Top #10 ❤️ Phương Pháp Bản Đồ Biểu Đồ Thường Được Dùng Để Thể Hiện Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phương Pháp Thể Hiện Bản Đồ

Địa Lí 10 Bài 2: Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ

Chế Độ Giảm Cân Keto Của Thầy Viễn Trọng Có Thực Sự Hiệu Quả?

Tkd Phương Pháp Ketosis Cho Người Tập Tạ Nặng Cường Độ Cao Skd Giảm Mỡ

Ketosis Phương Pháp Giảm Cân Hiện Đại, Tập Thể Hình Chống Mất Cơ Bắp

Ăn Kiêng Theo Phương Pháp Ketogenic, Cơ Thể Sẽ Thế Nào?

Published on

Phương pháp thể hiện bản đồ – Phương pháp đường chuyển động

1. Phương pháp đường chuyển động THỂ HIỆN NỘI DUNG BẢN ĐỒ Email: truong360@gmail.com

2. Giới thiệu Dùng để thể hiện sự vận động theo không gian và thời gian của các hiện tượng.  Tự nhiên Hải lưu Hướng gió Di cư của động vật  Kinh tế – xã hội Di dân Trao đổi hàng hóa Hướng giao thông

3. Giới thiệu  Chính trị – lịch sử

4. Hình thức thể hiện Dạng băng, đai Dạng đường nét Dạng Vector Dạng Vector Dạng băng, đai “Bản đồ học chuyên đề” “Bản đồ học đại cương”Trần Tấn Lộc Lâm Quang Dốc

5. Hình thức thể hiện Dạng Vector Vẽ chính xác lên vị tríKhái lược hướng di chuyển Dạng băng, đai * Thể hiện hướng của chuyển động * Không xác định rõ điểm đầu và điểm cuối của chuyển động * Thể hiện hướng của chuyển động * Xác định rõ điểm đầu và điểm cuối của chuyển động

6. Hình thức thể hiện  Phương pháp ký hiệu theo điểm  Phương pháp biểu đồ định vị  Phương pháp ký hiệu theo tuyến  Phương pháp đường chuyển động  Phương pháp đường đẳng trị  Phương pháp khoanh vùng  Phương pháp phân vùng chất lượng  Phương pháp phân vùng số lượng  Phương pháp chấm điểm  Phương pháp biểu đồ  Phương pháp đồ giải Định vị theo điểm Định vị theo diện Định vị toàn năng  Phương pháp ký hiệu theo điểm  Phương pháp biểu đồ định vị  Phương pháp ký hiệu theo tuyến  Phương pháp đường chuyển động  Phương pháp đường đẳng trị  Phương pháp khoanh vùng  Phương pháp phân vùng chất lượng  Phương pháp phân vùng số lượng  Phương pháp chấm điểm  Phương pháp biểu đồ  Phương pháp đồ giải Định vị theo tuyếnĐịnh vị theo tuyến Định tính Định lượng +

7. Dạng Vector Độ rộng Hình dạng Cấu trúc Màu sắc Chiều dài Hiệu quả – Khả năng diễn đạt Độ đậm nhạt

8. Hiệu quả – Khả năng diễn đạt Dạng Vector Phản ánh các đặc tính của đối tượng chuyển động:  Hướng chuyển dịch  Phương thức chuyển dịch  Tốc độ và cường độ chuyển dịch  Cấu trúc, tính chất của các hiện tượng chuyển dịch…

9. Loại nét Màu sắc Kích thước Độ đậm nhạt Dạng băng, đai Hiệu quả – Khả năng diễn đạt

10. Hiệu quả – Khả năng diễn đạt Dạng băng, đai  Băng một hướng: đặt giữa trục đường  Băng hai hướng: hướng đi ở bên phải, hướng về ở bên trái Phản ánh các đặc tính của đối tượng:  Hướng chuyển dịch  Phương thức chuyển dịch  Tốc độ và cường độ chuyển dịch  Cấu trúc, tính chất của các hiện tượng chuyển dịch  Đường chuyển dịch (điểm đầu và điểm cuối)

11. Hiệu quả – Khả năng diễn đạt Dạng băng, đaiDạng Vector

12. So sánh Phương pháp đường chuyển động Phương pháp ký hiệu theo tuyến Giống  Định vị theo tuyến  Thể hiện được tính Định lượng và Định tính của đối tượng  Có thể chiều rộng của đối tượng không theo tỷ lệ bản đồ

13. So sánh Phương pháp đường chuyển độngPhương pháp ký hiệu theo tuyến  Truyền đạt các đối tượng địa lý phân bố theo những đường nhất định. Khác  Thể hiện sự vận động theo không gian và thời gian của các hiện tượng. Thể hiện đúng sự phân bố của đối tượng trên thực tế Tính địa lý được đảm bảo  Đường nét của sự di chuyển có thể vẽ chính xác lên vị trí của chúng hoặc vẽ khái lược hướng di chuyển (vector, băng – đai)  Đôi khi dùng ký hiệu để nhấn mạnh hướng của đối tượng phân bố theo diện nhưng có dạng chạy dài. ( VD: hướng các dải núi trên bản đồ sơn văn) Dùng vector ( hoặc mũi tên ở dạng băng) để thể hiện hướng di chuyển của đối tượng.

