Top #10 ❤️ Phương Pháp Anket Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phương Pháp Và Phương Pháp Luận

Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì, Có Hiệu Quả Không?

Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Bao Nhiêu Tiền & Cắt Ở Đâu?

Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì Và Ở Đâu An Toàn Nhất

Hplc Là Gì ? Khái Niệm, Nguyên Tắc, Phân Loại & Phạm Vi Ứng Dụng

Phương Pháp Sắc Ký Lỏng Hiệu Năng Cao (Hplc)

1. Phương pháp

Theo nghĩa thông thường phương pháp (tiếng Hy Lạp, phương pháp – methodos) là cách thức, thủ đoạn mà chủ thể sử dụng để đạt một mục đích nhất định. Thí dụ để hỏi quả trên cây, người ta có thể dùng nhiều cách: Trèo lên để bứt, dùng gậy để khều, hoặc dùng dao để chặt; muốn qua sông người ta có thể dùng nhiều cách: bơi bằng phao, hoặc dùng thuyền, hoặc dùng bè v.v. Ngay trong việc bơi cũng có nhiều cách như bơi ếch, bơi bướm, bơi sải v.v. Đó là những phương pháp hoạt động thực tiễn. Trong quá trình nhận thức cũng có nhiều cách để đi đến kết quả cần thiết. Thí dụ, để tính toán tổng các số chẵn có hai chữ số: 12 + 14 + 16 + ….+ 98, ta có ba cách: một là cộng lần lượt từ số thứ nhất đến số cuối cùng.

Hai là có thể nhóm thành từng cặp có giá trị bằng nhau rồi nhân với số lượng các cặp bằng nhau đó: 12 + 98 = 110;

………………

Có 22 cặp số mà tổng bằng 110 vậy tổng dãy số trên là: 22 X 110 = 2420.

Cách thứ ba: ta có nhận xét nếu cộng tổng hai dãy số trên theo thứ tự tăng dần và giảm dần như sau:

12+14+16+……. + 96 + 98

110 + 110 + 110 + …+ 110+ 110. Có 44 số hạng bằng 110 trong tổng này, nên ta có thể tính dễ dàng bằng: 110 X 44 = 4840.

Nếu định nghĩa một cách khái quát, khoa học và chặt chẽ thì phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện một mục đích nhất định.

Định nghĩa nêu trên vừa nói lên được một cách khái quát hình thức thể hiện của phương pháp vừa nói lên được nguồn gốc và vai trò của phương pháp.

Một vấn đề đặt ra là những nguyên tắc đó được con người rút ra như thế nào, từ đâu, và bản chất của nó là gì? Trả lời vấn đề này có một số quan điểm khác nhau.

Nguồn gốc và bản chất của phương pháp

Có một số quan niệm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp.

Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm cho phương pháp là nhũng nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Như vậy, theo quan niệm này, phương pháp là phạm trù thuần tuý chủ quan, không phụ thuộc vào đối tượng nhận thức và đối tượng tác động thực tế của con người. Thoạt nhìn, chúng ta thấy quan niệm này có vẻ hợp lý. Nhưng xem xét tỷ mỷ hơn chúng ta thấy con người không thể tuỳ tiện đặt ra những cách thức cho hoạt động của mình được. Thí dụ, khi bơi, chúng ta không thể hoạt động một cách tuỳ tiện, mà phải phối hợp cử động chân, tay một cách nhịp nhàng mới bơi được. Neu không phối hợp tay, chân một cách nhịp nhàng, người bơi sẽ không tạo ra một lực nâng tổng họp lớn hơn trọng lượng cơ thể, người đó thì sẽ bị chìm. Một thí dụ khác, khi chèo thuyền phải khua mái chèo theo một tư thế nhất định thuyền mới chạy đúng hướng được, nếu ìchông thuyền sẽ đứng tại chỗ mà không tiến lên phía trước như mong muốn. Như vậy hoạt động của con người không thể tuỳ tiện theo ý muốn chủ quan được, mà bị quy định bởi tính tất yếu bên ngoài, phụ thuộc vào đối tượng mà con người tác động.

Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: phương pháp dù là những nguyên tắc do con người đặt ra và dùng để điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đạt mục đích nhất định, nhưng không được đặt ra một cách hoàn toàn chủ quan, tuỳ tiện, cũng không phải là những nguyên tắc có sẵn bất biến trong tự nhiên. Phương pháp phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động, phụ thuộc vào mục đích đặt ra của chủ thể. Đối tượng tác động và mục đích của con người không phải do con người tạo ra theo ý nuốn chủ quan thuần tuý của mình. Muốn tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cún đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan. Nghĩa là phải vạch rõ đối tượng có tính chất gì, các yếu tố cấu thành nên đối tượng, giới hạn tồn tại của đối tượng là gì, v.v. Từ đó chủ thể nhận thức rõ những quy luật tồn tại và biến đổi của đối tượng. Chỉ trên cơ sở đó và sau đó chủ thể mới xác định được phải nghiên cún và hành động như thế nào và cần phải sử dụng những phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết họp các yếu tố đã cho theo một trình tự như thế nào cho họp lý để đạt được mục đích. Như vậy phương pháp mà con người dựa vào đe hoạt động, phải tuân theo một lôgic nhất định, tuỳ thuộc vào lôgic của đối tượng. Rõ ràng phương pháp bắt nguồn từ hiện thực khách quan, phản ánh nhũng quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu chứ không phải là những nguyên tắc được đặt ra một cách tùy tiện, theo ý muốn chủ quan của chủ thể (con người). Nhưng phương pháp phải do hoạt động có ý thức, có mục đích của chủ thể mới hình thành được. Hoạt động có ý thức ở đây không phải là ý thức thuần tuý tưởng tượng ra các nguyên tắc, không dựa vào hiện thực khách quan, mà là quá trình ý thức con người phản ánh hiện thực khách quan, rút ra những mối liên hệ bản chất của đối tượng, căn cứ vào đó để điều chỉnh hoạt động của mình phù hợp với quy luật vận động của đối tượng. Do vậy cũng có thể nói phương pháp là sản phẩm của hoạt động có ý thức của con người, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người.

