【#1】Mẫu Bảng Hướng Dẫn Phương Pháp Tính Thuế Theo Biểu Thuế Lũy Tiến Từng Phần (Đối Với Thu Nhập Thường Xuyên)

Phụ lục: 02/PL-TNCN (Ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính) Phụ lục BẢNG HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ THEO BIỂU THUẾ LUỸ TIẾN TỪNG PHẦN (đối với thu nhập thường xuyên) Phương pháp tính thuế luỹ tiến từng phần được cụ thể hoá theo Biểu tính thuế rút gọn như sau: Bậc Thu nhập tính thuế /tháng Thuế suất Tính số thuế phải nộp Cách 1 Cách 2 1 Đến 5 triệu đồng (trđ) 5% 0 trđ + 5% TNTT 5% TNTT 2 Trên 5 trđ đến 10 trđ 10% 0,25 trđ + 10% TNTT trên 5 trđ 10% TNTT – 0,25 trđ 3 Trên 10 trđ đến 18 trđ 15% 0,75 trđ + 15% TNTT trên 10 trđ 15% TNTT – 0,75 trđ 4 Trên 18 trđ đến 32 trđ 20% 1,95 trđ + 20% TNTT trên 18 trđ 20% TNTT – 1,65 trđ 5 Trên 32 trđ đến 52 trđ 25% 4,75 trđ + 25% TNTT trên 32 trđ 25% TNTT – 3,25 trđ 6 Trên 52 trđ đến 80 trđ 30% 9,75 trđ + 30% TNTT trên 52 trđ 30 % TNTT – 5,85 trđ 7 Trên 80 trđ 35% 18,15 trđ + 35% TNTT trên 80 trđ 35% TNTT – 9,85 trđ *Trong đó TNTT là thu nhập tính thuế Ví dụ : Ông A có thu nhập từ tiền lương, tiền công trong tháng đã trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc là 90 triệu đồng và ông A phải nuôi 2 con dưới 18 tuổi. Trong tháng ông A không đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học. a) Thuế thu nhập cá nhân tạm nộp trong tháng của ông A được tính như sau: * Ông A được giảm trừ các khoản sau: – Cho bản thân là 4 triệu đồng. – Cho 2 người phụ thuộc: 1,6 triệu đồng x 2 người = 3,2 triệu đồng. * Thu nhập tính thuế áp vào biểu thuế luỹ tiến từng phần để tính số thuế phải nộp là: 90 triệu đồng – 4 triệu đồng – 3,2 triệu đồng = 82,8 triệu đồng * Số thuế phải nộp được tính là: – Bậc 1: thu nhập tính thuế đến 5 triệu đồng, thuế suất 5%: 5 triệu đồng x 5% = 0,25 triệu đồng – Bậc 2: thu nhập tính thuế trên 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng, thuế suất 10%: (10 triệu đồng – 5 triệu đồng) x 10% = 0,5 triệu đồng – Bậc 3: thu nhập tính thuế trên 10 triệu đồng đến 18 triệu đồng, thuế suất 15%: (18 triệu đồng – 10 triệu đồng) x 15% = 1,2 triệu đồng – Bậc 4: thu nhập tính thuế trên 18 triệu đồng đến 32 triệu đồng, thuế suất 20%: (32 triệu đồng – 18 triệu đồng) x 20% = 2,8 triệu đồng – Bậc 5: thu nhập tính thuế trên 32 triệu đồng đến 52 triệu đồng, thuế suất 25%: (52 triệu đồng – 32 triệu đồng) x 25% = 5 triệu đồng – Bậc 6: thu nhập tính thuế trên 52 triệu đồng đến 80 triệu đồng, thuế suất 30%: (80 triệu đồng – 52 triệu đồng) x 30% = 8,4 triệu đồng – Bậc 7: thu nhập tính thuế trên 80 triệu đồng đến 82,8 triệu đồng, thuế suất 35%: (82,8 triệu đồng – 80 triệu đồng) x 35% = 0,98 triệu đồng Như vậy, với mức thu nhập trong tháng là 90 triệu đồng, tổng số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp trong tháng của ông A theo biểu thuế luỹ tiến từng phần là: (0,25 + 0,5 + 1,2 + 2,8 + 5 + 8,4 + 0,98) = 19,13 triệu đồng b) Để thuận tiện cho việc tính toán, ông A có thể áp dụng phương pháp tính rút gọn như sau: Sau khi giảm trừ gia cảnh, thu nhập tính thuế của ông A là 82,8 triệu đồng, số thuế phải nộp của ông A được xác định thuộc bậc 7 của biểu thuế lũy tiến từng phần. Số thuế được tính theo cách 1 là: 18,15 triệu đồng + (82,8 triệu đồng – 80 triệu đồng) x 35% = 19,13 triệu đồng. Số thuế được tính theo cách 2 là: 35% x 82,8 triệu đồng – 9,85 triệu đồng = 19,13 triệu đồng.

【#2】Bài 2. Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lí Trên Bản Đồ (Địa Lý 10)

+ Các kí hiệu biểu hiện trên bản đồ chính là ngôn ngữ của bản đồ.

+ Từng kí hiệu được thể hiện ở mỗi bản đồ là cả một quá trình chọn lọc cho phù hợp với mục đích, yêu cầu và mức độ tỉ lệ mà bản đồ cho phép.

1. Phương pháp kí hiệu

a. Đối tượng biểu hiện:

Biểu hiện các đtượng phân bố theo những điểm cụ thể. Những kí hiệu được đặt chính xác vào vị trí phân bố của đối tượng trên bản đồ. (ví dụ: Thuỷ điện Hoà Bình được đặt trên sông Đà…)

b. Các dạng kí hiệu:

– Kí hiệu hình học: Sắt, than, crôm, kim cương, vàng, nước khoáng, đá quý.

– Kí hiệu chữ: Apatít, Uranni, Bôxít, Niken, Thuỷ ngân, Antimon, Môlípđen.

– Kí hiệu tượng hình: Rừng nhiệt đới, cây lúa, hoa quả, trâu, hươu, bãi cá , nhà máy.

c. Khả năng biểu hiện:

– Tên và vị trí phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng.

– Cấu trúc, chất lượng và động lực phát triển.

Hình 2.1. Các dạng kí hiệu

Hình 2.2. Công nghiệp điện Việt Nam

2. Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

a. Đối tượng biểu hiện:

– Thể hiện sự di chuyển của các hiện tượng tự nhiên & các hiện tượng KT-XH trên bản đồ (ví dụ)

+Hiện tượng tự nhiên: Sự di chuyển của gió, bão, các dòng hải lưu

+Hiện tượng kinh tế-xã hội: Sự di chuyển các luồng dân cư, sự dịch chuyển hàng hoá, hành khách, đường hành quân…

b. Các dạng kí hiệu:

-Mũi tên(véctơ)

-Dải băng

c. Khả năng biểu hiện:

– Hướng di chuyển của đối tượng.

– Khối lượng của đối tượng di chuyển, tốc độ di chuyển.

– Chất lượng của đối tượng di chuyển.

