Phương Pháp Abc Activity Based Costing

--- Bài mới hơn ---

  • Kế Toán Chi Phí Dựa Trên Hoạt Động (Abc
  • Là Gì? Bao Nhiêu Tiền? Có Tốt Không?
  • Chi Phí Điều Trị Phương Pháp Ala
  • Hỗ Trợ Điều Trị Sùi Mào Gà Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Ala
  • Phương Pháp Aas Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Bài 2/7 của Series hướng dẫn tự học ACCA F5 Performance Management – Chủ đề “Phương pháp ABC Activity Based Costing”

    Nếu bạn thích đọc hơn xem video thì bài viết này là dành cho bạn. Trong bài viết này mình sẽ trả lời 4 câu hỏi đã đề cập ở bài ACCA F5 Lectures: 3 bước tự học hiệu quả:

    • Chủ đề này nói về cái gì?

    F5 là Quản lý hoạt động – Hiểu đơn giản là quá trình tổ chức xác định mục tiêu, quyết định phương án hành động, thực hiện và đo lường kết quả thực hiện.

    Ở cấp độ cơ bản, F5 sẽ bao gồm các phương pháp, kỹ thuật cơ bản mà tổ chức có thể sử dụng trong quá trình quản lý hoạt động.

    Như mình đã giải thích ở bài trước, môn F5 Performance Management sẽ bao gồm 4 nội dung:

    1. Thu thập & phân tích thông tin: với các phương pháp tính giá thành & kế toán quản trị
    2. Ra quyết định quản trị
    3. Lập dự toán & kiểm soát
    4. Đo lường hoạt động & kiểm soát

    Việc áp dụng phương pháp ABC sẽ cung cấp thông tin cho nhà quản lý. Từ đó làm cơ sở để đưa ra các quyết định quản trị – nội dung (2).

    Câu 3: Chủ đề này nói về cái gì?

    • Phương pháp ABC là gì?
    • Cách áp dụng phương pháp ABC Activity Based Costing?
    • Ưu nhược điểm khi so sánh với các phương pháp khác?

    Thực tế thì mình chưa gặp công ty việt nam nào áp dụng phương pháp tính giá thành này. Chúng ta thường áp dụng phương pháp chi phí định mức (standard costing). Tuy nhiên phương pháp này được các công ty nước ngoài áp dụng nhiều. Có thể vì vậy nên phương pháp ABC là quan trọng nhất trong 5 phương pháp được đề cập trong phạm vi môn F5.

    (1) Trước khi tìm hiểu về phương pháp ABC Activity Based Costing trong kế toán quản trị, các bạn cần hiểu Tính giá thành là gì?

    Hiểu đơn giản thì Tính giá thành là việc chúng ta xác định chi phí sản xuất cho từng sản phẩm. Bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí NCTT và chi phí SXC.

    Các CPSX trực tiếp (NVL trực tiếp, NCTT) sẽ xác định được riêng cho từng sản phẩm. Nhưng các chi phí SXC thì sẽ không xác định trực tiếp cho riêng từng sản phẩm được. Do đó chúng ta sẽ cần phải phân bổ các chi phí SXC để tính được giá thành sản phẩm.

    (2) Phương pháp ABC Activity Based Costing là gì? Các bước thực hiện tính giá thành theo phương pháp ABC?

    Phương pháp ABC Activity based costing – Tính giá thành theo cơ sở hoạt động: là phương pháp tính giá thành bằng cách phân bổ chi phí SXC dựa vào mức độ tiêu thụ/sử dụng các yếu tố làm phát sinh chi phí (cost drivers).

    Ví dụ: 1 công ty sản xuất 2 loại sản phẩm A và B. Và thông tin sản xuất trong kỳ như sau:

    Quy trình áp dụng phương pháp ABC để tính giá thành cho sản phẩm như sau:

    Bước 1. Xác định các “hoạt động hỗ trợ” chủ yếu

    Hoạt động hỗ trợ chính là các hoạt động phục vụ chung cho sản xuất:

    Thiết lập dây chuyền sản xuất

    Xử lý đơn đặt hàng

    Bước 2. Phân bổ chi phí SXC cho các hoạt động bổ trợ

    Chi phí thiết lập dây chuyền sản xuất: 20,000 USD

    Chi phí xử lý đơn đặt hàng: 30,000 USD

    Bước 3. Xác định cost drivers của mỗi hoạt động

    Cost driver của Hoạt động Thiết lập dây chuyền sản xuất là: Số lượng dây chuyền sản xuất

    Cost driver của Hoạt động Xử lý đơn đặt hàng: Số lượng đơn đặt hàng

    Bước 4. Tính tỷ lệ phân bổ cho cost driver

    Tỷ lệ phân bổ của Số lượng dây chuyền sản xuất = 20,000 USD/20 = 1,000 USD/dây chuyền

    Tỷ lệ phân bổ của Số lượng đơn đặt hàng = 30,000 USD/30 = 1,000 USD/đơn hàng

    Hoạt động thiết lập dây chuyền sản xuất:

    SP A: 1,000 USD/dây chuyền * 10 dây chuyền = 10,000 USD

    SP B: 1,000 USD/dây chuyền * 10 dây chuyền = 10,000 USD

    Xử lý đơn đặt hàng

    SP A: 1,000 USD/đơn hàng * 20 đơn hàng = 20,000 USD

    SP B: 1,000 USD/đơn hàng * 10 đơn hàng = 10,000 USD

    Tổng giá thành sản xuất của SPA: 1,000/chiếc * (10 USD + 60 USD) + 10,000 USD + 20,000 USD = 100,000 USD

    Giá thành đơn vị của SPA: 100,000 USD/1,000 chiếc = 100 USD/chiếc

    Tổng giá thành sản xuất của SPB: 5,000/chiếc * (12 USD + 70 USD) + 10,000 USD + 10,000 USD = 61,000 USD

    Giá thành đơn vị của SPB: 61,000 USD/500 chiếc = 122 USD/chiếc

    (3) Phương pháp ABC Activity Based Costing khác biệt với các phương pháp tính giá thành khác như thế nào?

    ABC: phân bổ chi phí SXC theo mức độ sử dụng các yếu tố làm phát sinh chi phí (cost drivers).

    Marginal costing: xác định giá trị sản phẩm theo giá trị chi phí biến đổi (Variable costs) đã phát sinh để ra sản phẩm.

    Target costing: Xác định chi phí mục tiêu (Target cost) bằng cách sử dụng Lợi nhuân biên mong muốn (Desired profit margin) và Giá bán mục tiêu (Target selling price)

    (4) So sánh ABC & Absorption costing

    Việc xác định chi phí NVLTT & NCTT: đây là các chi phí có thể xác định riêng cho từng sản phẩm mà không cần qua phân bổ. Do đó, sẽ không có sự khác biệt khi xđịnh 2 loại chi phí này theo 2 phương pháp ABC hoặc Absorption Costing.

    Đối với chi phí SXC: sẽ có sự căn bản giữa 2 phương pháp, thể hiện ở các khía cạnh:

    Phương pháp Absorption costing Phương pháp ABC Activity Based Costing

    Tách CP SXC thành CP biến đổi & CP cố định. Và giả định:

    Tách CP SXC theo các hoạt động hỗ trợ sản xuất (support activity). Ví dụ: chi phí thuê nhà xưởng, thuê máy móc, thuê điện nước.

    – CP biến đổi sẽ biến đổi theo tỷ lệ với sự gia tăng của sản lượng sản xuất.

    – CP cố định sẽ không thay đổi.

    Nhưng giả định này là không thực tế. Vì CP biến đổi thường biến động nhiều hơn ở mức SX lớn. Và CP cố đinh thường sẽ tăng lên 1 mức mới khi sản xuất vượt ngưỡng sản xuất thông thường (step-cost).

    Phân bổ chi phí SXC bằng cách giả định các chi phí SXC là có cùng bản chất. Có thể cộng gộp và phân bổ cho các sản phẩm theo 1 tỷ lệ phân bổ duy nhất. Thường là số giờ công lao động trực tiếp hay số giờ sản xuất sản phẩm.

    Phân bổ chi phí SXC cho các sản phẩm theo mức độ sử dụng cost drivers (yếu tố phát sinh chi phí)

    Ưu điểm: đơn giản, dễ thực hiện

    Ưu điểm: kết quả phân bổ hợp lý; cung cấp được nhiều thông tin có ích

    Nhược điểm: chi phí phân bổ cho các sản phẩm không hợp lý

    Nhược điểm: mất thời gian, công sức, chi phí thực hiện

    Điều quan trọng các bạn cần GHI NHỚ khi cần lựa chọn giữa phương pháp Absorption & Phương pháp ABC Activity Based Costing:

    • ABC: phù hợp khi quá trình SX/DV phức tạp. Tuy nhiên chi phí thực hiện có thể lớn hơn cả lợi ích mà nó mang lại. Và ABC chỉ có ích cho kế toán quản trị. Nên nếu công ty không cần các thông tin quản trị này thì ABC sẽ không hữu ích.
    • Absorption costing: phù hợp khi quá trình SX/DV đơn giản. Nếu chênh lệch của kết quả phân bổ theo 2 phương pháp là không lớn thì có thể Chỉ cầnlựa chọn tiêu chí phân bổ phù hợp cho Absorption costing là có thể khắc phục được vấn đề.

    (5) Ưu nhược điểm của Phương pháp ABC Activity Based Costing

    1. Phương pháp ABC phân tích chi phí SXC theo các hoạt động và yếu tố làm phát sinh chi phí. Do đó có thể cung cấp thông tin để xác định các điểm có thể cắt giảm chi phí. Cũng như đánh giá khả năng sinh lời của sản phẩm.

    2. Phương pháp ABC Activity Based Costing phân bổ chi phí trên cơ sở mức độ sở dụng các yếu tố phát sinh chi phí. Do đó, ABC sẽ phù hợp với các quy trình SX phức tạp, yêu cầu nhiều tiêu chí phân bổ.

    2. Không dễ dàng để xác định các hoạt động hỗ trợ/ các yếu tố làm phát sinh chi phí

    3. Phương pháp ABC sẽ đưa ra kết quả phân bổ chính xác hơn là các phương pháp truyền thống. Bởi vì ABC sử dụng nhiều tiêu chí phân bổ cho từng loại chi phí.

    3. Một hoạt động có thể có nhiều hơn 1 yếu tố gây chi phí

    4. Phương pháp ABC có thể cung cấp thông tin giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định về giá

    4. Việc phân chia chi phí SXC cho các hoạt động hỗ trợ sẽ sử dụng tỷ lệ phân bổ giống như Absorption costing. Do đó, kết quả phân chia này có thể cũng không chính xác.

    Câu 4. Các dạng câu hỏi/bài tập thường gặp?