Phương pháp làm cho hoạt động củả con người phù họp với quy luật khách quan của đối tượng, nhờ vậy mới nhận thức và cải tạo được đối tượng. Do vậy phương pháp là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại đối với hoạt động của con người. Nếu với những điều kiện khách quan nhất định như nhau, phương pháp đúng đắn thì kết quả đạt được càng cao và ngược lại phương pháp không phù hợp có thể không đưa đến kết quả như mong muốn, hoặc hiệu quả công việc không cao. Bê-cơn, một nhà triết học Anh thế kỷ XVIII nói: phương pháp như ngọn đèn soi đường đi cho khách lữ hành trong đêm tối. Hêghen – một nhà triết học lỗi lạc của Đức thế kỷ XVIII – XIX cho phương pháp gắn liền với đối tượng và phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp là “linh hồn” của đối tượng. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin rất coi trọng phương pháp, nhất là phương pháp hoạt động thực tiễn cách mạng, phương pháp vận động quần chúng. Chính phương pháp làm cho hoạt động của con người mang tính tự giác, có mục đích và có tính sáng tạo. Đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, việc vạch ra mục tiêu phương hướng cách mạng đúng là yếu tố quan trọng cho thành công của cuộc cách mạng. Tuy nhiên nếu không có phương pháp hoạt động cách mạng đúng đắn, thì với những điều kiện vật chất nhất định sẽ không thể đưa cách mạrig tiến lên đế đạt được mục tiêu đã định. Vậy phương pháp là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu hoạt động của con người.

Căn cứ vào nội dung, phạm vi ứng dụng và mức độ phổ biến người ta phân chia phương pháp ra làm nhiều loại khác nhau như:

– Phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.

– Phương pháp riêng

– Phương pháp chung

– Phương pháp chung nhất (hay phương pháp phổ biến)

Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ mổn khoa học, cho một đối tượng riêng, cụ thể. Thí dụ: phương pháp phân loại thực vật, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chứng minh trong toán học v.v.

Phương pháp chung được áp dụng cho nhiều môn khoa học khác nhau, hoặc cho các đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau như: phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình hoá, phương pháp hệ thống cấu trúc, v.v.

Phương pháp chung nhất (hay còn gọi là phương pháp phổ biến) áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn. Đó là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như: phương pháp kết hợp phân tích và tổng họp, phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá v.v.

Trong phương pháp nhận thức khoa học lại có thể chia một cách tương đối ra thành nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở trình độ kinh nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học.

Nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở cấp độ kinh nghiệm như:

Phương pháp quan sát, là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính, các quan hệ của sự vật hiện tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó. Thí dụ: Quan sát các hiện tượng thời tiết như: diễn biến thời tiết trước, trong và sau khi bão, mưa, lốc xoáy; quan sát, sự biến đổi cây cối trong năm; quan sát sự sinh trưởng của cây. Qua quan sát, con người thấy được các đặc điếm của sự vật và các mối liên hệ giữa đặc điểm này với các đặc điểm khác.

Phương pháp thí nghiệm, là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng, tạo ra những điều kiện đặc biệt (có tính chất nhân tạo), tách chúng thành các bộ phận và kết họp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng thuần khiết. Thí dụ: lai ghép cây, lai tạo các giống động vật, sinh sản vô tính, thí nghiệm để xác định độ chịu lực của vật liệu, thí nghiệm một phương pháp sản xuất mới, một công nghệ mới. Ngày nay thí nghiệm được sử dụng rộng rãi cả trong khoa học tự nhiên, trong kỹ thuật và trong xã hội. Thí nghiệm như một dạng cơ bản của hoạt động thực tiễn, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa học và tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của nhận thức khoa học.

Nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học gồm những phương pháp sau:

Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Tổng họp là quá trình liên kết thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ. Nhận thức phải kết họp cả quá trình phân tích và tổng họp. Không có phân tích thì không thể tổng hợp được và ngược lại không tổng họp thì phân tích chỉ đưa lại hình ảnh rời rạc về sự vật, không thể có được hình ảnh toàn diện về sự vật.

Phương pháp kết hợp quy nạp và diễn dịch: quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức về cái ít chung đến ứi thức về cái chung hơn. Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái riêng, từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái ít chung hơn. Quá trình nhận thức phải có sự kết họp giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch mới phản ánh được đầy đủ những đặc tính của sự vật cũng như phát huy được tính tích cực chủ động của hoạt động chủ quan của chủ thể nhận thức.

Phương pháp lịch sử và lôgic

Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử cụ thể của sự vật với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của đối tượng, phải theo dõi mọi bước đi của đối tượng theo trình tự thời gian.

Phương pháp lôgic vạch ra bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát. Phương pháp lôgic có nhiệm vụ dựng lại lôgic khách quan của sự vật.

Quá trình nhận thức phải kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic mới phản ánh đúng và đầy đủ được sự vận động phát triển của sự vật. Nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lịch sử tách rời phương pháp lôgic thì nhận thức không thể phản ánh được bản chất của các sự kiện lịch sử. Các sự kiện lịch sử hiện ra trước con neười như một bức tranh rất nhiều màu sắc, nhiều đường nét chằng chịt, nhưng còn lộn xộn, chưa theo trật tự có tính tất yếu. Ngược lại nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lôgic tách rời phương pháp lịch sử thì hình ảnh về sự vật chỉ là một bức tranh không có màu sắc, thiếu đường nét, khô khan nghèo nàn và đon điệu, một bức tranh méo mó về sự vật. Phương pháp lịch sử và lôgic phải kết hợp chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, giúp cho con người không những nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật, mà cả những biểu hiện đa dạng của các mối liên hệ đó trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Như vậy kết họp phương pháp lịch sử và lôgic giúp con người phản ánh sự vật đầy đủ, sâu sắc và đúng đắn.

Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể

Cái cụ thể là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới khách quan. Phản ánh cái cụ thể khách quan trong nhận thức dưới hai hình thức: Thứ nhất, cái cụ thể cảm tính – điểm bắt đầu của nhận thức, hình ảnh cảm tính về cái cụ thể khách quan; thứ hai, cái cụ thể trong tư duy- kết quả của tư duy lý luận, của nhận thức khoa học, phản ánh cái cụ thể khách quan bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.

Cái trừu tượng là một trong những yếu tố, một trong những vòng khâu của quá trình nhận thức. Cái trừu tượng trong tư duy là kết quả của sự trừu tượng hoá một mặt, một mối liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú các mối liên hệ của sự vật. Do vậy trừu tượng là một mặt, một biểu hiện của cái cụ thể trong tư duy, là bậc thang của nhận thức cái cụ thể.

Nhận thức về một đối tượng nhất định gồm hai giai đoạn (hay hai quá trình) quan hệ chặt chẽ với nhau: Một là đi từ cái cụ thể cảm tính đến cái trừu tượng, hình thành cái trừu tượng trong tư duy. Hai là đi từ trừu tượng đến cụ thể, hình thành cái cụ thể trong tư duy. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng, nhờ đó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể cảm tính ban đầu và tái tạo nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy. Đây là phương pháp cơ bản được Mác sử dụng trong Tư bản. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp duy nhất và cũng không phải là Mác sử dụng một cách tách rời với các phương pháp khác trong Tư bản.

Như vậy chúng ta thấy có nhiều phương pháp nhận thức khoa học khác nhau, có quan hệ biện chúng với nhau. Sự phân biệt các loại phương pháp chỉ mang ý nghĩa tương đối, tuỳ theo góc độ và tiêu chuẩn phân loại khác nhau. Trong hệ thống các phương pháp, mỗi phương pháp đều có vị trí nhất định. Tùy từng đối tượng và điều kiện lịch sử khác nhau mà chủ thể hoạt động có thể lựa chọn phương pháp nào đó là phương pháp chủ yếu, nhưng đồng thời kết họp với các phương pháp khác. Không nên coi mọi phương pháp đều ngang bằng nhau, có thế thay thế cho nhau một cách tùy tiện, hoặc một phương pháp nào đó luôn là quan trọng nhất có thể bao trùm, thay thế cho mọi phương pháp khác. Không nên tuyệt đối hoá phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia. Trên thực tế, hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thường phải sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp mới nhanh chóng đạt được mục đích.

2. Phương pháp luận Khái niệm phương pháp luận

Trên thực tế, để giải quyết một công việc đã định người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau. Trong các phương pháp đó có phương pháp thích hợp đưa lại hiệu quả cao, cũng có phương pháp không thích họp, đưa lại hiệu quả thấp. Làm thế nào để chọn được một phương pháp thích họp nhất trong số rất nhiều phương pháp có thế sử dụng? Trả lời cho vấn đề này làm nảy sinh nhu cầu tri thức về phương pháp. Từ nhu cầu tri thức về phương pháp đưa đến sự ra đời khoa học và lý luận về phương pháp. Đó chính là phưo’ng pháp luận. Vậy ta có thể nói phương pháp luận là lý luận về phương pháp (hay khoa học về phương pháp).

Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: Phương pháp là gì? bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là thế nào? cách phân loại phương pháp như thế nào? vai trò của phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như thế nào? phương pháp thích hợp nhất là phương nào V.V.? Mục đích của những vấn đề lý luận trên là xác định được những quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất để trên cơ sở của những nguyên tắc đó con người có thể lựa chọn được những phương pháp hoạt động thực tiễn và nhận thức thích họp. Từ đó ta có thể định nghĩa phương pháp luận một cách rõ ràng hơn như sau:

Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát rút ra từ một lý thuyết hoặc một hệ thống lý luận nhất định, để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách họp lý, đưa lại hiệu quả tối đa. Thí dụ phương pháp luận toán học, xuất phát từ việc nghiên cún các lý thuyết toán học để đề xuất được những nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán học V.V.; phương pháp luận kinh tế học có nhiệm vụ nghiên cứu các lý thuyết kinh tế, để rút ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản như: quan điểm về hiệu quả; quan điểm về tiến bộ xã hội; quan điểm về phát triển bền vững v.v. làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp kinh tế cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu; phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê v.v. Việc lựa chọn một phương pháp kinh tế cụ thể nào đó phải xuất phát từ các nguyên tắc phương pháp luận chung đó.

Phân biệt phương pháp luận và phương pháp

Phương pháp và phương pháp luận không đồng nhất với nhau, tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là nhũng quan điểm, những nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp một cách đúng đắn, còn phương pháp là những nguyên tắc cụ thể để chủ thể dựa vào đó điều chỉnh cách thức hoạt động cho thích họp với một đối tượng cụ thể. Phương pháp luận là những nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết mang tính chất thuần tuý lý luận, chưa gắn với một đối tượng cụ thể nào. Mỗi hệ thống lý luận (thậm chí mỗi lý thuyết) đều bao hàm một nội dung phương pháp luận nhất định. Còn phương pháp là những nguyên tắc nhận thức và hoạt động thực tiễn được rút ra từ tri thức về các đối tượng cụ thể. Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp nhưng không nhằm ‘mục đích xác định một phương pháp cụ thể nào, mà nhằm rút ra những quan điểm, nguyên tắc xuất phát, làm cơ sở cho việc xác định và áp dụng phương pháp, còn phương pháp là những nguyên tắc do kết quả nghiên cứu đối tượng, những nguyên tắc quy định các thủ đoạn cụ thể để tiếp cận đối tượng và cải tạo các đối tượng cụ thể.

Tuy nhiên phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ phương pháp và phương pháp luận đều phản ánh nhũng mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan, chính vì vậy nó mới là cơ sở cho hoạt động của con người. Phương pháp luận là cơ sở lý luận cho việc xác định các phương pháp cụ thể, còn phương pháp phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận để xác định các cách thức hoạt động phù hợp với một đối tượng nhất định.

Phân loại phương pháp luận

Phương pháp luận có các cấp độ khác nhau.