14. So sánh Phương pháp đường chuyển độngPhương pháp ký hiệu theo tuyến

15. CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN! Tài liệu tham khảo : – “Bản đồ học chuyên đề” – Trần Tấn Lộc – “Bản đồ học đại cương” – Lâm Quang Dốc

17. Bài tập QUỐC GIA DÂN SÔ ƯỚC TÍNH (nghìn người) New Zealand 544.171 Việt Nam 201.803 Philippines 177.389 Malaysia 135.607 Indonesia 73.527 Fiji 62.778 Singapore 58.903 Thái Lan 53.393

18. chúng tôi Nguyễn Ngọc Phương Thanh 1156080094 Hồ Lâm Trường 1156080123 19/09/2013 Địa lí K32

Phương Pháp Ký Hiệu Bản Đồ

Sắc Ký Hiệu Năng Cao Ly Thuyet Sac Ky Long Hieu Nang Cao Hplc Ppt

Sắc Ký Lỏng Hiệu Năng Cao (Hplc)

Phương Pháp Sắc Ký Lỏng

Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Ký Hiệu Học

10 Phương Pháp Thể Hiện Nội Dung Bản Đồ, Bạn Biết Được Bao Nhiêu ?

Cách Tính Thuế Gtgt Phải Nộp Theo Pp Khấu Trừ Và Trực Tiếp

Hướng Dẫn Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ

Hai Kĩ Thuật Dạy Học: Khăn Trải Bàn Và Các Mảnh Ghép

Các Phương Pháp Của Kế Toán

4 Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản Hiện Nay

Phương pháp ký hiệu không những chỉ nêu được đặc điểm phân bố của đối tượng mà còn có khả năng thể hiện được những đặc trưng về số lượng, chất lượng cũng như cấu trúc và động lực của các đối tượng nữa.

Thể hiện đặc trưng về số lượng hiện tượng thông qua kích thước của ký hiệu, đôi khi người ta còn dùng cả màu sắc hay nét gạch bên trong ký hiệu. Sự liên hệ giữa số lượng hiện tượng ở từng điểm bằng kích thước của ký hiệu được xây dựng xuất phát từ mức độ xác định toán học khác nhau tuỳ theo việc lựa chọn chỉ số biểu hiện.

Nếu như số lượng của đối tượng cụ thể ở từng điểm được phản ánh qua kích thước tương ứng của từng ký hiệu thì sự biểu hiện này được xác định về mặt toán học, giá trị của bản đồ rõ ràng là cao. Ngược lại nếu số lượng của đối tượng chia ra theo những khái niệm tương đối như lớn, trung bình, nhỏ thì tính số lượng không được biểu hiện và tính chất xác định sẽ thấp.

Đảm bảo nguyên tắc toán học sẽ biểu hiện đặc tính số lượng hiện tượng tuỳ thuộc vào kiểu phụ thuộc toán học nào giữa đặc tính số lượng của hiện tượng và kích thước của ký hiệu biểu hiện nó trên bản đồ. Có 3 kiểu phụ thuộc toán học là: phụ thuộc theo đường theo diện tích và phụ thuộc theo thể tích.

tức là đặc tính số lượng của hiện tượng được tính bằng độ dài của ký hiệu tương ứng trên bản đồ. Như vậy, chiều dài của ký hiệu sẽ tăng lên tương ứng với sự tăng lên về số lượng của hiện tượng.

Kiểu phụ thuộc này tuy rõ ràng, dễ thể hiện sự khác nhau về số lượng của hiện tượng nhưng ít được sử dụng vì chiều dài của các ký hiệu tăng lên tương đối nhanh cùng với sự tăng của số lượng hiện tượng. Nếu trên cùng một bản đồ mà sự chênh lệch về số lượng tối đa và số lượng tối thiểu của hiện tượng quá lớn thì việc dùng ký hiệu theo đường sẽ khó khăn.

Đặc tính số lượng của hiện tượng tương ứng với diện tích của ký hiệu thể hiện trên bản đồ. Sự phụ thuộc này được xác định theo đơn vị diện tích của ký hiệu.