    Chủ đề này thường xuất hiện chính ở Section A và B cuả đề thi ACCA F5. Một số dạng câu hỏi/bài tập thường gặp là:

      Section A: Bạn có thể được yêu cầu để xác định/tính toán các yếu tố: cost driver; allocation rate; unit cost. Hoặc nhận diện ưu nhược điểm của phương pháp ABC, so sánh với Absorption costing.
      Section B: Các yêu cầu tương tự như Section A nhưng sẽ được gắn vào 1 tình huống cụ thể. Ví dụ như áp dụng phương pháp ABC trong công ty sản xuất, bệnh viện hay nhà hàng. Đừng quên câu hỏi yêu thích của ACCA: Công ty này có nên áp dụng phương pháp ABC hay không? tại sao?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Agile Là Gì? Scrum Là Gì? Các Công Cụ Quản Lý Dự Án Theo Agile Mà Bạn Nên Biết
  • Tổng Quan Về Nguyên Tắc Agile Và Cách Áp Dụng Agile Trong Quản Lý Dự Án
  • Agile Là Gì Và Các Phương Pháp Kiểm Thử Agile
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Phương Pháp Học Tiếng Anh Cho Người Mới Bắt Đầu Hoặc Mất Gốc
  • Bài Tập Và Đáp Án Phương Pháp Abc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Tập Huấn Phương Pháp Tiếp Cận Phát Triển Cộng Đồng Dựa Vào Nội Lực Và Do Người Dân Làm Chủ (Phương Pháp Tiếp Cận Abcd)
  • Các Phương Pháp Xác Định Chi Phí Sản Xuất Sản Phẩm Hiện Đại (Phần 2)
  • Đo Lường Mức Độ Rủi Ro Kỹ Thuật Trong Xây Dựng Công Trình Giao Thông Đường Bộ Ở Việt Nam Bằng Phương Pháp F
  • Hướng Dẫn 02/hđđx Hội Đồng Đặc Xá Trung Ương Thi Hành Quyết Định 478/2004/qđ
  • Tìm Hiểu Về Vật Lý Trị Liệu Hô Hấp Ở Trẻ
  • Embed Size (px)

    DESCRIPTION

    1. Doanh nghiệp IT sản xuất ra 2 dòng sản phẩm là: linh kiện chính máy vi tính, điện thoại di động. Doanh nghiệp sử dụng hệ thống chi phí thông thường và chi phí chung được phân bổ bằng việc sử dụng tỷ lệ chi phí chung toàn doanh nghiệp dựa trên giờ lao động trực tiếp. Những nhà tư vấn được mời về đã đề nghị doanh nghiệp sử dụng phương pháp phân bổ chi phí trên hoạt động (ABC)Doanh nghiệp kỳ vọng sản xuất ra 4,000 linh kiện máy ví tính và 2,000 điện thoại di động trong năm 20×4. Mỗi linh liện máy tính đòi hỏi 2 giờ lao động trực tiếp để sản xuất và mỗi điện thoại đòi hỏi nữa giờ để sản xuất

    BI TP V NH

    1. Doanh nghip IT sn xut ra 2 dng sn phm l: linh kin chnh my vi tnh, in thoi di ng. Doanh nghip s dng h thng chi ph thng thng v chi ph chung c phn b bng vic s dng t l chi ph chung ton doanh nghip da trn gi lao ng trc tip. Nhng nh t vn c mi v ngh doanh nghip s dng phng php phn b chi ph trn hot ng (ABC)

    Doanh nghip k vng sn xut ra 4,000 linh kin my v tnh v 2,000 in thoi di ng trong nm 20×4. Mi linh lin my tnh i hi 2 gi lao ng trc tip sn xut v mi in thoi i hi na gi sn xut

    Chi ph vt liu trc tip v lao ng trc tip cho 2 dng sn phm nh sau:

    Linh kin my vi tnhin thoi di ng

    Vt liu trc tip (mi sp)$30$17

    Lao ng trc tip (mi sp)$16$4

    Ngn sch d kin:

    Hot ngNgn sch chi ph chungD kin mc tiu th

    Thit lp sn xut$80,00020 ln thit lp

    X l vt liu$70,0005,000 nguyn liu

    ng gi & chuyn hng$120,0006,000 hp

    Tng chi ph chung$270,000

    Da trn phn tch ca 3 hot ng pht sinh chi ph, doanh nghip c lng 2 dng sn phm i hi nhng mc hot ng cho nm 20×4 nh sau:

    Hot ngLinh kin my tnhin thoi di ngTng

    Thit lp sn xut5 ln15 ln20 ln

    X l vt liu1,000 nguyn liu4,000 nguyn liu5,000 nguyn liu

    ng gi & chuyn hng4,000 hp2,000 hp6,000 hp

    YU CU:

    a. Tnh ton chi ph cho mi dng sn phm s dng chi ph chung da trn gi lao ng trc tip

    b. Tnh t l chi ph cho (i) thit lp sn xut, (ii) x l vt liu, (iii) ng gi v chuyn hng

    c. Chi ph a vo 2 dng sn phm, s dng h thng tnh chi ph trn hot ng (ABC)

    P N BI KIM TRA (PHN BI TP)1. Cng ty AAC sn xut v bn sn phm vi gi $20kg. Thng tin hot ng kinh doanh c cung cp nh sau:

    Bn75,000kg

    Hng tn kho u k12,000kg

    Hng tn kho cui k17,000kg

    Chi ph sn xut

    Chi ph bin i$8/kg

    Chi ph sn xut chung c nh$320,000/nm

    Chi ph qung co v qun l

    Ch ph bin i$2/kg ca s lng bn

    Chi ph c nh$300,000 mi nm

    YU CU:

    a. Bo co doanh thu, s dng phng php ton b v trc tip

    b. Gii thch nguyn nhn to ra s khc bit gia hai bo co s dng hai phng php

    P N:

    a. Phng php ton b

    Sn xut trong nm trcChi ph sn xut mi n v

    Bn75,000kgBin i$8

    Hng tn cui k17,000kgC nh ($320,000/80,000)$4

    Tng sn phm c th bn92,000kgTng$12

    Hng tn kho u k12,000kg

    Sn phm c sn xut trong k80,000kg

    (a) Phng php ton bBn1,500,000

    Tr chi ph sn phm bn:

    Tn kho u k (12000Kg $12)144,000

    Chi ph sn xut (80,000*Kg $12**)960,000

    Chi ph sn phm c th c bn1,104,000

    Tn kho cui k (17,000Kg 12 )204,000900,000

    Li nhun gp600,000

    Tr chi ph qun co v qun l:

    Bin ph (75,000Kg $2)150,000

    nh ph300,000450,000

    Thu nhp thun150,000

    (b) Phng php trc tip:Bn1,500,000

    Tr chi ph bin i ca sn phm c bn:

    Tn kho u k (12000Kg $8)96,000

    Chi ph sn xut bin i (80,000 Kg $8)640,000

    Chi ph bin i ca sn phm c th c bn736,000

    Tn kho cui k (17,000Kg 8 )136,000600,000

    Li nhun ng gp900,000

    Bin ph i qung co v qun l (75,000Kg $2)150,000

    750,000

    Tr chi ph chu k:

    nh ph qung co v qun l300,000

    nh ph sn sut320,000620,000

    Thu nhp thun130,000

    Thu nhp thun t phng php ton b cao hn $20,000 so vi phng php trc tip. Khi s sn phm sn xut cao hn s lng sn phm bn, nh ph sn xut chung c chuyn vo hng tn kho v v th to ra thu nhp thun cao hn cho phng php ton b. Ha hp thu nhp thun cho 2 phng php c th hin nh sau:

    Thu nhp t phng php ton b150,000

    Thu nhp t phng php trc tip130,000

    Chnh lch thu nhp20,000

    Thay i trong hng tn kho (17,000Kg 12,000Kg)5,000Kg

    nh ph c chuyn vo hng tn kho (5,000Kg $4.00)20,000

    HOC

    Thu nhp t phng php trc tip130,000

    Cng: nh ph sn xut chung c chuyn vo hng tn kho (5,000Kg $4.00)20,000

    $150,000

    --- Bài cũ hơn ---

  • Activity Based Costing Là Gì? Phương Pháp Tính Abc?
  • Phân Tích Abc Và Xyz Mang Lại Hiệu Quả Như Thế Nào Trong Quản Lý Hàng Tồn Kho
  • Các Mô Hình Xác Định Chi Phí Logistics Đối Với Doanh Nghiệp
  • Phương Pháp Quản Lý Dự Án Agile
  • Phương Pháp Scrum Vs Phương Pháp Kanban
  • Activity Based Costing Là Gì? Phương Pháp Tính Abc?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Và Đáp Án Phương Pháp Abc
  • Tài Liệu Tập Huấn Phương Pháp Tiếp Cận Phát Triển Cộng Đồng Dựa Vào Nội Lực Và Do Người Dân Làm Chủ (Phương Pháp Tiếp Cận Abcd)
  • Các Phương Pháp Xác Định Chi Phí Sản Xuất Sản Phẩm Hiện Đại (Phần 2)
  • Đo Lường Mức Độ Rủi Ro Kỹ Thuật Trong Xây Dựng Công Trình Giao Thông Đường Bộ Ở Việt Nam Bằng Phương Pháp F
  • Hướng Dẫn 02/hđđx Hội Đồng Đặc Xá Trung Ương Thi Hành Quyết Định 478/2004/qđ
  • Dạo này mình có tìm hiểu về activity based costing, thực sự là đôí với mình nó khá là khó hiểu, nhưng mất thời gian để tìm hiểu thì nó thật sự là hay. Đây là phương pháp mà ở Việt Nam áp dụng ít vì tính khó hiểu khó áp dụng và tốn nhiều nguồn lực để phát triển nó. Các sếp Việt thì :P. Đại để vè phương pháp thì là để tính giá của 1 sản phẩm thì 1 số chi phí gián tiếp ( indirect) đo lường rất khó để tính ra giá thành của sản phẩm như là legal fees, bạn nào học kế toán thì hẳn biết S&GA…. bằng phương pháp này ta có thể tính được giá thành gián tiếp của việc chế tạo sản phẩm vào sản phẩm 😀 Ở nước ngoài, hoạt động này được thực hiện 1 cách đều đặn hơn cũng như lean, sig sigma hay kaizen 5s, vì ở đó vốn, nguồn lực công nghệ là như nhau hoặc chênh rất ít nên để cạnh tranh được gay gắt hơn thì phải cạnh tranh bằng giá rồi. Thế nên tính toán được chính xác giá sản phẩm bằng ABC giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn thay vì chỉ tính giá tương đối của sản phẩm chứ không phải giá chính xác, bài viết dưới mình thầy hay quá nên copy lưu lại :D. Nao có thời gian mình sẽ viết 1 bài hoàn chỉnh về phương pháp này 😀

    So với các phương pháp truyền thống, phương pháp ABC (Activity-Based Costing) trước hết quy tập toàn bộ chi phí gián tiếp (các chi phí khác chi phí nguyên liệu trực tiếp, và chi phí lao động trực tiếp) đối với mỗi hoạt động của tổ chức, sau đó phân bổ các chi phí theo hoạt động này vào từng sản phẩm, dịch vụ, hay vào các đối tượng tạo ra hoạt động đó, thông qua các kích tố chi phí (cost driver).

    Trong phương pháp truyền thống, tỷ lệ tổng chi phí gián tiếp phân bổ vào thành phẩm thường phụ thuộc vào tỷ lệ của tổng số giờ lao động trực tiếp cần có để làm ra thành phẩm đó. Còn trong ABC, các hoạt động gián tiếp đáng chú ý (như chạy máy, lắp ráp, kiểm tra chất lượng,…) được xác định bởi giám đốc vận hành. Sau đó, chi phí cho các nguồn lực gián tiếp đã tiêu dùng để thực hiện các hoạt động đó sẽ được truy nguyên theo hoạt động thông qua kích tố chi phí thích hợp. Cuối cùng, tập hợp các chi phí của từng hoạt động sẽ được phân bổ tiếp về các thành phẩm thông qua các kích tố chi phí hợp lý khác. Nói một cách hình tượng hơn, hệ thống ABC xé nhỏ chiếc bánh chi phí gián tiếp thành các mẩu bánh tương ứng với mỗi hoạt động nhất định.