Phương pháp luận môn học là cấp độ hẹp nhất, trong đó các quan điểm, các nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết khoa học chuyên ngành, phản ánh quy luật của một lĩnh vực cụ thể. Những nguyên tắc đó chỉ là cơ sở để xác định các phương pháp của một môn học nhất định nào đó.

Phương pháp luận chung có cấp độ rộng hơn phương pháp luận môn học, đó là những quan điểm, nguyên tắc được rút ra từ những lý thuyết khoa học phản ánh quy luật chung của một số môn học, hoặc một số lĩnh vực của hiện thực khách quan. Những ngiịyên tắc chung này làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp chung cho một số môn học hoặc một số lĩnh vực nào đó, Thí dụ phương pháp luận chung của các môn khoa học xã hội, hay phương pháp luận chung của các môn khoa học tự nhiên v.v.

Phương pháp luận chung nhất (hay phương pháp luận phổ biến) có cấp độ rộng nhất, đó là những quan điểm, nguyên tắc chung nhất được rút ra từ những lý thuyết khoa học có cấp độ khái quát cao nhất, làm cơ sở cho việc xác định phương pháp chung cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nói, phương pháp luận chung nhất được rút ra từ lý luận triết học, trong đó phép biện chứng là một trong những bộ phận quan ứọng nhất của lý luận triết học.

Một Số Phương Pháp Đánh Giá Thành Tích Công Việc Mà Các Nhà Quản Lý Nhất Định Phải Biết!

Các Phương Pháp Đánh Giá Công Việc

7 Phương Pháp Đánh Giá Nhân Viên Hiệu Quả Nhất Cho Doanh Nghiệp

3 Phương Pháp Giảng Dạy Mới Có Thể Giúp Đổi Mới Giáo Dục

7 Cách Thai Giáo Cho Thai Nhi Thông Minh Ngay Từ Trong Bụng Mẹ

Phương Pháp Scrum Vs Phương Pháp Agile

Quản Lý Dự Án Agile – Apmp

Phương Pháp Quản Lý Linh Hoạt (Agile) Và Chứng Chỉ Quốc Tế Pmi

Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho Mà Bạn Cần Phải Nắm Được

Phân Tích Abc Trong Supply Chain – Hoangthanghq55

Một Số Vấn Đề Về Mô Hình Hạch Toán Chi Phí Theo Hoạt Động (Activity

Những người mới biết đến Agile thường không hiểu rằng có nhiều loại phương pháp Agile khác nhau. Một trong những quy trình Agile phổ biến nhất là phương pháp Scrum.

Nhiều doanh nghiệp nhận thấy rằng quy trình kinh doanh truyền thống không còn hiệu quả nữa vì ngày càng có nhiều thay đổi như là nhu cầu khách hàng, yêu cầu dự án hay các công việc hỗ trợ khác…khiến họ không nắm bắt kịp xu hướng

Và nhiều quản lý dự án, quản lý sản phẩm và các nhóm phát triển phần mềm đang chuyển từ phương pháp truyền thống Waterfall sang phương pháp Agile.

Phương pháp Agile

Phương pháp Agile được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2011 trong “Agile Manifesto” được tổng hợp tại Utah. Agile Manifesto phác thảo 12 nguyên tắc quan trọng, bao gồm thông tin liên lạc (communication), hợp tác (collaboration), tầm quan trọng của phần mềm, cởi mở để thay đổi.

Các phương pháp Agile cơ bản đặt cùng nhau như một giải pháp phá vỡ cạm bẫy được kết hợp với mô hình Thác nước (Waterfall). Là một khuôn khổ quản lý linh hoạt hơn, Agile cho phép các nhóm vượt qua mô hình tuần tự truyền thống và hoàn thành nhiều việc hơn (work done) trong một khoảng thời gian ngắn hơn.

Nhóm Agile không nhận ra là có nhiều loại khác nhau của phương pháp Agile, một trong số đó và phổ biến nhất là Scrum.

Phương pháp Scrum

Hầu hết các nhóm chuyển từ Agile sang sử dụng Scrum vì nó đơn giản và linh hoạt. Định nghĩa trên trang Scrum chúng tôi “Scrum là duy nhất bởi vì nó giới thiệu ý tưởng về “kiểm soát quá trình thực nghiệm”. Vì Scrum sử dụng những tiến bộ thực tế của dự án – không phải là một dự đoán tốt nhất hoặc dự báo không rõ ràng – để lập kế hoạch và tiến độ phát hành”

Phương pháp Scrum khác với các phương pháp khác?

– Scrum có 3 vai trò: Product Owner, Team members, Scrum Master.

– Dự án chia thành các giai đoạn gọi là Sprint, mỗi Sprint kéo dài từ 1-3 tuần

– Lợi ích của Scrum là điều chỉnh hướng đi của dự án dựa vào các công việc đã hoàn thành chứ không dựa trên suy đoán hay dự đoán

Quản lí dự án Scrum là gì?

Scrum là một trong những phương pháp quản lý dự án linh hoạt – Agile hoặc framework được sử dụng chủ yếu cho các dự án phát triển phần mềm với mục tiêu cung cấp phần mềm mới mỗi 2-4 tuần. Nó là một trong các phương pháp được ảnh hưởng bởi Agile Manifesto, bao gồm một tập hợp các giá trị và nguyên tắc hướng dẫn làm thế nào để phát triển phần mềm chất lượng cao nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Ai sử dụng phương pháp Agile Scrum?

Scrum được những nhà phát triển phần mềm sử dụng rộng rãi. Thực tế nó là phương pháp Agile phổ biến nhất, có khoảng 72% đội ngũ phần mềm sử dụng Scrum hoặc Scrum hybrid. Tuy nhiên, Scrum đã lan rộng đến các chức năng kinh doanh khác bao gồm IT và Marketing trong đó đặc biệt là Digital Marketing, khi phải phát triển những dự án mơ hồ và phức tạp. Đội ngũ lãnh đạo cũng dựa vào thực tiễn quản lý Agile của họ về Scrum, thường kết hợp với Lean và Kanban (phân nhóm quản lý dự án Agile).