Hinh 2.3. Gió và bão ở Việt Nam

3. Phương pháp chấm điểm:

a. Đối tượng biểu hiện:

Biểu hiện các hiện tượng phân bố phân tán lẻ tẻ bằng các điểm chấm trên bản đồ (ví dụ: Phân bố dân cư, phân bố cây lương thực, đàn gia súc…)

b. Dạng kí hiệu:

Chấm tròn(tối ưu nhất)

c. Khả năng biểu hiện:

– Sự phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng.

– Đặc điểm của đối tượng.

Ví dụ: c hấm đen thể hiện Trâu, chấm vàng thể hiện Bò.

Hình 2.4. Phân bố dân cư châu Á

4. Phương pháp bản đồ – biểu đồ

a. Đối tượng biểu hiện:

Thể hiện giá ti tổng cộng của một hiện tượng địa lí trên một đơn vị lãnh thổ bằng cách dùng các biểu đồ cột đặt vào phạm vi các đơn vị lãnh thổ đó.

b. Khả năng biểu hiện:

– Thể hiện được chính xác vị trí của đối tượng.

– Số lượng của đtượng.(cột dài hay ngắn)

– Chất lượng của đối tượng.

– Cấu trúc của đối tượng.

Ví dụ: sản lượng thuỷ sản đánh bắt và sản lượng thuỷ sản nuôi trồng.

Hình 2.5. Diện tích và sản lượng lúa Việt Nam, năm 2000

Phương pháp khác: phương pháp kí hiệu theo đường, phương pháp đường đẳng trị, phương pháp khoanh vùng, phương pháp nền chất lượng…

Hinh 2.6. Một số cách khác nhau thể hiện vùng trồng thuốc lá

TRẢ LỜI CẦU HỎI LIÊN QUAN:

? (trang 10 SGK Địa lý 10) Dựa vào hình 2.2 (trang 10 SGK Địa lý 10) hãy chứng minh rằng phương pháp kí hiệu không những chỉ nêu được tên và vị trí mà còn thể hiện được cả chất lượng của các đối tượng trên bản đồ.

-Thấy được các nhà máy nhiệt điện ở Phả Lại, ở TP Hồ Chí Minh… Các nhà máy thủy điện ở Hòa Bình, ở Đa Nhim…, thấy được các trạm 220 KV, 500 KV…

– Thấy được các nhà máy thủy điện đã đưa vào sản xuất và những nhà máy thủy điện còn đang xây dựng.

(trang 12 SGK Địa lý 10) Quan sát hình 2.3 (trang 11 SGK Địa lý 10), cho biết phương pháp kí hiệu đường chuyển động biểu hiện được những đặc điểm nào của gió và bão trên bản đồ.

– Thấy được hướng chuyển động của các loại gió, bão.

– Thấy được tần suất khác nhau của các cơn bão đến nước ta.

– Các đối tượng địa lí được biểu hiện bằng những phương pháp nào?

– Mỗi điếm chấm trên bản đồ tương ứng bao nhiêu người?

– Phương pháp kí hiệu thể hiện các đô thị có quy mô dân số trên 8 triệu và từ 5 triệu đến 8 triệu.

– Phương pháp chấm điểm thể hiện phân bố dân cư trên lãnh thổ, mỗi điểm chấm tương ứng 500.000 người.

【#3】Địa Lí 10 Bài 2: Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ

Lý thuyết, trắc nghiệm Địa lý lớp 10

Lý thuyết Địa lý lớp 10 bài 2: Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lý trên bản đồ được VnDoc sưu tầm và tổng hợp các câu hỏi lí thuyết trong chương trình giảng dạy môn Địa lý lớp 10.

Lưu ý: Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài viết

Bài: Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lý trên bản đồ

A/ Lý thuyết Địa lý 10 bài 2

-Các kí hiệu biểu hiện trên bản đồ chính là ngôn ngữ của bản đồ.

+ Từng kí hiệu được thể hiện ở mỗi bản đồ là cả một quá trình chọn lọc cho phù hợp với mục đích, yêu cầu và mức độ tỉ lệ mà bản đồ cho phép.

a/ Đối tượng biểu hiện

– Biểu hiện các đối tượng phân bố theo những điểm cụ thể. Những kí hiệu được đặt chính xác vào vị trí phân bố của đối tượng trên bản đồ. (ví dụ: Thuỷ điện Hòa Bình được đặt trên sông Đà…)

b/ Các dạng kí hiệu

(Các dạng kí hiệu)

– Kí hiệu hình học: Sắt, than, crôm, kim cương, vàng, nước khoáng, đá quý.

– Kí hiệu chữ: Apatít, Uranni, Bôxít, Niken, Thuỷ ngân, Antimon, Môlípđen.

– Kí hiệu tượng hình: Rừng nhiệt đới, cây lúa, hoa quả, trâu, hươu, bãi cá, nhà máy.

c/ Khả năng biểu hiện

– Tên và vị trí phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng.

– Cấu trúc, chất lượng và động lực phát triển

2/ Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

a/ Đối tượng biểu hiện

– Biểu hiện sự di chuyển của các hiện tượng tự nhiên và kinh tế xã hội.

b/ Khả năng biểu hiện

– Hướng di chuyển của đối tượng.

– Số lượng, tốc độ của đối tượng di chuyển.

a/ Đối tượng biểu hiện

– Biểu hiện các đối tượng phân bố không đồng đều bằng những điểm chấm.

b/ Khả năng biểu hiện

– Sự phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng.

a/ Đối tượng biểu hiện

– Biểu hiện đối tượng không phân bố trên một vùng khắp lãnh thổ mà chỉ phát triển những khu vực nhất định.

b/ Khả năng biểu hiện

– Sự phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng.

(Phương pháp khoanh vùng)

a/ Đối tượng biểu hiện

– Biểu hiện giá trị tổng cộng của một đối tượng trên một đơn vị lãnh thổ bằng cách dùng các biểu đồ đặt vào phạm vi của đơn vị lãnh thổ đó.

b/ Khả năng biểu hiện

– Số lượng của đối tượng.

– Chất lượng của đối tượng.

– Cơ cấu của đối tượng

(Phương pháp bản đồ – biểu đồ)

1. Phương pháp kí hiệu

– Biểu hiện các đối tượng phân bố theo những điểm cụ thể.

– Những kí hiệu được đặt chính xác vào vị trí phân bố của đối tượng trên bản đồ.

– Vị trí phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng

– Chất lượng của đối tượng.

2. Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

– Biểu hiện sự di chuyển của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên và kinh tế-xã hội.

– Hướng di chuyển của đối tượng.

– Khối lượng của đối tượng di chuyển.

– Chất lượng của đối tượng di chuyển.

3. Phương pháp chấm điểm

– Biểu hiện các đối tượng phân bố không đồng đều bằng những điểm có giá trị như nhau.

– Sự phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng.

4. Phương pháp bản đồ – biểu đồ

– Biểu hiện các đối tượng phân bố trong những đơn vị phân chia lãnh thổ bằng các biểu đồ đặt trong các lãnh thổ đó.

– Số lượng của đối tượng.

– Chất lượng của đối tượng.

– Cơ cấu của đối tượng.