    Đến đây, có lẽ các bạn vẫn cảm thấy khá mông lung về ABC. Một ví dụ có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề. Từ những năm cuối của thập kỷ 80, công ty Elgin Sweeper của Bắc Mỹ đã áp dụng ABC như sau:

    • Bước đầu tiên là nghiên cứu các hoạt động tạo phí, lập danh sách các đơn vị tính phí có thể, cho mỗi hoạt động. Các đơn vị tính phí của Elgin bao gồm: tiền công lao động ($), giờ lao động, số lượng hàng gửi đi, số lượng thành phẩm, số đơn đặt hàng, doanh thu, ngày làm việc, thông báo thay đổi kỹ thuật, thời gian lao động kỹ thuật,… Các chi phí thay đổi với từng đơn vị tính phí được nhận dạng và tính toán.
    • Tiếp theo, Elgin thiết lập báo cáo về dây truyền sản xuất cho phép đánh giá hiệu quả của các quyết định phân bổ nguồn lực. Kết quả của việc áp dụng hệ thống xác lập chi phí là sự tham gia của các giám đốc sản xuất vào việc nhận dạng kích tố chi phí và sự xoá bỏ các hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng.

    Gợi ý các bước xác lập hệ thống ABC:

      1. Quan hệ nhân quả hợp lý giữa kích tố chi phí và lượng tiêu hao nguồn lực.
      2. Dữ liệu về kích tố chi phí có thê thu thập được.
    1. Phát triển một sơ đồ quá trình, biểu thị các luồng hoạt động, nguồn lực và mối quan hệ qua lại giữa chúng. Việc xác định mối quan hệ qua lại là một bước rất quan trọng, rất cần thiết thông qua các nhân viên chuyên môn.
    2. Tính toán và diễn dịch các thông tin mới dựa trên hoạt động.

    Có thể thấy rằng, phương pháp ABC có thể biến một chi phí gián tiếp thành một chi phí trực tiếp với một đối tượng tạo phí xác định. Việc lựa chọn các hoạt động và kích tố chi phí hợp lý cho phép các nhà quản lý truy nguyên nhiều chi phí gián tiếp như họ đã làm với chi phí nguyên liệu trực tiếp hay chi phí lao động trực tiếp. Vì xác định được nhiều chi phí trực tiếp hơn so với cách thức truyền thống, ABC giúp nhà quản lý có được những báo cáo về chi phí sản phẩm và dịch vụ với độ tin cậy cao hơn nhiều.

    Phương pháp ABC phức tạp và tất nhiên là tốn kém hơn các phương pháp truyền thống, vì vậy không phải bất cứ công ty nào cũng đủ điều kiện áp dụng. Tuy nhiên, ABC sẽ là xu hướng tất yếu đối với quản trị bởi:

    • Năng lực cạnh tranh dựa trên chi phí giảm thiểu đòi hỏi phải có những số liệu chính xác hơn về chi phí, tránh tình trạng lợi nhuận giả tạo.
    • Sự đa dạng hoá ngày một tăng của các sản phẩm và dịch vụ cùng với độ phức tạp của các phân đoạn thị trường. Vì thế, việc tiêu dùng các nguồn lực cũng sẽ thay đổi theo các sản phẩm và dịch vụ.
    • Chu kỳ sống của sản phẩm trở nên ngắn hơn do tốc độ phát triển của công nghệ làm công ty không đủ thời gian điều chỉnh giá cả và chi phí.
    • Xác định đúng chi phí là một phần quan trọng của việc ra quyết định kinh doanh. Thiếu nó, sự chuẩn xác của quyết định sẽ giảm thiểu.
    • Cách mạng trong công nghệ máy tính đã làm giảm được chi phí về tiền bạc lẫn thời gian cho việc phát triển và vận hành hệ thống xác lập chi phí có khả năng truy nguyên nhiều hoạt động.

    Nguồn: Sưu tầm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Abc Và Xyz Mang Lại Hiệu Quả Như Thế Nào Trong Quản Lý Hàng Tồn Kho
  • Các Mô Hình Xác Định Chi Phí Logistics Đối Với Doanh Nghiệp
  • Phương Pháp Quản Lý Dự Án Agile
  • Phương Pháp Scrum Vs Phương Pháp Kanban
  • Phương Pháp Phát Triển Phần Mềm: Truyền Thống Và Agile
  • Phương Pháp Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Phân Tích Abc Và Phân Tích Xyz Trong Quản Lý Tồn Kho
  • Chữa Sùi Mào Gà Bằng Phương Pháp Ala Pdt
  • Price Action Là Gì Và Phương Pháp Giao Dịch Ra Sao?
  • Price Action Là Gì? Phương Pháp Giao Dịch Với Price Action
  • Price Action Là Gì? Cách Giao Dịch Với Price Action Toàn Tập
  • Phân tích ABC

    Trong quản lý sản xuất thì việc quản lý nguyên vật liệu là một công việc vô cùng quan trọng. Phương pháp phân tích ABC là một kỹ thuật phân loại hàng tồn kho.

    Trong quản lý nguyên vật liệu, phân tích ABC (hoặc Kiểm soát hàng tồn kho chọn lọc) là một kỹ thuật phân loại hàng tồn kho. Phân tích ABC chia hàng tồn kho thành ba loại

    – Mục A: với kiểm soát rất chặt chẽ và hồ sơ chính xác

    – Mục B: với hồ sơ tốt và ít kiểm soát chặt chẽ hơn

    – Mục C: với các điều khiển đơn giản nhất có thể và hồ sơ tối thiểu.

    Phân tích ABC cung cấp một cơ chế để xác định các mặt hàng sẽ có tác động đáng kể đến chi phí hàng tồn kho tổng thể, đồng thời cung cấp cơ chế xác định các loại hàng tồn kho khác nhau sẽ yêu cầu quản lý và kiểm soát khác nhau.

    Phân tích ABC cho thấy hàng tồn kho của một tổ chức không có giá trị như nhau. Do đó, hàng tồn kho được nhóm thành ba loại (A, B và C) theo mức độ quan trọng ước tính của chúng.

    Các mặt hàng ‘A’ rất quan trọng đối với một tổ chức. Do giá trị cao của các mục ‘A’ này, cần phải phân tích giá trị thường xuyên. Ngoài ra, một tổ chức cần chọn một mẫu đơn đặt hàng phù hợp (ví dụ: ‘chỉ trong thời gian’) để tránh vượt quá khả năng. Các mục ‘B’ rất quan trọng, nhưng tất nhiên ít quan trọng hơn các mục ‘A’ và quan trọng hơn các mục ‘C’. Do đó, các mục ‘B’ là các mục liên nhóm. Các mặt hàng ‘C’ rất quan trọng.

    Phân loại phân tích ABC

    Không có ngưỡng cố định cho mỗi lớp, tỷ lệ khác nhau có thể được áp dụng dựa trên mục tiêu và tiêu chí. Phân tích ABC tương tự như nguyên tắc Pareto ở chỗ các mục ‘A’ thường sẽ chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị nhưng chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số lượng mục

    Ví dụ về lớp ABC

    • Mặt hàng A : 20% các mặt hàng chiếm 70% giá trị tiêu thụ hàng năm của các mặt hàng
    • Mặt hàng B : 30% các mặt hàng chiếm 25% giá trị tiêu thụ hàng năm của các mặt hàng
    • Mặt hàng C : 50% các mặt hàng chiếm 5% giá trị tiêu thụ hàng năm của các mặt hàng

    Một phân tích khác được đề xuất của các lớp ABC:

    • Mặt hàng A: khoảng 10% các mặt hàng hoặc 66,6% giá trị
    • Mặt hàng B: khoảng 20% các mặt hàng hoặc 23,3% giá trị
    • Mặt hàng C: khoảng 70% các mặt hàng hoặc 10,1% giá trị

    Tính toán toán học theo phân tích ABC.

    Phân tích ABC cung cấp một phép tính toán chính xác về các giới hạn cho các lớp ABC. Nó sử dụng tối ưu hóa chi phí (tức là số lượng mặt hàng) so với năng suất (tức là tổng tầm quan trọng ước tính của chúng).

    Ví dụ về ứng dụng của hoạt động cân dựa trên lớp ABC Phân phối thực tế của lớp ABC trong công ty sản xuất điện tử với 4.051 bộ phận hoạt động.

    Khi chính sách mua bằng nhau được áp dụng cho tất cả 14.213 thành phần, ví dụ như giao hàng và điểm đặt hàng lại (hàng tồn kho) trong hai tuần, nhà máy sẽ có 16.000 giao hàng trong bốn tuần và hàng tồn kho trung bình sẽ là 2 tuần.

    Áp dụng điều kiện mua theo cân nặng

    Tình trạng đồng đều Điều kiện theo cân

    Tất cả các mục 14213

    Điểm đặt hàng lại = 2 tuần cung cấp

    Tần suất giao hàng = hàng tuần

    Vật phẩm hạng A 200

    Điểm đặt hàng lại = nguồn cung 1 tuần

    Tần suất giao hàng = hàng tuần

    Vật phẩm hạng B 400

    Điểm đặt hàng lại = 2 tuần cung cấp

    Tần suất giao hàng = hai tuần một lần

    Vật phẩm hạng C 3.400

    Điểm đặt hàng lại = 3 tuần cung cấp

    Tần suất giao hàng = cứ sau 4 tuần

    So sánh, khi áp dụng chính sách mua hàng được áp dụng dựa trên lớp ABC, ví dụ như giao hàng hàng tháng của lớp C (bốn tuần một lần) với điểm đặt hàng lại của nguồn cung ba tuần, giao hàng hai lớp B với điểm đặt hàng lại là 2 tuần ‘cung cấp, phân phối hàng tuần của lớp với điểm đặt hàng lại là 1 tuần cung cấp, tổng số giao hàng trong 4 tuần sẽ là (A 200 × 4 = 800) + (B 400 × 2 = 800) + (C 3.400 × 1 = 3.400) = 5.000 và hàng tồn kho trung bình sẽ là (A 75% × 1,5 tuần) + (B 15% x3 tuần) + (C 10% × 3,5 tuần) = cung cấp 1.925 tuần.

    So sánh mua hàng “đều” và “theo cân nặng” (khoảng thời gian 4 tuần)

    Không giao hàng trong 4 tuần Mức cung trung bình Không giao hàng trong 4 tuần Mức cung trung bình

    Một hạng mục có thể được áp dụng kiểm soát chặt chẽ hơn nhiều như phân phối hàng ngày của JIT. Nếu giao hàng hàng ngày với hàng tồn kho được áp dụng, tần suất giao hàng sẽ là 4.000 và mức tồn kho trung bình của mặt hàng loại A sẽ là 1,5 ngày cung và tổng mức tồn kho sẽ là 1.025 tuần, giảm 59% hàng tồn kho. Tổng tần suất giao hàng cũng giảm xuống còn một nửa từ 16.000 xuống còn 8.200.

    Kết quả

    Bằng cách áp dụng kiểm soát có trọng số dựa trên phân loại ABC, số giờ nhân công và mức tồn kho được yêu cầu sẽ giảm đáng kể.

