Phương Pháp Ahp

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phương Pháp Ahp xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 20/01/2021 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phương Pháp Ahp để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 7.623 lượt xem.

Có 9 tin bài trong chủ đề【Phương Pháp Ahp】

【#1】Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6 Trong Nhà Trường Thcs

Trong việc giảng dạy phân môn Văn hiện nay, giáo viên đã được tiếp cận với rất nhiều phương pháp dạy học mới, không ít giờ dạy học tác phẩm văn chương đã diễn ra khá bài bản, người thầy đã đi hết một quy trình theo trình tự các mục mà vẫn chưa yên tâm. Nguyên nhân chính là chưa xác định, chưa tìm hiểu kỹ đặc trưng thể loại của tác phẩm. Khi tiếp cận bài học, học sinh phải trở thành những cá nhân tích cực, chủ động, tự giác tham gia vào việc tìm hiểu văn bản khám phá nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của các văn bản được học. Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học là vô cùng quan trọng, nó giúp học sinh có cái nhìn đầy đủ và khái quát hơn về thể loại văn học được học đồng thời kích thích sự tìm tòi, ham học hỏi, kích thích tư duy và bồi đắp tình yêu đối với môn học Ngữ văn nói chung và với các văn bản văn học nói riêng.

Là giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy môn Ngữ văn – Môn học bồi dưỡng vẻ đẹp trí tuệ, tâm hồn, tình cảm,… cho các em, chúng ta phải nhận thức rất rõ ràng vai trò của phương pháp dạy học tích hợp trong chương trình Ngữ văn cấp THCS nói chung và trong chương trình Ngữ văn 6 nói riêng. Nếu chỉ giảng dạy theo phương pháp dạy học đơn thuần là phương pháp thuyết trình hay chỉ sử dụng chủ yếu một phương pháp nào đó trong quá trình tìm hiểu văn bản chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giờ dạy cũng như lượng kiến thức mà học sinh lĩnh hội được trong một giờ học.

Khi dạy về các truyền thuyết dân gian Việt Nam: Con Rồng, cháu Tiên; Bánh chưng, bánh giầy; Thánh Gióng; Sơn Tinh Thủy Tinh; Sự tích Hồ Gươm giáo viên yêu cầu học sinh tích hợp với phần Lịch sử, tự khai thác têm thông tin từ nhiều nguồn để hiểu biết thêm về nhà nước Văn Lang – Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam; biết được vị trí địa lí của Nhà nước Văn Lang, của triều Hậu Lê ; hiểu rõ lịch sử, vai trò của vua Hùng Vương thứ VI; của Thánh Gióng; của Lê Lợi; của Hồ Gươm… với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh – quốc phòng của đất nước; quan điểm của Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền đất nước. Qua đó học sinh thấy được vấn đề bảo vệ chủ quyền đất nước đã đặt ra từ thời sơ khai và tiếp nối mãi mãi về sau. Đồng thời nhận thức rõ trách nhiệm của mình trước vấn đề bảo vệ chủ quyền đất nước, bồi dưỡng lòng tự hào và tình yêu đất nước, dân tộc.

Như chúng ta đã biết văn học xuất phát từ đời sống, bắt nguồn từ đời sống vốn muôn hình muôn vẻ. Chính vì thế văn học rất gần gũi. Những văn bản truyện hay, hấp dẫn đã giúp cho giờ học Ngữ văn không chỉ là giờ học đơn thuần mà còn là những giờ giải trí, khám phá biết bao điều kỳ diệu của cuộc sống con người. Để có được giờ văn như thế, đòi hỏi người thầy phải luôn chủ động, sáng tạo và linh hoạt khi lên lớp. Ví dụ, khi dạy về truyền thuyết và một đoạn trong Sự tích Hồ Gươm, giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh Lê Lợi Bài thơ Hắc Hải – Nguyễn Đình Thi


【#2】Các Phương Pháp Giáo Dục Sớm Được Áp Dụng Nhiều Nhất Hiện Nay

Xã hội ngày càng phát triển, cha mẹ nào cũng muốn con cái mình thông minh, giỏi giang. Chính vì vậy, những cách nuôi dạy con khoa học, các phương pháp giáo dục sớm hỗ trợ sự phát triển toàn diện cho con cả về thể chất và trí tuệ được áp dụng ngày càng nhiều. Tuy nhiên, giữa nhiều nguồn thông tin trên mạng, nhiều cha mẹ bị hoang mang không hiểu rõ đâu là giáo dục sớm, giáo dục sớm có những lợi ích gì và những phương pháp giáo dục sớm nào được tin tưởng áp dụng nhiều nhất hiện nay. Trong bài viết này, GDKids sẽ giúp cha mẹ có cái nhìn tổng quát nhất về giáo dục sớm trước khi áp dụng cho bé nhà mình.

Giáo dục sớm là gì?

Giáo dục sớm là giáo dục khai mở và phát triển tiềm năng của con người trong giai đoạn từ 0-6 tuổi, đặc biệt từ 0-3 tuổi. Đây là quá trình giáo dục kích thích chức năng của não bộ phát triển trong thời kỳ sinh trưởng của não.

Khác với phương pháp giáo dục theo kiểu truyền thống, đối với Giáo dục sớm, trẻ em không hề bị ép học sớm trước tuổi mà được phát triển hết sức tự nhiên, “học mà chơi, chơi mà học”. Với phương pháp “dạy trong linh hoạt, học trong trò chơi, người dạy có ý mà người học vô ý, trong lúc chơi có học và trong học hành có chơi, trẻ tự quen với môi trường, và người lớn làm gương dẫn dắt, tích cực động viên khích lệ, yêu thương dạy dỗ nhưng không quá nuông chiều, nuôi dưỡng trẻ có thói quen hình thành tính cách nhất định”.

Nội dung cơ bản của các phương pháp giáo dục sớm

Giáo dục sớm có nhiều phương pháp khác nhau nhưng về cơ bản đều có chung mục đích là mang đến cho trẻ sự phát triển toàn diện nhất, khai phóng tối đa tiềm năng não bộ.

– Xây dựng một cơ thể khỏe mạnh qua việc khuyến khích trẻ vận động khám phá

– Hình thành thói quen tốt qua việc rèn luyện các hành vi hằng ngày

– Xây dựng lòng đam mê trí tuệ

– Phát triển ngôn ngữ nghe và nói đồng thời

– Có tình yêu với tất cả những thứ tốt đẹp.

Nguyên tắc của các phương pháp giáo dục sớm

Chương trình giáo dục sớm nên rõ 3 mặt quan trọng nhất cần giáo dục sớm đó là: giao tiếp và ngôn ngữ, phát triển cảm xúc, xã hội, cá nhân và phát triển thể chất. Những mặt này được củng cố và áp dụng xuyên suốt trong 4 mặt cụ thể đó là: đọc viết, toán học, hiểu biết về thế giới quan và chương trình vận động.

Các phương pháp giáo dục sớm hiện nay

1. Phương pháp giáo dục sớm Montessori

Phương pháp giáo dục sớm Montessori được đặt tên theo giáo sư Maria Montessori (1870 – 1952), tiến sĩ, bác sĩ và nhà giáo dục người Ý.

Điểm nổi bật ở phương pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trò của tính tự lập và tự do trong khuôn khổ cho phép trong việc hình thành nhân cách ở trẻ. Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép các bé phát triển tùy theo khả năng và thời gian riêng của mình. Do đó việc tổ chức các lớp học theo mô hình này phải đảm bảo tôn trọng tính riêng biệt của từng trẻ và phải bố trí phòng học, bài học phù hợp những nhu cầu cũng như mục đích của mỗi em.

Montessori hiện đang được áp dụng rộng rãi tại các trường mầm non quốc tế ở Việt Nam. Ngoài tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ, phương pháp này cũng giúp trang bị đầy đủ các kiến thức khoa học công nghệ tiến bộ và hiện đại cho học sinh.

Với phương pháp này, người lớn không can thiệp quá nhiều đối với trẻ, đặc biệt là đối với việc áp đặt tư tưởng, quan điểm cái nhìn đối với bé. Trẻ tiếp nhận các kích thích bằng bản năng, trẻ tiếp thu cái mới một cách tự nhiên, dễ dàng và sẽ nắm bắt được thông tin một cách có ý thức.

2. Phương pháp giáo dục sớm Glenn Doman

Glenn Doman là phương pháp giáo dục sớm tiên tiến trên thế giới. Phương pháp được lấy tên từ giáo sư Glenn Doman, người đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển trí tuệ cho trẻ em. Phương pháp được giáo sư Glenn Doman nghiên cứu và phát triển cùng các cộng sự của mình tại Viện Nghiên cứu và phát triển tiềm năng con người (IAHP).

Phương pháp Glenn Doman áp dụng thành công trên 180 quốc gia. Tại Việt Nam, phương pháp đã xuất hiện được hơn 8 năm và được hơn 300.000 cha mẹ áp dụng thành công.

Phương pháp Glenn Doman nhấn mạnh rằng khi một đứa trẻ mới sinh, chúng sử dụng não phải rất nhiều. Chỉ khi chúng lớn hơn thì chúng mới bắt đầu chuyển dần sang não trái. Một đặc tính rất thú vị của não phải là khả năng chụp hình tự nhiên. Nó có thể nhớ tất cả những hình ảnh của mọi thứ trong khi não trái lại được cho rằng chỉ có thể nhớ được một phần nào đó của vật. Vì lý do này, tốc độ là yếu tố then chốt.