B/ Trắc nghiệm Địa lý 10 bài 2

Câu 1: Phương pháp kí hiệu là

Câu 2: Phương pháp kí hiệu đường chuyển động là

Câu 3: Khả năng biểu hiện của phương pháp bản đồ – biểu đồ là

Câu 4: Phương pháp kí hiệu thường được dùng để thể hiện các đối tượng địa lí có đặc điểm

Câu 5: Các đối tượng nào sau đây thường được biểu hiện bằng phương pháp đối tượng?

Câu 6: Trên bản đồ tự nhiên, các đối tượng được biểu hiện bằng phương pháp chuyển động đó là

Câu 7: Đặc trưng của phương pháp khoanh vùng

Câu 8: Để thể hiện các mỏ than trên bản đồ chúng ta thường dùng phương pháp nào?

Câu 9: Để thể hiện đàn bò được nuôi của các tỉnh ở đất nước ta người ta thường dùng phương pháp nào?

Câu 10: Kí hiệu hình học dùng để biểu thị các đối tượng như thế nào?

Với nội dung bài Lý thuyết Địa lý 10 bài 2: Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lý trên bản đồ các bạn học sinh cùng quý thầy cô cần nắm vững kiến thức về khái niệm, ý nghĩa của các biểu tượng địa lý trên bản đồ…

【#4】Trắc Nghiệm Địa Lí 10 Bài 2 (Có Đáp Án): Một Số Phương Pháp Biểu Diễn Các Đối Tượng Địa Lí Trên Bản Đồ ( Phần 1).

Trắc nghiệm Địa Lí 10 Bài 2 (có đáp án): Một số phương pháp biểu diễn các đối tượng địa lí trên bản đồ ( Phần 1)

Câu 1: Phương pháp kí hiệu dùng để biểu hiện các đối tượng địa lí có đặc điểm

A. phân bố theo luồng di chuyển.

B. phân bố phân tán, lẻ tẻ.

C. phân bố theo những điểm cụ thể.

D. phân bố thanh từng vùng.

A. Đường giao thông.

B. Mỏ khoáng sản.

C. Sự phân bố dân cư.

D. Lượng khách du lịch tới.

Câu 3: Theo quy ước ký hiệu dùng để thể hiện đối tượng địa lí sẽ được đặt ở vị trí như thế nào trên bản đồ

A. Đặt vào đúng vị trí của đối tượng địa lí.

B. Đặt phía dưới vị trí của đối tượng địa lí.

C. Đặt bên trái vị trí của đối tượng địa lí.

D. Đặt bên phải vị trí của đối tượng địa lí.

Câu 4: Phương pháp kí hiệu không chỉ xác định vị trí của đối tượng địa lý mà còn thể hiện được

A. khối lượng cũng như tốc độ di chuyển của đối tượng địa lí.

B. số lượng (quy mô), cấu trúc, chất lượng hoặc động lực phát triển của đối tượng địa lí.

C. giá trị tổng cộng của đối tượng địa lí.

D. hướng di chuyển của đối tượng địa lí.

Câu 5: Trên bản đồ, khi thể hiện mỏ sắt người ta dùng kí hiệu Δ , đây là dạng ký hiệu nào?

A. Kí hiệu tập thể.

B. Kí hiệu chữ.

C. Kí hiệu tượng hình.

D. Kí hiệu hình học.

Câu 6: Trong phương pháp kí hiệu, để phân biệt cùng một loại đối tượng địa lý nhưng khác nhau về chất lượng hoặc động lực phát triển , người ta cùng sử dụng một loại kí hiệu nhưng khác nhau về

A. màu sắc.

B. diện tích (độ to nhỏ).

C. nét vẽ.

D. cả ba cách trên.

Câu 8: Phương pháp đường chuyển động được dùng để thể hiện các đối tượng địa lí có đặc điểm phân bố theo những điểm cụ thể

A. phân bố theo những điểm cụ thể.

B. phân bố theo luồng di chuyển.

C. phân bố phân tán, lẻ tẻ.

D. phân bố thành từng vùng.

A. Đường giao thông đường sắt đường ô tô đường hàng không.

B. Các luồng di dân.

C. Đường ranh giới giữa các vùng các địa phương.

D. Tất cả đều đúng.

A. Đường biên giới , đường bờ biển.

B. Các dòng sông, các dãy núi.

C. Hướng gió dòng biển.

D. Tất cả đều đúng.

Câu 11: Trong phương pháp đường chuyển động để thể hiện sự khác nhau về khối lượng hoặc tốc độ di chuyển của cùng một loại đối tượng địa lí người ta sử dụng

A. các mũi tên dài – ngắn hoặc dày – mảnh khác nhau.

B. các mũi tên có màu sắc khác nhau.

C. các mũi tên của đường nét khác nhau.

D. cả ba cách trên.

Câu 12: Phương pháp chấm điểm được dùng để thể hiện các đối tượng địa lý và đặc điểm

A. Phân bố thanh vùng

B. Phân bố theo luồng di truyền

C. Phân bổ theo những địa điểm cụ thể

D. Phân bố phân tán lẻ tẻ

Câu 13: Trong phương pháp bản đồ biểu đồ để thể hiện giá trị tổng cộng của một đối tượng địa lí trên các đơn vị lãnh thổ người ta dùng cách

A. đặt các kí hiệu vào phạm vi của các đơn vị lãnh thổ đó.

B. đặt các biểu đồ vào phạm vi của các đơn vị lãnh thổ đó.

C. đặt các điểm chấm và phạm vi của các đơn vị lãnh thổ đó.

D. khoanh vùng các đơn vị lãnh thổ đó.

Câu 14: Để thể hiện các mỏ khoáng sản trên bản đồ người ta thường dùng

A. phương pháp kí hiệu.

B. phương pháp kí hiệu đường chuyển động.

C. phương pháp chấm điểm.

D. phương pháp bản đồ – biểu đồ.

Câu 15: Để thể hiện sự phân bố dân cư trên bản đồ , người ta thường dùng

A. phương pháp lí hiệu.

B. phương pháp kí hiệu đường chuyển động.

C. phương pháp chấm điểm.

D. phương pháp bản đồ – biểu đồ.

Câu 16: Để thể hiện sự phân bố lượng mưa trung bình năm trên nước ta , người ta thường dùng

A. phương pháp kí hiệu.

B. phương pháp chấm điểm.

C. phương pháp bản đồ – biểu đồ.

D. phương pháp khoanh vùng.

Câu 17: Để thể hiện lượng mưa trung bình các năm tháng trong năm hoặc nhiệt độ trung bình các tháng trong năm ở các địa phương người ta thường dùng

A. phương pháp kí hiệu

B. phương pháp kí hiệu đường chuyển động

C. phương pháp bản đồ biểu đồ

D. phương pháp khoanh vùng

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

【#5】Bài Tham Khảo Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lí Trên Bản Đồ

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BIỂU HIỆN CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐỊA LÍ TRÊN BẢN ĐỒ

Chúng ta đều biết rằng trên mỗi bản đồ đều sử dụng rất nhiều kí hiệu để thể hiện các đối tượng địa lí khác nhau. Các kí hiệu này đã được phân loại như thế nào? Chúng biểu hiện những đối tượng nào của địa lí ? Để tìm hiểu rõ hơn về những vấn đề này chúng ta cùng nghiên cứu trong bài này.

