bạn đọc một công cụ có thể giúp chúng ta phần nào tính toán được sự thiệt hại ( tổn thất) trong trường hợp có phát sinh rủi ro trong quá trình đầu tư cũng như trong hoạt động cho vay, đó là công cụ tính VaR ( Value at Risk – Giá trị Rủi Ro). Từ kiến thức chung đến Ứng dụng trong từng trường hợp cụ thể, Công cụ tính toán VaR có thể xác định được mức tổn thất tối đa có thể chạm đến trong từng khung thời gian cụ thể và với một mức độ tin cậy nhất định.

    Mặc dù còn những hạn chế trong kiến thức về Quản trị rủi ro của 

    chúng tôi

    , tuy thế người viết vẫn sẽ cố gắng truyền tải phương pháp tính toán này trở thành một công cụ có ích cho Nhà đầu tư và bạn đọc trong hoạt động giao dịch và hoạt động kinh doanh trên Thị trường chứng khoán.

    TIẾP CẬN KHÁI NIỆM VaR

    Trước khi nói về sự khác biệt, người viết đưa ra một vài ví dụ trực quan lên quan đến biến động P&L (Profit&Loss) của một vài cổ phiếu, biên độ giá, và các giá trị VaR tính toán trên cùng một đồ thị, như sau:

    P&L của cổ phiếu GAS

    P&L của cổ phiếu VCB

    P&L của cổ phiếu VNM

    Đối với các cổ phiếu cơ bản ta thấy rất hiếm trường hợp tăng kịch trần hoặc chạm sàn trong phiên, cụ thể khi quan sát 3 cổ phiếu BCs trên, rất hiếm trường hợp P&L chạm đường biên màu xanh lá cây ( Biên trên 7%) và chạm đường màu đỏ ( Biên dưới -7%).

    Ngược lại, đối với một số cổ phiếu nóng thì tần suất chạm hai biên này sẽ lớn hơn nhiều.

    P&L của cổ phiếu HHS

    Nhà đầu tư và bạn đọc thử quan sát lại các đồ thị một lần nữa, chúng ta luôn thấy có những khoảng cách từ hiệu suất thực tế ( đường P&L) với các đường biên độ giá, trường hợp khoảng cách bằng 0 tức là vị trí những điểm chạm của P&L và đường biên độ giá ( khi mà cổ phiếu tăng trần hoặc là giảm sàn trong phiên). Vậy thì giả dụ nếu biết trước rằng, vào ngày mai cổ phiếu của chúng ta sẽ giảm sàn, thì kế hoạch phân bổ tỷ trọng cổ phiếu và tiền đối ứng của chúng ta sẽ là gì? Tất nhiên kế hoạch an toàn là bán toàn bộ cổ phiếu và duy trì tỷ trọng tiền đối ứng 100% (1- Là để tránh mất thành quả, 2- Là sẵn sàng lượng tiền để mua ở mức giá thấp hơn). Ngược lại, nếu chúng ta biết rõ ngày mai cổ phiếu của chúng ta sẽ tăng trần và chúng ta được phép mua bán T+0, phương án khả thi nhất là chúng ta sẽ mua hết  số tiền đang có trong tài khoản (all in – biến 100% lượng tiền mặt thành cổ phiếu).

    Như vậy, nếu cổ phiếu giảm càng sâu ta cần một lượng tiền đối ứng càng lớn, ngược lại nếu cổ phiếu tăng càng tốt, thì lượng tiền đối ứng càng nhỏ để nhường chỗ cho sự gia tăng khối lượng cổ phiếu. Khoảng cách giữa P&L và các biên thể hiện một sự đối ứng của tiền đối với khối lượng cổ phiếu đang nắm giữ. Khoảng cách của P&L với biên dưới càng lớn, ta cần một lượng tiền đối ứng càng lớn.