Trong khi người lớn cần thời gian để nhớ một bức tranh hay một từ thì đứa trẻ chỉ cần 1 giây để ghi nhớ hình ảnh. Với đặc điểm này, Glenn Doman chú trọng vào sự phát triển của não phải. Thông qua việc học mà chơi với các bộ học liệu là những tấm thẻ flashcard, dotcard, khả năng phân tích, xử lý tư duy của não phải sẽ tăng dần lên và ngày càng phát triển.

Bên cạnh đó, phương pháp Glenn Doman cũng làm tăng sự gắn kết giữa bố mẹ và con cái. Phương pháp được thực hiện tại nhà, chính cha mẹ là người dạy và chơi cùng bé, là người thầy đầu tiên và đặc biệt của con.

Lợi ích của phương pháp

Phương pháp Glenn Doman mang đến cho trẻ nhiều lợi ích quan trọng trong việc phát triển trí tuệ, khai phóng nền tảng tư duy. Cụ thể như sau:

– Phát triển khả năng ngôn ngữ, tăng vốn từ vựng, tự tin hơn trong giao tiếp

– Tăng khả năng tập trung, ghi nhớ, tăng khả năng tư duy logic

– Hiểu biết về thế giới xung quanh, tăng khả năng tìm tòi khám phá thế giới quan.

3. Phương pháp Shinchida (Nhật Bản)

Shichida là phương pháp giáo dục sớm cho trẻ bắt nguồn từ Nhật Bản, ra đời vào năm 1960. Phương pháp được đặt tên theo người sáng lập – Giáo sư Shichida (1929 – 2009).

Phương pháp Shichida tập trung vào 4 yếu tố:

– Phát triển trí óc, hướng đến sự phát triển cân bằng của hai bán cầu não.

– Giáo dục tinh thần, giúp trẻ có ý thức đạo đức từ sớm.

– Giáo dục thể chất thông qua những bài tập phù hợp với lứa tuổi giúp trẻ khỏe mạnh hơn.

– Giáo dục dinh dưỡng vì đây là 1 phần quan trọng cung cấp đầy đủ dưỡng chất, là nền tảng cho cơ thể trẻ phát triển. Dinh dưỡng quan niệm mới trong các phương pháp giáo dục sớm cho trẻ đang phát triển hiện nay.

4. Phương pháp HighScope

CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN GIÁO DỤC QUỐC TẾ GDKIDS

Kênh chia sẻ kinh nghiệm đồng hành cùng Ba mẹ “Nuôi dạy con” phương pháp giáo dục sớm Glenn Doman chất lượng, uy tín hàng đầu Việt Nam.


【#3】4 Phương Pháp Giáo Dục Sớm Cho Trẻ Hiệu Quả Nhất Hiện Nay

Hiện nay có khá nhiều các phương pháp giáo dục sớm cho trẻ từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam, qua thực tế chứng minh các phương pháp Glenn Doman, phương pháp Montessori, phương pháp Shichida, phương pháp HighScope là những phương pháp đạt hiệu quả tốt nhất hiện nay.

Chúng ta cùng đi tìm hiểu những khác biệt làm nên thành công của các phương pháp này trong việc giáo dục sớm cho trẻ.

1. Phương pháp giáo dục Montessori

Trong lịch sử nền giáo dục thế giới, những nhà giáo dục được cả thế giới biết đến như Tiến sĩ -Bác sĩ – nhà giáo dục Ý Maria Montessori ( 1870-1952) là không nhiều. Bà là người phát minh ra phương pháp sư phạm giáo dục sớm cho trẻ dựa trên các nghiên cứu và kinh nghiệm làm bác sĩ của mình.

Phương pháp này chấp nhận sự duy nhất, là cá thể độc lập của mỗi trẻ, cho phép trẻ phát triển khả năng riêng của mình khi tôn trọng tính riêng biệt của từng trẻ. Phòng học và các bài học phù hợp sẽ được bố trí phù hợp tùy theo nhu cầu và mục đích của mỗi trẻ.

Điểm nổi trội của phương pháp này là nhấn mạnh đến tính tự lập của trẻ, tự do trong khuôn khổ cho phép trong việc hình thành nhân cách trẻ. Ngoài ra phương pháp này còn tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ, cũng như thông qua các hoạt động mà trẻ thích trang bị cho trẻ những kiến thức về khoa học công nghệ, làm hành trang cho trẻ bắt đầu những năm tiểu học đầu đời.

2. Phương pháp giáo dục sớm Glenn Doman

Là một trong bốn phương pháp giáo dục phổ biến nhất trên thế giới được giáo sư Glenn Doman sáng tạo và phát triển cùng với các cộng sự của mình tại Viện nghiên cứu tiềm năng con người (IAHP). Hiện nay phương pháp này được phổ biến ở 180 quốc gia trên toàn thế giới và là phương pháp duy nhất hướng dẫn giáo dục sớm cho trẻ tại nhà trong bốn phương pháp giáo dục phổ biến nhất hiện nay.

Glenn Doman kích thích trí thông minh của trẻ bằng Flashcards hoặc Dotcards, các trò chơi vận động. Phương pháp này không dạy cho trẻ biết đọc, biết viết mà chỉ nhằm kích thích trí thông minh trong bộ não của trẻ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, một người có thông minh hay không phần lớn được quyết định bởi việc phát huy tiềm năng trí tuệ của não phải, có thể sử dụng triệt để cả bán cầu não trái và bán cầu não phải để hỗ trợ nhau. Tuy nhiên sau giai đoạn vàng ( 0-6 tuổi), bán cầu não phải ngưng phát triển, nhường chỗ cho não trái. Phương pháp Glenn Doman được áp dụng trong giai đoạn này để kích phát hoàn toàn các tiềm năng của não phải trước khi nó kết thúc sự hoàn thiện bằng các các tấm thẻ và sự vận động cần thiết.

Phương pháp giáo dục sớm Glenn Doman không hề bắt buộc trẻ phải học sớm, mà kích thích sự ham tìm hiểu của trẻ thông qua các tấm thẻ, các công cụ vận động đi kèm, được coi giống như một trò chơi thư giãn của trẻ mỗi ngày.

Thông qua việc học và chơi với các tấm thẻ, khả năng ghi nhớ, phân tích, xử lý tư duy chính xác của não phải sẽ dần được tăng lên, vì não phải có khả năng ghi được hình ảnh rất nhanh, chính xác, tự tin mà không cần ý thức, không cần phân tích.

Bên cạnh đó phương pháp Glenn Doman còn là phương pháp kết nối giữa ba mẹ và con cái, ba mẹ là người thầy đầu tiên của trẻ, cũng là người đồng hành cùng trẻ trong việc tiếp nhận các bài học giáo dục sớm.

Glenn Doman giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn trí thông minh, cảm xúc và năng lực vượt qua nghịch cảnh, những kiến thức cần thiết trong phương pháp này sẽ là hành trang quan trọng trong suốt hành trình lớn lên và trưởng thành của trẻ sau này. Sự thành công của các trẻ đi trước đã khẳng định được hiệu quả của phương pháp này ngày hôm nay.

3. Phương pháp giáo dục Shichida – Nhật Bản

Phương pháp này bắt nguồn từ Nhật Bản và được ra đời vào năm 1960 của thế kỷ trước, được đặt tên theo tên người sáng lập ra phương pháp, Giáo sư Makota Shichida (1929-2009).

Phương pháp giáo dục Shichida tập trung vào bốn mặt:

  • Một là phát triển trí óc, nhắm đến sự phát triển cân bằng của hai bán cầu não.
  • Hai là giáo dục tinh thần, giúp trẻ có ý thức đạo đức từ sớm.
  • Ba là giáo dục thể chất thông qua những bài tập phù hợp với lứa tuổi giúp trẻ khỏe mạnh hơn.
  • Bốn là giáo dục dinh dưỡng vì dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng cung cấp đầy đủ dưỡng chất là nền tảng cho cơ thể trẻ phát triển, đây là một quan niệm mới trong các phương pháp giáo dục sớm ở trẻ so với các phương pháp đang phát triển hiện nay.

4. Phương pháp giáo dục HighScope

Phương pháp giáo dục HighScope rất phổ biến tại Mỹ và phương Tây, được sử dụng cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo và tiểu học từ năm 1960. Đến nay HighScope trở thành một trong bốn mô hình giáo dục mầm non nổi tiếng nhất thế giới, được sử dụng rộng rãi trong các trường mầm non quốc tế.

Phương pháp giáo dục này nhấn mạnh vào việc cá nhân học tập chủ động, có nghĩa là học sinh với những trải nghiệm thực tế trực tiếp với con người, sự việc, sự kiện và các ý tưởng sẽ xây dựng được kiến thức của mình thông qua những tương tác với thế giới và con người xung quanh trẻ.

Giáo viên và cha mẹ cung cấp cho trẻ sự hỗ trợ về tình cảm, vật chất, gợi mở tư duy cho trẻ thông qua đa dạng vật liệu và sự chăm sóc.

Các phương pháp giáo dục sớm cho trẻ đều có chung một mục đích là kích phát sự phát triển tối đa trong tiềm năng sẵn có của trẻ cả về trí tuệ, cảm xúc lẫn thể chất. Ba mẹ có thể nghiên cứu, lựa chọn phương pháp phù hợp nhất với điều kiện gia đình để tạo tiền đề phát triển cho các con trong cả quá trình lớn lên và trưởng thành sau này.


【#4】Hiểu Đúng Về Độ Tuổi Áp Dụng Phương Pháp Glenn Doman?

