Phương Pháp Anket

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phương Pháp Anket xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 15/01/2021 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phương Pháp Anket để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 7.326 lượt xem.

Có 3 tin bài trong chủ đề【Phương Pháp Anket】

【#1】Nội Dung Và Ý Nghĩa Phương Pháp Phỏng Vấn Và Phương Pháp Ankét

Phương pháp phỏng vấn

1

theo một trình tự nào, có thể đưa ra nhận xét của mình, trao đổi ý kiến kiến qua

lại nhằm thu thập được những thông tin mong muốn.

b. Phỏng vấn thường và phỏng vấn sâu

– Phỏng vấn thường được thực hiện trên quy mô rộng với nhiều lọa đối

tượng trả lời.

– Phỏng vấn sâu là cuộc phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia hoặc đi sâu

vào tìm hiểu một vấn đề kinh tế, chính trị, hay xã hội phức tạp nào đó. Yêu cầu

đối với người tiến hành phỏng vấn sâu là phải có kinh nghiệm, trình độ học vấn

cao,và am hiểu sâu sắc vấn đề cần nghiên cứu, thành thạo nghề.

Để đảm bảo thành công của cuộc phỏng vấn cần chú ý đến các nguyên

tắc :

Thứ nhất, nghệ thuật đặt câu hỏi tại sao. Trong thực tế ở bất kỳ cuộc

phỏng vấn nào nếu nhà nghiên cứu chỉ lắng nghe thụ động thì câu trả lời của

người được phỏng vấn rất dễ lan man. Để khắc phục tình trạng trên cần đảm bảo

các yêu cầu:

Các khía cạnh được đưa ra để hỏi phải được sắp xếp một cách trật tự rõ

ràng, chính xác.

Nội dung câu hỏi phải cụ thể, hiểu theo một nghĩa, tránh những câu hỏi

Đặt các câu hỏi phải vô tư tế nhị, tránh dẫn dắt người trả lời theo ý

muốn chủ quan của mình.

Chỉ nên hỏi từng câu hỏi một và phải luôn chú ý đến những manh mối

đã được nói ra hay bị che dấu.

Thứ hai, nghệ thuật lắng nghe. Đây là một nghệ thuật, nó phải được rèn

luyện và phát triển qua thực tiễn. Việc lắng nghe một cách chủ động và sáng tạo

đòi hỏi phải có sự nhạy cảm cao trong tư duy, kết hợ giữa trực giác và cảm giác

một cách chính xác. Khi lắng nghe cần chú ý mấy điểm sau :

Chủ động thể hiện sự đồng cảm với người nói, tỏ ra chăm chú, biểu thị

khả năng có thể thấu hiểu được những ý nghĩ và hành động của người nói.

2

Phải biết suy luận, chắt lọc và tìm hiểu những chỉ báo về những gì

người nói còn băn khoăn, lo lăng hoặc những gì mà người nói đã tin tưởng và

khẳng định

Người phỏng vấn phải hiểu được ý nghĩa của từng chi tiết khi người

trả lời do dự, im lặng hay có những biểu hiện khác nhau khi trả lời một câu hỏi

nào đó.

Phải biết cách khơi gợi, khích lệ người trả lời nói thật, nói hết ra những

điều sâu kín mà thông thường người ta không muốn bộc lộ ra.

Thứ ba, phỏng vấn là một quá trình điều tra sáng tạo, luôn luôn đòi hỏi

phải tiến hành như một quá trình linh hoạt, sáng tạo. Muốn cho một cuộc phỏng

vấn thu được kết quả tốt thì trong mọi tình huống của cuộc phỏng vấn luôn đòi

hỏi sự sáng tạo. Một cuộc phỏng vấn tốt là một cuộc phỏng vấn không khiên

cưỡng, nó như là một cuộc tọa đàm, một cuộc trò truyện nhưng lại thu được hiệu

quả cao.

c. Phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm xã hội, trong đó phỏng vấn cá

nhân được sử dụng phổ biến, còn phỏng vấn nhóm ít được sử dụng. Nó là cuộc

nói chuyện đã được kế hoạch hóa, trong đó nhà nghiên cứu muốn hướng tới khơi

gợi sự tranh luận tập thể trong nhóm.

d. Phỏng vấn qua điện thoại được sử dụng trong các trường hợp cần thu

nhập nhanh ý kiến của nhiều người về một vấn đề xã hội nào đó đang được dư

luận quan tâm.

3. Trình tự dẫn dắt một cuộc phỏng vấn bao gồm

– Thứ nhất, thiết lập sự tiếp xúc bước đầu mà mục đích là tạo không khí

thân thiện, cởi mở cho câu chuyện. Trước tiên điều tra viên giới thiệu về mình, cơ

quan công tác… mà chưa được nói về nội dung chính của cuộc phỏng vấn. Người

trả lời có thể ngạc nhiên về việc họ được chọn trả lời , tù chối hoặc khuyên nên

gặp người nọ người kia để biết rõ hơn. Tùy từng trường hợp mà điều tra viên phải

biết ứng xử linh hoạt.

3

– Thứ hai, củng cố cuộc tiếp xúc bằng những câu hỏi đầu tiên theo kế

hoạch phỏng vấn như những câu hỏi thông thường về cuộc sống, sinh hoạt, các

mối quan tâm,… Cần khẳng định với người trả lời rằng những thông tin nhận

được từ họ sẽ rất lý thú lý thú, hấp dẫn.

– Thứ ba, chuyển qua các câu hỏi chính cần phỏng vấn. Cần có những

lời lẽ dẫn dắt, tiếp tục khửng định tầm quan trọng của câu chuyện. Điều tra viên

cần chú ý tới việc trả lời những câu hỏi phức tạp bằng biện pháp thuyết phục. Nếu

có những chi tiết mà điều tra viên không đồng tình, nghe chưa rõ hoặc phát hiện

những mâu thuẫn trong câu trả lời của người được phỏng vấn thì cần linh hoạt

điều chỉnh hoặc kiểm tra lại bằng những tiểu xảo kỹ thuật một cách tế nhị.