Phương pháp Scrum mang lại lợi ích gì?

Năng suất cao hơn

Sản phẩm có chất lượng tốt hơn

Giảm thời gian chờ ra thị trường

Hoạt động nhóm tốt hơn

Nhân viên hạnh phúc hơn

Các thành phần của phát triển Srcum Agile là gì?

Phương pháp Scrum được xác định bởi vai trò của nhóm, events, công cụ, và các quy tắc..

Nhóm phát triển (Nhóm Scrum)

Nhóm phát triển thường có 7 +/- 2 thành viên và không có nhóm trưởng để giao nhiệm vụ hoặc quyết định giải quyết vấn đề nào. Nhóm như một đơn vị độc lập quyết định đề cập và giải quyết vấn đề như thế nào. Mỗi thành viên của nhóm Scrum là một phần không thể thiếu trong việc đưa ra các giải pháp và dự kiến sẽ thực hiện một sản phẩm từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành.

Có 3 nguyên tắc chính trong Nhóm Scrum:

Product Owner

ScrumMaster

ScrumMaster là người lãnh đạo tôi tớ cho Product Owner, Nhóm phát triển và Tổ chức, không có thẩm quyền trong nhóm nhưng khá nhiều người hỗ trợ, ScrumMaster đảm bảo rằng Nhóm luôn tôn trọng lý thuyết, practices và quy tắc Scrum. ScrumMaster bảo vệ Nhóm bằng cách làm bất cứ điều gì có thể để giúp Nhóm cho ra năng suất ở mức cao nhất. Điều này có thể bao gồm việc loại bỏ những trở ngại, tổ chức các cuộc họp và giúp các Product Owner chuẩn bị backlog.

Nhóm phát triển 

Nhóm phát triển là nhóm tự tổ chức, liên chức năng được trang bị tất cả các kĩ năng để sản xuất ra phần tăng trưởng chuyển giao được, phần mềm chạy được khi hoàn thành mỗi sprint. Scrum mở rộng định nghĩa của thuật ngữ “phát triển” vượt ra ngoài hoạt động lập trình để bao gồm bất cứ ai tham gia vào việc tạo ra các phần mềm chạy được. Không có chức danh trong Nhóm phát triển và không có ai, kể cả các ScrumMaster, nói với Nhóm phát triển phải làm như thế nào để biến các hạng mục product backlog thành các gói phần mềm hoàn chỉnh có thể chuyển giao được

Họp Scrum

Sprint

Là một khung thời gian mà công việc cụ thể được hoàn thành và sẵn sàng thực hiện để đánh giá. Sprint thường kéo dài từ 2-4 tuần nhưng có thể ngắn như một tuần.

Họp lên kế hoạch Sprint

Là sự kiện có khung thời gian để xác định hạng mục product backlog sẽ được lựa chọn và làm sao để công việc đạt hiệu quả

Họp Scrum hằng ngày

Là buổi hội thoại ngắn (dưới 15 phút) để các thành viên theo kịp tiến độ nhanh chóng và minh bạch từ cuối buổi họp trước, lên kế hoạch cho buổi họp tiếp theo và giải quyết bất cứ trở ngại nào ngăn cản tiến độ

Họp sơ kết Sprint

Họp cải tiến Sprint

Là buổi họp nhóm cuối cùng trong Sprint để xác định cái nào đã lảm tốt, cái gì chưa tốt và làm sao để Nhóm cải tiến trong Sprint tiếp theo. Nhóm phát triển và Scrum Master tham dự buổi họp quan trọng này giúp tập trung vào kết quả tổng kết và xác định chiến lược cho gia đoạn cải tiến kế tiếp

Scrum Artifacts

Product Backlog

Là tài liệu quan trọng nhất vạch ra từng yêu cầu cho hệ thống, dự án hoặc sản phẩm. Product backlog có thể được dùng như một danh sách công việc phải làm bao gồm các hạng mục công trình, mỗi cái đều mang lại giá trị kinh doanh và được Product Owner định nghĩa

Sprint Backlog

Là danh sách cụ thể những hạng mục lấy từ product backlog phải được hoàn thành trong Sprint

Phần tăng trưởng

Là tổng hợp của tất cả các hạng mục product backlog đã được hoàn thành từ khi phát hành phần mềm mới nhất. Tùy thuộc vào Product Owner  quyết định khi nào phần tăng trưởng được phát hành, trách nhiệm của Nhóm là đảm bảo mọi thứ bao gồm phần tăng trưởng đã sẵn sàng được phát hành, đây cũng được gọi là Phần mềm hoàn chỉnh có thể chuyển giao được (PSI).

Mối liên hệ của Srum với quản lý dự án Agile?

Scrum là một tiểu nhóm Agile:

Agile là một bộ các giá trị và nguyên tắc mô tả sự tương tác và các hoạt động nhóm hằng ngày. Bản thân Agile không nguyên tắc hay cụ thể.

Mặc dù được sử dụng để phát triển phần mềm linh hoạt, Agile Scrum đã trở thành framework thuận lợi nhất để quản lý dự án nói chung và đôi khi được gọi đơn giản là quản lý dự án Scrum hoặc phát triển phần mềm Scrum.

Scrum là gì?

Scrum là một cách để quản lý dự án, thường là phát triển phần mềm. Phát triển phần mềm Scrum thường được coi là một phương pháp luận. Nhưng thay vì xem Scrum là phương pháp luận, hãy xem nó như là framework để quản lý một quá trình.

Nhóm phát triển Scrum chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ mô tả chi tiết thực hiện một dự án vì họ là người hiểu rõ nhất nên giải quyết vấn đề như thế nào.

Nhóm Scrum có hai đặc điểm cực kì quan trọng là: tự tổ chức (self-organizing) và liên chức năng (cross-functional). Trong nhóm Scrum tự tổ chức sẽ không có trưởng nhóm hay người đưa ra quyết định phải làm gì và giải quyết vấn đề nào, vì đó là những vấn đề được quyết định bởi cả nhóm.