Phương pháp Glenn Doman áp dụng cho độ tuổi nào? Trẻ bao nhiêu tuổi có thể sử dụng phương pháp này là câu hỏi được nhiều cha mẹ quan tâm. Tuy là một phương pháp giáo dục sớm phổ biến trên thế giới, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ về độ tuổi áp dụng cũng như những nguyên tắc áp dụng phương pháp này. Trong bài viết này, GDKids sẽ chia sẻ những thông tin cụ thể nhất về cách áp dụng phương pháp để quý phụ huynh hiểu rõ.

Phương pháp Glenn Doman là gì?

Glenn Doman là phương pháp giáo dục sớm tiên tiến trên thế giới. Được giáo sư Glenn Doman, nghiên cứu phát triển cùng các cộng sự của mình tại viện Nghiên cứu và phát triển tiềm năng con người IAHP.

Phương pháp được xuất hiện lần đầu vào năm 1955 tại Mỹ. Ngay sau đó, phương pháp này đã được rất nhiều phụ huynh tin tưởng áp dụng vì tính hiệu quả cao của nó. Hàng triệu bà mẹ trên hơn 180 quốc gia đã tin tưởng lựa chọn và áp dụng. Tại Việt Nam, đã có hơn 300.000 cha mẹ áp dụng thành công.

Trẻ bao nhiêu tuổi thì có thể áp dụng phương pháp Glenn Doman?

Phương pháp Glenn Doman được áp dụng đối với trẻ từ 0-6 tuổi. Giáo sư Glenn Doman khẳng định rằng, “Mỗi đứa trẻ khi mới sinh ra đều sở hữu một tiềm năng trở thành thiên tài, thậm chí còn lớn hơn cả trí tuệ thiên tài của Leonardo Da Vinci, Issac Newton hay Albert Einstein”. Trong khi người lớn cần thời gian để ghi nhớ một bức tranh hay một từ thì tất cả những đứa trẻ cần chỉ là MỘT GIÂY (đủ lâu để có thể chụp được một hình).

Não bộ của trẻ nhỏ đã hình thành 80% khi trẻ 2 tuổi, hoàn thiện đến 90% khi trẻ 5 tuổi và sau 5 tuổi chí phát triển tối đa thêm 10%. Điều này có nghĩa, 6 năm đầu đời là thời gian vàng để trẻ phát huy 100% năm lực trí tuệ bẩm sinh, là thời điểm vàng để khơi dậy khả năng tiềm ẩn trong não bộ của trẻ, tạo tiền đề cho việc định hình tính cách và năng lực sau này. Điều này đồng nghĩa với việc áp dụng phương pháp Glenn Doman trong 6 năm đầu đời của trẻ là việc cần thiết và hoàn toàn phù hợp.

Ngay từ khi mới sinh, cha mẹ đã nên cho trẻ áp dụng những bài tập kích thị giác bằng những thẻ đen trắng. Những bài tập tưởng chừng như đơn giản này lại có hiệu quả vô cùng lớn với sự phát triển của bé.

Văn phòng GDKids khuyên ba mẹ nên cho bé áp dụng bộ thẻ học bắt đầu khi bé được 2 tháng tuổi. Tuy nhiên, khi bắt đầu, bố mẹ nên cho bé bắt đầu học từ bộ thẻ đọc và bộ thẻ toán dot. Khi bé tròn 5 tháng tuổi, đủ sự phát triển về thị giác, bố mẹ mới nên bắt đầu dạy bộ thẻ thế giới xung quanh cho con.

Trẻ dưới 5 tháng tuổi, thị giác của trẻ chỉ mới nhận biết được màu đỏ, trắng, đen. Vậy nên những thẻ học sinh động, nhiều màu sắc của bộ thẻ TGXQ lúc này chưa thích hợp với con.

Bắt đầu càng sớm, sự tập trung của bé càng cao. Khi bé còn nhỏ, bé chưa chú ý nhiều vào thế giới bên ngoài, vậy nên việc dạy thẻ của bố mẹ sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.

Nguyên tắc áp dụng phương pháp Glenn Doman?

Phương pháp Glenn Doman có những nguyên tắc cụ thể mà khi bố mẹ áp dụng cần phải tuân thủ để đạt hiệu quả tốt nhất. Những nguyên tắc cụ thể như sau:

  1. Bắt đầu càng sớm càng tốt
  2. Duy trì sự thích thú trong tất cả các thời gian học
  3. Tôn trọng và tin tưởng trẻ
  4. Chỉ dạy khi bạn và trẻ cảm thấy thích thú
  5. Tạo ra một môi trường học tập tốt
  6. Dừng trước khi trẻ muốn dừng
  7. Giới thiệu học liệu mới thường xuyên trong chương trình giảng dạy cho trẻ
  8. Gọn gàng và nhất quán
  9. Không được kiểm tra thẻ
  10. Phụ huynh hoặc giáo viên nên chuẩn bị học liệu cẩn thận và để trước khi sắp bắt đầu vào giờ học
  11. Nhớ luật thất bại – an toàn: nếu bạn không có một thời gian tuyệt vời và con bạn không có một thời gian tuyệt vời thì “hãy dừng lại”. Nếu tiếp tục thì bạn sẽ làm sai.

Mỗi một bé sẽ có một lộ trình học riêng biệt, có sự tiếp thu khác nhau, vậy nên mỗi bé cần có một lộ trình học riêng biệt, và luôn cần chuyên viên hỗ trợ đồng hành trong quá trình bé học thẻ. Văn phòng GDKids, đơn vị nhận chuyển giao phương pháp giáo dục sớm Glenn Doman đầu tiên tại Việt Nam, là bạn đồng hành uy tín mà cha mẹ nên lựa chọn khi quyết định áp dụng giáo dục sớm Glenn Doman cho con. Đội ngũ chuyên viên nhiều năm kinh nghiệm luôn sẵn sàng hỗ trợ cha mẹ nhiệt tình nhất trong quá trình học. Mọi thắc mắc sẽ được các cô giải đáp tận tình.


【#5】Phương Pháp Glenn Doman Có Tốt Không?

Phương pháp Glenn Doman được lấy tên theo giáo sư Glenn Doman, người đi tiên phong trong việc phát triển tiềm năng trẻ em. Phương pháp được giáo sư Glenn Doman nghiên cứu và phát triển cùng các cộng sự của mình tại Viện Nghiên cứu và phát triển tiềm năng con người (IAHP).

Glenn Doman giải thích rằng khi một đứa trẻ mới sinh, chúng sử dụng não phải rất nhiều. Chỉ khi chúng lớn hơn thì chúng mới bắt đầu chuyển dần sang não trái. Một đặc tính rất thú vị của não phải là khả năng chụp hình tự nhiên. Nó có thể nhớ tất cả những hình ảnh của mọi thứ trong khi não trái lại được cho rằng chỉ có thể nhớ được một phần nào đó của vật. Vì lý do này, tốc độ là yếu tố then chốt.

Phương pháp Glenn Doman giúp phát huy trí tuệ của trẻ từ 0-6 thông qua những thẻ flashcard, dotcard. Chương trình được thực hiện tại nhà, chính bố mẹ là những người thầy đặc biệt của bé.

Phương pháp Glenn Doman có tốt không?

Phương pháp Glenn Doman xuất hiện từ năm 1955 tại Mỹ. Sau hơn 50 năm, được áp dụng rộng rãi trên hơn 180 quốc gia, phương pháp ngày càng khẳng định được vai trò và hiệu quả to lớn trong việc phát triển trí tuệ của trẻ.

Những lợi ích cụ thể khi áp dụng phương pháp Glenn Doman như sau:

Phát triển khả năng ngôn ngữ, gia tăng vốn từ vựng, tự tin hơn trong giao tiếp, tránh được các tật nói ngọng, nói lắp và chậm nói

Bé có thể biết đọc khi mới 2,3 tuổi. Biết đọc là nền tảng quan trọng để trẻ tìm tòi, học hỏi kiến thức

Nâng cao khả năng tập trung, tăng khả năng ghi nhớ, phát triển khả năng tư duy logic

Bé hiểu được bản chất định lượng của toán học, tránh tình trạng đếm vẹt

Hiểu biết về thế giới xung quanh. Có niềm say mê và yêu thích đặc biệt với một số lĩnh vực, từ đó phát huy được điểm mạnh của bản thân.

Phát triển toàn diện 2 bán cầu não, phát triển năng lực cảm xúc, bồi dưỡng nền tảng tính cách tốt đẹp sau này.

Phương pháp Glenn Doman là phương pháp giáo dục sớm tại nhà, chính cha mẹ là người thầy đầu tiên và đặc biệt của trẻ. Chính vì vậy, phương pháp giúp gắn kết tình cảm giữa cha mẹ và con cái. Bố mẹ sẽ có nhiều thời gian ở bên con và con cũng sẽ cảm nhận được tình cảm yêu thương của bố mẹ. Theo nhiều nghiên cứu khoa học, sự tương tác của bố mẹ trong những năm đầu đời của trẻ có tác dụng rất lớn trong việc phát triển cả về trí tuệ, cảm xúc và năng lực hành vi của bé. Những đứa trẻ được chơi nhiều với bố trong thời thơ ấu có chỉ số IQ và EQ cao hơn nhóm còn lại. Vậy nên, phương pháp Glenn Doman có lợi ích vô cùng lớn đối với sự phát triển toàn diện của trẻ.

Rất nhiều bậc cha mẹ chia sẻ rằng khi áp dụng phương pháp Glenn Doman cho bé không những con của họ có lợi mà chính bản thân họ cũng học được nhiều điều.