    Lợi ích của phân tích ABC

    Trong điều kiện hiện nay việc sử dụng phương pháp phân tích ABC được thực hiện thông qua hệ thống quản trị dự trữ tự động hoá bằng máy vi tính. Tuy nhiên, trong một số doanh nghiệp chưa có điều kiện tự động hoá quản trị dự trữ, việc phân tích ABC được thực hiện bằng thủ công mặc dù mất nhiều thời gian nhưng nó đem lại những lợi ích nhất định. Kỹ thuật phân tích ABC trong công tác quản trị có những tác dụng sau:

    • Các nguồn vốn dùng để mua hàng nhóm A cần phải nhiều hơn so với nhóm C, do đó cần sự ưu tiên đầu tư thích đáng vào quản trị nhóm A.
    • Các loại hàng nhóm A cần có sự ưu tiên trong bố trí, kiểm tra, kiểm soát hiện vật. Việc thiết lập các báo cáo chính xác về nhóm A phải được thực hiện thường xuyên nhằm đảm bảo khả năng an toàn trong sản xuất.
    • Trong dự báo nhu cầu dự trữ, chúng ta cần áp dụng các phương pháp dự báo khác nhau cho nhóm mặt hàng khác nhau, nhóm A cần được dự báo cẩn thận hơn so với các nhóm khác.
    • Nhờ có kỹ thuật phân tích ABC trình độ của nhân viên giữ kho tăng lên không ngừng, do họ thường xuyên thực hiện các chu kỳ kiểm tra, kiểm soát từng nhóm hàng.

    Tóm lại, kỹ thuật phân tích ABC sẽ cho chúng ta những kết quả tốt hơn trong dự báo, kiểm soát, đảm bảo tính khả thi của nguồn cung ứng, tối ưu hoá lượng dự trữ.

    Các bước để thực hiện phân tích ABC

    Khái niệm ABC dựa trên định luật của Pareto. Nếu có quá nhiều hàng tồn kho, phân tích ABC có thể được thực hiện trên một mẫu. Sau khi lấy được mẫu ngẫu nhiên, các bước sau đây được thực hiện để thực hiện phân tích ABC.

    • Bước 1: Tính giá trị sử dụng hàng năm cho mỗi mục trong mẫu bằng cách nhân các yêu cầu hàng năm với chi phí cho mỗi đơn vị.
    • Bước 2: Sắp xếp các mục theo thứ tự giảm dần của giá trị sử dụng được tính ở trên.
    • Bước 3: Lập tổng cộng số lượng vật phẩm và giá trị sử dụng.
    • Bước 4: Chuyển đổi tổng số tích lũy của số lượng vật phẩm và giá trị sử dụng thành tỷ lệ phần trăm của tổng số tổng của chúng.
    • Bước 5: Vẽ biểu đồ kết nối% mục tích lũy và% giá trị sử dụng tích lũy. Biểu đồ được chia xấp xỉ thành ba phân đoạn, trong đó đường cong thay đổi mạnh hình dạng của nó. Điều này chỉ ra ba phân đoạn A, B và C.

    Categorised in: Chuyên Mục

    This post was written by admin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Và Ý Nghĩa Phương Pháp Phỏng Vấn Và Phương Pháp Ankét
  • Aac Là File Gì? Cách Mở, Chỉnh Sửa Và Chuyển Đổi File Aac
  • Steam Là Gì? Hiểu Đúng Về Phương Pháp Giáo Dục Steam
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 10
  • Phương Pháp, Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Luận Triết Học Mác Lênin
  • Phân Tích Abc Trong Supply Chain

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Quên Cách Thực Hiện Theo Danh Sách Việc Cần Làm Đi, Thay Vào Đó Sử Dụng “phương Pháp Abcde”, Chắc Chắn Bạn Sẽ Thành Công Hơn Mỗi Ngày!
  • Ct, Mri And Dwi Features Of A Solid Organizing Hepatic Abscess
  • Hemorrhage In The Wall Of Pyogenic Brain Abscess On Susceptibility Weighted Mr Sequence: A Report Of 3 Cases
  • Microbiology And Management Of Pediatric Liver Abscesses: Two Cases Caused By Streptococcus Anginosus Group
  • Cách Tính Giá Thành Sản Phẩm Theo Phương Pháp Giản Đơn
  • Hệ thống ABC trong phân khúc thị trường của chuỗi cung ứng

    Đối với các công ty hiện nay, thì phương pháp phân tích ABC là một trong những phương pháp phổ biến nhất được ứng dụng cho sản phẩm. Hệ thống ABC chỉ đơn giản là các muc. Bạn tạo ra 3 mục A, B, C thì được gọi là hệ thống ABC. Do đó khi bạn phân khúc thị trường, bạn muốn tìm những sản phẩm thuộc loại A. Sẽ có một vài cái rất quan trọng. Và có những sản phẩm khác thì lại có tầm ảnh hưởng thấp hơn. Có những sản phẩm bạn muốn dồn hầu hết nguồn lực của bạn vào vì chúng là quan trọng nhất. Cho nên bạn có không có một chu trình tiêu chuẩn. Và bạn muốn đối xử với chúng một cách khác biệt.

    Tiếp theo là chúng ta nói đến sản phẩm B. Đây là những sản phẩm nằm ở giữa, chúng ta dành nhiều thời gian cho sản phẩm B khi chúng ta đề cập đến hàng tồn kho. Điều này có tầm ảnh hưởng khá lớn. Và lý do tại sao chúng a dành thời gian vào chúng là vì chúng ta sẽ nói về những cách khác nhau để có thể tự động kiểm soát. Chúng ta sẽ thiết lập những chính sách khác nhau mà chúng ta có thể sử dụng. Quy luật ở đây có thể sẽ được sử dụng cho A nên chúng ta sẽ phát triển chính sách cho B, sau đó thì trộn chúng vào một chút. Nhưng điều quan trọng ở đây là sản phẩm A phải được đối xử 1 cách khác biết. Chúng là quan trọng thứ yếu. Và bạn muốn tự động hóa sản phẩm B. Còn sản phẩm C thì bình thường. Có hàng đống thứ mà bạn muốn làm, bạn có thể cắt giảm lượng thời gian mà bạn dành cho chúng. Bạn có thể muốn loại bỏ một vài sản phẩm C. Nhưng bạn muốn chắc chắn rằng bạn không dành quá nhiều thời gian vào chúng. Bạn muốn kiểm soát một hệ thống mà mọi thứ càng đơn giản càng tốt. Điều quan trọng ở đây là khi chúng ta nói về ABC, tức là nó đang mửo rộng ra, khi bạn đến và nói về phân tích ABC, mọi người đều hiểu bạn đang nói về cái gì. Do vậy nên có 2 điều mà tôi muốn đề cập. Thứ nhất là các mục là tùy ý. Khi bạn gọi một sản phẩm là A, có thể chia ra thành B hay B+…. Điều thứ 2 là những sản phẩm không dừng lại ở cấp độ C, bạn có thẻ có sản phẩm D, E, F, 2F, 3F…

    Khi bạn nghĩ về những ngành công nghiệp riêng rẽ, bạn có thể có những sản phẩm mà chỉ có 1 phân khúc được bán trong vòng 5 năm hoặc lâu hơn. Vì bạn có thể có những cái máy kéo trên đồng ruộng trong 50 năm. Và khi chúng ta thường nói về ABC, nhưng một vài nền công nghiệp có chu trình dài hơn. HỌ quản lý chúng khác hơn. Đặc biệt, như tôi đã nói, những ngành công nghiệp phân tách.

    Vậy tôi sẽ làm ABC như nào. Nó là một chu trình khá đơn giản.

    Cột đầu tôi có mã hàng hóa ( Part IDs), ở cột thứ tôi có giá cả cho từng hàng hóa tạm gọi là c_i. Bạn có thể thấy được là giá cả dao động từ 25$ cho 1 mã hàng đến 0,25$ 1 mã hàng. Cầu hàng năm, gọi là D_i, cầu hàng năm cho mỗi sản phẩm là khác nhau. Bạn có thể thấy được tôi đã tạo ra cột thứ 4, chỉ đơn giản là nhân cột giá với cột Cầu hàng năm, vì nó sẽ cho tôi biết được giá trị hàng năm. Thông thường thì, với phân tích ABC, điều chúng ta quan tâm nhiều nhất là giá trị. Giá trị hàng năm của sản phẩm mang lại, hay còn gọi là tổng doanh thu. Trong bất cứ trường hợp nào, nó cũng có 2 chức năng, một là giá cả của hàng hóa và nhu cầu của thị trường. Cho nên sản phẩm C x D cho biết tôi sẽ có bao nhiêu giá trị ở đây. Hãy nghĩ về ví dụ về bóng chày và khúc côn cầu, điều tương tự cũng xảy ra? Cái mà chúng ta tập trung ở đây là c có một vài điểm khá giống nhau. Nhưng về cầu thì thay đổi. Bạn có thể nghĩ là thay vì cầu hàng năm, có thể là cầu hàng tháng, bạn có thể thay đổi điều đó. Nhưng trong trường hợp nào, vào cuối ngày, tôi sẽ có tổng doanh thu của mỗi sản phẩm. Điều mà tôi làm là tôi tìm ra tổng giá trị hàng hóa, rồi tôi bắt đầu phân loại nó theo mục.

    Bạn có thể thấy ở đây là có 20 mã hàng hóa, với hơn 4000 đơn vị cầu, tổng giá trị hang hóa là 22000$. Sau đó tôi bắt đầu chia nó ra. Và tôi thấy được là mã hàng 55K2 có lượng doanh thu lớn nhất. Và tôi có một cột mới. Cột này được gọi là tần số tích lũy. Sau đó thì tôi tính % của nó.

    8347 chia cho tổng doanh thu, 21984 = 38%. Và ở đây, 13544/21984=62%. Bẳng các đó tôi tìm được % của tổng doanh thu. Tiếp theo tô sẽ làm như nào với những cái này? Tôi bắt đầu phân loại. Tôi chọn ra 20% mã hàng hóa chiếm đến 80% tổng doanh thu, tiếp đó tôi chọn tiếp hàng hóa chiếm 15% tổng doanh thu, cái còn lại thì là C.

    Đó, bạn có thấy tại sao nó hơi mang tính tùy ý, nhưng đó là điều bình thường, các công ty thường tuân theo quy tắt 80/20. Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, trong trường hợp này nó chỉ đơn giản là một ví dụ. Sau đó tôi bắt đầu đưa chúng vào bảng, cũng cùng loại bảo với ví dụ về cửa hàng tạp hóa mà tôi đã trình bày ở bài viết trước. Đều có % của mã hàng và % của tổng doanh thu.

    Trong hình các bạn có thể thấy được vị trí của nhóm sản phẩm A, B, C. Do đó tôi có thể xử lý chúng khác nhau. Có một cách rất tốt để tiến hành phân khúc. Mọi công ty đều sử dụng hình thức này, nhưng họ không chỉ dừng lại ở đó. Ví dụ như là tôi muốn nhìn vào mức độ đa dạng của cầu.

    Ở trục tung tôi có được Mức độ đa dạng của cầu. Tôi chia như vậy vì đang sử dụng phân tích ABC. Nhưng sẽ gặp một số rắc rối ở đây. Ví dụ như là tôi nói rằng tôi bán 250 sản phẩm trong 1 năm, sẽ là rắc rối nếu tôi bán 250 sản phẩm trong 1 ngày hay là mỗi ngày tôi bán được 1 sản phẩm trong 250 ngày. Cho nên để đảm bảo tính ổn định, tôi sẽ đề cập để mỗi sản phẩm 1 ngày. Điều đó thực sự khác nhau. Nên họ sẽ có những sự đa dạng về nhu cầu khác nhau và có thể tôi muốn xử lý những sản phẩm có tính đa dạng cao khác hơn so với những sản phẩm có tính đa dạng thấp. Và 3 hình tròn bên trên cho thấy được cách mà những công ty khác nhau sử dụng: đầu tiên là họ phân khúc theo phương pháp ABC. Nhưng sau đó họ cũng nhìn và sự đa dạng, và họ tiến hành cắt (đường gạch liền giữa hình tròn màu xanh). Và đó thường là độ lệch của của cầu trên trung bình. Và khi bạn tiến hành cắt ở đó, bạn sẽ xác định được nó có tính đa dạng cao hay thấp. Và khi bạn nhìn vào 3 mục lớn này, bạn có thể quản lý được chúng. Hãy quan sát hình tròn màu đỏ, chúng khá dễ bay hơi. Nên tôi phải sử dụng những phương pháp tinh vi hơn, thường là đánh giá chúng, dành nhiều thời gian cho chúng. Bạn có thể nhìn thấy hình tròn màu vàng, đó là những sản phẩm mang tính ổn định, tôi có thể tự động hóa những sản phẩm này, ít đánh giá, và có thể sử dụng một số phương pháp quản lý có ngoại lệ. Tổng kết lại thì có thể thấy được màu đỏ là có sự đa dạng cao, màu vàng là đa dạng thấp còn màu xanh là có thể vừa cao vừa thấp về mức độ đa dạng.