– Thứ tư, một yếu tố quan trọng trong nghệ thuật phỏng vấn là cần nhanh

chóng thiết lập lại cuộc nói chuyện trong trường hợp nó bị ngắt quãng giữa chừng

vì những lý do nào đó. Người trả lời vì lý do nào đó có thể từ chối việc trả lời các

câu hỏi hoặc bắt đầu trả lời lan man, lệch trọng tâm. Lý do của vấn đề này cũng

rất đa dạng, chẳng hạn, do không hiểu mục đích câu hỏi, hoặc không hào hứng

với câu hỏi nào đó…. Trong mọi trường hợp, điểu tra viên phải biết dừng lại đúng

lúc, biết gợi ý, khích lệ hoặc chuyển qua câu hỏi khác.

– Thứ năm, kết thúc cuộc nói chuyện. Để kết thúc, điều tra viên có thể

quay trở lại với một vài câu hỏi mà trước đó chưa được trả lời một cách đầy đủ,

đính chính lại một vài chi tiết nào đó,….

Cuối cùng, điều tra viên có lời cảm ơn, một lần nữa khẳng định giá trị và

tầm quan trọng của những thông tin được cung cấp, những thông tin đó sẽ được

sử dụng đúng mục đích đặt ra mà không phục vụ bất kỳ mục đích nào khác.

4. Đánh giá về phương pháp phỏng vấn

a.Ưu điểm

– Phỏng vấn là phương pháp định tính cơ bản. Do người phỏng vấn

và đối tượng khảo sát tiếp xúc trực tiếp với nhau nên phương pháp phỏng vấn cho

phép thu thập được những thông tin về thực tại cũng như các thông tin về suy

nghĩ, tâm tư, tình cảm của đối tượng.

4

– Bằng phương pháp phỏng vấn, các thông tin thu được có chất lượng

cao, tính chân thực và độ tin cậy của thông tin có thể kiểm nghiệm được trong

quá trình phỏng vấn .

b. Nhược điểm

– Ở phương pháp phỏng vấn đòi hỏi người đi phỏng vấn phải là chuyên

gia có trình độ cao, có kỹ năng xử lý các tình huống, am hiểu lĩnh vực nghiên

cứu, biết cách tiếp đối tượng được phỏng vấn, vì vậy, phương pháp phỏng vấn

khó triển khai được trên quy mô rộng.

– Tiếp cận đối tượng để phỏng vấn là việc tương đối khó.

II. Phương pháp ankét

1. Thực chất của phương pháp ankét

Ankét là phương pháp thu thập thông tin xã hội sơ cấp được sử dụng

rất rộng rãi trong điều tra xã hội học. Phương pháp ankét, về thực chất, là hình

thức hỏi-đáp gián tiếp dựa trên bảng câu hỏi được soạn thảo trước. Điều tra viên

tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi; người

được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu

hỏi và gửi lại cho điều tra viên.

Đặc trưng của phương pháp ankét là người ta chỉ sử dụng một bảng hỏi

đã được quy chuẩn, dùng để hỏi chung cho tất cả những người nằm trong mẫu

điều tra. Thông thường người hỏi và người trả lời không tiếp xúc trực tiếp với

nhau mà thông qua cộng tác viên.

2. Phân loại Ankét

a. Theo nội dung và theo cấu tạo các câu hỏi đặt ra trong phiếu Ankét

– Phiếu Ankét mở là loại phiếu mà người trả lời tự do bày tỏ ý kiến của

mình theo các câu hỏi đặt ra.

– Phiếu Ankét đóng là loại phiếu mà tất cả các phương án trả lời đã được

xác định từ trước theo từng câu hỏi.

b. Theo phương thức phát- thu phiếu Ankét

5

– Gửi phiếu qua bưu điện đến người được hỏi và đợi phiếu được quay

trở lại địa chỉ nhà nghiên cứu. Theo phương thức này cần phải phát số phiếu dư

ra cho những nhóm xã hội có khả năng không gửi đủ số phiếu cho nhà nghiên

cứu. Số dư đó là bao nhiêu tùy thuộc vào kinh nghiệm của nhà nghiên cứu, nhưng

nhìn chung, sai số trong trường hợp này tương đối lớn.

– Phát phiếu Ankét tại chỗ qua đội ngũ cộng tác viên. Trong trường hợp

này các cộng tác viên sẽ là những người trực tiếp phát biểu và thu về những phiếu

đã được trả lời.

c. Theo cách thức tiếp cận và số lượng người trả lời tham gia : có Ankét

theo từng nhóm ( tập trung 30-40 người trả lời cùng một lúc ) và Ankét theo từng

cá nhân ( phát phiếu cho từng người riêng lẻ )

3. Các nguyên tắc xây dựng bảng Ankét.

– Không được nhầm lẫn lôgic của các câu hỏi với logic của việc xây

phiếu Ankét.

– Khi xây dựng phiếu Ankét phải luôn luôn chú ý tới những đặc điểm về

văn hóa, phong tục tập quán hoặc tâm lý xã hội của cộng đồng người trả lời. Điều

này phải được quán triệt trong toàn bộ cấu trúc của bảng Ankét.

– Cùng những câu hỏi như nhau nhưng nếu sắp xếp theo trình tự khác

nhau thì thông tin thu được cũng khác nhau. Nhìn chung, những câu hỏi bộ phận,

có tính tiểu tiết nên đặt lên trước, sau đó mới đến những câu hỏi có tính khái quát,

đánh giá sự kiện.

– Nên sắp xếp câu hỏi theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức

tạp.

4. Trình tự nội dung của phiếu Ankét

– Phần mở đầu : Nội dung chủ yếu của phần này là giới thiệu cơ quan tiến

hành nghiên cứu; mục đích nghiên cứu; giải thích một số thuật ngữ ( nếu cần thiết

); cách ghi (trả lời ) phiếu Ankét; cách thức thu lại phiếu; khẳng định tính khuyết

danh của cuộc điều tra.