Tự hào khi là người thầy đầu tiên

Trong suốt quá trình dạy con, cha mẹ sẽ là những người thầy đầu tiên giúp trẻ phát triển về mọi mặt trí tuệ lẫn thể chất. Cha mẹ sẽ luôn tự hào khi là người thầy đầu tiên dạy con, và niềm vui khi chứng kiến con mình đạt được những bước tiến lớn không chỉ trong việc học đọc, mà còn tìm hiểu về thế giới xung quanh chúng.

Tăng cường sự gắn kết

Kinh nghiệm quý giá nhất mà các bậc cha mẹ nhận được khi dạy con theo phương pháp Glenn Doman đó là sự kết nối chắc chắn giữa cha mẹ và con cái. Ngay cả những người cha cảm thấy bị gạt bỏ ra trong 1,2 năm đầu của trẻ cũng có thể chia sẽ kinh nghiệm gắn kết với trẻ thông qua phương pháp này.

Những nguyên tắc vàng khi áp dụng Glenn Doman

  1. Bắt đầu càng sớm càng tốt.
  2. Cần duy trì sự thích thú trong tất cả các buổi học.
  3. Tôn trọng và tin tưởng trẻ.
  4. Chỉ dạy khi cha mẹ và trẻ cảm thấy hứng thú.
  5. Tạo ra một môi trường học tập tốt cho con.
  6. Dừng trước khi bé muốn dừng.
  7. Giới thiệu học cụ mới thường xuyên trong quá trình giảng dạy cho trẻ.
  8. Gọn gàng và nhất quán.
  9. Không được kiểm tra thẻ.
  10. Phụ huynh hoặc giáo viên nên chuẩn bị học liệu cẩn thận trước khi bắt đầu giờ học.
  11. Ghi nhớ luật thất bại – an toàn: Nếu cả phụ huynh và bé không có một khoảng thời gian tuyệt vời thì hãy dừng lại.

Qua rất nhiều kết quả và thành công của những đứa trẻ từ 0-6 tuổi, ngày càng nhiều phụ huynh tin tưởng vào phương pháp. Và đó là minh chứng rõ ràng nhất để trả lời cho câu hỏi “Glenn Doman có tốt không?”. Nhưng mục đích thực sự của phương pháp Glenn Doman không phải là để tạo ra những thiên tài, dưới bất kỳ hình thức nào. Mà là cung cấp cho trẻ những lựa chọn không giới hạn trong cuộc sống. Một đứa trẻ khi được hưởng tư duy giáo dục tiến bộ, được phát triển toàn diện 2 bán cầu não sẽ có khả năng làm chủ chính mình và làm chủ được cuộc sống của mình. Đó là điều phương pháp giáo dục sớm Glenn Doman hướng tới.


【#6】Làm Kế Toán: Phương Pháp Chuyên Gia (Delphi) Xây Dựng Chỉ Số

Phương pháp Delphi được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, đã được tác Lê Trịnh Hải & Phạm Hoàng Hải (2014) thực hiện xây dựng và hoàn thiện bộ chỉ số đánh giá bền vững là phương pháp chuyên gia :

Các công cụ, kỹ thuật bổ trợ xây dựng chỉ số

Một số phương pháp bổ trợ được sử dụng để xây dựng chỉ số như PAM (Process Analysis Method), MFA (Material Flow Analysis), PSR (Pressure-State-Response) và AHP (Analytic Hierarchy Process).

Phương pháp PAM được phát triển bởi Chee Tahir A & Darton R. C (2010) và sau đó được Darton R. C (2015) . Phương pháp AHP sử dụng phương thức so sánh cặp từng khía cạnh của bộ tiêu chí để xác định trọng số của mỗi tiêu chí/khía cạnh thay vì chỉ đơn thuần liệt kê và xếp hạng các mức độ quan trọng. Phương pháp AHP kết hợp với phỏng vấn chuyên gia dựa trên phiếu khảo sát (được thiết kế sẵn) có thể được sử dụng để xác định trọng số của các tiêu chí TTX và trọng số của các chỉ số trong mỗi tiêu chí TTX. Việc lựa chọn số lượng chuyên gia rất khác nhau tùy theo từng nghiên cứu và đặc điểm của nghiên cứu đó. Nghiên cứu có thể sử dụng phương pháp Delphi chọn mẫu tối thiểu 3 chuyên gia đã được chỉ ra trong nghiên cứu của Gregory J. Skulmoski & cộng sự (2007) trong nghiên cứu phát triển quy tắc trong quá trình đúc gốm [99]. Phương pháp AHP được thực hiện qua 3 bước:

Xây dựng ma trận so sánh cặp giữa các khía cạnh của bộ chỉ số: ma trận so sánh cặp được xác định thông qua việc tổng hợp các ý kiến khảo sát chuyên gia.

Xác định trọng số của các khía cạnh

Kiểm tra tính nhất quán và tính khách quan của dữ liệu


【#7】Đo Lường Mức Độ Rủi Ro Kỹ Thuật Trong Xây Dựng Công Trình Giao Thông Đường Bộ Ở Việt Nam Bằng Phương Pháp F

Tóm tắt: Mức độ rủi ro kỹ thuật (MĐRRKT) trong xây dựng công trình giao thông đường bộ (XDCTGTĐB) ở Việt Nam đang tăng lên trong những năm gần đây. Việc đánh giá và đo lường MĐRRKT trong giai đoạn thi công của dự án là cần thiết, đây là giai đoạn xuất hiện nhiều rủi ro nhất. Bài báo trình bày một phương pháp đo lường MĐRRKT trong XDCTGTĐB ở Việt Nam thông qua phương pháp Fuzzy Analytical Hierarchy Process (PP F-AHP). Abstract: Technical risk Level in highway construction in Vietnam has increased in recent years. Technical risk management and accessment is crucial in construction phase as risks would most likely occur during this period. This paper psents a risk measurement method for highway construction projects in Vietnam using Fuzzy Analytical Hierarchy Process (F-AHP). Keywords: Technical risks, AHP, F- AHP. 1. Giới thiệu

Thời gian gần đây, nhiều báo cáo và các phương tiện thông tin đại chúng đã nêu một loạt những vấn đề trong XDCTGTĐB như: Vượt chi phí quá lớn, tiến độ bị chậm trễ trong một thời gian dài, chất lượng công trình không đảm bảo, tai nạn lao động liên tiếp xảy ra… Điều này đã làm ảnh hưởng đến uy tín của toàn ngành GTVT. Phải chăng, một trong những lý do dẫn đến các dự án kém hiệu quả là MĐRRKT ở các dự án ngày càng tăng lên hoặc chúng ta đánh giá thấp MĐRRKT của dự án. Do vậy, vấn đề đo lường MĐRRKT trong giai đoạn thi công và tìm giải pháp ứng phó với chúng là có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

PP F-AHP đã khắc phục được một số hạn chế của PP AHP truyền thống, do đó nó ngày càng được sử dụng phổ biến trong thực tế. Trong nghiên cứu này, PP F-AHP được sử dụng để xác định trọng số của các NTRRKT trong cấu trúc bậc.

3. Thực hiện nghiên cứu 3.1. Xây dựng cấu trúc thứ bậc

Thông qua việc phân tích, đánh giá & phân nhóm các NTRRKT của nhóm chuyên gia đã được thực hiện ở nghiên cứu trước, cấu trúc thứ bậc của phương pháp nghiên cứu được xây dựng và trình bày ở Hình 3.2.

3.2. Thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên gia

Dựa vào cấu trúc thứ bậc được xây dựng, một bảng câu hỏi (BCH) được thiết kế để xác định trọng số của các NTRRKT. Vấn đề quan trọng nhất là độ tin cậy của dữ liệu thu thập được từ ý kiến đánh giá của các chuyên gia. Nhóm chuyên gia được yêu cầu đánh giá trên thang đo 9 điểm mờ như thể hiện trong Bảng 3.1. Thang đo F-AHP này sử dụng số mờ tam giác được đề xuất bởi Tesfamariam và Sadiq .

Việc tính toán trọng số của các NTRRKT được dựa trên những đánh giá của các chuyên gia. Một nhóm gồm 24 chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực giao thông đã được xác định trước. Họ được mời để đánh giá so sánh cặp giữa các NTRRKT. Thành phần của nhóm chuyên gia như sau: (i) Theo số năm kinh nghiệm: từ 10÷15 năm chiếm 54%; từ 16÷20 năm chiếm 42%; trên 20 năm chiếm 4%; (ii) Theo trình độ học vấn: Đại học chiếm 46%; Thạc sĩ chiếm 46%; Tiến sĩ chiếm 8%; và (iii) theo vị trí công tác: NTTC chiếm 33,2%; TVKSTK, TVGS, CĐT/ Ban QLDA & Nhà nghiên cứu đều chiếm 16,7%.

Một BCH được thiết kế bao gồm tất cả các ma trận so sánh cặp trước khi thu thập dữ liệu. Để cho các chuyên gia dễ dàng trong việc đánh giá, họ được giải thích rõ ràng về nội dung của nghiên cứu này và cách để thực hiện so sánh cặp.

Bảng 3.1. Thang đo F-AHP :

CR = CI/RI (1)

Trong đó, CI – Chỉ số nhất quán; n – Kích thước của ma trận; l max= max(n); RI – Chỉ số ngẫu nhiên.

Bảng 3.2. Chỉ số ngẫu nhiên Bảng 3.3. Chỉ số nhất quán đối với đánh giá tổng hợp 3.4. Tổng hợp đánh giá của các chuyên gia

Phương pháp tính trung bình nhân (Geometric Mean) được sử dụng để tổng hợp các đánh giá cá nhân thành một đánh giá duy nhất đại diện cho ý kiến của toàn bộ nhóm .