1. Phương pháp kí hiệu

– Phân bố không đều trên toàn bộ lãnh thổ

– Chỉ tập trung ở một số điểm cụ thể

Nhìn vào lược đồ ta thấy rằng các nhà máy điện đều phát triển ở những nơi có điều kiện thuận lợi và phương pháp kí hiệu đã thể hiện rất cụ thể về hiện trạng phân bố cũng như đặc điểm của công nghiệp điện Việt Nam.

Đối tượng biểu hiện :

Biểu hiện các đói tượng phân bố theo những điểm cụ thể : điểm dân cư, mỏ khoáng sản…

Kí hiệu được đặt chính xác vào vị trí phân bố của đối tượng.

Ví dụ : nhà máy thủy điện Hòa Bình tại tỉnh Hòa Bình, nhà máy nhiệt điện Phả Lại tại tỉnh Hải Dương…

Các dạng kí hiệu chính của phương pháp kí hiệu như sau:

Các dạng kí hiệu :

+ kí hiệu hình học

+ kí hiệu chữ

+ kí hiệu tượng hình

Ví dụ:

Các kí hiệu của mỏ sắt, than đá, crom, kim cương, vàng, nước khoáng, đá quý . Các kí hiệu này thường sử dụng trong bản đồ khoáng sản dung kí hiệu hình học là chủ yếu.

Kí hiệu của các nguyên tố hóa học như : apatit, uranium, bô xit, niken, thủy ngân, antimon, molipden. Các kí hiệu này thường được sử dụng trong các bản đồ khoáng sản dung kí hiệu chữ là chủ yếu.

Kí hiệu tượng hình : hình con cá, con trâu, nhà máy, hình bông lúa… thường sử dụng trong các bản đồ kinh tế thì dung kí hiệu tượng hình là chủ yếu.

Khi quan sát một bản đồ ví dụ bản đồ công nghiệp chung (atlat địa lí Việt Nam trang 16) các em thấy rằng các điểm công nghiệp được thể hiện bằng nhiều kích thước khác nhau tức là kích thước lớn nhỏ biểu hiện nhiều hoặc ít trữ lượng đối tượng.

– Khả năng biểu hiện :

+ Tên, vị trí

+ Số lượng, quy mô chất lượng

+ Động lực phát triển của đối tượng

Ví dụ:

Sử dụng hai phương pháp :

-phương pháp kí hiệu : các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, nhà máy thủy điện đang xây dựng, trạm biến áp 220KV, trạm 550KV.

-Phương pháp kí hiệu dạng đường : đường dây 220KV, 550KV, sông, biên giới…

Phương pháp kí hiệu không những chỉ nêu được tên và vị trí mà còn thể hiện được cả chất lượng của các đối tượng trên bản đồ:

-Thể hiện tên và vị trí các nhà máy điện : nhà máy nhiệt điện ( Phả Lại, Na Dương, Ninh Bình, phú Mĩ …), các nhà máy thủy điện ( Hòa Bình, Thác Bà, Yaly…), các nhà máy thủy điện đang xây dựng ( Sơn La, Bản Vẽ…).

-Thể hiện chất lượng đối tượng : các ngôi sao màu xanh thể hiện cho nhà máy thủy điện, thể hiện nhà máy nhiệt điện bằng ngôi sao màu đỏ, thể hiện các nhà máy thủy điện đang xây dựng bằng ngôi sao màu trắng. Các trạm điện 220KV thể hiện bằng đường kẻ màu đen, đường kẻ màu đỏ cho trạm 550KV…

Như vậy chúng ta vừa tìm hiểu xong phương pháp biểu hiện đầu tiên đó là phương pháp kí hiệu. Các đối tượng địa lí được thể hiện trên bản đồ theo những phương pháp khác như sau:

2. Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

– Đối tượng biểu hiện :

Biểu hiện sự di chuyển của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên, kinh tế – xã hội.

– Trên bản đồ tự nhiên là hướng gió, dòng biển…

– Trên bản đồ kinh tế – xã hội là các luồng di dân, vận chuyển hàng hóa, hành khách….

Phương pháp kí hiệu đường chuyển động có khả năng biểu hiện những nội dung của đối tượng địa lí như sau:

Kí hiệu được sử dụng nhiều nhất

trong phương pháp kí hiệu đường chuyển động là hệ thống các mũi tên. Hướng của mũi tên thể hiện hướng di chuyển của đối tượng, độ dài và độ lớn của mũi tên thể hiện cường độ mạnh, yếu, ít, nhiều của đối tượng. Màu sắc của mũi tên thể hiện chất lượng đối tượng.

Giới thiệu bản đồ thông qua bảng chú giải.

Ở atlat địa lí tự nhiên :

– Phương pháp kí hiệu đường chuyển động thể hiện được hướng gió và tính chất gió :

+ Mũi tên màu xanh chỉ hướng gió đông bắc, đó là gió mùa mùa đông.

+ Mũi tên màu đỏ chỉ hướng gió tây nam và đông nam, đó là gió mùa màu hạ.

+ Mũi tên màu cam chỉ hướng gió tây nam, đó là gió tây khô nóng.

+ Những kí hiệu hoa gió được sử dụng để biểu hiện tần suất các hướng gió thịnh hành trong năm trên từng địa phương của nước ta.

– Phương pháp kí hiệu đường chuyển động biểu hiện được hướng và tần suất bão đổ bộ vào các vùng của nước ta :

+ Các mũi tên màu đen cho biết hướng các cơn bão đổ bộ vào nước ta theo hướng tay hoặc tây bắc.

+ Mũi tên đen một nét chỉ tần suất từ 0.3 – 1 cơn bão / tháng, mũi tên nhỏ hai nét chỉ tần suất 1 – 1.3 cơn bão/ tháng, mũi tên lớn hai nét chỉ tần suất từ 1.3 – 1.7 cơn bão / tháng.( có thể tham khảo hình 2.3 SGK-NXB GD 2011).

3. Phương pháp chấm điểm

Trong lược đồ phân bố dân cư Châu Á ( tham khảo hình 2.4 SGK) để biểu hiện sự phân bố dân cư người ta dùng cách biểu hiện sau :

Trên lược đồ phân bố dân cư châu Á, dân cư châu Á được thể hiện bằng hai phương pháp : phương pháp chấm điểm và phương pháp kí hiệu.

Trong đó các điểm chấm phản ánh một số lượng dân cư nhất định, các kí hiệu biểu hiện dân cư ở hai cấp đô thị.

– Đối tượng biểu hiện :

Thể hiện các hiện tượng địa lí phân bố lẻ tẻ bằng các điểm chấm trên bản đồ.

Ví dụ :

như các điểm dân cư, các cơ sở chăn nuôi….

Để sử dụng phương pháp này người ta đặt ra các chấm có kích thước khác nhau, mỗi cỡ tương ứng với mỗi giá trị ( số lượng, khối lượng ) nào đó.

Quy định của phương pháp này là :

– Chấm lớn bằng 8 triệu người

– Chấm trung bình bằng 5 đến 8 triệu người

– Chấm nhỏ bằng 500.000 người

– Khả năng biểu hiện

+ Sự phân bố của đối tượng

+ Số lượng của đối tượng

4. Phương pháp bản đồ – biểu đồ

Trong bản đồ biểu hiện diện tích và sản lượng lúa(tham khảo hình 2.5 SGK) được thể hiện bằng biểu đồ cột : diện tích – biểu đồ cột xanh, sản lượng – biểu đồ cột đỏ. Trong bảng chú giải, một ô màu xanh tương ứng với 50.000 ha, còn một ô màu đỏ tương ứng với 100.000 tấn.