6

7

III. Ý nghĩa thực tiễn của các phương pháp này với lĩnh vực pháp

luật

Xã hội là một lĩnh vực rộng bao gồm nhiều lĩnh vực nhỏ, mà pháp luật

lại là công cụ để quản lý xã hội. Muốn quản lý được xã hội thì phải biết được thế

mạnh điểm cũng như nhũng mặt yếu kém là gì, để hững gì có điều kiện phát triển

thì tạo điều kiện cho nó phát triển, những gì còn yếu kém thì cần khắc phục bổ

sung, đó chính là những cái cần nghiên cứu. Qua quá trình nghiên cứu sẽ có biện

pháp điều chỉnh pháp phù hợp để đi đến việc hoàn thiện pháp luật. Như vậy mới

có thể nói thông qua pháp luật để quản lý xã hội được. Tóm lại, ý nghĩa thực tiễn

của việc nghiên cứu xã hội học với lĩnh vực pháp luật là để soạn thảo một bộ luật

thích hợp nhất với xã hội để đưa vào cuộc sống . Trong đó phương pháp phỏng

vấn và phương pháp ankét đóng vai trò là những công cụ quan trọng và hữu hiệu

nhất để xã hội học có thể điều tra và tiếp cận xã hội về pháp luật :

Điều tra được chính xác về mức độ phổ biến pháp luật trong xã hội,

cũng như tình hình vi phạm pháp luật trong xã hội hiện nay.

Tăng cường phổ biến cũng như giáo dục việc chấp hành pháp luật có

Điều tra được đầy đủ thông tin, cách thức vi phạm pháp luật của tội

Giúp lựa chon được đối tượng điều tra phù hợp với quá trình tiến hành

tố tụng của các cơ quan chức năng.

Đảm bảo được bí mật về đối tượng điều tra.

Tổng hợp kết quả được nhanh chóng, thuận tiện, rút ngắn quá trình điều

tra trong trường hợp cần thiết.

Tìm hiểu ý kiến người dân về Dự thảo Luật qua đó tạo điều kiện để họ

có thể đóng góp ý kiến của mình.

Đánh giá tính hợp lý của các quy định trong dự thảo luật.

Tìm hiểu nguyên nhân, vướng mắc và giải pháp khắc phục những tồn

tại trong thực thi pháp luật.

8

Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong thời gian qua các phương pháp

này đã đi đầu trong việc nghiên cứu xã hội học, sử dụng các phương pháp điều

tra, nghiên cứu xã hội học và nhiều lĩnh vực như xã hội học về tội phạm, xã hội

học về nhân thân người phạm tội, xã hội học về hình phạt……

KẾT LUẬN

Sự trình bày chi tiết về thực chất, phân loại, đánh giá ưu điểm, nhược

điểm.. của phương pháp phỏng vấn và phương pháp anket sẽ giúp cho người đọc

có cái nhìn đầy đủ hơn về hai phương pháp này. Từ đó mỗi người có thể vận

dụng chúng trong chừng mực khác nhau để thu thập thông tin, chuẩn bị tài liệu

cần thiết.

9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. 1. Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb Tư pháp

2. Nguyễn Khắc Viện, Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới.

3. Chung Á – Tuệ Nhân , Nghiên cứu xã hội học, Nxb Chính trị quốc gia.

4. Kulcsar Kalman, Cơ sở xã hội học pháp luật, NXb Thống kê.

5. Bộ giáo dục và đào tạo, Xã hội học đại cương, Nxb Thống kê.

6. Nguồn tin trên http://www.isl.gov.vn

10

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

NỘI DUNG

II. Phương pháp phỏng vấn

1.. Thực chất của phương pháp phỏng vấn

2. Các loại phỏng vấn

a. Phỏng vấn tiêu chuẩn hóa và phỏng vấn không tiêu chuẩn hóa

b. Phỏng vấn thường và phỏng vấn sâu

c. Phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm xã hội,

d. Phỏng vấn qua điện thoại.

3. Trình tự dẫn dắt một cuộc phỏng vấn.

4. Đánh giá về phương pháp phỏng vấn

a. Ưu điểm

b. Nhược điểm

II. Phương pháp ankét

1. Thực chất của phương pháp ankét

2.

Phân loại Ankét

a. Theo nội dung và theo cấu tạo các câu hỏi đặt ra trong phiếu Ankét

b. Theo phương thức phát- thu phiếu Ankét

c. Theo cách thức tiếp cận và số lượng người trả lời tham gia.

3. Các nguyên tắc xây dựng bảng Ankét.

4. Trình tự nội dung của phiếu Ankét

5. Đánh giá về phương pháp Ankét.

III. Ý nghĩa thực tiễn của các phương pháp này với lĩnh vực pháp luật.

KÊT LUẬN

11

Nội dung chính của phương pháp phỏng vấn và phương pháp ankét? Ý nghĩa thực

tiễn của các phương pháp này đối với lĩnh vực pháp luật.

12


【#2】Phương Pháp Chung Nghiên Cứu Khoa Học Vận Dụng Trong Lĩnh Vực Kiến Trúc

Phương pháp nghiên cứu khoa học (PPNCKH) là phạm trù trung tâm của phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Phương pháp (PP) không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, bởi vì chính PP góp phần quyết định thành công của mọi quá trình NCKH. Bản chất của PPNCKH chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của PP

  • PP luôn gắn với chủ thể nghiên cứu (yếu tố chủ quan) và đối tượng nghiên cứu (yếu tố khách quan);
  • PP có tính mục đích vì mọi hoạt động của con người đều có mục đích. Mục đích nghiên cứu chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn PPNC;
  • PPNC gắn chặt với nội dung nghiên cứu. PP là hình thức vận động của nội dung. Nội dung nghiên cứu quy định PPNC. Trong mỗi đề tài khoa học có một PP cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ PP đặc trưng;
  • PPNC có cấu trúc đặc biệt, đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgic tối ưu của các thao tác hoạt động và biết sử dụng nó một cách có ý thức;
  • PPNCKH luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn PPNC; theo yêu cầu của PPNC mà ta chọn các phương tiện phù hợp.