Và trong nhóm liên chức năng Scrum, mọi người đều phải hiểu rõ công việc từ khi lên ý tưởng cho đến khi thực hiện.

Trong agile development, nhóm Scrum được hỗ trợ bởi hai vai trò cụ thể. Đầu tiên là Scrum Master được xem như là một huấn luyện viên, giúp các thành viên trong nhóm sử dụng các quy trình Scrum thuần thục nhất.

Vị trí còn lại là Product Owner (PO) có vai trò đại diện doanh nghiệp, khách hàng hay người dùng và hướng dẫn nhóm xây dựng sản phẩm

Ai nên học Agile Scrum?

Khóa học này có thể dành cho tất cả mọi người, bất kỳ ai giữ vai trò hỗ trợ về hiệu suất, hiệu quả, và cải tiến liên tục của nhóm Team Leader hay người chịu trách nhiệm về việc sử dụng và/hoặc giới thiệu Scrum trong một dự án hoặc doanh nghiệp

Khóa học phù hợp cho tất cả thành viên làm phần mềm. Vai trò cụ thể phù hợp bao gồm các product managers và product analysts, Quản lý dự án, Team Leader, Kiến trúc sư, Software Developer, Software Tester, CIO và CTO

Các công cụ Agile Scrum (Artifacts) tuy rất đơn giản nhưng hỗ trợ công việc rất hiệu quả. Chúng bao gồm Product backlog, Sprint Backlog và Product Increment.

1. Product backlog

Đây là danh sách ưu tiên các tính năng (feature) hoặc đầu ra khác của dự án, có thể hiểu như là danh sách yêu cầu (requirement) duy nhất của dự án. Product Backlog rất linh hoạt, nó liên tục thay đổi để xác định sản phẩm nào hữu ích hay mang tính cạnh tranh. Nó chứa các mô tả về tất cả các tính năng, chức năng, cải tiến, các hạng mục mong muốn, vv

Các hạng mục Product Backlog được tạo nên trong quá trình lập kế hoạch phát hành (Release Planning). Sau đó họ được cập nhật trong buổi họp lên kế hoạch Sprint (Sprint Planning) hoặc  Backlog Groomings. Các hạng mục ưu tiên hàng đầu được chọn sẽ được phát triển trong Sprint và được xem xét trong buổi họp Sprint Review.

Công cụ Agile Scrum này do Product Owner chịu trách nhiệm sắp xếp độ ưu tiên cho từng hạng mục (Product Backlog Item) trong  Product Backlog dựa trên các giá trị do Product Owner định nghĩa (thường là giá trị thương mại – business value). Các hạng mục ưu tiên hàng đầu thì rõ ràng hơn và có nhiều thông tin chi tiết hơn.

2. Sprint backlog

Loại công cụ Agile Scrum thứ hai là một loạt danh sách các hạng mục Product Backlog được chọn cho một Sprint; là kết quả dự đoán bởi Nhóm Scrum sau buổi họp lên kế hoạch (Sprint Planning); là những chức năng nào sẽ có mặt trong Incerment tiếp theo và các công việc cần thiết để cung cấp các chức năng đó.

Với sự kết hợp của Product Owner, nhóm Scrum sẽ phân tích các yêu cầu theo độ ưu tiên từ cao xuống thấp để hiện thực hóa các hạng mục trong Product Backlog dưới dạng danh sách công việc (TO-DO list).

Nhóm Scrum luôn phải cập nhật Sprint Backlog trong suốt một Sprint, có thể sử dụng biểu đồ Burndown Chart hay Task Board để dễ dàng nhìn thấy tình trạng hiện tại của công việc như “to do”, “in progress” hay “Done”

3. Product Increment

Là phần tăng trưởng mới phải sử dụng được và đáp ứng Định nghĩa của Done (DoD) của Nhóm Scrum vào cuối mỗi Sprint. Phần tăng trưởng này phải bao gồm mã đã được kiểm tra kỹ lưỡng, được xây dựng thành một file và sử dụng được trong tập tin trợ giúp (Help files) hoặc tài liệu hướng dẫn sử dụng.

Nếu tất cả mọi thứ hoạt động tốt và Nhóm phát triển đã ước tính tốt, phần tăng trưởng bao gồm tất cả các hạng mục đã được lên kế hoạch trong Backlog Sprint sẽ được thử nghiệm và lưu thành tài liệu.

Ban biên tập: Ecci

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Kỹ Thuật Nhân Giống Cây Điều Bằng Phương Pháp Ghép Non Nối Ngọn

Cải Tạo Giống Cây Ăn Quả Bằng Phương Pháp Ghép Cành

Vận Dụng Phương Pháp Luận Biện Chứng Duy Vật Để Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Cho Sinh Viên

6 Nguyên Tắc Vàng Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Bạn Cần Ghi Nhớ

Phương Pháp Phản Xạ 2S

Phương Pháp Montessori Và Phương Pháp Reggio Emilia

Áp Dụng Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình Theo 4 Nguyên Tắc

Top 5 Trường Mầm Non Áp Dụng Phương Pháp Montessori Tại Tp.hcm

Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình, Tác Giả Sagara Atsuko

Sách Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình

Hướng Dẫn Thực Hành Dạy Con Theo Phương Pháp Montessori Tại Nhà

Là hai trong số các nhà tiên phong vĩ đại nhất trong lĩnh vực giáo dục đều đến từ Ý, Maria Montessori và Loris Malaguzzi đều phát triển các phương pháp sư phạm hiện vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay. Maria Montessori đã xây dựng phương pháp giáo dục Montessori, và Loris Malaguzzi chính là người đã tạo ra phương pháp giáo dục Reggio Emilia.

Montessori và Reggio Emilia cùng có một số điểm giao thoa trong những nguyên lý của họ, nhưng họ cũng có những khái niệm bổ sung cho những nguyên lý khác. Khi kết hợp với nhau, chúng mang lại trải nghiệm giáo dục nâng cao đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng người học.