Khu vực có diện tích và sản lượng lúa cao nhất là đồng bằng sông Cửu Long.

Như vậy, qua hệ thống các biểu đồ ta biết được tổng giá trị của hiện tượng địa lí trong một phạm vi lãnh thổ nào đó.

– Đối tượng biểu hiện

Biểu hiện các đối tượng phân bố trong những đơn vị phân chia lãnh thổ bằng các biểu đồ đặt trong các đơn vị lãnh thổ đó.

– Khả năng biểu hiện

+ Số lượng của đối tượng

+ Chất lượng của đối tượng

+ Cơ cấu của đối tượng

– Chú ý: trong phương pháp bản đồ – biểu đồ các biểu đồ được đặt trong những lãnh thổ có ranh giới xác định.

Ngoài ra, còn có các phương pháp khác để biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ như : phương pháp kí hiệu theo đường, đường đẳng trị, khoanh vùng…

Phương pháp khoanh vùng là biểu hiện trên bản đồ các đối tượng không phân bố trên khắp lãnh thổ mà chỉ phát triển ở những khu vực nhất định, đặc trưng của phương pháp này ở chỗ nó thể hiện sự phổ biến của một loại đối tượng riêng lẻ, phương pháp này ta có thể phân biệt được vùng này với vùng khác.

Ví dụ:

Các vùng phân bố dân tộc khác nhau, các vùng phân bố rừng, các đồng cỏ…

Có nhiều cách khác nhau để khoanh vùng trên bản đồ như, dùng các đường nét liền, đường nét đứt để tạo đường viền, dùng nét gạch ngang hoặc kí hiệu, màu sắc để phân biệt các vùng.

Trong hình 2.6 SGK người ta đã sử dụng những cách sau để thể hiện vùng trồng thuốc lá:

Thể hiện 5 cách biểu hiện khác nhau:

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng những kí hiệu( lá thuốc màu xanh), những kí hiệu này được đặt ở vùng có trồng thuốc lasvaf không có đường viền quanh xác định ranh giới.

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng màu xanh, không có đường viền, chữ thuốc lá được dặt trên nền xanh đó

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng những nét gạch chéo dày, nhỏ, đường viền xác định vùng cũng được tạo bởi các gạch chéo này.

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng những nét gạch chéo màu đậm, thưa, đường viền xác định vùng cũng được tạo bởi các gạch chéo này.

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng màu nâu nhạt, có đường viền quanh, đó là vùng trồng thuốc lá đã được xác định ranh giới chính xác.

Tongthieugia

【#6】Bài 2. Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ

1. Phương pháp kí hiệu

a. Đối tượng biểu hiện

+ Biểu hiện các đối tượng phân bố theo những điểm cụ thể.

+ Những kí hiệu được đặt chính xác vào vị trí phân bố của đối tượng trên bản đồ.

b. Các dạng kí hiệu

+ Kí hiệu hình học

+ Kí hiệu chữ

+ Tượng hình

c. Khả năng biểu hiện

+ Vị trí phân bố của đối tượng.

+ Số lượng của đối tượng.

+ Chất lượng của đối tượng.

2. Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

a. Đối tượng biểu hiện

+ Biểu hiện sự di chuyển của các hiện tượng tự nhiên và kinh tế xã hội.

b. Khả năng biểu hiện

+ Hướng di chuyển của đối tượng.

+ Số lượng, tốc độ của đối tượng di chuyển.

3 Phương pháp chấm điểm

a. Đối tượng biểu hiện

+ Biểu hiện các đối tượng phân bố không đồng đều bằng những điểm chấm.

b. Khả năng biểu hiện

+ Sự phân bố của đối tượng.

+ Số lượng của đối tượng.

4. Phương pháp bản đồ – biểu đồ

a. Đối tượng biểu hiện

+ Biểu hiện giá trị tổng cộng của một đối tượng trên một đơn vị lãnh thổ bằng cách dùng các biểu đồ đặt vào phạm vi của đơn vị lãnh thổ đó.

b. Khả năng biểu hiện

+ Số lượng của đối tượng.

+ Chất lượng của đối tượng.

+ Cơ cấu của đối tượng

Tổng kết bài học

1. Phương pháp kí hiệu

Biểu hiện các đối tượng phân bố theo những điểm cụ thể.

Những kí hiệu được đặt chính xác vào vị trí phân bố của đối tượng trên bản đồ.

– Vị trí phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng

– Chất lượng của đối tượng.

2. Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

Biểu hiện sự di chuyển của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên

và kinh tế-xã hội.

– Hướng di chuyển của đối tượng.

– Khối lượng của đối tượng di chuyển.

– Chất lượng của đối tượng di chuyển.

3. Phương pháp chấm điểm

Biểu hiện các đối tượng phân bố không đồng đều bằng những điểm có giá trị như nhau.

– Sự phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng.

4. Phương pháp bản đồ – biểu đồ

Biểu hiện các đối tượng phân bố trong những đơn vị phân

chia lãnh thổ bằng các biểu đồ đặt trong các lãnh thổ đó.

– Số lượng của đối tượng.

– Chất lượng của đối tượng.

– Cơ cấu của đối tượng.

【#7】Suy Thận Độ 2 Có Biểu Hiện Gì? Phương Pháp Điều Trị Hiệu Quả

Suy thận độ 2 thuộc 1 trong 5 cấp độ của bệnh suy thận, tình trạng suy giảm chức năng thận có thể đạt tới 50%. Với mức lọc cầu thận từ 60-90 ml/phút, thận có thể hoạt động nhưng lúc này đã xuất hiện một số tổn thương và có thể biểu hiện ra bên ngoài cơ thể. Vậy triệu chứng nhận biết, bệnh có nguy hiểm không, có thể sống được bao lâu và kiêng ăn gì? Tất cả thông tin cần thiết sẽ được giải đáp cho bạn trong bài viết sau.

Triệu chứng suy thận độ 2

Giai đoạn này có thể xuất hiện một số dấu hiệu nhận biết, tuy nhiên các biểu hiện ra bên ngoài cơ thể vẫn chưa thực sự rõ ràng và thường bị nhầm lẫn với một số triệu chứng thông thường khác. Đa số các trường hợp bệnh nhân bị chẩn đoán suy thận ở giai đoạn 2 thường là do khám sức khỏe định kỳ hoặc khi xét nghiệm một căn bệnh khác như đái tháo đường hoặc cao huyết áp.

  • Buồn nôn và nôn mửa
  • Hơi thở xuất hiện mùi hôi
  • Đắng miệng, ăn không ngon
  • Mất ngủ hoặc khó ngủ
  • Cơ thể mệt mỏi, suy nhược, da xanh xao
  • Phát ban ở da và nổi mẩn ngứa
  • Sưng phù tay chân hoặc mặt mũi
  • Rối loạn tiểu tiện, nước tiểu có thể ít hơn hoặc nhiều hơn
  • Nồng độ creatinin tăng cao trong máu
  • Nước tiểu có thể kèm theo máu hoặc protein

Suy thận độ 2 tuy chưa nguy hiểm đến mức ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng nhưng nó có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng. Nếu như không được chữa trị hoặc áp dụng không đúng cách thì bệnh sẽ phát triển thành độ 3.