Phân loại PPNCKH

PPNCKH là một hệ thống phong phú và phức tạp. Để tiện áp dụng trong thực tế, người ta có một số cách phân loại PPNCKH như sau:

  • Dựa vào lĩnh vực áp dụng, người ta chia PP thành: Những PP chung nhất dùng cho tất cả các lĩnh vực khoa học, những PP chung dùng cho một số ngành và những PP đặc thù chỉ dùng cho một lĩnh vực cụ thể;
  • Dựa vào việc vận dụng công nghệ thông tin, người ta chia PP thành: Nhóm PP thu thập thông tin, nhóm PP xử lý thông tin và nhóm PP trình bày thông tin;
  • Dựa vào tính chất và trình độ nghiên cứu, người ta chia PP thành: Nhóm PP mô tả, nhóm PP giải thích và nhóm PP sáng tạo (phát triển);
  • Dựa vào trình độ nhận thức khoa học và cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu, người ta chia PP thành: Nhóm PPNC thực tiễn và nhóm PPNC lý thuyết;
  • Nhóm PP sử dụng toán học.

I. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (PPNCTT)

PPNCTT là nhóm các PP trực tiếp tác động vào các đối tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vận động của các đối tượng đó.

1. PP quan sát khoa học (PPQSKH)

QSKH là PP nhận biết đối tượng một cách có hệ thống để thu thập thông tin. Đây là một hình thức quan trọng để nhận thức kinh nghiệm, thông tin. Nhờ quan sát mà ta có thông tin về đối tượng, trên cơ sở đó tiến hành các bước tìm tòi và khám phá tiếp theo.

QSKH là một hoạt động được tổ chức đặc biệt, có mục đích, có kế hoạch, có phương tiện để nhận diện các đối tượng được lựa chọn. Mục đích quan sát là tìm các dấu hiệu đặc trưng hay những quy luật vận động và phát triển của đối tượng.

QSKH được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, đối tượng nhiều hay ít, tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Các tài liệu quan sát qua xử lý đặc biệt cho ta những kết luận đầy đủ, chính xác về đối tượng.

QSKH có ba chức năng:

  • Thu thập thông tin thực tiễn, đây là chức năng quan trọng nhất. Các tài liệu thu thập qua xử lý cho ta những thông tin có giá trị về đối tượng;
  • Kiểm chứng các giả thiết hay các lý thuyết đã có. Qua thực tiễn kiểm chứng mới khẳng định được độ tin cậy của lý thuyết;
  • Đối chiếu các kết quả nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn để tìm ra sự sai lệch của chúng, mà tìm cách bổ khuyết, hoàn thiện lý thuyết.

Có hai loại QSKH: Trực tiếp và gián tiếp. QS trực tiếp là QS trực diện đối tượng đang diễn biến trong thực tế bằng mắt thường hoặc bằng các phương tiện kỹ thuật nghe nhìn để thu thập thông tin một cách trực tiếp. QS gián tiếp là QS diễn biến hiệu quả của các tác động tương tác giữa đối tượng cần QS với các đối tượng khác, mà bản thân đối tượng không thể QS trực tiếp được.

Các đối tượng nghiên cứu có thể là đơn lẻ, có thể là số đông. Các đối tượng đó có thể đang vận động trong môi trường tự nhiên hay môi trường nhân tạo. Người QS có thể là nhà khoa học hay các cộng tác viên. Bất kỳ một QSKH nào cũng đều do con người thực hiện, cho nên phải tính đến các đặc điểm của quá trình QS với các lưu ý sau:

  • Chủ thể QS là các nhà khoa học hay các cộng tác viên và đã là con người đều bị các quy luật tâm lý chi phối. Mỗi cá nhân đều có tính chủ quan, chủ quan về trình độ, kinh nghiệm, quan điểm, cảm xúc. QS bao giờ cũng thông qua lăng kính chủ quan, có “cái tôi” trong sản phẩm. Ví dụ: Ngay cả khi sử dụng máy quay phim một cách “vô tư”, người cầm máy vẫn quay theo cảm hứng và góc độ mà họ muốn. Cái chủ quan có thể là nguồn gốc của mọi sai lệch, thậm chí có thể “xuyên tạc” sự thật.
  • Phải chú ý tới các quy luật của cảm giác, tri giác, như: Quy luật lựa chọn, quy luật thích ứng và các ảo giác,…
  • Đối tượng QS là thế giới phức tạp. Sự chính xác của QS phụ thuộc một mặt vào trình độ của con người, mặt khác vào sự bộc lộ của chính đối tượng. Đối tượng nằm trong một hệ thống có mối quan hệ phức tạp với đối tượng phức tạp khác, nó lại luôn vận động, biến đổi và phát triển. Cho nên việc xác định đúng các chỉ số trọng tâm về đối tượng cần QS là điều rất cần thiết.

Tóm lại, QS là một PPNCKH quan trọng nói chung và trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng nói riêng. Tuy nhiên PPQSKH chưa đạt tới trình độ nhận thức bản chất bên trong của đối tượng, cần phải sử dụng phối hợp QS với các PP khác để đạt tới kết quả bản chất và khách quan.

2. PP điều tra (PPĐT)

ĐT là PP khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện các quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu.

Các tài liệu điều tra được sẽ là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho các quá trình nghiên cứu và là căn cứ để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn.

Có hai loại ĐT: ĐT cơ bản (CB) và ĐT xã hội học (XHH)

  • ĐT CB khảo sát sự có mặt của các đối tượng trên một diện rộng, để nghiên cứu các quy luật phân bố cũng như các đặc điểm về mặt định tính và định lượng.
  • ĐT XHH là điều tra quan điểm, thái độ, cảm xúc, nhu cầu, của quần chúng về một sự kiện (KT-XH), một hiện tượng (VH, MT),…
  • ĐT là một PPNCKH quan trọng, một hoạt động có mục đích, có kế hoạch, được tiến hành một cách thận trọng.