(3)

(4)

(5)

(6)

Trong đó, B ijk – Đánh giá của chuyên gia thứ k trong so sánh cặp giữa 2 nhân tố i và j.

Nếu các đánh giá là không đồng nhất thì cách sử dụng minmax là không thích hợp . Từ đó, các kết quả đánh giá của các chuyên gia được tổng hợp theo công thức (7).

(7)

Trong đó, () – Các số mờ tam giác được đánh giá bởi chuyên gia thứ k. k = . Cả α-cut và l đều có giá trị từ 0 đến 1. Giá trị α-cut càng gần về 1 thì thể hiện người ra quyết định càng tự tin, trong khi mỗi giá trị l lớn hơn thể hiện quan điểm của người ra quyết định lạc quan hơn. Quá trình khử mờ được thực hiện theo công thức (8), (9), (10) và (11) . Thang điểm từ “0 = cực kỳ thấp” đến “10 = cực kỳ cao” được thể hiện ở Hình 4.1. Thang đo đặc trưng này giúp cho người tham gia dễ dàng đánh giá điểm cho mỗi NTRRKT trong dự án mà họ tham gia một cách phù hợp nhất.

Cuối cùng, MĐRRKT (Technical Risk Level – TRL) được đề xuất như là một thước đo MĐRRKT tổng thể trong giai đoạn xây dựng một dự án. TRL có giá trị từ 0 đến 10, giá trị TRL càng lớn chỉ ra MĐRRKT trong xây dựng dự án càng lớn và ngược lại. TRL được xác định theo công thức (12):

(12)

Trong đó, – Điểm số RRKT của các nhân tố được đánh giá từ chuyên gia tham gia vào dự án đang xét; – Trọng số tổng hợp của các nhân tố như thể hiện trong Bảng 3.5.

4.2. Trường hợp nghiên cứu

Phần này trình bày cách đo MĐRRKT với việc sử dụng PP F-AHP. Nghiên cứu này đã điều tra 3 dự án đại diện cho 3 khu vực là miền Bắc, miền Trung và miền Nam.

MĐRRKT có thể được đánh giá thông qua thang đo MĐRRKT được đề xuất trong một phạm vi từ “0 = cực kỳ thấp” đến “10 = cực kỳ cao”.

Nghiên cứu bắt đầu bằng việc xây dựng cấu trúc thứ bậc đối với PP F-AHP. Trọng số của các NTRRKT thu được từ đánh giá của một nhóm gồm 24 chuyên gia có kinh nghiệm. Các trường hợp nghiên cứu cũng đã được giải thích rõ ràng để minh họa cho PP. Cuối cùng, MĐRRKT được tính toán cho 3 dự án thông qua thang đo 11 điểm đã đề xuất.

Tài liệu tham khảo

. J.J Buckley (1985), Fuzzy hierarchical analysis, Fuzzy Sets & Systems, 17, 233-247.

. Satmetrix (2003), Measuring satisfaction on a 0-10 scale, White paper, Satmetrix Systems, New York, NY, USA.

. T.L Saaty & K.P Kearns (1985), Analytical Planning – The organizations of Systems, New York, NY: Pergamon Press.

. T.L Saaty (2008), Decision making with the analytic hierarchy process, International Journal of Services Sciences, 1(1), 83-98.

[9]. T.S Liou & M.J.J Wang (1992), Ranking Fuzzy numbers with Integral value, Fuzzy Sets & Systems, 50, 247-255.


【#8】Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Graph Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Trung Học Phổ Thông

PHẦN MỘT : MỞ ĐẦU

1. Mục đích nghiên cứu

Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII cho rằng: ”

Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp bậc học, kết hợp tốt học với

hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn

nhà trường với xã hội. Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi

dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề…”.

Như vậy, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một mục tiêu quan trọng

của sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, trong đó đổi mới phương pháp dạy

học được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược. Đổi mới phương pháp

dạy học là hướng vào những phương pháp khoa học mang tính khái quát cao, có

tiềm năng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.

Graph là một lý thuyết có nguồn gốc toán học. Lý thuyết Graph là một

trong những phương pháp khoa học có tính khái quát cao. Đây là một hướng

nghiên cứu quan trọng trong lí luận dạy học nói chung và trong giảng dạy môn

Lịch sử nói riêng. Và đây cũng là một gợi ý để thúc đẩy tôi nghiên cứu, tìm hiểu

và ứng dụng lý thuyết graph vào giảng dạy môn Lịch sử ở bậc THPT. Nhìn vào

graph học sinh dễ dàng hình dung được toàn bộ những đơn vị kiến thức được

học và mối quan hệ chặt chẽ giữa các đơn vị kiến thức. Từ đó học sinh có thể

hiểu được bản chất, mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Việc ghi nhớ, tái

hiện và hiểu biết, vận dụng kiến thức đã học đối với học sinh là không quá khó.

Thực tế, việc giảng dạy môn Lịch sử ở trường phổ thông chưa có nhiều thay

đổi. Phương pháp chính được sử dụng vẫn là thuyết trình, diễn giảng, vấn đáp…

điều này làm học sinh rất khó nhớ, khó hiểu. Học sinh có tâm lý học thuộc, học

đối phó và hầu như rất ít học sinh yêu thích bộ môn.

Vì vậy, với những ưu điểm của mình, phương pháp graph góp phần phát

huy tính tích cực và năng lực học tập của học sinh. Từ đó góp phần nâng cao

hiệu quả chất lượng dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông.

Xuất phát từ thực trạng dạy và học bộ môn Lịch sử, từ yêu cầu đổi mới

phương pháp dạy học hiện này và đặc biệt là từ những ưu điểm, lợi thế của việc

sử dụng phương pháp graph, tác giả chọn đề tài: ” SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP

GRAPH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN

LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”.

2. Điểm mới của đề tài

Lý thuyết graph – còn được gọi là lý thuyết sơ đồ, được ra đời từ hơn 250

năm trước. Khi mới ra đời lý thuyết này chủ yếu nghiên cứu giải quyết những

bài toán có tính chất giải trí và tiêu khiển. Lúc này, lý thuyết graph chỉ là một bộ

phận nhỏ của toán học. Nó chưa thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học

nên thành tựu về graph chưa nhiều. Đến những năm 30 của thế kỷ XX, khi toán

học và lý thuyết đồ thị phát triển mạnh thì lý thuyết graph thực sự được xem là

một ngành toán học riêng biệt.

Năm 1965 – 1966 nhằm giúp học sinh có được một phương pháp tư duy

và tự học mang tính khái quát nhất, đạt hiệu quả cao nhất, nhà sư phạm người

Nga L.N.Lanđa đã tiến hành thực nghiệm chuyển hóa phương pháp algurit

(graph) của toán học thành phương pháp dạy học chung cho nhiều bộ môn khoa

học trong nhà trường. Có thể nói, L.N.Lanđa là một trong những người mở ra

một hướng đi mới trong việc dạy học

Sau L.N.Lanđa, A.M.Xukhov được nhìn nhận như một trong những

người đầu tiên vận dụng lý thuyết graph, đặc biệt là những nguyên lý về xây

dựng một graph định hướng cho việc dạy học. Phương pháp graph đã được ứng

dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều nước, ở cả ngành khoa học tự nhiên và khoa

học xã hội.

Ở Việt Nam, giáo sư Nguyễn Quang Ngọc là nhà sư phạm đầu tiên

nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết graph vào dạy học nói chung và dạy Hóa

học nói riêng. Theo ông, sở dĩ có thể chuyển graph của lý thuyết Toán thành

graph trong dạy học vì graph có ưu thế đặc biệt trong việc mô hình hóa cấu trúc

của các hoạt động từ đơn giản đến phức tạp, lại vừa có tính trực quan, cụ thể.

Năm 1984, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu khoa học của

GS Nguyễn Quang Ngọc, nhà giáo Phạm Tư đã có bài viết: “Dùng graph nội

dung của bài lớp để dạy học chương “Nito – Phốtpho” ở lớp 11trường THPT”.

Đây là công trình đầu tiên tìm hiểu một cách sâu sắc việc sử dụng graph để dạy

học. Trong đó tác giả đã trình bày khá đầy đủ những cơ sở lý luận của việc

chuyển hóa từ phương pháp nghiên cứu khoa học thông qua xử lý sư phạm để

trở thành phương pháp dạy học.

Sau đó, vào năm 2003, TS Phạm Tư đã có công bố liên tiếp hai bài báo: ”

Dạy học bằng phương pháp graph góp phần nâng cao chất lượng giờ giảng” và

” Dạy học bằng phương pháp graph góp phần nâng cao chất lượng học tập, tự

học”. Qua hai bài viết, tác giả nhằm khẳng định hiệu quả của graph trong việc

nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới phương pháp dạy học.

Gần đây những công trình nghiên cứu về lý thuyết graph và ứng dụng của

graph đã được nhiều tác giả quan tâm. Năm 2000, Phạm Thị My với: “Ứng

dụng lý thuyết graph xây dựng và sử dụng sơ đồ để tổ chức hoạt động nhận

thức của học sinh trong dạy học sinh học ở THPT”. Năm 2002, Phạm Minh

Tâm đã nghiên cứu: ” Sử dụng graph vào dạy học Địa lý 12 THPT” . Trong đó

tác giả đã xác lập một hệ thống các graph dạy học địa lý 12 và bước đầu dề xuất

một số cách thức cơ bản để áp dụng hệ thống này vào thực tiễn dạy học nhằm

nâng cao chất lượng giờ dạy học. Năm 2003, Vũ Thị Thu Hoài với: ” Sử dụng

phương pháp graph kết hợp với một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn

tập tổng kết Hóa học lớp 10 THPT”. Qua luận văn này, tác giả chú ý đến việc

thiết kế các graph nội dung và graph phương pháp các bài ôn tập – tổng kết và

đề ra một số biện pháp thực hiện nâng cao chất lượng bài ôn tập tổng kết. Năm

2004, Nguyễn Thị Ban nghiên cứu: ” Sử dụng Graph trong dạy học Tiếng Việt

cho học sinh THCS”….