    Chúng ta đã kết thúc một phương pháp phân khúc. Phân khúc trong chuỗi cung ứng là một nghệ thuật, không hẳn là một môn khoa học. Không có một quy tắc nào cho chúng. Có thể tùy ý sử dụng ở một vài điểm. Nhưng điều cốt lõi ở đây là bạn phải phân chia sản phẩm để có thể xử lý chúng theo một cách khác nhau. Có những hành đông khác nhau, tôi sẽ quản ý sản phẩm màu đỏ khác biệt hơn những sản phẩm màu xanh. Và nếu cái nào cũng như nhau thì chắc là không cần phải phân khúc nữa phải không? Do vậy bạn luôn cần phân khúc sản phẩm vì một lý do nào đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho
  • Quản Lý Dự Án Theo Mô Hình Linh Hoạt Agile Scrum
  • Tìm Hiều Phương Pháp Quản Lý Theo Agile
  • So Sánh Phương Pháp Scrum Và Kanban Trong Agile
  • Scrum Là Gì Và Tại Sao Nên Dùng Scrum
  • Phân Tích Abc Trong Supply Chain – Hoangthanghq55

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Mô Hình Hạch Toán Chi Phí Theo Hoạt Động (Activity
  • Phương Pháp Abcde Của Brian Tracy Đang Giúp Tôi Năng Suất Hơn Như Thế Nào
  • Phương Pháp Mới Trong Điều Trị Abcess Trung Thất Dưới Thông Qua Nội Soi Ổ Bụng
  • Ngủ Được Ngay Trong 60 Giây: Kỹ Thuật Thở 4
  • Thông Mũi Lấy Đàm Nhớt Cho Trẻ Bằng Vật Lý Trị Liệu, Hiệu Quả
  • Hệ thống ABC trong phân khúc thị trường của chuỗi cung ứng

    Đối với các công ty hiện nay, thì phương pháp phân tích ABC là một trong những phương pháp phổ biến nhất được ứng dụng cho sản phẩm. Hệ thống ABC chỉ đơn giản là các muc. Bạn tạo ra 3 mục A, B, C thì được gọi là hệ thống ABC. Do đó khi bạn phân khúc thị trường, bạn muốn tìm những sản phẩm thuộc loại A. Sẽ có một vài cái rất quan trọng. Và có những sản phẩm khác thì lại có tầm ảnh hưởng thấp hơn. Có những sản phẩm bạn muốn dồn hầu hết nguồn lực của bạn vào vì chúng là quan trọng nhất. Cho nên bạn có không có một chu trình tiêu chuẩn. Và bạn muốn đối xử với chúng một cách khác biệt.

    Tiếp theo là chúng ta nói đến sản phẩm B. Đây là những sản phẩm nằm ở giữa, chúng ta dành nhiều thời gian cho sản phẩm B khi chúng ta đề cập đến hàng tồn kho. Điều này có tầm ảnh hưởng khá lớn. Và lý do tại sao chúng a dành thời gian vào chúng là vì chúng ta sẽ nói về những cách khác nhau để có thể tự động kiểm soát. Chúng ta sẽ thiết lập những chính sách khác nhau mà chúng ta có thể sử dụng. Quy luật ở đây có thể sẽ được sử dụng cho A nên chúng ta sẽ phát triển chính sách cho B, sau đó thì trộn chúng vào một chút. Nhưng điều quan trọng ở đây là sản phẩm A phải được đối xử 1 cách khác biết. Chúng là quan trọng thứ yếu. Và bạn muốn tự động hóa sản phẩm B. Còn sản phẩm C thì bình thường. Có hàng đống thứ mà bạn muốn làm, bạn có thể cắt giảm lượng thời gian mà bạn dành cho chúng. Bạn có thể muốn loại bỏ một vài sản phẩm C. Nhưng bạn muốn chắc chắn rằng bạn không dành quá nhiều thời gian vào chúng. Bạn muốn kiểm soát một hệ thống mà mọi thứ càng đơn giản càng tốt. Điều quan trọng ở đây là khi chúng ta nói về ABC, tức là nó đang mửo rộng ra, khi bạn đến và nói về phân tích ABC, mọi người đều hiểu bạn đang nói về cái gì. Do vậy nên có 2 điều mà tôi muốn đề cập. Thứ nhất là các mục là tùy ý. Khi bạn gọi một sản phẩm là A, có thể chia ra thành B hay B+…. Điều thứ 2 là những sản phẩm không dừng lại ở cấp độ C, bạn có thẻ có sản phẩm D, E, F, 2F, 3F…

    Khi bạn nghĩ về những ngành công nghiệp riêng rẽ, bạn có thể có những sản phẩm mà chỉ có 1 phân khúc được bán trong vòng 5 năm hoặc lâu hơn. Vì bạn có thể có những cái máy kéo trên đồng ruộng trong 50 năm. Và khi chúng ta thường nói về ABC, nhưng một vài nền công nghiệp có chu trình dài hơn. HỌ quản lý chúng khác hơn. Đặc biệt, như tôi đã nói, những ngành công nghiệp phân tách.

    Vậy tôi sẽ làm ABC như nào. Nó là một chu trình khá đơn giản.

    Cột đầu tôi có mã hàng hóa ( Part IDs), ở cột thứ tôi có giá cả cho từng hàng hóa tạm gọi là c_i. Bạn có thể thấy được là giá cả dao động từ 25$ cho 1 mã hàng đến 0,25$ 1 mã hàng. Cầu hàng năm, gọi là D_i, cầu hàng năm cho mỗi sản phẩm là khác nhau. Bạn có thể thấy được tôi đã tạo ra cột thứ 4, chỉ đơn giản là nhân cột giá với cột Cầu hàng năm, vì nó sẽ cho tôi biết được giá trị hàng năm. Thông thường thì, với phân tích ABC, điều chúng ta quan tâm nhiều nhất là giá trị. Giá trị hàng năm của sản phẩm mang lại, hay còn gọi là tổng doanh thu. Trong bất cứ trường hợp nào, nó cũng có 2 chức năng, một là giá cả của hàng hóa và nhu cầu của thị trường. Cho nên sản phẩm C x D cho biết tôi sẽ có bao nhiêu giá trị ở đây. Hãy nghĩ về ví dụ về bóng chày và khúc côn cầu, điều tương tự cũng xảy ra? Cái mà chúng ta tập trung ở đây là c có một vài điểm khá giống nhau. Nhưng về cầu thì thay đổi. Bạn có thể nghĩ là thay vì cầu hàng năm, có thể là cầu hàng tháng, bạn có thể thay đổi điều đó. Nhưng trong trường hợp nào, vào cuối ngày, tôi sẽ có tổng doanh thu của mỗi sản phẩm. Điều mà tôi làm là tôi tìm ra tổng giá trị hàng hóa, rồi tôi bắt đầu phân loại nó theo mục.

    Bạn có thể thấy ở đây là có 20 mã hàng hóa, với hơn 4000 đơn vị cầu, tổng giá trị hang hóa là 22000$. Sau đó tôi bắt đầu chia nó ra. Và tôi thấy được là mã hàng 55K2 có lượng doanh thu lớn nhất. Và tôi có một cột mới. Cột này được gọi là tần số tích lũy. Sau đó thì tôi tính % của nó.

    8347 chia cho tổng doanh thu, 21984 = 38%. Và ở đây, 13544/21984=62%. Bẳng các đó tôi tìm được % của tổng doanh thu. Tiếp theo tô sẽ làm như nào với những cái này? Tôi bắt đầu phân loại. Tôi chọn ra 20% mã hàng hóa chiếm đến 80% tổng doanh thu, tiếp đó tôi chọn tiếp hàng hóa chiếm 15% tổng doanh thu, cái còn lại thì là C.

    Đó, bạn có thấy tại sao nó hơi mang tính tùy ý, nhưng đó là điều bình thường, các công ty thường tuân theo quy tắt 80/20. Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, trong trường hợp này nó chỉ đơn giản là một ví dụ. Sau đó tôi bắt đầu đưa chúng vào bảng, cũng cùng loại bảo với ví dụ về cửa hàng tạp hóa mà tôi đã trình bày ở bài viết trước. Đều có % của mã hàng và % của tổng doanh thu.

    Trong hình các bạn có thể thấy được vị trí của nhóm sản phẩm A, B, C. Do đó tôi có thể xử lý chúng khác nhau. Có một cách rất tốt để tiến hành phân khúc. Mọi công ty đều sử dụng hình thức này, nhưng họ không chỉ dừng lại ở đó. Ví dụ như là tôi muốn nhìn vào mức độ đa dạng của cầu.

    Ở trục tung tôi có được Mức độ đa dạng của cầu. Tôi chia như vậy vì đang sử dụng phân tích ABC. Nhưng sẽ gặp một số rắc rối ở đây. Ví dụ như là tôi nói rằng tôi bán 250 sản phẩm trong 1 năm, sẽ là rắc rối nếu tôi bán 250 sản phẩm trong 1 ngày hay là mỗi ngày tôi bán được 1 sản phẩm trong 250 ngày. Cho nên để đảm bảo tính ổn định, tôi sẽ đề cập để mỗi sản phẩm 1 ngày. Điều đó thực sự khác nhau. Nên họ sẽ có những sự đa dạng về nhu cầu khác nhau và có thể tôi muốn xử lý những sản phẩm có tính đa dạng cao khác hơn so với những sản phẩm có tính đa dạng thấp. Và 3 hình tròn bên trên cho thấy được cách mà những công ty khác nhau sử dụng: đầu tiên là họ phân khúc theo phương pháp ABC. Nhưng sau đó họ cũng nhìn và sự đa dạng, và họ tiến hành cắt (đường gạch liền giữa hình tròn màu xanh). Và đó thường là độ lệch của của cầu trên trung bình. Và khi bạn tiến hành cắt ở đó, bạn sẽ xác định được nó có tính đa dạng cao hay thấp. Và khi bạn nhìn vào 3 mục lớn này, bạn có thể quản lý được chúng. Hãy quan sát hình tròn màu đỏ, chúng khá dễ bay hơi. Nên tôi phải sử dụng những phương pháp tinh vi hơn, thường là đánh giá chúng, dành nhiều thời gian cho chúng. Bạn có thể nhìn thấy hình tròn màu vàng, đó là những sản phẩm mang tính ổn định, tôi có thể tự động hóa những sản phẩm này, ít đánh giá, và có thể sử dụng một số phương pháp quản lý có ngoại lệ. Tổng kết lại thì có thể thấy được màu đỏ là có sự đa dạng cao, màu vàng là đa dạng thấp còn màu xanh là có thể vừa cao vừa thấp về mức độ đa dạng.