ĐT CB được sử dụng cả trong KH tự nhiên và KH xã hội. Các bước ĐT thường được tiến hành như sau:

  • Lập kế hoach ĐT, bao gồm: Mục đích, đối tượng, địa bàn, nhân lực, kinh phí,…;
  • Xây dựng các mẫu phiếu ĐT với các thông số, chỉ tiêu cần làm sáng tỏ;
  • Chọn mẫu ĐT đại diện cho số đông, chú ý tới những đặc trưng của đối tượng;
  • Xử lý tài liệu ĐT: Các tài liệu thu thập được qua ĐT có thể được phân loại bằng phương pháp thủ công hay xử lý bằng công thức toán học thống kê và máy tính, cho ra những kết quả khách quan;

Một PPĐTXHH phổ biến là lập hệ thống câu hỏi bằng văn bản, thường gọi là “Bảng câu hỏi” hay “Anket” (Questionaire). Anket là hệ thống câu hỏi với các phương án trả lời, người được hỏi chọn câu trả lời theo nhận thức và quan điểm của mình. Anket có hai loại: Anket đóng và Anket mở. Anket đóng là hệ thống các câu hỏi mà người trả lời chỉ cần chọn một trong các phương án đã có sẵn. Anket mở là hệ thống các câu hỏi mà ngoài các phương án có sẵn, người trả lời có thể bổ xung ý kiến riêng của mình.

Kết quả ĐTXH phải qua xử lý bằng các PP thống kê toán học hay bằng máy vi tính. Các kết quả đã qua xử lý mới được coi là thông tin khoa học. Một PPĐT khoa học khác hay được sử dụng trong nghiên cứu tâm lý học và giáo dục học là PP trắc nghiệm (Test), một PP để nghiên cứu, đo đạc, đánh giá trí tuệ và nhân cách con người.

Tóm lại, ĐT là PPNC thực tiễn quan trọng và phổ biến trong lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc. Tuy nhiên, ĐT cũng không phải là PP vạn năng vì chúng có nhiều ưu điểm nhưng cũng có nhược điểm. Trong nghiên cứu KHXH, kết quả ĐT nhiều khi cho ta thông tin bản chất nhưng nhiều khi chỉ cho ta thông tin hỗ trợ, bổ sung hay kiểm tra kết quả của các PPNC khác.

3. PP thực nghiệm khoa học (PPTNKH- Experiment)

Thực nghiệm KH là PPNC thực tiễn quan trọng, trong đó các nhà khoa học chủ động tác động vào đối tượng và quá trình diễn biến của sự kiện (SK) hoặc hiện tượng (HT) mà đối tượng tham gia, để hướng dẫn sự phát triển của chúng theo mục tiêu dự kiến. Thực nghiệm thành công sẽ cho ta các kết quả khách quan, và như vậy mục đích khám phá khoa học được thực hiện một cách hoàn toàn chủ động. Kinh nghiệm cho thấy thực nghiệm có ý nghĩa như là một cuộc cách mạng trong NCKH, làm đảo lộn tư duy khoa học kiểu cũ và nó được sử dụng triệt để trong nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là với các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật. Thực nghiệm đã giúp đẩy nhanh quá trình NCKH và khả năng vận dụng nhanh chóng các kết quả NCKH vào thực tiễn sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng – kiến trúc.

PPTN giúp trình độ kỹ thuật thực hành NC đạt tới mức độ tinh vi, giúp phát triển cả khả năng tư duy lý thuyết. Thực nghiệm đã tạo ra một hướng nghiên cứu mới, hoàn toàn chủ động trong sáng tạo khoa học. Ngày nay, PPTN đã được sử dụng cả trong lĩnh vực NCKH xã hội và đem lại những kết quả quan trọng.

Trong NCKH tự nhiên và KH kỹ thuật, người ta còn sử dụng PP thí nghiệm, được tiến hành trong các phòng thí nghiệm (Labo – Laboratory) với những biện pháp kỹ thuật nhằm phát hiện đặc điểm và các quy luật phát triển của đối tượng nghiên cứu. Thí nghiệm thực hiện trên cơ sở thay đổi dần các dữ kiện hay các chỉ số định tính và định lượng của những thành phần tham gia SK/HT và lặp lại nhiều lần nhằm xác định tính ổn định của đối tượng nghiên cứu. Thí nghiệm có thể là một bước, hay một bộ phận của quá trình thực nghiệm KH. Từ kết quả của những thí nghiệm có thể chuyển dần thành lý thuyết thực nghiệm. Thực nghiệm và thí nghiệm về bản chất cũng là để tìm tòi hay chứng minh một ý tưởng, một giả thuyết KH nào đó. Đây là PPNC rất phù hợp và phổ biến trong lĩnh vực Xây dựng – Kiến trúc (XD-KT).

4. PP phân tích và tổng kết kinh nghiệm (PPPT&TKKN)

PPPT và TKKN là PPNC xem xét lại thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho khoa học và cho thực tiễn. PPTKKN thường hướng vào NC diễn biến, nguyên nhân của các SK/HT và NC các giải pháp thực tiễn đã áp dụng trong sản xuất hay trong hoạt động xã hội để tìm ra các giải pháp hoàn hảo nhất. PPTKKN cũng còn nhằm phát hiện logic các bước đi để giải một bài toán sáng tạo trên cơ sở phân tích một loạt các thông tin về một giải pháp, ví dụ: Giải pháp kỹ thuật,… Đây chính là con đường sáng tạo theo phương pháp thuật toán (Algorithm).

PPTKKN thường được tiến hành như sau:

  • Phát hiện các SK/HT điển hình: Các SK/HT này có ảnh hưởng tới cuộc sống và hoạt động thực tiễn. Điển hình có thể là những SK/HT thành công hay thất bại. Những điển hình này thường tự bộc lộ như những SK/HT quan trọng mà mọi người đều quan tâm;
  • Lập lại mô hình SK/HT, khôi phục lại SK/HT đã xảy ra, cố gắng đạt tới nguyên bản;
  • Phân tích từng mặt của SK/HT, những nguyên nhân, hoàn cảnh xuất hiện, quá trình diễn biến của SK/HT, những thành công hay thất bại của các giải pháp theo tiến trình lịch sử.
  • Dựa trên các lý thuyết khoa học đã được chứng minh để giải thích SK/HT, tìm ra những kết luận khách quan về bản chất và quy luật phát triển của SK/HT, từ đó rút ra những bài học cần thiết.