Qua đó ta thấy rằng, ban đầu lý thuyết Graph chủ yếu được ứng dụng

trong giảng dạy môn Hóa học thì nay việc áp dụng lý thuyết này đã mở rộng ra

nhiều môn khoa học khác nhau được dạy trong nhà trường. Tuy nhiên đến nay

việc sử dụng graph để dạy học vẫn chưa được ứng dụng ở diện rộng và chưa

thực sự trở thành phương pháp dạy học phổ biến, đặc biệt là trong môn Lịch sử.

Trong cuốn sách : “Đổi mới nội dụng, phương pháp dạy học lịch sử ở trường

phổ thông” do GS Phan Ngọc Liên chủ biên, đã có bài viết về : “Sử dụng

phương pháp graph hướng dẫn học sinh ôn tập trong dạy học Lịch sử ở trường

THPT” của tác giả Hoàng Thanh Tú. Tác giả sử dụng phương pháp graph nhăm

hệ thống kiến thức giúp học sinh ôn tập, đồng thời giúp học sinh thấy rõ mối

quan hệ nhân – quả giữa các sự kiện lịch sử.

Vì vậy, điểm mới của đề tài là tập trung thiết kế và sử dụng phương pháp

graph nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT.

Đề tài tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau:

– Khái quát về lý thuyết graph, phân loại các dạng của graph theo chức

năng và mục đích sử dụng trong các kiểu bài học lịch sử.

– Tác dụng và hiệu quả của phương pháp graph trong giảng dạy Lịch sử

THPT

– Xây dựng và sử dụng phương pháp graph trong giảng dạy Lịch sử

THPT

3. Đóng góp của đề tài

Về lý luận: Đề tài góp phần khẳng định tầm quan trọng của của các

phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp grahp nói riêng.

Phương pháp graph là một phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng

dạy học bộ môn Lịch sử. Từ đó, nó góp phần phát triển các năng lực cho học

sinh trong quá trình học tập.

Về thực tiễn: Đề tài phác họa đôi nét về thực trạng dạy học lịch sử ở

trường THPT hiện nay nói chung và việc sử dụng các phương pháp dạy học tích

cực trong giảng dạy bộ môn Lịch sử. Đề tài còn xác định được tác dụng và hiệu

quả của phương pháp graph. Từ đó, đề tài xây dựng một số loại graph sử dụng

để góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT.

hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của người công dân,

đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Mục tiêu đào tạo

này đã chi phối đến mục tiêu của từng cấp học và môn học. Đối với giáo dục

phổ thông, mục tiêu là phải trang bị kiến thức và khả năng nhận thức cao hơn so

với cấp trung học cơ sở, “hoàn thiện học vấn phổ thông”, “phát huy năng lực cá

nhân để lựa chọn hướng phát triển”. Và mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường

phổ thông đã được xây dựng trên cơ sở mục tiêu đào tạo, mục tiêu cấp học,

quan điểm, đường lối của Đảng về sử học và giáo dục. Đồng thời, căn cứ vào

nội dung, đặc trưng của hiện thực Lịch sử và nhận thức Lịch sử, yêu cầu của bối

cảnh đất nước hiện nay. Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử

xác định mục tiêu của bộ môn là “nhằm giúp cho học sinh có những kiến thức

cơ bản, cần thiết về Lịch sử dân tộc và Lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở

học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền

thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các kĩ năng tư duy, hành động, thái độ ứng

xử đúng đắn trong đời sống xã hội”.

Như vậy, mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông phải thực hiện

được những nhiệm vụ cơ bản về: chuẩn kiến thức, kĩ năng, và hướng thái độ.

Trong đó, muc tiêu nhận thức học sinh phải đạt được trên cả ba cấp độ: nhận

biết (nắm được sự kiện, thời gian, không gian, nhân vật…), thông hiểu (nắm

được bản chất, ý nghĩa, tìm ra mối liên hệ bên trong của các sự vật hiện

tượng…) và vận dụng (vận dụng kiến thức cũ tiếp thu kiến thức mới và giải

quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống). Trên cơ sở các nhiệm vụ được hình

thành và phát triển, giáo viên giúp học sinh phát triển các năng lực chủ yếu:

năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực tự

khẳng định…Đây cũng là những năng lực phù hợp với yêu cầu của sự phát triển

kinh tế – xã hội của khu vực và toàn cầu khi bước vào thế kỉ XXI mà UNESCO

đã nêu ra: ” học để biết, học đê làm, học để chung sống, học để khẳng định

mình”. Để đạt được ba mục tiêu đó, cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo

hướng phát triển năng lực

1.2.2. Đặc điểm nhận thức lịch sử

Theo các nhà giáo dục, quá trình dạy học là một quá trình nhận thức của

học sinh. Quá trình nhận thức của học sinh có những điểm giống với nhận thức

của nhà khoa học là cùng diễn ra theo quy luật chung ” từ trực quan sinh động

đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” (V.I. Lênin) và cũng

dựa trên sự huy động của các thao tác tư duy ở mức độ cao nhất, đồng thời cũng

làm cho vốn hiểu biết của chủ thể được phong phú, hoàn thiện thêm.

Tuy nhiên, quá trình nhận thức của học sinh lại có những nét đặc thù so

với quá trình nhận thức chung của loài người, của các nhà khoa học là nó được

tiến hành trong quá trình dạy học với những điều kiện sư phạm nhất định. Và

quá trình nhận thức của học sinh diễn ra theo con đường đã được khám phá.

Hoc sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà nhận thức cái mới cho bản

thân mình, được rút ra từ kho tàng hiểu biết chung của loài người. Những kiến

thức học sinh cần nắm vững trong quá trình học tập chỉ là những kiến thức phổ

thông cơ bản phù hợp với thực tiễn của đất nước, được rút ra từ các khoa học và

được gia công về mặt sư phạm.

Đối với bộ môn Lịch sử, xuất phát từ lí luận chung, từ mục tiêu, chức

năng, nhiệm vụ của bộ môn, các nhà giáo dục Lịch sử đã khẳng định bản chất

của quá trình dạy học Lịch sử: Quá trình dạy học Lịch sử cũng là một quá trình

nhận thức đặc thù. Bởi vì, đây là sự nhận thức của cá thể học sinh, sự nhận thức

trong lĩnh vực giáo dục và học sinh là người được giáo dục, chuẩn bị để sau này

đảm nhiệm công việc xã hội. Cho nên quá trình nhận thức của học sinh trong

học tập có ba đặc điểm là tính gián tiếp, được hướng dẫn và tính giáo dục.

Như vậy, việc học tập Lịch sử của học sinh là một quá trình nhận thức

đặc thù, kiến thức Lịch sử mà các em được lĩnh hội mang tính quá khứ rõ rệt,

mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra một lần duy nhất, gắn với một khoảng

thời gian, không gian và nhân vật cụ thể. Các em không thể “trực tiếp quan sát”

được các sự kiện, hiện tượng, mà các em chỉ có thể nhận thức được một cách

“gián tiếp” thông qua các tài liệu được lưu giữ lại, hoặc nhận thức thông qua bài

giảng, hướng dẫn của giáo viên. Và giáo viên cũng không thể tiến hành thí

nghiệm để dựng lại quá khứ lịch sử đúng như nó tồn tại để cho học sinh quan

sát. Ví dụ như khi dạy về cuộc kháng chiến chống Thanh của nghĩa quân Tây

Sơn (1789), giáo viên không thể dựng lên “đội quân thần tốc”, không thể làm

cho hình ảnh ấy “sống lại” để diễn lại tinh thần quyết liệt, ý chí quyết tâm “đại

phá” 30 vạn quân xâm lược của nghĩa quân cho học sinh quan sát…

Cùng với tính quá khứ, tri thức lịch sử mà các em được lĩnh hội ở trường

trung học phổ thông còn mang tính không lặp lại về cả không gian và thời gian.

Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian

nhất định, trong những thời gian và không gian khác nhau. Không có một sự

kiện, hiện tượng lịch sử nào hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, lặp

phải vận dụng tri thức đã học để tạo ra trong tư duy những mối liên hệ với

những điều mới chưa biết rồi biết sử dụng hiểu biết về quá khứ để hiểu hiện tại,

hành động trong thực tiễn phù hợp với trình độ, yêu cầu và nhiệm vụ của mình.

Đây là giai đoạn vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Tóm lại, học tập lịch sử là quá trình nhận thức theo quy luật với những

đặc trưng riêng biệt của bộ môn. Trên cơ sở sự kiện, biểu tượng giáo viên giúp

học sinh hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học kinh nghiệm. Có

nghĩa là phải giúp các em nắm được bản chất của sự kiện, hiện tượng từ đó biết

vận dụng kiến thức vào thực hành bộ môn và thực tiễn cuộc sống. Vậy nên,

trong dạy học lịch sử đòi hỏi giáo viên cần có những phương pháp giúp học sinh

khôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó tồn tại. Hơn nữa, phải phát huy

được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh trong học tập lịch sử, góp

phần nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong

bối cảnh đất nước – quốc tế hiện nay.