Nhiều bệnh nhân có suy nghĩ sai lầm là suy thận độ 2 sẽ không sống được bao lâu nữa. Các bác sĩ đầu ngành cho biết, đây chỉ là giai đoạn vừa phải, tuy không nhẹ nhưng vẫn chưa quá nặng. Bệnh nhân hoàn toàn có thể an tâm chữa trị mà không cần phải quá lo lắng.

Bác sĩ Hồng Yến tư vấn MIỄN PHÍ

Suy thận độ 2 kiêng ăn gì và nên ăn gì?

Đây là giai đoạn bệnh chưa quá nặng, tuy nhiên các bạn tuyệt đối không thể coi thường. Chế độ ăn uống cần đặc biệt được lưu tâm khi bị suy thận độ 2. Theo các chuyên gia đầu ngành cho biết, người bệnh cần phải tuân thủ nghiêm ngặt theo phác đồ điều trị.

Ngoài ra bệnh nhân suy thận độ 2 sẽ cần kiêng ăn những thứ sau:

  • Hạn chế ăn thực phẩm chứa nhiều chất đạm, đồ ăn chua cay như đu đủ, quýt ngọt, mít, chuối, rau dền. Mỗi ngày chỉ nên nạp vào cơ thể 0,6 – 0,8g chất đạm.
  • Gan, trứng, pho mát, các loại thức ăn có chứa nhiều photpho
  • Ăn ít thịt đỏ, có thể bổ sung protein bằng các loại thịt trắng
  • Không được ăn mặn, hãy nên ăn nhạt
  • Kiêng các món ăn nướng, xào, chiên chứa nhiều mỡ động vật
  • Các loại thực phẩm chứa nhiều vitamin C
  • Không uống quá nhiều nước

Thực đơn cho người suy thận độ 2:

  • Buổi sáng: 200ml sữa tươi, 20g đường, 200g khoai sọ
  • Buổi trưa: 100g hồng ngọt, 100g su su, 100g cà chua, 15g dầu thực vật, 20g thịt lợn nạc, 100g cơm gạo tẻ
  • Buổi chiều: 100g táo ngọt, 15g dầu ăn, 100g cải trắng, 20g thịt gà, 150g bánh phở xào
  • Buổi tối: 30g đường, 30g bột sắn giã (bánh bột sắn)

Đây là một thực đơn mẫu dành cho người bệnh suy thận độ 2 với giá trị dinh dưỡng là: 40g chất béo, 310g bột đường, 26g chất đạm, 1800 kcalo năng lượng.

Ngoài ra các bạn cũng có thể thêm vào thực đơn của mình các món ăn tốt cho thận như:

  • Bột sắn dây nấu chè
  • Bánh bột lọc, bánh phở
  • Giá đỗ, thịt nạc xào, miến nấu thịt nạc
  • Sắn luộc, khoai sọ, khoai lang

Khi bị bệnh ở giai đoạn 2 người bệnh có thể áp dụng một số bài thuốc chữa trị sau:

Bài thuốc từ cây cỏ xước

Trong sách Đông y có ghi, cỏ xước giúp trị phù thũng, đái buốt, tiểu đêm, tăng cường lưu thông khí huyết. Các bài thuốc sử dụng nguyên liệu từ cây cỏ xước kết hợp với một số vị thuốc khác sẽ giúp hỗ trợ điều trị suy thận độ 2 rất hiệu quả.

Bài thuốc từ dây đau xương

Chỉ cần lấy dây đau xương, sắc lấy nước để uống trong khoảng một tuần liên tục là bạn có thể cải thiện được tình trạng suy thận của mình. Ngoài ra bài thuốc này còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, bổ thận, giảm đau hiệu quả.

Bài thuốc từ cẩu tích

Trong nền y học cổ truyền, cẩu tích được sử dụng để làm nguyên liệu bào chế bài thuốc chữa suy thận, di tinh, tiểu són.

Công thức của bài thuốc như sau: xuyên khung, bạch chỉ, đương quy, cốt toái bổ, tục đọan, cẩu tích, tất cả đem phơi khô rồi tiến hành sắc lên để lấy nước uống. Bạn nên kiên trì áp dụng bài thuốc này trong ít nhất 10 ngày để giúp giảm nhanh các triệu chứng ớn lạnh, mẩn ngứa, cơ thể mệt mỏi.

Chuẩn bị đỗ đen, đem rang lên cho cháy vừa phải rồi để hãm lấy nước và uống mỗi ngày. Kiên trì sử dụng trên 7 ngày sẽ cảm nhận được rõ ràng các triệu chứng suy thận độ 2 giảm đi. Ngoài ra bạn sẽ thấy ngủ ngon hơn, ăn ngon miệng hơn.

Bài thuốc từ cây cỏ mực

Cỏ mực được biết tới với công dụng giảm sự tích nước, phù nề do suy thận độ 2 gây ra. Đây là một vị thuốc có tính lạnh, vị ngọt rất hay được sử dụng để kết hợp với một số nguyên liệu khác bào chế ra bài thuốc chữa các bệnh về thận.

Cách thực hiện bài thuốc này cũng rất đơn giản, bạn chỉ cần đem cỏ mực giã nhỏ rồi vắt lấy nước để uống mỗi ngày 1 lần.

Cập nhật mới nhất vào ngày 8 Tháng Mười, 2021 bởi admin

【#8】Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng, Phương Pháp Giảng Dạy Lý Luận Chính Trị

Hội thi Chung khảo giảng viên lý luận chính trị giỏi toàn quốc năm 2021 do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức từ ngày 25-27/11 tại TP. Hồ Chí Minh đã khép lại. Xung quanh Hội thi, chúng tôi Nguyễn Thị Phương Hoa, Vụ trưởng Vụ Lý luận chính trị – Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng ban Giám khảo Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi năm 2021 đã có những chia sẻ về những điểm mới, chất lượng Hội thi năm nay…

PV: Đồng chí có thể cho biết những điểm mới của Hội thi năm nay?

Đồng chí Nguyễn Thị Phương Hoa: Trước hết, cần phải khẳng định rằng, Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi cấp khu vực và chung khảo toàn quốc năm 2021 đã bám sát tinh thần Chỉ thị 23, ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Điều đó được thể hiện rất rõ nét và cụ thể trong Hội thi các cấp vừa qua. Hội thi đã truyền tải thông điệp khẳng định mạnh mẽ tính chiến đấu, tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, bồi đắp niềm tin khoa học vào nền tảng của Đảng, vào chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ở cơ sở.

PGS, TS Nguyễn Thị Phương Hoa, Vụ trưởng Vụ Lý luận chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ương

phát biểu tại Hội thi Giảng viên lý luận chính trị giỏi khu vực phía Nam năm 2021. Ảnh: Ban Tuyên giáo Thành uỷ Cần Thơ

Từ thành công của các Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi được tổ chức năm 2003 và năm 2014, Hội thi năm 2021 do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức với rất nhiều điểm mới.