Ví dụ: Nếu quy định l mm2 của ký hiệu thể hiện số dân là 2.000 người của một điểm dân cư, vậy số dân của một điểm dân cư là 20.000 người thì diện tích của ký hiệu sẽ là 10 mm2.

Điều kiện duy nhất để so sánh các ký hiệu với nhau là giữa chúng phải có hình dạng giống nhau. Trước khi dựng các ký hiệu lên bản đồ cần phải tính toán kích thước cho từng ký hiệu. Như vậy, trước hết phải xác định được tỷ lệ cơ sở của ký hiệu nghĩa là xác định được đại lượng nhất định của chỉ số đối tượng tương ứng với diện tích của l mm2 ký hiệu.

Công thức để tính kích thước ký hiệu như sau: Cho A là chỉ số hiện lượng tương ứng với diện tích P, A = P. kích thước ký hiệu cần tìm là x = P. Nếu ký hiệu vòng tròn khác là d = 1 mm tương ứng với tỷ lệ cơ sở là M và theo công thức trên M = P,

Kiểu phụ thuộc vào diện tích được sử dụng nhiều nhất để biểu thị đặc tính số lượng của hiện tượng. Vì kích thước của ký hiệu tuy vân tăng theo sự tăng về số lượng hiện tượng nhưng sự tăng đó chậm hơn nhiều với sự tăng của kiểu phụ thuộc theo đường.

Ví dụ: Số lượng của hiện tượng tăng 100 lần, nhưng kích thước của ký hiệu lại tăng 100 là tăng có 10 lần.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, kiểu phụ thuộc theo diện tích cũng không đem lại kết quả khi có sự chênh lệch quá lớn của các chỉ tiêu tối đa và tối thiểu, ví dụ như sự khác biệt quá lớn giữa dân số thành thị và dân số vùng nông thôn.

đặc tính số lượng của hiện tượng tương ứng với thể tích của ký hiệu. Các ký hiệu thường được dùng là các khối cầu, khối lập phương hay khối hình nón…

– Theo thang liên lục: kích thước của các ký hiệu sẽ biến đổi liên tục theo sự biến đổi về số lượng của hiện tượng. Việc biểu hiện bản đồ theo thang liên tục rất phức tạp vì phải tính toán kích thước cho mỗi ký hiệu theo số lượng của hiện tượng.

– Thang cấp bậc (gián đoạn): kích thước của ký hiệu không thay đổi như thang liên tục vì kích thước ký hiệu được chia theo lừng cấp. Mỗi một cấp phản ánh một số lượng gần nhau của các hiện tượng. Nhưng số lượng trong một cấp bậc sẽ được thể hiện bằng ký hiệu có độ lớn như nhau. Thang cấp bậc không thể xác định số lượng của hiện tượng chính xác như thang liên tục, nhưng lại dễ tri giác hơn, khi dùng bản đồ không cần phải sử dụng đến compa và các phép tính khác. Hơn nữa dùng thang cấp bậc có lợi là không sợ các chỉ số của hiện tượng hầu như không vượt qua thang tầng của nó.

Thang cấp bậc thường bao gồm các loại thang tầng sau:

– Thang cấp bậc theo cấp số cộng được xây dựng theo nguyên tắc sau: a, a + b, a + b + b’,….Thang này thích hợp để biểu thị đặc trưng những độ lớn biến đổi đồng nhất và không mạnh mẽ.

– Thang cấp bậc theo cấp số nhân được xây dựng theo nguyên tắc: a, ab, ab2, ab3….Thang này thích hợp để biểu thị đặc trưng những độ lớn biến đổi đồng nhất và không mạnh mẽ.

– Loại thang cấp bậc đứng trung gian giữa thang cấp bậc theo cấp số cộng và thang cấp bậc theo cấp số nhân là thang cấp bậc với khoảng cách tăng lên theo bội số. Ví dụ 20 – 30, 30 – 50, 50 – 90…ở đây khoảng cách tăng lên theo bội số là 2.

Ngoài ra còn loại thang bậc với khoảng cách quy ước, bậc thang này được dùng khi tương quan giữa các độ lớn không cho phép các loại thang cấp bậc nói trên.