    Chúng ta đã kết thúc một phương pháp phân khúc. Phân khúc trong chuỗi cung ứng là một nghệ thuật, không hẳn là một môn khoa học. Không có một quy tắc nào cho chúng. Có thể tùy ý sử dụng ở một vài điểm. Nhưng điều cốt lõi ở đây là bạn phải phân chia sản phẩm để có thể xử lý chúng theo một cách khác nhau. Có những hành đông khác nhau, tôi sẽ quản ý sản phẩm màu đỏ khác biệt hơn những sản phẩm màu xanh. Và nếu cái nào cũng như nhau thì chắc là không cần phải phân khúc nữa phải không? Do vậy bạn luôn cần phân khúc sản phẩm vì một lý do nào đó.

    Share this:

    Like this:

    Like

    Loading…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho Mà Bạn Cần Phải Nắm Được
  • Phương Pháp Quản Lý Linh Hoạt (Agile) Và Chứng Chỉ Quốc Tế Pmi
  • Quản Lý Dự Án Agile – Apmp
  • Phương Pháp Scrum Vs Phương Pháp Agile
  • Kỹ Thuật Nhân Giống Cây Điều Bằng Phương Pháp Ghép Non Nối Ngọn
  • Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Abc Trong Supply Chain
  • Hãy Quên Cách Thực Hiện Theo Danh Sách Việc Cần Làm Đi, Thay Vào Đó Sử Dụng “phương Pháp Abcde”, Chắc Chắn Bạn Sẽ Thành Công Hơn Mỗi Ngày!
  • Ct, Mri And Dwi Features Of A Solid Organizing Hepatic Abscess
  • Hemorrhage In The Wall Of Pyogenic Brain Abscess On Susceptibility Weighted Mr Sequence: A Report Of 3 Cases
  • Microbiology And Management Of Pediatric Liver Abscesses: Two Cases Caused By Streptococcus Anginosus Group
  • Phân tích ABC trong quản lý tồn kho là việc phân loại một nhóm các mặt hàng theo thứ tự giảm dần, dựa trên giá trị của chúng đối với doanh nghiệp. Nhóm A là nhóm quan trọng nhất xét về giá trị đóng góp cho công ty, trong khi các mặt hàng nhóm C có giá trị ít nhất. Để cụ thể hơn:

    • Nhóm A thường chỉ chiếm 10-20% theo số lượng nhưng chiếm 50-80% giá trị

    • Nhóm C chứa 60-70% các mặt hàng nhưng chỉ chiếm 10-30% giá trị

    • Nhóm B có nhiều mặt hàng hơn nhóm C nhưng ít hơn nhóm A, với giá trị cao hơn nhóm C nhưng ít hơn nhiều so với nhóm A.

    Điều quan trọng cần lưu ý là giá trị của hàng tồn kho được xét dựa trên một số tiêu chí, chẳng hạn như doanh thu bán hàng hàng năm, lợi nhuận hoặc thậm chí giá trị tiêu thụ hàng năm. Với sự trợ giúp của phương pháp phân tích ABC, các nhà quản lý có thể tập trung thời gian của họ vào các sản phẩm có giá trị khác và điều chỉnh các chính sách kiểm soát hàng tồn kho của họ cho phù hợp.

    1. Quy tắc 80/20 của phân tích ABC

    2. Ứng dụng phân tích ABC vào thực tế

    Phân tích ABC là một bộ khung đơn giản để tìm ra những mặt hàng nào trong kho là quan trọng nhất, và việc này sẽ dành phần lớn thời gian trong việc kiểm soát và quản lý kho. Phân loại hàng tồn kho theo phương pháp ABC được sử dụng chủ yếu cho 3 nhiệm vụ chính:

    • Xác định mức tồn kho an toàn để duy trì, để tránh tình trạng thiếu tồn kho đối với những mặt hàng quan trọng

    • Xác định các mức phù hợp trong việc quản lý hàng tồn kho, trong đó các mục ưu tiên có thể được kiểm tra thường xuyên hơn hoặc được đếm tự động để bổ trợ cho việc kiểm tra thủ công

    • Định vị hàng hoá tồn kho trong kho riêng lẻ và trong mạng lưới kho

    Đối với người quản lý, doanh thu là yếu tố phổ biến nhất được sử dụng để xác định thứ hạng trong phân tích ABC. Tuy nhiên, cũng có những yếu tố khác có thể được sử dụng như tỷ suất lợi nhuận, tầm quan trọng của khách hàng, mối quan hệ với các mặt hàng khác và vận tốc hoặc lợi nhuận. Xét yếu tố tỷ suất lợi nhuận, lợi nhuận của các mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn có thể là nguyên nhân cho mức tồn kho cao. Trong khi đó, các nhóm hàng tiêu dùng nhanh có thể được duy trì mức tồn kho cao hơn vì các mặt hàng này có lượt quay vòng rất thấp, có thể có ít hoặc không có hàng dự trữ an toàn.

    3. Một số hạn chế của việc phân loại ABC theo kiểu truyền thống

    Mặc dù phân tích ABC là một cách tương đối dễ dàng để phân loại và quản lý hàng tồn kho của công ty, nhưng nó cũng có một số hạn chế. Đối với người quản lý, việc phân loại các mặt hàng dựa trên một hoặc hai yếu tố có thể là một chiều và quá đơn giản. Việc phân tích ABC theo cách truyền thống có thể thiếu linh hoạt. Trong một thị trường nơi các xu hướng được cập nhật liên tục và doanh số sản phẩm có thể thất thường, các mặt hàng có thể chuyển từ loại C sang A rất nhanh. Nếu không có phân tích liên tục, phân loại ABC hiện tại của công ty có thể nhanh chóng trở nên lỗi thời.

    Ngoài rủi ro nhóm phân loại trở nên lỗi thời theo thời gian, việc liên tục đánh giá lại và phân loại lại giữa ba nhóm có thể tốn rất nhiều thời gian. Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến những ảnh hưởng tới lợi ích chung của công ty.

    Để khắc phục những nhược điểm trên và sử dụng phân tích ABC một cách hiệu quả, các nhà quản lý cần cân nhắc sử dụng phần mềm để phân tích và phân loại hàng tồn kho của công ty. Nhờ sự trợ giúp của công nghệ, các nhà quản lý có thể theo dõi sự chuyển động của các mục giữa các nhóm và tự động phân loại dựa trên những yếu tố đã cho.

    https://www.eazystock.com/uk/blog-uk/abc-analysis-inventory-management/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Dự Án Theo Mô Hình Linh Hoạt Agile Scrum
  • Tìm Hiều Phương Pháp Quản Lý Theo Agile
  • So Sánh Phương Pháp Scrum Và Kanban Trong Agile
  • Scrum Là Gì Và Tại Sao Nên Dùng Scrum
  • Goodbye Orgchart! The Dual Operating System And Scale
  • Kế Toán Chi Phí Dựa Trên Hoạt Động (Abc

    --- Bài mới hơn ---

  • Là Gì? Bao Nhiêu Tiền? Có Tốt Không?
  • Chi Phí Điều Trị Phương Pháp Ala
  • Hỗ Trợ Điều Trị Sùi Mào Gà Hiệu Quả Bằng Phương Pháp Ala
  • Phương Pháp Aas Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Một Số Lưu Ý Đối Với Phương Pháp Aas
  • KẾ TOÁN CHI PHÍ DỰA TRÊN HOẠT ĐỘNG (ABC- ACTIVITY- BASED COSTING)

    KẾ TOÁN CHI PHÍ DỰA TRÊN HOẠT ĐỘNG (ABC- ACTIVITY- BASED COSTING)

    1. Ưu điểm của phương pháp ABC

    2 Nhược điểm của phương pháp ABC

    Một hạn chế của phương pháp ABC là các báo cáo cung cấp thông tin ra bên ngoài phải dựa trên việc nhận diện chi phí theo phương pháp truyền thống. Xác định giá phí theo phương pháp truyền thống phải phân chia chi phí thành chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm, chi phí tồn kho bao gồm tất cả chi phí sản xuất chứ không có chi phí thời kỳ. Kết quả là, phương pháp ABC có thể tạo ra kết quả khác với những yêu cầu thường được chấp nhận theo các nguyên tắc kế toán (GAAP). Do đó, ABC phương pháp thường được xem như phương pháp bổ sung. Nó được sử dụng để quản lý và ra quyết định nội bộ, nhưng nó không phù hợp với báo cáo công khai (lưu ý: khi kết quả báo cáo tài chính tổng hợp không khác nhau về vật chất giữa ABC và phương pháp khác, ABC có thể được sử dụng cho mục đích bên trong và bên ngoài).

    Thực tế là phương pháp ABC không tuân thủ theo quy định của GAAP, nghĩa là một công ty muốn sử dụng phương pháp ABC thì phải sử dụng hai hệ thống chi phí: một cho báo cáo bên ngoài và một cho quản lý nội bộ. Một bất lợi khác của phương pháp ABC là nó phức tạp hơn các phương pháp xác định chi phí khác. Hơn nữa việc phân bổ chi phí chung của tất cả các phân xưởng sản xuất trên cơ sở số giờ lao động đòi hỏi nhiều yếu tố chi phí phải được phân bổ riêng. Nói cách khác, ABC là một kỹ thuật chuyên sâu hơn, và chi phí để thực hiện nó là vấn đề mà các dn phải quan tâm.

    3. Thực tế của phương pháp ABC

    Mặc dù có những hạn chế, nhưng nhiều công ty vẫn sử dụng phương pháp ABC. Một tìm kiếm trên internet sẽ nhanh chóng cho ra hàng triệu tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận chi phí ABC, bao gồm các nhóm chuyên gia tư vấn quản lý khác nhau đã ca ngợi giá trị của nó. Như bạn có thể nghi ngờ, nhiều quyết định kinh doanh quan trọng về số phận của một sản phẩm được dựa trên đánh giá về lợi nhuận và lợi nhuận là phần còn lại của tổng giá bán trừ cho chi phí. Bởi vì giá bán sẽ được thiết lập, các “quyết định” làm thế nào để xác định một giá thành sản phẩm là rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng sinh lời mấu chốt của một loại sản hoặc dịch vụ. Như các công ty đã có sự phát triển lớn hơn và đa dạng hơn trong sản phẩm, đã có một mối quan tâm về các chi phí đã phát sinh như thế nào. Có thể cho rằng, đa dạng hóa sản phẩm là một yếu tố góp phần quan trọng vào việc xác định chi phí của kế toán quản trị như phương pháp ABC.

    3. Khái niệm về phương pháp xác định chi phí ABC

    Nếu chúng ta cho rằng, theo phương pháp truyền thống “đối tượng tập hợp chi phí” là sản phẩm hoặc dịch vụ cuối cùng. Rất đơn giản, chi phí chính (nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp) của sản phẩm được theo dõi và tập hợp cho sản phẩm trong khi đó chi phí sản xuất chung được phân bổ cho các sản phẩm.

    4 Các bước để thực hiện ABC

    4.1. Tìm hiểu quy trình sản xuất và chi phí

    Người ta nói rằng ABC là quá trình định hướng. Do đó, bước đầu tiên trong việc thực hiện ABC là một nghiên cứu chi tiết của tất cả các quy trình kinh doanh và chi phí. Việc nghiên cứu mở rộng này thường xuyên bao gồm nhân viên trong tổ chức. Sự tham gia của nhân viên là rất quan trọng để có được hệ thống các giao dịch một cách chính xác, và do đó sẽ có sự chấp thuận hệ thống đo lường sản phẩm. Nhân viên các cấp cần phải tin tưởng vào kết quả của hệ thống kế toán trước khi họ thực sự dựa trên các kết quả đó.