5. PP chuyên gia (PPCG)

PPCG sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia của một chuyên ngành để xem xét, nhận định bản chất của SK/HT khoa học hay thực tiễn phức tạp, để tìm ra giải pháp tối ưu cho các SK/HT đó, hay phân tích đánh giá một sản phẩm khoa học… Ý kiến của từng chuyên gia bổ sung cho nhau, kiểm tra lẫn nhau và các ý kiến giống nhau của đa số CG về một vấn đề hay giải pháp có thể được coi là kết quả NC. PPCG rất kinh tế và phổ biến trong lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc, giúp tiết kiệm thời gian, sức lực và tài chính để triển khai NC. Tuy nhiên, PP này chủ yếu dựa trên cơ sở trực cảm và kinh nghiệm của CG, vì vậy, chỉ nên sử dụng khi các PP khác không có điều kiện thực hiện hoặc không thể thực hiện được.

Khi sử dụng PPCG cần chú ý:

  • Chọn đúng CG có năng lực chuyên môn về lĩnh vực nghiên cứu, nắm vững PPL NCKH, có phẩm chất trung thực, khách quan, khoa học và có kinh nghiệm trong nhận xét và đánh giá một công trình KH;
  • Nếu sử dụng PPCG để đánh giá một công trình khoa học thì phải xây dựng một hệ thống các tiêu chí cụ thể, rõ ràng và có thể dùng một thang điểm chuẩn để đánh giá. Phải chỉ dẫn cho CG đánh giá theo thang điểm chuẩn đó;
  • Để đảm bảo tính khách quan trong nhận xét và đánh giá một công trình KH, cần hạn chế những ảnh hưởng qua lại giữa các CG. CG có thể nhận xét, đánh giá bằng văn bản, không công khai. Nếu cần đánh giá công khai, thì người có uy tín nhất không nên là người đầu tiên phát biểu ý kiến.

II. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (PPNCLT)

PPNCLT là nhóm các PP thu thập thông tin KH trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu, lý thuyết đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút ra các kết luận KH cần thiết.

Phân tích và tổng hợp là hai PP có chiều hướng đối lập nhau, song chúng lại thống nhất và quan hệ biện chứng với nhau. Phân tích chuẩn bị cho tổng hợp và tổng hợp lại giúp cho phân tích càng sâu sắc hơn.

NC lý thuyết thường bắt đầu từ phân tích các tài liệu để tìm ra cấu trúc các lý thuyết, các trường phái, các xu hướng phát triển của lý thuyết. Từ phân tích người ta lại tổng hợp chúng lại để xây dựng thành một hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, tiến tới tạo thành các lý thuyết KH mới. Đó là những PP phổ biến và phù hợp với lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc.

2. PP phân loại, hệ thống hóa lý thuyết (PPPL,HTHLT)

Phân loại (PL) là PP sắp xếp các tài liệu KH thành một hệ thống logic, chặt chẽ theo từng mặt, từng nhóm kiến thức, từng vấn đề KH có cùng bản chất, cùng một hướng phát triển. Phân loại làm cho KH từ chỗ có kết cấu nội dung phức tạp thành cái dễ nhận biết, dễ sử dụng theo mục đích NC của các đề tài. Phân loại còn giúp phát hiện các quy luật phát triển của khách thể, cũng như sự phát triển của tri thức KH, để từ đó mà dự đoán được các xu hướng phát triển của KH và thực tiễn.

Hệ thống hóa (HTH) là PP sắp xếp các tri thức KH thành hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm cho sự hiểu biết của ta về đối tượng NC được đầy đủ và sâu sắc. HTH là PP tuân theo quan điểm cấu trúc hệ thống trong NCKH. Những thông tin đa dạng thu thập được từ các nguồn, các tài liệu khác nhau nhờ PPHTH mà ta có được một chỉnh thể với một cấu trúc chặt chẽ, để từ đó mà ta có thể xây dựng một lý thuyết mới hoàn chỉnh.

PL và HTH là hai PP luôn đi liền với nhau. Trong PL đã có yếu tố HTH. HTH phải dựa trên cơ sở của PL và HTH làm cho PL được đầy đủ và chính xác hơn. PL và HTH là những bước tiến để tạo ra những tri thức KH mới, sâu sắc và toàn diện. Đó là những PP rất phổ biến và phù hợp với lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc.

3. PP mô hình hóa (PPMHH)

MHH là PPNC các hiện tượng KH thông qua việc xây dựng các mô hình giả định về đối tượng NC và dựa trên mô hình đó để NC trở lại đối tượng. MH là hệ thống các yếu tố vật chất hoặc ý tưởng. MH được xây dựng gần giống với đối tượng NC, trên cơ sở tái hiện lại những mối quan hệ chức năng, mối quan hệ nhân quả của các yếu tố tạo thành đối tượng.

Đặc tính quan trọng của MH là sự tương ứng của nó với nguyên bản. MH thay thế đối tượng và bản thân nó lại trở thành đối tượng để NC. MH là sự tái hiện đối tượng NC dưới dạng trực quan. Tri thức thu được từ NC các MH là cơ sở để chuyển sang NC nguyên bản sinh động, phong phú và phức tạp hơn. MH lý thuyết có nhiệm vụ xây dựng cấu trúc cái chưa có trong hiện thực, tức là MHH cái chưa biết để NC chúng. Như vậy MH vẫn là cái giả định, vì thế mà nó còn được gọi là MH giả thuyết. MHH được coi là một hình thức thử nghiệm tư duy để tìm kiếm bản chất đối tượng cần NC.