Những điểm tương đồng

Hai phương pháp giáo dục Montessori và Reggio Emilia đều là những nguyên lý mang tính chất kiến tạo, nghĩa là trẻ tự hình thành kiến thức thông qua sự tương tác của chúng với thế giới xung quanh. Đứa trẻ sẽ được coi như là đang sở hữu ham muốn học hỏi bẩm sinh.

Lựa chọn học thuật là trọng tâm của cả hai triết lý này. Đứa trẻ luôn có tiếng nói ở một mức độ nào đó đối với những gì nó học hỏi và cách chúng tiếp thu điều đó.

Tôn trọng trẻ là một khái niệm không thể thiếu đối với cả hai phương pháp giáo dục. Trẻ được xem như một cá nhân và được đối xử như thể những suy nghĩ, quan điểm và mong muốn của chúng đều là quan trọng.

Có một số điểm khác biệt chính giữa Phương pháp Montessori và phương pháp Reggio Emilia. Tuy nhiên, chính những điểm khác biệt đó khiến những triết lý này khi được hòa trộn lại phát huy tác dụng rất hữu hiệu. Việc sử dụng tài liệu, việc làm việc cá nhân hay làm việc theo đội nhóm, và vai trò của nghệ thuật là những điểm tương phản giữa hai phương pháp giáo dục này.

SỰ KHÁC BIỆT CHÍNH GIỮA PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀ PHƯƠNG PHÁP REGGIO EMILIA Việc sử dụng tài liệu

Phương pháp giáo dục Montessori sử dụng những tài liệu rất riêng biệt do chính Tiến sĩ Maria Montessori sáng kiến. Các tài liệu này được trình bày theo trình tự đã định trước, và chúng được giới thiệu dựa trên sự sẵn sàng của từng cá nhân. Những đứa trẻ hoàn thành mỗi công việc theo một quy trình cụ thể.

Phương pháp Reggio Emilia cung cấp sự đa dạng hơn về cả chính các tài liệu lẫn cách thức chúng được sử dụng. Trẻ luân chuyển qua các trung tâm để làm việc với các tài liệu này. Reggio là một triết lý dựa trên phương pháp học thông qua vui chơi và trẻ có thể tự do khám phá và sử dụng các tài liệu dựa trên sự tò mò của chúng.

Trong một trường học kết hợp cả hai phương pháp giáo dục Montessori và Reggio Emilia, một giáo viên có thể đặt các tài liệu Montessori tại các trung tâm theo phong cách Reggio. Tùy thuộc vào nhu cầu của người học, giáo viên có thể chọn trình bày quy trình làm việc Montessori hoặc đơn giản là để học sinh khám phá.

Học cá nhân và học theo nhóm

Triết lý Montessori tập trung nhiều hơn vào việc học hỏi cá nhân. Các bài học thường được trình bày một đối một và không bắt buộc phải làm việc cùng nhau. Mặt khác, việc giảng dạy theo dự án (project-based learning) mang tính cộng tác chính là trọng tâm của Reggio Emilia.

Vai trò của Nghệ thuật trong Phương pháp Montessori và Phương pháp Reggio Emilia

Maria Montessori không xây dựng chương trình giảng dạy về nghệ thuật, nhưng bạn sẽ thấy nghệ thuật trong các trường học theo phương pháp Montessori. Nghệ thuật trong một trường học theo phương pháp Montessori thuần túy được giảng dạy riêng biệt, theo cách dựa trên kỹ năng. Trẻ em có thể học pha màu hoặc học làm đồ gốm.

Trong lớp học theo phương pháp Reggio Emilia, nghệ thuật được sử dụng như một công cụ để học hỏi nhiều môn học khác nhau. Nó được tích hợp vào chương trình giảng dạy và cung cấp cho trẻ một phương tiện diễn đạt. Học sinh có thể trình bày vòng đời của ếch thông qua các mô hình đất sét, hoặc các em có thể tìm hiểu về hệ thống mạch của thực vật bằng cách in hình chiếc lá bằng sơn.

Nhược điểm của việc chỉ dạy nghệ thuật dựa trên kỹ năng đó là không có cơ hội để sử dụng những khả năng đó cho một mục đích chắc chắn. Nhược điểm của việc khám phá thuần túy là những kỹ năng mà khi trẻ ngồi vào bàn còn hạn chế. Một trường học kết hợp cả hai phương pháp cung cấp đủ sự hướng dẫn trực tiếp để cung cấp cho sinh viên các công cụ cần thiết để tự thể hiện bản thân và cho phép nghệ thuật tạo điều kiện tốt nhất cho việc học tập của họ.

Phương pháp Montessori và phương pháp Reggio Emilia có nhiều điểm chung. Sự tương đồng của hai phương pháp này làm cho chúng có thể được trộn lẫn với nhau. Tuy nhiên, chính sự khác biệt của hai phương pháp này đã làm cho việc kết hợp chúng trở nên hiệu quả. Sự tổng hòa của hai triết lý này tạo nên một phương pháp giáo dục phát triển toàn diện một cách tốt nhất cho trẻ.

So sánh Phương pháp Montessori và Phương pháp Reggio Emilia

Biên dịch: Hoàng Bá Cao

Nguồn: MONTESSORI METHOD AND REGGIO EMILIA APPROACH

Phương Pháp Montessori Trong Dạy Tiếng Anh Trẻ Em

Hướng Tới Áp Dụng Linh Hoạt Phương Pháp Giảng Dạy Montessori

9 Nguyên Tắc Cần Nhớ Khi Dạy Trẻ Với Phương Pháp Montessori

Top 5 Trường Mầm Non Áp Dụng Phương Pháp Giảng Dạy Montessori Tại

Phương Pháp Montessori Ngày Nay

Chuyển Đổi Phương Pháp Tính Thuế Từ Phương Pháp Trực Tiếp Sang Phương Pháp Khấu Trừ

Hướng Dẫn Chuyển Đổi Phương Pháp Tính Thuế Gtgt Trực Tiếp Sang Khấu Trừ

Ưu, Nhược Điểm Của 2 Pp Tính Thuế Gtgt Trực Tiếp Và Khấu Trừ

Hướng Dẫn Kê Khai Thuế Gtgt Theo Phương Pháp Khấu Trừ

Cách Kê Khai Thuế Gtgt Theo Phương Pháp Khấu Trừ

Đăng Ký Tự Nguyện Áp Dụng Phương Pháp Khấu Trừ Thuế Gtgt

Câu hỏi: Công ty chúng tôi thành lập ngày 27/9/2017, tôi đã nộp mẫu 06 để đăng ký theo phương pháp khấu trừ nhưng do thiếu hợp đồng thuê địa điểm hoặc mua sắm tài sản cố định nên cơ quan thuế thông báo không chấp nhận và yêu cầu công ty áp dụng phương pháp trực tiếp kể từ quý 4/2017. Nay công ty muốn chuyển sang phương pháp khấu trừ năm 2022 có được không? Hay phải hết chu kì 2 năm mới được chuyển?