    4.2. Xác định hoạt động

    Một công việc kinh doanh phải được tìm hiểu kỹ càng để đưa ra các hoạt động kinh doanh mà hoạt động này sẽ là các trung tâm phân bổ chi phi. Quá nhiều hoạt động và hệ thống thì rất khó quản lý và thông tin quá ít thì sẽ không có ý nghĩa. Việc thiết kế các hoạt động thành các cấp độ khác nhau là thật sự cần thiết.

    Hoạt động đơn vị là những hoạt động có sự tương ứng một-một với một đơn vị sản phẩm. Ví dụ, một nhà sản xuất kính thiên văn có thể phải thực hiện một số hoạt động hiệu chuẩn cuối cùng cho mỗi sản phẩm (cho dù đó là một phạm vi cấp nhập cảnh hoặc một thiết bị tiên tiến). Do đó, hiệu chuẩn có thể được xem như một hoạt động.

    Hoạt động cấp sản phẩm được thực hiện ở cấp độ sản phẩm, không có khối lượng sản xuất. Thiết kế sản phẩm, tiếp thị sản phẩm,,. Là các hoạt động có sự tương ứng một-một với số lượng của sản phẩm cuối cùng.

    Ở các doanh nghiệp khác có thể có các mức hoạt động khác phù hợp như: hợp đồng công ty toàn cầu nhất với hải quan độc lập môi giới trong mỗi thị trường phục vụ. Như vậy, chi phí của các dịch vụ môi giới hải quan có thể

    xem như là một chức năng của thị trường phục vụ.

    Việc xác định các hoạt động là theo đặc thù cho mỗi công ty. Các mức độ hoạt động ở trên cung cấp một khung tham khảo hữu ích trong việc xem xét các hoạt động quan trọng của một tổ chức. Chuyên gia tư vấn chuyên ABC cũng có thể giúp cho một công ty tìm kiếm các hoạt động quan trọng của nó. Và hoạt động đó sẽ trở thành một trung tâm của một hệ thống ABC. Theo nguyên tắc chung, các nhà tư vấn đưa ra các ý kiến: (1) phát triển một danh sách của tất cả các hoạt động thể hiểu được, (2) tách riêng các hoạt động theo mức độ, và (3) tìm kiếm cách hợp lý để kết hợp các hoạt động tương tự trong mỗi cấp độ (nhưng không qua mức vì điều này sẽ làm suy yếu các cơ sở trên đó chi phí hoạt động cuối cùng sẽ được phân bổ cho chi phí các đối tượng).

    Các phương pháp được sử dụng để nhận diện và phân loại hoạt động được sử dụng trong phương pháp ABC bao gồm:

    * Phương pháp Phỏng vấn hay tham gia

    4. 3 Nhận diện các chi phí cần theo dõi

    .4.4 Gán các chi phí còn lại vào hoạt động

    Sau khi đã xác định được các chi phí tập hợp trực tiếp cho các đối tượng, các chi phí còn lại tập hợp theo hoạt động. Điều này có lúc dễ dàng, hợp lý nhưng đôi khi cũng khó khăn. Ví dụ có một nhóm nhân viên kỹ thuật không làm gì nhưng để sản xuất thì máy móc phải được cài đặt trước đó. Chi phí của nhóm này có thể dễ dàng gán cho máy hoạt động thiết lập, do đó sẽ được phân bổ cho một loạt các sản phẩm cuối cùng. Tuy nhiên, Nếu là các kỹ sư công nghiệp thì phải có một nhóm nhân viên luôn luôn phải làm một việc dọn dẹp lớn sau mỗi máy thiết lập. Có lẽ 10% thời gian nhân viên dọn dẹp nên được gán cho máy thiết lập và khác 90% cho bảo trì chung. Và với ví dụ này phương pháp ABC có thể trở nên rất phức tạp.

    4.5 Xác định chi phí cho một đơn vị hoạt động

    4.6 Tính toán và phân bổ chi phí cho các đối tượng

    Bước cuối cùng là dựa vào tỷ lệ chi phí cho một đơn vị hoạt động để tính toán chi phí cho các đối tượng

    Như vậy, có thể nói rằng, phương pháp ABC có thể biến một chi phí gián tiếp thành một chi phí trực tiếp với một đối tượng tạo lập chi phí xác định. Việc lựa chọn các hoạt động và tiêu chuẩn phân bổ chi phí hợp lý giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có được những báo cáo về giá thành sản phẩm, dịch vụ với độ tin cậy cao hơn nhiều so với phương pháp truyền thống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Abc Activity Based Costing
  • Agile Là Gì? Scrum Là Gì? Các Công Cụ Quản Lý Dự Án Theo Agile Mà Bạn Nên Biết
  • Tổng Quan Về Nguyên Tắc Agile Và Cách Áp Dụng Agile Trong Quản Lý Dự Án
  • Agile Là Gì Và Các Phương Pháp Kiểm Thử Agile
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Phân Tích Abc Và Phân Tích Xyz Trong Quản Lý Tồn Kho

    --- Bài mới hơn ---

  • Price Action Là Gì? Phương Pháp Giao Dịch Price Action Toàn Tập
  • Thế Nào Là Giao Dịch Bằng Phương Pháp Price Action (Hành Động Giá)
  • Price Action Là Gì? Hướng Dẫn Price Action Trading Toàn Tập
  • Price Action Là Gì? Toàn Tập Về Phương Pháp Giao Dịch Price Action(Hành Động Giá)
  • Khi Sử Dụng Phương Pháp Giao Dịch Price Action Cần Lưu Ý Những Gì?
  • Chỉ tiêu bán hàng có thể được đánh giá theo nhiều cách khác nhau. Cách tốt nhất là theo chỉ tiêu lợi nhuận (lãi gộp), có nghĩa là hàng càng có giá trị thì nó càng đem lại nhiều lợi nhuận. Ngoài ra, có thể lấy doanh số hoặc số lượng để làm chỉ tiêu bán hàng.

    Phân tích XYZ

    Phân loại XYZ được dùng để đánh giá mức độ ổn định của hàng hóa bán ra.

    Để làm điều này, đối với mỗi một mặt hàng có tính ra một hệ số biến thiên, từ đó cho thấy mức độ sai lệch trung bình (tính theo phần trăm) về chỉ tiêu bán hàng của từng kỳ so với chỉ tiêu bán hàng trung bình của chính mặt hàng đó. Nếu như hệ số mà bằng 0 thì có nghĩa là hàng tuần (hoặc hàng tháng, tùy thuộc vào việc lựa chọn kỳ phân tích) chỉ tiêu bán hàng là như nhau. Hệ số này càng lớn thì chỉ tiêu bán hàng của mặt hàng này càng không ổn định.

    Hàng hóa được bán trong các kỳ trước mà càng ổn định bao nhiêu thì càng dễ dàng dự báo trong các kỳ tới bấy nhiêu. Chính vì vậy, đối với hàng hóa mà có hệ số biến thiên nhỏ thì có thể dựa trên dữ liệu về tốc độ bán hàng trung bình để lập ra đơn hàng đặt nhà cung cấp.

    Trong nhóm X có các hàng hóa mà được bán ổn định trong kỳ được chọn, còn nhóm Y là các hàng với mức độ ổn định trung bình. Hàng hóa mà được bán năm thì mười họa thì rơi vào nhóm Z.

    Một số nguyên tắc khuyến cáo làm việc với hàng hóa tùy thuộc vào nhóm hàng hóa:

      X là hàng hóa có đặc trưng về nhu cầu ổn định, thường có mức độ biến thiên dưới 15%. Nhiệm vụ chính của bộ phận mua hàng là đặt mua đúng như số lượng bán hàng để không tạo ra lượng hàng thừa trong kho (kỹ thuật đặt hàng “theo đúng thời hạn”). Số lượng hàng hóa bán ra trong mỗi kỳ gần như là giống nhau.
      Z là hàng hóa mà khi bán không thể dự báo được bất kỳ điều gì (có độ biến thiên trên 50%).

    Kết hợp các phương pháp ABC và XYZ

    Việc kết hợp các phương pháp phân tích ABC và XYZ cho phép lựa ra các mặt hàng đầu bảng (nhóm AX) và các mặt hàng ngoài lề (CZ). Cả 2 phương pháp đều bổ sung tốt cho nhau. Nếu như phương pháp phân tích ABC cho phép đánh giá mức độ ảnh hưởng của mỗi mặt hàng trong cấu trúc bán hàng, thì phương pháp XYZ cho phép đánh giá mức độ biến thiên trong kênh tiêu thụ, nghĩa là mức độ không ổn định của chỉ tiêu bán hàng.

    Cách kết hợp phân loại ABC và XYZ tạo ra 9 nhóm giá trị được mô tả như sau:

    Hàng hóa nhóm A và B đảm bảo luồng quay vòng chính cho doanh nghiệp. Bởi vậy, cần đảm bảo luôn có sẵn các hàng hóa loại này trong kho. Theo thừa nhận chung trong thực tế thì lượng hàng tồn kho thuộc theo nhóm A có thể tính ở mức thừa, còn theo nhóm B thì được tính ở mức đủ. Việc sử dụng phân tích XYZ cho phép xây dựng hệ thống quản lý vật tư một cách chính xác hơn và như vậy cho phép giảm bớt giá trị hàng tồn kho.

    Hàng hóa nhóm AX và BX có đặc trưng là vòng quay nhanh và ổn định. Cần đảm bảo hàng luôn có sẵn, nhưng không nhất thiết phải có lượng vật tư dự trữ quá thừa. Lượng hàng xuất ra của nhóm hàng này thường ổn định và có thể dự báo được.

    Hàng hóa thuộc nhóm AY và BY có vòng quay nhanh nhưng lại không đủ mức ổn định, và dẫn đến một điều là: để đảm bảo hàng luôn có sẵn, cần phải tăng lượng vật tư dự phòng.

    Hàng hóa nhóm AZ và BZ có vòng quay nhanh, nhưng lại khó dự báo. Khi muốn đảm bảo hàng hóa này bằng cách tăng mức tồn kho dự phòng thì sẽ dãn đến hậu quả là giá trị vật tư sẽ tăng lên rất nhiều. Các hàng hóa trong nhóm này cần phải được xem xét lại trong hệ thống đặt hàng. Một phần hàng hóa cần chuyển sang hệ thống đặt hàng với đơn hàng có giá trị (số lượng) không đổi, một phần hàng hóa cần được đảm bảo bằng cách đặt hàng thường xuyên hơn, lựa chọn nhà cung cấp có vị trí gần với kho cửa hàng (và như vậy có thể giảm bớt được giá trị hàng tồn kho), rút ngắn chu kỳ kiểm soát, giao trách nhiệm quản lý các mặt hàng này cho người có kinh nghiệm nhất trong công ty…

    Hàng hóa thuộc nhóm C thường phủ 80% danh điểm hàng hóa của doanh nghiệp. Việc áp dụng phương pháp phân tích XYZ cho phép giảm bớt nhiều thời gian mà người quản lý cần phải dành ra cho quản lý và kiểm soát hàng hóa thuộc nhóm này.

    Đối với hàng hóa thuộc nhóm CX, có thể áp dụng hệ thống đặt hàng với tần suất thường xuyên và giảm bớt lượng vật tư dự phòng trong kho.