Tóm lại, MHH là phương thức chuyển cái trừu tượng thành cái cụ thể, rồi dùng cái cụ thể để NC cái trừu tượng, đó là một PP nhận thức phổ biến trong NCKH, đặc biệt trong lĩnh vực quy hoạch – kiến trúc. (QH – KT)

4. PP giả thuyết (PPGT)

Giả thuyết (GT) là PPNC đối tượng bằng cách dự đoán bản chất của đối tượng và tìm cách chứng minh các dự đoán đó. Như vậy, PPGT có hai chức năng: Chức năng dự đoán và chức năng chỉ đường, trên cơ sở dự đoán mà tìm bản chất của SK/HT. Với hai chức năng đó, GT thực chất là một PP nhận thức. Trong NCKH, khi phát hiện các hiện tượng lạ mà với kiến thức đã có, không thể giải thích được, người ta thường tiến hành so sánh hiện tượng chưa biết với các hiện tượng đã biết, từ tri thức cũ với trí tưởng tượng sáng tạo mà hình dung ra cái cần tìm. Đó chính là thao tác xây dựng GT. Trong GT, dự đoán được lập luận theo lối giả định, suy diễn, chân lý có tính xác xuất, cho nên cần phải chứng minh. Chứng minh GT có thể được thực hiện theo 2 cách: Chứng minh trực tiếp và chứng minh gián tiếp. Chứng minh trực tiếp là phép chứng minh dựa vào các luận cứ chân thực và theo các quy tắc suy luận để rút ra luận đề. Chứng minh gián tiếp là phép chứng minh khẳng định rằng phản luận đề là không chân xác và từ đó rút ra luận đề chân thực..

Với đặc điểm là PP biện luận, GT được sử dụng như là một thử nghiệm của tư duy, thử nghiệm thiết kế với các lý thuyết. Suy diễn để rút ra các kết luận chân thực từ GT là thao tác logich quan trọng của quá trình NCKH.

5. PP lịch sử (PPLS)

PPLS đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình biến hóa và phát triển của đối tượng để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng. Mọi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có lịch sử của nó, tức là có nguồn gốc phát sinh, có vận động, phát triển và tiêu vong. Quá trình phát triển lịch sử biểu hiện toàn bộ tính chân thật của nó, với mọi sự thay đổi, những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên, những cái tất yếu, phức tạp, muôn hình, muôn vẻ,…trong các hoàn cảnh khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định. Đi theo dấu vết của lịch sử ta sẽ có bức tranh trung thực về bản thân đối tượng NC.

PPLS yêu cầu làm rõ quá trình phát triển của đối tượng, phải nắm được sự vận động cụ thể trong tính phong phú của nó, phải bám sát đối tượng, theo dõi những bước quanh co, những ngẫu nhiên của lịch sử, phát hiện sợi dây lịch sử của toàn bộ sự phát triển. Từ lịch sử phát triển ta sẽ phát hiện ra quy luật phát triển của đối tượng, tức là tìm ra cái logich của lịch sử. Đó chính là mục đích của mọi hoạt động NCKH.

PPLS trong NCLT còn được sử dụng để phân tích các tài liệu lý thuyết đã có nhằm phát hiện các xu hướng, các trường phái NC, từ đó giúp ta xây dựng tổng quan về vấn đề NC, hay còn gọi là lịch sử vấn đề NC. Tổng quan là cơ sở để phát hiện những thành tựu lý thuyết đã có nhằm kế thừa, bổ xung và phát triển các lý thuyết đó. Xây dựng tổng quan là con đường giúp ta phát hiện ra những thiếu sót, những vấn đề không hoàn chỉnh trong các tài liệu đã có, để từ đó xác định sự cần thiết của đề tài NC. Đây là một PPNC được áp dụng rất phổ biến và quen thuộc trong lĩnh vực QH-KT.

III. Các PP toán học ứng dụng trong NCKH

Sự phát triển mạnh mẽ của KH hiện đại đã dẫn đến hai xu hướng phát triển trong NCKH:

– Một là: Việc sử dụng các thiết bị hiện đại để tiến hành các hoạt động NC. Các thiết bị kỹ thuật là công cụ hỗ trợ vô cùng hiệu quả trong quan sát, thực nghiệm,…và sử lý các thông tin, tư liệu thu thập được.

– Hai là: Việc sử dụng các lý thuyết toán học vào việc tìm ra các lý thuyết chuyên ngành. Xu hướng “toán học hóa” mở ra con đường mới giúp NCKH đạt tới trình độ chính xác, sâu sắc, để từ đó khám phá bản chất và các quy luật vận động của đối tượng NC.

Kinh nghiệm cho thấy: Một KH chỉ thực sự phát triển khi nó sử dụng được toán học và thực tế ngày nay toán học đã thâm nhập một cách sâu sắc vào tất cả mọi lĩnh vực KH, làm cho KH phát triển nhanh chóng. KH hiện đại sử dụng toán học với hai mục đích:

  • Sử dụng toán học thống kê như một công cụ xử lý các thông tin đã thu thập được từ các PPNC khác nhau, như: Quan sát, điều tra hay thực nghiệm,…làm cho các kết quả NC trở nên chính xác, bảo đảm độ tin cậy;

Toán học là KH suy diễn. Toán học bảo đảm cho quá trình NC đi đúng hướng, nhất quán, cũng như trong trình bày kết quả NC thành một hệ thống, mạch lạc và đồng thời giúp tạo lập các ngôn ngữ KH chính xác. Trong NCKH tự nhiên, KH kỹ thuật, toán học là một công cụ đắc lực. KH tự nhiên và toán học gắn với nhau v như hình với bóng, thiếu vắng PP toán học không thể tiến hành NCKH tự nhiên, KH kỹ thuật. Trong NCKH xã hội, từ sự xác định, chọn mẫu NC, toán học đã tham gia một cách tích cực vào việc xử lý tài liệu, thông tin. Toán học đã làm tăng tính chính xác, khách quan của các kết quả NC và nhờ đó các kết luận của các công trình NC có tính thuyết phục cao hơn.

Kết luận

NCKH là một hoạt động đặc biệt, phức tạp. PPNCKH không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, bởi vì chính PP góp phần quyết định thành công của mọi hoạt động và quá trình NCKH. Người làm NCKH thực thụ khác người hoạt động trong các lĩnh vực khác ở chỗ họ phải có những hiểu biết về phương pháp luận NCKH và phương pháp NCKH, hay nói cách khác, họ phải có năng lực làm việc KH, thể hiện trong tư duy và hành động. Chính vì vậy, những người muốn làm NCKH hay đang được đào tạo làm NCKH cần phải, trước tiên, học tập, nắm vững những kiến thức về phương pháp luận NCKH và đặc biệt là phải biết vận dụng các phương pháp và kỹ năng NCKH. Đó cũng là mục tiêu quan trọng nhất của công tác đào tạo sau đại học, đào tạo đội ngũ những người làm NCKH.