Thứ nhất, tại các Hội thi cấp khu vực vừa qua và Hội thi chung khảo toàn quốc, trong phần thi thao giảng của mỗi thí sinh tham dự, đối tượng để thí sinh thao giảng không phải là giả định. Ban Tổ chức đã mời các học viên của các lớp kết nạp Đảng, đảng viên mới, các lớp đoàn thể… của địa phương đến để nghe giảng trực tiếp, tham gia vào các tình huống sư phạm.

Trong quá trình thi, không chỉ giám khảo mà ngay cả học viên (người dự) sẽ đối thoại, yêu cầu thí sinh (giảng viên) trả lời những nội dung trong bài. Điều này sẽ đảm bảo sự giao lưu, đối thoại giữa người giảng, người học, tăng cường tính tích cực chủ động của người nghe và đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên, theo đúng tinh thần của Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9-2-2018 của Ban Bí thư về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”.

Thứ hai, sau phần thi thao giảng và trả lời câu hỏi của thí sinh tham dự, các thành viên hội đồng giám khảo nhận xét, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm phần thi của thí sinh về nội dung trình bày, cách thức, phương pháp lên lớp. Điều này sẽ rất bổ ích đối với mỗi thí sinh, giúp các thí sinh phát huy những ưu điểm của mình, khắc phục những hạn chế còn tồn tại.

Bên cạnh đó, bản thân những thí sinh khác của Hội thi, những người tham dự giờ giảng, qua phần nhận xét của giám khảo cũng có thể tự rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho mình.

Thứ ba, Ban Tổ chức Hội thi ghi hình những giờ thao giảng của các thí sinh tham dự. Đây sẽ là những nguồn tư liệu tham khảo phong phú, đa dạng, bổ ích đối với các giảng viên lý luận chính trị ở cơ sở để nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao hiện nay.

Phóng viên (PV): Xin đồng chí cho biết về chất lượng của thí sinh tham dự Hội thi năm nay?

Đồng chí Nguyễn Thị Phương Hoa: Trước hết, cũng cần vui mừng thông tin rằng, Hội thi chúng ta có sự tham gia dự thi của nhiều thế hệ giảng viên, nhiều độ tuổi. Đó chính là sự tiếp nối mạnh mẽ, vững chắc của công tác giáo dục lý luận chính trị của Đảng trước yêu cầu ngày càng cao, ngày càng khó của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Có nhiều các thí sinh tham gia Hội thi là người dân tộc Sán Dìu, Tày, Giáy, Dao, Katu, dân tộc Hoa…

Trực tiếp là giám khảo tại Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi ở ba khu vực, tôi và các thành viên ban giám khảo khác đều thống nhất, chất lượng thí sinh của Hội thi năm 2021 rất tốt, với nhiều cách tiếp cận mới, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo trong phương pháp giảng dạy lý luận chính trị. Điều này thể hiện rất rõ qua giáo án soạn giảng và giờ thao giảng của các thí sinh tham dự.

Về nội dung bài giảng, thể hiện tính khoa học, có tính chiến đấu, thông qua các ví dụ điển hình trong bài giảng của các thí sinh. Các ví dụ minh họa trong bài giảng có tính liên hệ thực tiễn địa phương cao, gần gũi, dễ hiểu đối với học viên. Chất liệu văn học được sử dụng rất nhiều trong các bài giảng.

Bên cạnh đó, các thí sinh đã biết sử dụng cường độ âm thanh, tốc độ giọng nói để tăng hiệu quả cho bài giảng. Các thí sinh biết kết hợp giữa việc sử dụng các phương tiện truyền thống (bảng đen, phấn trắng) kết hợp với việc chuẩn bị giáo án điện tử hết sức công phu làm cho người học dễ nắm bắt vấn đề. Nhiều thí sinh kết hợp giữa ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ hình thể, tạo sự sinh động, hấp dẫn người học.

Các giảng viên đã chú ý đến điểm nhấn, điểm dừng hợp lý trong bài giảng, để học viên có thể ghi chép và suy nghĩ. Các bài giảng có mở đầu và kết nối, neo chốt vấn đề, giúp người học ghi nhớ được nội dung.

Giám khảo nhận xét sau phần thi của mỗi thí sinh – điểm mới

Thưa đồng chí, có thể khẳng định rằng, các thí sinh tham dự Hội thi nói riêng và các giảng viên lý luận chính trị ở cấp cơ sở nói chung đã có những đổi mới, tìm tòi, sáng tạo trong phương pháp giảng dạy?

của Hội thi giảng viên lý luận chính trị giỏi năm 2021

Đồng chí Nguyễn Thị Phương Hoa: Đúng vậy. Như chúng ta đã biết, giảng dạy lý luận chính trị là một trong những nội dung quan trọng của công tác tư tưởng. Vì giảng dạy lý luận chính trị không chỉ truyền đạt kiến thức cho người nghe những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ trương, đường lối của Đảng, mà giảng dạy lý luận chính trị có một nhiệm vụ quan trọng hơn rất nhiều. Đó là, phải truyền bá được niềm tin khoa học vào nền tảng tư tưởng của Đảng, phải xây dựng, củng cố được niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước ta.

PV: Vậy theo đồng chí, làm thế nào để trở thành một giảng viên lý luận chính trị giỏi?

Vì vậy, những phương pháp giảng dạy lý luận chính trị như đã nêu ở trên hay các phương pháp giảng dạy sư phạm đều được áp dụng, nhưng điều mà học viên học được ở các môn lý luận chính trị lại phải thông qua tâm huyết của người giảng viên. Điều này không hề dễ dàng, không phải “cứ nói là được”.

Đồng chí Nguyễn Thị Phương Hoa: Theo tôi, một người giảng viên lý luận chính trị giỏi phải có phổ kiến thức rộng, kể cả kiến thức lý luận lẫn kiến thức thực tiễn. Mỗi giảng viên bằng sự tâm huyết của mình để truyền đạt tinh thần bài giảng đối với người nghe, góp phần bồi đắp niềm tin khoa học vào nền tảng tư tưởng của Đảng.

Không chỉ giỏi chuyên môn, có phổ kiến thức rộng, có năng lực, giảng viên lý luận chính trị giỏi vừa có đạo đức xã hội, vừa phải có đạo đức cách mạng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, phải hiểu từ tâm mình những việc nào là vì dân, những việc nào là đi ngược lại lợi ích của dân.

PV: Sau Hội thi lần này, Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ tiếp tục có những chỉ đạo, định hướng như thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị?

Họ phải có sự nhạy bén trong truyền đạt kiến thức và truyền đạt niềm tin đến với học viên. Những giảng viên lý luận chính trị giỏi phải là người tin tưởng tuyệt đối vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng thì mới có thể truyền đạt kiến thức, niềm tin của mình cho người học.

Đồng chí Nguyễn Thị Phương Hoa: Có thể khẳng định, thành công của Hội thi đã phản ánh nhiều mặt hoạt động của các giảng viên, công tác bồi dưỡng của các địa phương. Kết quả đạt được không chỉ là sự nỗ lực của từng đồng chí giảng viên, am hiểu tình hình địa phương, vận dụng nhuần nhuyễn các vấn đề vào bài giảng, mà còn thể hiện sự quan tâm, tạo điều kiện của ban tuyên giáo tỉnh, thành ủy, của các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện trong việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trên địa bàn tỉnh, thành phố.