    Đối với hàng hóa thuộc nhóm CY, có thể chuyển sang hệ thống đặt hàng với đơn hàng có giá trị (số lượng) không đổi, nhưng lúc này cần để mức tồn kho an toàn dựa trên khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    Trong nhóm hàng CZ thường là các hàng hóa mới, hàng hóa với nhu cầu tự phát mà chỉ đặt hàng khi có phát sinh đơn hàng của khách… Một phần hàng hóa này có thể mạnh dạn loại bỏ khỏi danh điểm hàng hóa, một phần khác thì cần kiểm soát thường xuyên, bởi vì chính các mặt hàng trong nhóm này sẽ là nguồn gốc nảy sinh ra các hàng tồn khó thanh khoản hay khó bán, và điều này dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp.

    Nếu như bạn mới tiếp nhận một nhân viên mới vào làm việc mà chưa có kinh nghiệm, và giao việc quản lý hàng hóa nhóm AZ thì bạn có khả năng sẽ bị thiệt hại trong thời kỳ tiếp thu kinh nghiệm cần thiết.

    Nếu như bạn giao việc quản lý nhóm hàng CX thì trong khoảng thời gian làm việc 1 năm, nhân viên này sẽ học được cách bấm nút trên máy tính và gửi đơn hàng cho nhà cung cấp. Nếu như giao việc quản lý hàng hóa nhóm CZ thì nhân viên sẽ nhanh chóng nắm bắt kinh nghiệm, còn công ty thì cũng không bị thiệt hại vì những thử nghiệm của nhân viên này, còn bạn thì không cần phải kiểm soát từng bước chân của anh ta.

    Ưu điểm của việc kết hợp các phương pháp phân tích ABC và XYZ

    Việc sử dụng kết hợp phương pháp ABC và XYZ có một loạt các ưu điểm như sau:

      Nâng cáo hiệu quả của hệ thống quản lý hàng tồn kho;
      Nâng cao tỷ lệ các mặt hàng có mức độ lợi nhuận mà không vi phạm các nguyên tắc trong chính sách quản lý danh điểm hàng hóa trong cửa hàng;
      Phát hiện ra các hàng hóa chủ đạo và các nguyên nhân ảnh hưởng đến số lượng hàng hóa còn tồn trong kho;
      Phân bổ lại chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của nhân viên trong việc quản lý hàng hóa, phụ thuộc vào chuyên môn và kinh nghiệm sẵn có.

    Theo chúng tôi VOER …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Ăn Dặm Kiểu Truyền Thống Có Còn Phù Hợp?
  • Một Số Phương Pháp Trị Liệu Cho Trẻ Tự Kỷ
  • Aac Cho Lớp Học › Góc Chuyên Môn
  • Agile Là Gì? Cách Thực Hiện Phương Thức Agile
  • Cách Giảm 10 Cân Trong 2 Tháng Bằng Phương Pháp Keto
  • Kỹ Thuật Phân Tích Abc Và Phân Tích Xyz Trong Quản Lý Tồn Kho

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữa Sùi Mào Gà Bằng Phương Pháp Ala Pdt
  • Price Action Là Gì Và Phương Pháp Giao Dịch Ra Sao?
  • Price Action Là Gì? Phương Pháp Giao Dịch Với Price Action
  • Price Action Là Gì? Cách Giao Dịch Với Price Action Toàn Tập
  • Hướng Dẫn Cách Cho Bé 6 Tháng Ăn Dặm Theo Phương Pháp Blw Hiệu Quả
  • Phân tích ABC và phân tích XYZ là các khái niệm cơ bản trong quản lý tồn kho, quản lý vật tư và lập đơn hàng tự động đặt nhà cung cấp. Nếu bạn muốn kinh doanh thì cần phải nắm vững những kiến thức này.

    1. Kỹ thuật phân tích ABC

    Trong kinh doanh, kỹ thuật phân tích ABC thường được sử dụng nhằm xác định mức độ quan trọng của hàng hóa tồn kho. Qua đó, xây dựng phương pháp dự báo, chuẩn bị nguồn lực và xây dựng quy trình quản lý hàng tồn kho cho từng nhóm hàng khác nhau.

    Phương pháp phân tích ABC được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc Pareto – 20% hàng hóa đem lại 80% doanh số. Nói cách khác, nếu bạn kiểm soát tốt 20% hàng hóa này thì có thể kiểm soát 80% toàn bộ hệ thống.

    Hàng hóa được khuyến cáo chia thành 3 thể loại:

    Nhóm A: Là những hàng hóa có giá trị cao nhất, chiếm từ 70-80% so với tổng giá trị hàng hoá dự trữ trong kho. Đặc tính của nhóm hàng này:

    • Có tính chọn lọc nhà cung cấp cao
    • Cần sự chính xác về số lượng và thời gian đặt hàng
    • Cần mua hàng liên tục

    Nhóm B: Bao gồm những loại hàng hoá dự trữ có giá trị hàng năm ở mức trung bình. Hàng hóa nhóm B là hàng trung gian, đem lại 15% chỉ tiêu bán hàng cho doanh nghiệp.

    Nhóm C: Gồm những loại hàng có giá trị thấp, giá trị dự trữ chỉ chiếm 5% so với tổng giá trị hàng dự trữ. Nhóm hàng này cần:

    • Đơn giản hoá quy trình mua hàng
    • Thời gian giữa các lượt đặt hàng dài

    Chỉ tiêu bán hàng có thể được đánh giá theo nhiều cách khác nhau. Cách tốt nhất và được dùng phổ biến nhất là theo chỉ tiêu lợi nhuận. Hàng nào giá trị càng cao thì mang lại lợi nhuận càng nhiều. Ngoài ra, doanh số, số lượng cũng là chỉ tiêu bán hàng được nhiều doanh nghiệp – cửa hàng áp dụng.

    1.2. Tác dụng của phân tích ABC trong công tác quản trị

    Các nguồn vốn để mua hàng nhóm A cần phải nhiều hơn so với nhóm C. Nên đầu tư thích đáng vào nhóm A bởi đây là mặt hàng mang lại nhiều giá trị lợi nhuận.

    Các loại hàng nhóm A cần có sự ưu tiên trong các khâu quản lý, kiểm tra thường xuyên. Việc lập báo cáo chính xác sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo được độ an toàn trong sản xuất, tránh rủi ro, thất thoát.

    Cần chú trọng khâu dự báo của nhóm A cẩn thận hơn các nhóm khác.

    Tóm lại, kỹ thuật phân tích ABC trong logistics sẽ mang lại kết quả tốt hơn trong dự báo, kiểm soát, đảm bảo tính khả thi của nguồn cung ứng, tối ưu hoá lượng dự trữ.

    2. Kỹ thuật phân tích XYZ

    Mô hình phân loại XYZ được dùng để đánh giá mức độ ổn định của hàng hóa bán ra, là 1 trong những kỹ thuật quan trọng khi quản lý hàng hóa để tránh thất thoát.

    Do đó, mỗi mặt hàng có một hệ số biến thiên nên dễ kiểm soát mức độ sai lệch trung bình chỉ tiêu bán hàng. Nếu hệ số bằng 0, chỉ tiêu bán hàng theo tuần – tháng là như nhau. Hệ số càng lớn, chỉ tiêu bán hàng càng không ổn định.

    Hàng hóa được bán trong các kỳ trước nếu càng ổn định thì càng dễ dự báo trong các kỳ tới.

    Các hàng hóa mà được bán ổn định trong kỳ được chọn thuộc nhóm X, còn hàng hóa bán ở mức độ trung bình thuộc nhóm Y. Hàng hóa mà khó dự báo thì rơi vào nhóm Z.

    2.1. Thế nào là mô hình XYZ?

    X là hàng hóa có nhu cầu ổn định, thường có mức độ biến thiên dưới 15%. Lượng hàng hóa mỗi kỳ bán ra tương đương nhau.

    Z là hàng hóa mà khi bán không thể dự báo được bất kỳ điều gì (có độ biến thiên trên 50%).

    3. Kết hợp các phương pháp phân tích ABC và XYZ

    Việc kết hợp các phương pháp phân tích ABC và XYZ cho phép lựa ra các mặt hàng đầu bảng (nhóm AX) và các mặt hàng ngoài lề (CZ). Nếu như phương pháp phân tích ABC cho phép đánh giá mức độ ảnh hưởng của mỗi mặt hàng trong cấu trúc bán hàng, thì phương pháp XYZ cho phép đánh giá mức độ biến thiên trong tiêu thụ.

    3.1. 9 nhóm giá trị khi kết hợp kỹ thuật phân tích ABC và phân tích XYZ

    Cách kết hợp phân tích mô hình ABC và XYZ tạo ra 9 nhóm giá trị được mô tả như sau:

    Hàng hóa nhóm AX và BX có đặc trưng là vòng quay nhanh và ổn định. Hàng nhóm này nên có sẵn và cũng không nhất thiết phải dư thừa nhiều. Bởi hàng nhóm này thường ổn định, có thể dự báo được.

    Hàng hóa thuộc nhóm AY và BY có vòng quay nhanh nhưng lại không đủ ổn định, nên cần phải có hàng dự phòng.

    Hàng hóa nhóm AZ và BZ có vòng quay nhanh, nhưng lại khó dự báo. Hàng hóa này cần kiểm soát tốt nếu không sẽ bị tồn kho nghiêm trọng.

    Hàng hóa thuộc nhóm C thường phủ 80% điểm hàng hóa của doanh nghiệp. Phân tích XYZ sẽ giúp người quản lý giảm bớt thời gian kiểm soát hàng hóa thuộc nhóm này.

    Đối với hàng hóa thuộc nhóm CX, có thể áp dụng hệ thống đặt hàng với tần suất thường xuyên và giảm bớt lượng vật tư dự phòng trong kho.

    Hàng hóa nhóm CY, có thể chuyển sang hệ thống đặt hàng với đơn hàng có giá trị (số lượng) không đổi, nhưng cần đảm bảo mức tồn kho an toàn phù hợp với tài chính của doanh nghiệp.

    Nhóm hàng CZ thường là các hàng hóa mới, hàng hóa với nhu cầu tự phát do phát sinh đơn hàng của khách… Mặt hàng này có thể mạnh dạn loại bỏ, nếu chủ động lấy về không đúng nhu cầu của khách sẽ dễ dẫn tới tồn kho, mang lại rủi ro nghiêm trọng cho doanh nghiệp.

    Giả sử bạn vừa nhận một nhân viên mới chưa có kinh nghiệm vào làm việc và giao nhóm hàng AZ cho người đó quản lý, khả năng bạn bị thiệt hại là khá lớn.

    Nhưng nếu như bạn giao việc quản lý nhóm hàng CX hay CZ thì nhân viên sẽ nhanh chóng nắm bắt kinh nghiệm ít bị thiệt hại.

    • Nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý hàng tồn kho
    • Nâng cao tỷ lệ các mặt hàng có mức độ lợi nhuận mà không vi phạm các nguyên tắc trong chính sách quản lý danh điểm hàng hóa trong cửa hàng;
    • Tìm ra các loại hàng hóa chủ đạo, đồng thời tìm ra nguyên nhân làm hàng hóa tồn kho
    • Phân bổ lại chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của nhân viên trong việc quản lý hàng hóa, phụ thuộc vào chuyên môn và kinh nghiệm sẵn có.

    Đọc tiếp: 15 cách quản lý kho hàng hiệu quả trong bán lẻ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho
  • Nội Dung Và Ý Nghĩa Phương Pháp Phỏng Vấn Và Phương Pháp Ankét
  • Aac Là File Gì? Cách Mở, Chỉnh Sửa Và Chuyển Đổi File Aac
  • Steam Là Gì? Hiểu Đúng Về Phương Pháp Giáo Dục Steam
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 10
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100