    Phần tiền đối ứng cần được duy trì là cách để tránh thiệt hại khi rủi ro xảy ra, nó vừa thể hiện mức độ chịu rủi ro của mỗi cá nhân hoặc tổ chức tham gia thị trường. Động thái sau khi xảy ra rủi ro là bù vào phần đã vay nếu chúng ta đã vay trước đó, hoặc là sẵn sàng tham gia với lượng cổ phiếu lớn hơn nữa ở mức giá thấp hơn để kéo giá mua giảm xuống đối với một đơn vị cổ phiếu. Hay nói cách khác là lượng tiền dự phòng để chúng ta có thể chủ động hơn trong trường hợp rủi ro xảy ra. 

    Đối với cổ phiếu : Nếu giá cổ phiếu VCB phiên này chúng ta tính mức điều chỉnh tối đa 1.92% ( tương ứng mức giá 36.88) với độ tin cậy 95%, và 5% còn lại VCB có thể rớt xuống thấp hơn giá 36.88, thì điều này có thể giúp chúng ta nhiều hơn trong việc cân đối tỷ trọng cổ phiếu hơn là một biến cố chắc chắn rằng, VCB điều chỉnh tối đa 7%( giá sàn 35.00) với độ tin cậy 100%. 

    Đối với chỉ số thị trường: Chúng ta cũng có thể gượng ép để nói chỉ số VN-index cũng có thể mất tối đa 7% trong một phiên ( người viết cho rằng sự kiện này là thảm họa khủng khiếp nếu tất cả các cổ phiếu trên sàn HSX giảm sàn), điều này đúng 100% nhưng đối với chúng ta có vẻ hơi khó tin! Chính vì vậy, một giá trị tổn thất -0.9%, -1.1%, -1.3% trong phiên thì đáng tin hơn đối với chúng ta, đây cũng là mức VaR95, VaR975, VaR99 tính toán được gần nhất ( phiên thứ Năm 13/10/2016). Chúng ta cũng hoàn toàn nói ngược lại rằng, chỉ 5% xác suất xảy ra kịch bản chỉ số thị trường VN-index giảm hơn mức -0.9% ( Nếu điều này xảy ra, thì người viết kịp nghĩ rằng nó khá hiếm bởi vì chỉ 5% trường hợp rớt sâu hơn mức này, vậy thì liệu có nên tham gia quá trình BẮT ĐÁY nếu nó giảm sâu như vậy không? Có thể là đáy lắm chứ!)

    P&L của chỉ số VN-index

    Bởi vì Rủi ro cũng chỉ là một khái niệm của xác suất về những điều mơ hồ

    Bởi vì Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát  nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội

    Và Bởi vì  Rủi ro chỉ là Trò chơi của những kẻ thống trị

    Giới Thiệu Độ Đo Rủi Ro VaR và Ứng dụng trên TTCK Việt Nam

    CÁCH TÍNH GIÁ TRỊ VaR

    Theo định nghĩa toán học, VaR là mức phân vị thứ 

    α (alpha) 

    của một hàm phân phối chuẩn hóa. Quả thực định nghĩa này là khó hiểu đối với phần đông chúng ta và cũng không kém mơ hồ. Thế nhưng, người viết vẫn phải nêu ra định nghĩa chuẩn của giá trị VaR vì đây là phần không thể thiếu khi giới thiệu về bất kỳ điều gì mới, cũng giống như các giới thiệu về Một chức danh mới của một yếu nhân nào đó, Một sự kiện mới, Một tính năng mới, Một khái niệm mới, hay đơn giản chỉ là Một vật kỳ quặc mà chúng ta chưa hề biết về nó và lý do vì sao nó tồn tại…

    Thế thì xuất phát từ nhu cầu Quản trị rủi ro thực tế, người viết khái quát VaR như một mức ( Giá trị theo đơn vị tiền tệ, Giá trị tương đối theo phần trăm) mà một khoản đầu tư có thể giảm xuống tối đa trong một đơn vị thời gian ( ngày, tuần, tháng) với một độ tin cậy bằng xác suất cho trước ( 95%, 97.5%, 99%)

    Phương pháp Ước lượng VaR sử dụng các ước lượng không chệch

    Đối với một cổ phiếu hoặc một chỉ số, P&L chính là sự chênh lệch của giá phiên hôm nay trừ giá phiên trước đó, chia cho giá của phiên trước đó ( /n