GS.TSKH Ngô Thế Thi

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 05-2018)


【#3】Phương Pháp Easy, Easy 4 Và Những Vấn Đề Thường Gặp

Nhiều mẹ thắc mắc phương pháp Easy là gì? Easy 4 là gì? Easy 4 áp dụng khi nào? Giải quyết các vấn đề thường gặp ở Easy 4 ra sao? Mời ba mẹ tìm hiểu bài viết sau của POH:

(Phương pháp EASY: Thực chất là Nếp sinh hoạt EASY (E – eat, A – activity, S – sleep, Y – your time) – chu kỳ sinh hoạt lặp đi, lặp lại trong một khoảng thời gian ngắn từ sáng sớm thức dậy đến hết ngày của một em bé từ khi lọt lòng).

Ở mỗi giai đoạn của sự phát triển của trẻ sơ sinh ứng với một nếp sinh hoạt khác nhau. Để áp dụng lịch phù hợp cho con mẹ cần ghi chép và theo dõi các tín hiệu cụ thể.

EASY 4 là sự chuyển giao từ Easy 3 và Easy 3.5 : được áp dụng trong giai đoạn từ 8 – 19 tuần (có bé đến 24 tuần).

  • Bé ĂN các bữa CÁCH 4h, ngày ăn 4-5 bữa.
  • Ngày ngủ 3 NAP (3 giấc)
  • TỔNG thời gian thức ngày: 8h, ngủ ngày 4h- 4,5h;
  • Đêm ngủ 11,5h-12h.

Đặc điểm: ban ngày con ngủ 3 nap, trong đó 2 giấc đầu dài 1,5-2h/nap, nap cuối ngày 30-45 phút. THỨC 2h mới đi ngủ. Đây là giai đoạn nhiều cha mẹ gặp khúc mắc ở nhiều vấn đề:

Với những bé phụ thuộc vào ti để ngủ, lúc này sẽ gặp catnap (giấc ngủ ngắn 30-45′, bé dậy và không ngủ được tiếp) và ăn ban ngày đêm nhởn nhơ. Đây là tín hiệu phải cắt đứt sự phụ thuộc ngủ vào ti và bình. Hãy dạy con tự ngủ!

2. Cai ti đêm hay không cai ti đêm

Thước đo là chất lượng bữa ăn ban ngày, đặc biệt bữa ăn đầu ngày. Hãy ghi chép, khi con ăn bữa đêm nhiều hơn so với ban ngày, đó là tín hiệu con đã bị ăn quá thụ động, phụ thuộc vào ngủ để ăn. Cần khắc phục, bằng cắt ăn đêm. Khi bé biết tự ngủ, việc cắt ti đêm sẽ đơn giản và nhanh gọn hơn.

Đây là bệnh muôn thủa. Trích đại ý note Muộn còn hơn không, thiết lập easy 4: Mẹ cho con thức đủ 1h50′ (với các bé đã biết tự ngủ có thể gần hơn đến mốc 2h). Đặt bé vào giường, trong khoảng 2h này sẽ là giờ ngủ, bé dậy mẹ làm các biện pháp hỗ trợ đến hết nap. Bé dậy, lúc này thời gian thức là 2h.

Gõ chiêng khua trống nếu cần để bé thức đủ và ko bị ngủ gật. Tiếp tục 2h dành cho việc đi ngủ nap 2 Tương tự, tiếp tục 2h thức, và giữ con thức. Ngủ 30′-45′

Mời ba mẹ tham khảo các mốc EASY quan trọng khác: Các mốc EASY quan trọng của trẻ sơ sinh

Nhiều bé trong những ngày đầu thời gian thức có thể lên đến 3,5h nhưng đây là cú huých để bé điều chỉnh ngủ dài ra. Càng cho ngủ bù, thừa nap càng không bao giờ chữa nổi catnap. Sau vài ngày con quen nếp và giờ thì catnap sẽ đỡ hơn.

Phương pháp hướng dẫn tự ngủ: 4S/5S, PUPD (bế lên đặt xuống), CIO with/without check, no cry. Lưu ý, đây là lúc giảm phụ thuộc vật hỗ trợ: quấn, ti giả thông qua sử dụng nút chờ, chờ 10′ sau đó mới hỗ trợ con.

Lúc này có thể giới thiệu vật trấn an khác như doudou, security blanket (nhiều bé dùng luôn quấn làm chăn trấn an).

Sau khi kết thúc Easy 4 tại 16 tuần hoặc có bé sẽ kéo dài đến 20 tuần, bé sẽ chuyển sang giai đoạn biến thể và vào lịch EASY 2-3-4 tại tuần 26 hoặc lâu hơn tùy thuộc vào từng bé.

Tuy nhiên, em bé của mẹ là một cá thể riêng biệt, mẹ không biết hướng dẫn con tự ngủ bắt đầu từ đâu? Mẹ không biết lịch Easy nào phù hợp nhất với con. Trên mạng có quá nhiều thông tin mẹ không biết áp dụng thế nào mới đúng. Con vẫn quấy khóc, không thể ngủ ngon và mẹ thì hoàn toàn bất lực.

POH thấu hiểu điều đó và luôn mong muốn giúp các bà mẹ bận rộn nuôi dạy con khoa học thật dễ dàng và bạn có thời gian chăm sóc bản thân.

Chúng tôi xây dựng khóa học hướng dẫn tự ngủ – POH Easy One. Khóa học được cá nhân hóa cho từng bé theo từng ngày tuổi.

Trong quá trình học, bạn sẽ được tư vấn chuyên sâu bởi đội ngũ giảng viên & bác sĩ Minh Hạnh.


Bạn đang xem chủ đề Phương Pháp Anket trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!