1.2.3. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Vấn đề đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói

riêng là một yêu cầu cấp thiết trong cải cách giáo dục đặc biệt là hình thành và

phát triển năng lực người học – một xu thế đổi mới giáo dục hiện nay trên thế

giới.

Trong bối cảnh công cuộc cải cách giáo dục và đổi mới phương pháp dạy

học đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới từ những năm 90 của thế kỉ XX, các tài

liệu, văn kiện của Đảng, Chính phủ đều định hướng việc đổi mới phương pháp

dạy học phải “lấy người học làm trung tâm”, ” áp dụng những phương pháp

giáo dục hiện đại phù hợp với thực tiễn Việt Nam để bồi dưỡng cho học sinh

năng lực tư duy, giải quyết vấn đề”. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010

cũng chỉ rõ: việc đổi mới phương pháp giáo dục phải “chuyển từ truyền đạt tri

thức thụ động thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy

trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học có phương pháp tự học, có

tư duy phân tích và tổng hợp” ( ,tr3) đặc biệt vấn đề đổi mới phương pháp dạy

học nói chung được pháp chế hóa trong chương II, điều 28 của Luật Giáo dục

(sửa đổi bổ sung năm 2010) của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có ghi:

“Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,

sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi

dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện năng lực

Nội dung PPDH truyền thống

so sánh

Mô hình PPDH mới

Học là quá trình tiếp thu và lĩnh Học là quá trình kiến tạo; học sinh

hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện

năng, thái độ và tình cảm.

tập, khai thác và xử lý thông tin,..tự

hình thành hiểu biết, năng lực và

phẩm chất.

Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và Tổ chức hoạt động nhận thức cho

chứng minh chân lý của giáo viên.

HS. Dạy học sinh cách tìm ra chân

lý.

Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kỹ Chú trọng hình thành các năng lực

năng, kỹ xảo. Học để đối phó với (sáng tạo, hợp tác…) dạy phương

thi cử. Sau khi thi xong thì những pháp và kỹ thuật khoa học, dạy cách

điều đã học thường bị bỏ quên hoặc học. Học để đáp ứng những yêu cầu

ít dùng đến.

của cuộc sống hiện tại và tương lai.

Những điều đã học cần thiết,bổ ích

cho bản thân học sinh và cho phát

triển xã hội.

Nội dung Học từ sách giáo khoa và giáo viên. Từ nhiều nguồn khác nhau: sách

kiến thức

giáo khoa, giáo viên, các tài liệu

khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo

tàng, thực tế…gắn với vốn hiểu

biết, kinh nghiệm và nhu cầu của

học sinh, bối cảnh, môi trường địa

phương và vấn đề học sinh quan

tâm.

Phương

Các phương pháp diễn giảng, Các phương pháp tìm tòi, điều tra,

pháp

truyền thụ kiến thức một chiều.

giải quyết vấn đề, dạy hoc tương

tác.

Hình

Cố định: Giới hạn trong công thức Cơ động linh hoạt: Học ở lớp, ở

thức tổ 2+2+4 (Học sinh học từ giáo viên; phòng thí nghiệm, ở hiện trường,

chức

thiết bị dạy học là phấn – bảng và 4 trong thực tế; học cá nhân, học đôi

bức tường của lớp học, giáo viên bạn, học theo nhóm; cả lớp đối diện

đối diện với cả lớp)

với giáo viên.

Tóm lại, mục đích của việc dạy và học tích cực – đổi mới phương pháp

dạy học Lịch sử không phải là xóa bỏ mọi phương pháp truyền thống đã được

thừa nhận và sử dụng hiệu quả trước đó, thay thế hoàn toàn bằng các phương

pháp dạy học hiện đại, mà thay đổi cách sử dụng chúng theo hướng tích cực,

chủ động để nhằm phát triển ở người học năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết

vấn đề. Do đó, cần đề cao vai trò của người học: học bằng hoạt động, thông qua

hoạt động cảu chính người học, để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực và

những phẩm chất của người lao động. Giáo viên giữ vai trò là người tổ chức,

hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho học sinh có thể thực hiện các hoạt

động học tập một cách hiệu quả.

1.2.4. Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho

học sinh trong dạy học lịch sử.

2. Cở sở thực tiễn

Trong những năm gần đây, việc dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói

riêng ở trường phổ thông đã có nhiều tiến bộ về nhận thức, nội dung, phương

pháp…góp phần thực hiện được mục tiêu đào tạo mà Đảng, Nhà nước và Bộ

Giáo dục và Đào tạo đưa ra. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những yếu kém,

những sai sót.

Đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam, tài liệu chiến lược phát triển giáo

dục 2001-2010 (2002,tr 14) đã khẳng định: “Chương trình, giáo trình, phương

pháp giáo dục chậm đổi mới. Chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm,

kinh viện, nặng về thi cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành

và hướng nghiệp; chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội

cũng như nhu cầu của người học; chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa

học-công nghệ và triển khai ứng dụng”

Từ đánh giá trên chúng ta thấy, dạy học nói chung còn chú trọng những tri

thức khoa học chuyên môn, ít gắn với những ứng dụng thực tiễn, tâm lý học tập

đối phó với thi cử còn nặng nề. Phương pháp dạy học chiếm ưu thế là phương

pháp thông báo -tiếp nhận, giáo viên là trung tâm của quá trình dạy học, là

người truyền thụ tri thức mang tính áp đặt, hoạt động học tập của học sinh mang

tính thụ động. Việc dạy học ít gắn với cuộc sống và thực tiễn, vì thế đã hạn chế

sự phát triển toàn diện, tính tích cực sáng tao và năng động của học sinh. Các

vấn đề nêu trên là những vấn đề lớn cần khắc phục của giáo dục trong bối cảnh

tăng cường hội nhập quốc tế. Cần xây dựng một văn hóa học tập mới, khắc

phực nền văn hóa học tập nặng tính hàn lâm kinh viện, xa rời thực tiễn.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤẤN ĐỀỀ

Qua điều tra từ phía giáo viên và học sinh tại trường THPT Yên Phong số 2

nói riêng và một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đề tài thu được

một số kết quả sau:

Phía giáo viên: Đa số các giáo viên ít sử dụng phương pháp graph trong quá

trình giảng dạy. Các giáo viên mới chỉ sử dụng những loại graph vốn có trong

sách giáo khoa. Các giáo viên chưa đầu tư thiết kế và sử dụng các loại graph

trong bài học lịch sử, vì vậy mà hiệu quả giảng dạy chưa cao.

Phía học sinh: Các em ít được tiếp cận với các loại graph trong học bộ môn

Lịch sử. Phần lớn các em chưa thể tự mình sử dụng các loại graph để có thể tiếp

thu kiến thức cũng như củng cố và ôn tập bài học. Trong các bài học có sử dụng

graph thì các em dễ tiếp thu, ghi nhận và khái quát được các kiến thức.

Tóm lại, đối với việc dạy học bô môn Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

cũng tồn tại cả mặt tích cực và tiêu cực.

Về mặt tích cực, hầu hết chúng ta đều nhận thấy có rất nhiều giáo viên lịch

sử ở trường phổ thông là những người nghề, say sưa với công tác giảng dạy,lo

lắng đầu tư cho chuyên môn, tìm nhiều biện pháp để có giờ dạy tốt. Nhiều giáo

viên cũng cố gắng vượt qua khó khăn về cơ sở vật chất, sáng tạo các hình thức

dạy học, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, sử dụng công nghệ

thông tin nâng cao hiêu quả bài học…tạo hứng thú học tập, phát huy tính độc

lập nhận thức của học sinh.

Tuy vậy, nhìn chung phương pháp dạy học lịch sử vẫn chậm biến đổi và bức

tranh chung ấy là đi theo “lối mòn” của phương pháp dạy học lịch sử, tập trung

ở những điểm sau:

Thứ nhất, nhiều giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới

phương pháp dạy học lích sử và hướng đổi mới là phát huy tính tích cực, độc

lập nhận thức của học sinh trong học tập. Để thực hiện điều này, một số giáo

viên đã vận dụng kết hợp các phương pháp dạy học phù hợp với từng nội dung,

đối tượng học sinh.

Thứ hai, một số giáo viên nhận thức được điểm mấu chôt của đổi mới

phương pháp dạy học là phải thay đổi quan niệm cũ trước đây: chuyển từ vai trò

thầy làm trung tâm, sang trò là trung tâm của quá trình dạy học. Giáo viên là

người hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh… Muốn vậy, cần

CHƯƠNG III: XẤY DỰNG VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GRAPH TRONG

GIẢNG DẠY LỊCH SỬ THPT.