    Phương sai mẫu = Tổng sai lệch bình phương của n P&L trong n phiên và Trung bình mẫu chia cho n -1 = 

     

    =[(P&L(t-n-1)- Trung bình mẫu)^2+..+

    (P&L(t-1)- Trung bình mẫu)^2

    +

    (P&L(t)- Trung bình mẫu)^2

    ]/(n-1)

    Nếu khó hiểu quá thì thực ra 2 giá trị này trông như thế này: 

    Để xác định trung bình

    mẫu ta sử dụng hàm AVERAGE, phương sai mẫu ta dùng hàm VAR trong Excel.

    3. Tính VaR

    Tính theo giá trị phần trăm

    VaR95 = Trung bình mẫu – 1.65*(Phương sai mẫu)^0.5

    VaR975 =

    Trung bình mẫu – 1.96*(Phương sai mẫu)^0.5

    VaR99 = 

    Trung bình mẫu – 2.33*(Phương sai mẫu)^0.5

    Tính theo giá trị bằng tiền cho chỉ số

    VaR95 = (1+Trung bình mẫu – 1.65*(Phương sai mẫu)^0.5)*Chỉ số đóng cửa

    VaR975 = (1+Trung bình mẫu – 1.96*(Phương sai mẫu)^0.5)*Chỉ số đóng cửa

    VaR99 = (1+Trung bình mẫu – 2.33*(Phương sai mẫu)^0.5)*Chỉ số đóng cửa

    Giá GAS, VaR95 và giá sàn dự kiến

    Giá HHS, VaR95 và giá sàn dự kiến

    Giá VCB, VaR95 và giá sàn dự kiến

    Giá VNM, VaR95 và giá sàn dự kiến

    Bởi vì Rủi ro cũng chỉ là một khái niệm của xác suất về những điều mơ hồ

    Bởi vì Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát  nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội

    Và Bởi vì  Rủi ro chỉ là Trò chơi của những kẻ thống trị

    Giới Thiệu Độ Đo Rủi Ro VaR và Ứng dụng trên TTCK Việt Nam

    ỨNG DỤNG VaR TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

    Cho lượng tiền mặt đối ứng hay việc phân bổ tỷ trọng Tiền mặt/ Cổ phiếu

    Tỷ

    trọng

    Chứng

    khoán

    /

    Danh

    mục

    = (

    bp

    -q)/b

    Trong

    đó

    : b

    tỷ

    lệ

    thắng

    và mở rộng ra như sau:

    Tỷ

    trọng

    Tiền

    /

    Danh

    mục

     = (

    b’p

    ’-q’)/b’

    Trong

    đó

    : b’ 

    tỷ

    lệ

    thất

    bại

    Là nhân tố tin cậy cho phép đánh giá lại tỷ lệ cho vay margin đối với các công ty chứng khoán

    Thực ra những biến động cổ phiếu là bất thường và biến đổi theo phiên, nếu một tỷ lệ vay được ấn định từ trước đó đối với một số cổ phiếu điều chỉnh sâu trong suốt một quá trình sẽ mang lại rủi ro cho hoạt động vay và cho vay của nhà đầu tư lẫn công ty chứng khoán.Việc thay đổi tỷ lệ cho vay margin theo tuần, tháng sẽ trở nên hiệu quả hơn và cập nhật hơn nếu chúng ta biết rằng, trong tuần tới, tháng tới, giá cổ phiếu hoặc chỉ số có thể giảm sâu nhất về mức nào với một độ tin cậy chấp nhận được (95%, 97.5%, 99%). Như thế đối với mỗi một mã cổ phiếu, chúng ta ấn định một tỷ lệ cho vay hiệu quả hơn là đánh đồng đều đối với toàn bộ cổ phiếu, hay phân loại cổ phiếu theo mệnh giá hay vốn hóa thị trường ( tất nhiên là cổ phiếu của chúng ta vẫn nằm trong danh sách được phép vay).