Theo thông tin bạn cung cấp thì công ty bạn được thành lập vào ngày 27 tháng 09 năm 2022, và do không có hợp đồng thuê địa điểm hoặc mua sắm tài sản cố định nên chỉ có thể áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng kể từ quý 4/2017. Hiện nay, công ty bạn đang muốn chuyển đổi phương pháp tính thuế từ phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng thành phương pháp khấu trừ thuế. Để giải quyết vấn đề này cần xem xét các phương diện sau:

Căn cứ theo quy định tại Điều 10 Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định:

” Điều 10: Phương pháp khấu trừ thuế:

2. Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ bao gồm: a) Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh; b) Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh”.

Trong trường hợp của công ty bạn thì ngay từ thời điểm thành lập công ty (26/09/2017), công ty cũng đã đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, nhưng đã không đủ điều kiện để áp dụng phương pháp tính thuế này do trong hồ sơ không đầy đủ, không có hợp đồng thuê địa điểm hoặc hợp đồng mua sắm cố định, và buộc phải áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.

Do vậy, trong trường hợp này, nếu bạn muốn chuyển đổi phương pháp tính thuế sang phương pháp khấu trừ thì công ty bạn phải thuộc trường hợp đang hoạt động và có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ 01 tỷ đồng trở lên và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ (theo điểm a Điều 10 Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi năm 2013; điểm a Khoản 4 Điều 7 Nghị định 209/2013/NĐ- CP). Trong đó, doanh thu hằng năm từ 01 tỷ đồng trở lên làm căn cứ xác định cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ được xác định theo quy định tại Điều 12 Thông tư 219/2013/TT- BTC là doanh thu bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định.

Đồng thời tại điểm d khoản 4 Điều 12 Thông tư 219/2013/TT- BTC; được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 3 Thông tư 119/2014/TT- BTC thì:

“Điều 3: Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 219/2013/TT- BTC ngày 31/12/2013 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ- CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng như sau: 3. Sửa đổi, bổ sung khoản 3, 4 Điều 12 Thông tư số 219/2013/TT-BTC như sau: “4. Các trường hợp khác d) Khi hết năm dương lịch đầu tiên từ khi thành lập, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu từ 1 tỷ đồng trở lên theo cách xác định tại khoản 2 Điều này và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ thì tiếp tục áp dụng phương pháp khấu trừ thuế; nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không đạt mức doanh thu từ một tỷ đồng trở lên nhưng vẫn thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ thì được đăng ký tự nguyện tiếp tục áp dụng phương pháp khấu trừ thuế theo hướng dẫn tại điểm a khoản 3 Điều này. Sau năm dương lịch đầu tiên từ khi thành lập, doanh nghiệp, hợp tác xã áp dụng ổn định phương pháp tính thuế trong 2 năm liên tục”.

Từ các căn cứ vào các quy định nêu trên, trong trường hợp này, công ty bạn thành lập vào tháng 9/2017, và đến hết năm 2022 đã thực hiện việc kê khai, nộp thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp. Để chuyển sang phương pháp khấu trừ vào năm 2022, thì công ty bạn phải đáp ứng điều kiện: khi đến hết kỳ tính thuế tháng 11/2017, công ty của bạn xác định được doanh thu ước tính trên 1 tỷ đồng trở lên, thì công ty sẽ chuyển sang áp dụng phương pháp khấu trừ thuế từ ngày 1/1/2018 và cho hai năm 2022, 2022.

Trường hợp doanh thu ước tính chưa đến 1 tỷ đồng nhưng công ty vẫn thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, kế toán chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán hóa đơn, chứng từ thì công ty bạn thuộc trường hợp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ. Bởi theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 12 Thông tư 219/2013/TT- BTC và được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 3 Thông tư 119/2014/TT- BTC thì một trong những cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế được xác định là: Doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT dưới một tỷ đồng đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ.

Nếu Công ty bạn tiếp tục đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thì công ty cũng được tiếp tục áp dụng phương pháp khấu trừ trong hai năm 2022, 2022.

Như vậy, từ những căn cứ được trích dẫn ở trên, nếu muốn chuyển từ phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng sang phương pháp khấu trừ thì công ty bạn có thể chuyển sang phương pháp này từ năm 2022 khi đáp ứng các điều kiện như có doanh thu hằng năm, mà ở đây là xác định doanh thu năm 2022 từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng từ 1 tỷ đồng trở lên và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, số sách, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ. Trong trường hợp doanh thu năm 2022 dưới 01 tỷ đồng, nhưng công ty thực hiện đầu đủ chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ thì công ty vẫn có thể chuyển sang phương pháp khấu trừ từ năm 2022 nhưng phải đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

Chuyển Đổi Phương Pháp Tính Thuế Gtgt Trực Tiếp Sang Khấu Trừ

Hướng Dẫn Đăng Ký Phương Pháp Khấu Trừ Thuế Gtgt 2022

Cách Kê Khai Thuế Gtgt Theo Phương Pháp Khấu Trừ

Bài Tập Định Khoản Các Nghiệp Vụ Kế Toán Có Lời Giải

Một Số Bài Tập Tính Thuế Gtgt

🌟 Home
🌟 Top