3.1. Các loại bài học lịch sử

Bài học là một hình thức quan trọng trong quá trình giáo dục, nó phong

phú, linh hoạt về nội dung khoa học và những yêu cầu cụ thể của thực tiễn giáo

dục. Dựa vào vị trí, cấu trúc, yêu cầu của bài học lịch sử và địa lí, có thể phân ra

các loại bài sau:

Các bài học lịch sử

Bài cung cấếp kiếến thức mới

Kiếến thức

Kĩ năng

Tư duy

Bài ốn tập, tổng kếết

Khái quát

Củng cốế

Bài kiểm tra, đánh giá chấết lượng học tập của h ọc sinh

Tổng hợp

Đánh giá sự tếếp thu kiếến thức

3.2. Các loại Graph lịch sử

Căn cứ vào chức năng của Graph trong các kiểu bài học lịch sử và mục

đích sử dụng, ta có các loại Graph sau:

Các loại Graph

Graph

minh họa kiếến thức

Graph thiếết lập quan hệ nhấn – quả

Graph hệ thốếng kiếến thức

3.2.1. Graph minh họa kiến thức

Ví dụ: Sơ đồ : Các tầng lớp trong xã hội Văn Lang (Nhà nước Văn Lang)

Vua Hùng

Lạc tướng

Lạc hấầu

Lạc dấn

Nố t

3.2.2. Graph thiết lập quan hệ nhân – quả

Ví dụ: Bài 8: Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên

Mở rộng diện tch

cấy cống nghiệp

Khai thác rừng bừa

bãi

Đốết rừng làm

nương rấẫy

3.2.3. Graph hệ thống kiến thức

Mối trường sốếng của con người

Ảnh hưởng xấếu

Ví dụ: Bài Trường học thời Hậu Lê

Trường học thời Hậu Lế

Những biện pháp

khuyếến khích học tập

Tổ chức giáo dục thời Hậu Lế

Khăếc tến tuổi

người đốẫ đạt

cao vào bia đá

dựng ở Văn

Miếếu

3.3. Cách lập Graph

Từ những nội dung minh họa ở trên, có thể thấy rằng, phương pháp dạy

học Graph có thể sử dụng cho toàn bộ nội dung bài học nhưng cũng có thể sử

dụng cho một phần bài học.

Mỗi bài học trong sách giáo khoa Lịch sử là sự phản ánh logic các đơn vị

kiến thức học sinh cần nắm vững. Dựa vào đó, GV dịnh ra số lượng các yếu tố

và mối quan hệ của chúng trong bài. Nội dung các bài trong phân môn Lịch sử

bao gồm những bài sau:

Các bài cung cấp kiến thức mới phần lịch sử:

– Tình hình kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội.

– Hoạt động của một số nhân vật lịch sử.

– Các cuộc khởi nghĩa (nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa)

– Các thành tựu về văn hóa – giáo dục.

Từ đây, tôi mạnh dạn đưa ra sơ đồ thiết lập Graph trong dạy học phân

môn này như sau:

3.3.1: Quy trình lập Graph

Quy trình lập Graph cho nội dung bài học cung cấếp kiếến

thức mới

1. Tìm hiểu nội

dung bài học

và xác định

kiếến thức cơ

bản

3. Săếp xếếp trật

tự tến gọi và

thiếết lập quan

hệ giữa các

thành phấần

4. Điếầu chỉnh

và hoàn thiện

Graph


【#9】5 Phương Pháp Giáo Dục Sớm Cho Trẻ Bố Mẹ Nên Biết

Hiện nay có nhiều phương pháp giáo dục sớm cho trẻ từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam. Điều này cũng khiến nhiều bậc phụ huynh đau đầu không biết nên chọn chương trình cũng như trường mầm non nào cho các bé. Để giúp bố mẹ hiểu về các phương pháp giáo dục nổi tiếng hiện nay, Edu2Review mời quý phụ huynh cùng tham khảo 5 mô hình được áp dụng nhiều nhất trong các trường mầm non quốc tế cũng như dạy học tại nhà của nhiều gia đình.

Montessori – Phương pháp giúp trẻ phát triển cá nhân

Maria Montessori (1870 – 1952) là tiến sĩ, bác sĩ và nhà giáo dục người Ý. Phương pháp giáo dục trẻ từ sớm Montessori được đặt theo tên của bà là kết quả của quá trình nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm làm bác sĩ của mình.

Điểm nổi bật ở phương pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trò của tính tự lập và tự do trong khuôn khổ cho phép trong việc hình thành nhân cách ở trẻ. Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép các bé phát triển tùy theo khả năng và thời gian riêng của mình. Do đó việc tổ chức các lớp học theo mô hình này phải đảm bảo tôn trọng tính riêng biệt của từng trẻ và phải bố trí phòng học, bài học phù hợp những nhu cầu cũng như mục đích của mỗi em.

Montessori hiện đang được áp dụng rộng rãi tại các trường mầm non quốc tế ở Việt Nam. Ngoài tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ, phương pháp này cũng giúp trang bị đầy đủ các kiến thức khoa học công nghệ tiến bộ và hiện đại cho học sinh.

Glenn Doman là phương pháp giáo dục phổ biến trên thế giới. Phương pháp này không dạy cho trẻ biết đọc, viết hay phân biết đồ vật mà nhằm kích thích trí thông minh trong bộ não của trẻ thông qua Flashcard hay Dot card.

Phương pháp giáo dục này do giáo sư Glenn Doman (1919 – 2013) sáng tạo và phát triển cùng với các cộng sự của mình tại Viện Nghiên cứu Thành tựu Tiềm năng Con người (The Institutes for the Achievement of Human Potential – IAHP). Hiện nay, Glenn Doman được áp dụng phổ biến ở 180 quốc gia và cũng là phương pháp giáo dục trẻ từ sớm tại nhà duy nhất trong danh sách này.

Không ép buộc các bé phải học, phương pháp giáo dục trẻ thông minh sớm này sẽ kích thích sự tò mò thông qua các tấm thẻ, công cụ vận động đi kèm. Đây được xem như trò chơi giúp các em thư giãn hằng ngày.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, 1 người có thông minh hay không phần lớn được quyết định bởi việc phát huy chức năng não phải. Hơn 70% các nhà khoa học trên thế giới có ưu thế nằm ở não phải. Glenn Doman là phương pháp tập trung vào sự phát triển của não phải vì não phải có khả năng ghi được hình ảnh rất nhanh, chính xác, tự tin mà không cần ý thức và phân tích. Thông qua việc học và chơi với các tấm thẻ, khả năng ghi nhớ, phân tích, xử lý tư duy chính xác của não phải của trẻ sẽ dần được tăng lên.

Bên cạnh đó, Glenn Doman còn là phương pháp kết nối giữa bố mẹ và con cái. Phụ huynh sẽ là người thầy đầu tiên của trẻ, cũng là người đồng hành cùng con trong việc tiếp nhận các bài học giáo dục trong tương lai.

Phương pháp giáo dục giúp trẻ phát triển toàn diện Shichida

Shichida là phương pháp giáo dục sớm cho trẻ bắt nguồn từ Nhật Bản, ra đời vào năm 1960. Phương pháp này được đặt tên theo tên người sáng lập – Giáo sư Makoto Shichida (1929 – 2009).

Phương pháp giáo dục Shichida tập trung vào 4 yếu tố:

  • Phát triển trí óc, hướng đến sự phát triển cân bằng của hai bán cầu não.
  • Giáo dục tinh thần, giúp trẻ có ý thức đạo đức từ sớm.
  • Giáo dục thể chất thông qua những bài tập phù hợp với lứa tuổi giúp trẻ khỏe mạnh hơn.
  • Giáo dục dinh dưỡng vì đây là 1 phần quan trọng cung cấp đầy đủ dưỡng chất, là nền tảng cho cơ thể trẻ phát triển. Dinh dưỡng quan niệm mới trong các phương pháp giáo dục sớm cho trẻ đang phát triển hiện nay.

Trẻ chủ động hơn với phương pháp HighScope

Phương pháp giáo dục HighScope rất phổ biến tại Mỹ và các nước phương Tây, được sử dụng cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo và tiểu học từ năm 1960. Đến nay, HighScope đã trở thành một trong những mô hình giáo dục nổi tiếng thế giới được sử dụng rộng rãi trong các trường mầm non quốc tế.

Phương pháp giáo dục sớm HighScope nhấn mạnh vào “cá nhân học tập chủ động”. Điều này có nghĩa trẻ sẽ tiếp thu tốt nhất khi chủ động tham gia vào quá trình học tập cũng như chủ động lựa chọn và làm theo kế hoạch của chính bản thân mình.

Các em có thể tự xây dựng kho tàng kiến thức của riêng mình bằng cách tương tác với thế giới xung quanh. Với phương pháp này, người lớn chỉ đóng vai trò xác nhận lại những kiến thức và giúp trẻ mở rộng ở các cấp độ tiếp theo.

Học sinh hứng thú với lớp học thực hành trong phương pháp HighScope (Nguồn: Trường Mầm non Song ngữ KIDZONE)

Trẻ học tư duy sáng tạo với phương pháp Reggio Emilia

Phương pháp giáo dục này được đặt tên không phải dựa theo một chuyên gia giáo dục, nhà tâm lý học, bác sĩ nổi tiếng hay bất kỳ nhà khoa học nào. Reggio Emilia là tên của 1 thành phố nằm ở phía Bắc nước Ý. Nơi đây từng hứng chịu những hậu quả nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Tuy nhiên, bằng tình yêu thương và niềm hy vọng vào thế hệ tiếp theo, dù không có trường học hay giáo án, các ông bố, bà mẹ đã luôn đồng hành cùng con trẻ trong quá trình khám phá. Họ cùng con mình tự đặt ra câu hỏi và tìm hiểu đáp án, học tập từ những tình huống thực tế trong cuộc sống.

Những phương pháp giáo dục sớm cho trẻ đều có chung mục đích là giúp các bé phát triển tối đa với tiềm năng sẵn có cả về trí tuệ, cảm xúc lẫn thể chất. Bố mẹ có thể nghiên cứu, lựa chọn trường mầm non có phương pháp phù hợp nhất với điều kiện gia đình. Môi trường học tập tốt sẽ tạo tiền đề thuận lợi giúp các con phát triển trong cả quá trình lớn lên và trưởng thành sau này.

Anh Thư (Tổng hợp)


Bạn đang xem chủ đề Phương Pháp Ahp trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!