    Chúng ta khai thác 2 điểm của ngưỡng VaR mà người viết cho rằng là có ích. 

    Một là, Sự ổn định của cổ phiếu thường gắn với một sự an toàn nhất định, nếu ngưỡng VaR được duy trì càng gần với tổn thất thực tế thì càng cần ít trích lập khoản dự phòng. Ngược lại, dự báo về mức độ có thể thiệt hại của cổ phiếu nằm xa hơn với thiệt hại thực tế thì khoản trích lập cũng phải tăng lên tương ứng. Như vậy, rủi ro tăng lên, trích lập dự phòng càng nhiều thì cũng đồng nghĩa với tỷ lệ cho vay margin không thể cao được . Rủi ro sẽ không còn là rủi ro nếu chúng ta đánh giá gần đúng nhất về mức độ thiệt hại. Ở

     chiều ngược lại,

     trong một ngưỡng chịu đựng rủi ro được xác định từ trước có thể tin cậy được

    (95%, 97.5%, 99%)

    , ta hoàn toàn có thể nâng tỷ lệ cho vay margin cao lên mà không còn e ngại về rủi ro của sự điều chỉnh giá. 

    Hai là, Nếu tổn thất thực tế vượt qua ngưỡng VaR dự báo thì sao? Đây là trường hợp hiếm, nếu đánh giá trên phương diện là nhà đầu tư là cơ hội Mua ở vùng giá thấp hơn vì khả năng P&L sẽ hồi phục trở lại cao hơn ngưỡng VaR đánh giá, nhưng trên phương diện cho vay của công ty chứng khoán thì rủi ro đã sinh ra và có thể gây những tổn thất nhất định cho hoạt động cho vay. Nếu chúng ta dựa vào số lần giá trị tổn thất của mỗi cổ phiếu vượt ngưỡng VaR là tiêu chí để tăng hay giảm tỷ lệ cho vay margin thì người viết cho rằng là điều khá hợp lý. Bởi vì, chúng ta không thể cấp margin cao hơn cho một cổ phiếu liên tục chạm sàn so với một cổ phiếu hiếm khi điều chỉnh giảm sàn.

    Một ngưỡng hỗ trợ tin cậy có thể dự báo trước và tham gia thị trường ở vùng giá thấp hơn

    Đứng trên phương diện Phân tích kỹ thuật, mức VaR95 có thể xem như mức Hỗ trợ cho vận động giá của cổ phiếu, hoặc chỉ số với độ tin cậy lên đến 95%. Chỉ có 5% trường hợp Giá cổ phiếu hoặc chỉ số có thể rớt ra ngoài khoảng này ( vì 5% cũng là một xác suất thấp) vậy thì sẽ có khả năng cao rằng vận động giá hoặc chỉ số có thể vượt lên trên mức VaR95 ở những phiên kế tiếp ( Tín hiệu BẮT ĐÁY hoặc MUA ở vùng xác suất thấp mà cơ hội hồi phục

    cao đối với những cổ phiếu cơ bản chịu những nhịp điều chỉnh ngắn hạn). 

    Ứng dụng VaR95 BẮT ĐÁY thị trường

    Ứng dụng VaR95 BẮT ĐÁY cổ phiếu GAS

    Ứng dụng VaR95 BẮT ĐÁY cổ phiếu DXG

    Bởi vì Rủi ro cũng chỉ là một khái niệm của xác suất về những điều mơ hồ

    Bởi vì Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát  nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội

    Và Bởi vì  Rủi ro chỉ là Trò chơi của những kẻ thống trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vgm (Công Ước Solas) Là Gì?
  • 2 Phương Pháp Tính Thuế Vat Cho Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Giúp Học Sinh Lớp 4;5 Phân Loại Và Giải Bài Toán Bằng Phương Pháp Tính Ngược Từ Cuối (Kinh Nghiệm Được Xếp Bậc 4)
  • Công Ty Xây Dựng Và Sàn Phẳng Việt Nam
  • Tính Toán Thiết Kế Sàn Rỗng Uboot
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100