Kết quả trong Hội thi mà giảng viên các trung tâm bồi dưỡng chính trị đã đạt được là rất lớn, tuy nhiên đây cũng mới chỉ là bước đầu. Do đó, tôi mong muốn các đồng chí giảng viên đã được công nhận là giảng viên dạy giỏi, cần tiếp tục phấn đấu, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ để hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ được giao, trở thành những người tiên phong của mỗi đơn vị, được đồng nghiệp, học viên tiếp tục tôn vinh trên mọi cương vị công tác.

Đồng thời, trên cơ sở kết quả hội thi, ban tuyên giáo tỉnh ủy, thành ủy trong cả nước tiếp tục quan tâm tới công tác giáo dục lý luận chính trị tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện. Các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện tiếp tục duy trì và thúc đẩy phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”, nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên và quần chúng ưu tú ở cơ sở.

PV: Trân trọng cám ơn đồng chí!

Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị, chúng ta cũng còn rất nhiều việc phải làm. Bên cạnh việc tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, quán triệt nghị quyết, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng và đồng thời cũng mở rộng hơn nữa các kênh truyền để người dân có thể trực tiếp được nghe những giảng viên của Trung ương, những đồng chí giữ trọng trách cao trong Đảng, những đồng chí trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các đề án của Trung ương truyền đạt nghị quyết.

Bên cạnh đó, cũng cần có sự quan tâm thích đáng về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, các chương trình, giáo trình của trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện. Hiện nay, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Hướng dẫn tổng kết Quyết định 185 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Chúng ta sẽ có công tác tổng kết từ cấp cơ sở, đánh giá những mặt được và những mặt chưa được, những hạn chế còn tồn tại để tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư những biện pháp thiết thực đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị.

【#9】Tư Vấn Các Vấn Đề Về Tác Phẩm Được Bảo Hộ Bản Quyền

Tác phẩm ra đời càng ngày càng nhiều và đa dạng trong các lĩnh vực. Nhưng dường như những người tạo ra chúng lại không biết cách để bảo vệ quyền lợi của mình. Dẫn đến những hiện tượng làm giả, làm nhái,…, một các tràn lan.

Vậy làm sao để có thể bảo vệ quyền lợi của mình, bảo vệ đứa con tinh thần của mình. Để hiểu vấn đề này, chúng tôi sẽ cho các bạn một cái nhìn chung về tác phẩm được bảo hộ bản quyền.

Tác phẩm được bảo hộ bản quyền theo quy định của pháp luật?

Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ 2013 có quy định những tác phẩm được bảo hộ bản quyền.

Thứ nhất, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ. Gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác.
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác.
  • Tác phẩm báo chí.
  • Tác phẩm âm nhạc.
  • Tác phẩm sân khấu.
  • Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh).
  • Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng.
  • Tác phẩm nhiếp ảnh.
  • Tác phẩm kiến trúc.
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học.
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
  • Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Thứ hai, tác phẩm phái sinh. Với điều kiện là không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Tác phẩm được bảo hộ bản quyền từ khi nào?

Tác phẩm được bảo hộ ngay từ khi được sáng tác và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất đinh. Dù có đăng ký hay không đăng ký thì nhà nước ta đã thừa nhận quyền sở hữu của họ đối với tác phẩm đó.

Vấn đề này đã được quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ 2013. Nhà nước dựa vào sự kiện để xác định thời điểm bắt đầu bảo hộ.

Khi nào thì hết thời hạn bảo hộ bản quyền?

Đối với những quyền nhân thân không thể chuyển giao được thì thời hạn bảo hộ là vô thời hạn. Tức là không có điểm kết thúc.

Ví dụ: Quyền đặt tên cho tác phẩm. Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.

Đối với quyền nhân thân có thể chuyển giao được và quyền tài sản thì được bảo hộ có thời hạn. Đương nhiên sẽ có điểm kết thúc. Tại điểm c Khoản 2 Điều 27 Luật sở hữu trí tuệ 2013, thời hạn bảo hộ trong trường hợp này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

Qua bài viết tác phẩm được bảo hộ bản quyền. Mong sẽ giúp cho các bạn một phần nào đó trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Để được hỗ trợ thêm, vui lòng liên hệ với chúng tôi. Tự tin là nơi cung cấp dịch vụ tư vấn tận tâm, chuyên nghiệp với những luật sư giỏi, giàu kinh nghiệm.

【#10】Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Bản Quyền Được Bảo Hộ

Hiện nay các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học càng ngày càng nhiều và phát triển. Đi cùng với nó là những tệ nạn như sao chép – xâm phạm tới quyền tác giả được nhà nước ta thừa nhận bảo hộ.

Chính vì vậy, cần nâng cao hiểu biết về vấn đề bản quyền được bảo hộ. Tránh những rủi ro không đáng có. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát nhất.

Thế nào là bản quyền được bảo hộ?

Bản quyền được hiểu là việc cấp cho chủ sở hữu quyền duy nhất để sử dụng tác phẩm, với một số trường hợp ngoại lệ. Khi một người tạo tác phẩm gốc, cố định trong một môi trường hữu hình, họ nghiễm nhiên sở hữu bản quyền đối với tác phẩm đó.

Vấn đề này đã được quy định rõ tại Khoản 1 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ 2013. Quy định thể hiện rõ dù bạn có đăng ký hay chưa đăng ký thì vẫn được nhà nước bảo hộ cho tác phẩm của bạn.

Dĩ nhiên, nó phải thỏa mãn một số điều hiện nhất định. Cụ thể là tác phẩm đó phải được sáng tạo ra, được thể hiện dưới một hình thức nhất định và có tính nguyên gốc.

Các loại hình bản quyền được bảo hộ theo pháp luật?

Theo Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ 2013, các loại hình được bảo hộ quyền tác giả gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và tác phẩm phát sinh. Cụ thể là:

Thứ nhất, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ. Gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác.
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác.
  • Tác phẩm báo chí.
  • Tác phẩm âm nhạc.
  • Tác phẩm sân khấu.
  • Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh).
  • Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng.
  • Tác phẩm nhiếp ảnh.
  • Tác phẩm kiến trúc.
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học.
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
  • Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Thứ hai, tác phẩm phái sinh. Với điều kiện là không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Thuận lợi của việc bảo quyền được bảo hộ như thế nào?

Dù bạn có đăng ký hay không thì bản quyền của bạn sẽ được bảo hộ.

Thứ nhất, dù không đi đăng ký. Tác phẩm đó bản chất thuộc quyền sở hữu của bạn, tránh việc bị làm nhái, làm giả,…

Thứ hai, khi đi đăng ký. Khi có tranh chấp không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả thuộc về mình, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả được coi là bằng chứng về quyền tác giả đối với tác phẩm, tạo thuận tiện trong việc khai thác, sử dụng tác phẩm, chuyển quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền tác giả,…

Trên đây là những vấn đề khái quát về bản quyền được bảo hộ. Nếu quý khách muốn được giải đáp thắc mắc hay tư vấn về thì có thể liên hệ với chúng tôi.