Chất lượng của hiện tượng được biểu hiện bằng hình dạng và màu sắc của ký hiệu. Ví dụ: trên các bản đồ kinh tế dùng hình tròn biểu thị cho các ngành công nghiệp; thí dụ màu đỏ biểu thị khu công nghiệp cơ khí luyện kim, màu xanh là công nghiệp dệt….Biểu thị các mỏ khoáng sản bằng các ký hiệu khác nhau: hình vuông màu đen biểu thị mỏ than, hình tam giác đều màu đen biểu thị mỏ sắt…. Phương pháp ký hiệu có khả năng truyền đạt được các đặc trưng chất lượng, số lượng, cấu trúc, sự phát triển của các đối tượng hoặc hiện tượng. Có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề dùng hình dạng hay màu sắc của ký hiệu để biểu hiện chất lượng của hiện tượng, hình thức nào dễ phân biệt hơn. Có ý kiến cho sự khác nhau về màu sắc để phân biệt sự khác nhau về hình dạng. Thực ra không hoàn toàn như vậy. Màu sắc cũng như ký hiệu đều có thể gần giống nhau, khó phân biệt được nếu như kích thước của ký hiệu quá nhỏ bé. Như thế, sử dụng màu sắc hay hình dạng để phản ánh sự khác nhau về chất lượng của hiện tượng không thể giải quyết một cách quyết đoán mà phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể

+ Thể hiện cấu trúc của hiện tượng:

Trường hợp ở cùng một địa điểm có đến vài hiện tượng thì việc biểu hiện sẽ trở nên phức tạp nếu như ở đây phải bố trí nhiều ký hiệu. Giải quyết vấn đề này người ta thường kết hợp chúng vào cùng một ký hiệu có tổng lượng chung, trong đó chia ra thành những phần theo tỷ lệ của các hiện tượng. Ví dụ: Một trung tâm công nghiệp đa ngành, trong ký hiệu tổng lượng phân ra nhiều phần phù hợp với tỷ lệ của các ngành công nghiệp. Một điểm dân cư có nhiều dân tộc sinh sống, thể hiện tổng số dân của điểm dân cư bằng độ lớn của ký hiệu tổng lượng chung (hình tròn hay hình vuông) trong đó lại chia ra từng phần phù hợp với tỷ lệ dân số của từng dân lộc so với tổng số dân của điểm dân cư đó.

+ Thể hiện động lực của hiện tượng

Để biểu thị sự phát triển của hiện tượng nào đó, người ta dùng ký hiệu tăng trưởng, tức là dùng một hay hệ thống các ký hiệu đặt chồng lên nhau Phương pháp ký hiệu có nhiều khả năng biểu hiện tất cả các đặc tính của hiện tượng (số lượng, chất lượng, cấu trúc, động lực) phân bố ở các điểm riêng biệt của lãnh thổ. Hơn nữa phương pháp này mang tính cụ thể cao về mặt địa lý, cho phép ta nêu ra các quy luật phân bố của hiện tượng một cách rõ ràng nhất. Tuy nhiên phương pháp này cũng đòi hỏi yêu cầu cao đối với người thành lập bản đồ đó là:

– Tính chất chi tiết về lính địa lý của tài liệu, số liệu phải chi tiết và chính xác đối với từng điểm phân bố của hiện tượng.

– Trên bản đồ phải xác định được vị trí phân bổ từng điểm của hiện tượng. Thiếu một trong hai điều kiện trên, phương pháp ký hiệu khó có thể thực hiện được.

2. Thể hiện nội dung bản đồ bằng Phương pháp chấm điểm

Có những hiện tượng phân bố liên tục hoặc trên toàn bộ mặt đất, có sự biến đổi theo chu kỳ và việc nghiên cứu chúng được tiến hành ở những điểm nhất định như các hiện tượng trong khí quyển. Trường hợp này người ta thường sử dụng phương pháp biểu đồ định vị tức là các biểu đồ đặt ở các điểm nhất định để thể hiện

Phương pháp này thể hiện đặc trưng những hiện tượng theo mùa và những hiện tượng có tính chất chu kỳ như gió, mưa, nhiệt độ…Các biểu đồ còn biểu thị tiến trình, độ lớn, xác suất của các hiện tượng. Ví dụ tiến trình hàng năm của nhiệt độ, lượng mưa theo tháng…. Các biểu đồ định vị được trình bày theo các hình thức khác nhau theo hệ tọa độ vuông góc, hệ tọa độ cực ở dạng một đường cong, hay dạng biểu đồ hình cột

Phương pháp này dùng để thể hiện các hiện tượng có sự phân bố tuyến tính rõ rệt trong không gian như địa giới hành chính, đường bờ nước, sông ngòi, đường giao thông, ranh giới rừng, đất trồng…Những đặc trưng số lượng và chất lượng cùng với sự biến đổi của hiện tượng theo thời gian được thể hiện thông qua kích thước, màu sắc và cấu trúc hình vẽ của ký hiệu tuyến tính.

Do đặc điểm của các hiện tượng đã nêu trên, phương pháp ký hiệu đường chuyển động được biểu hiện dưới hai dạng khác nhau: dạng vectơ (thể hiện bằng các mũi tên), dạng đường nét và dạng băng.

Dạng véctơ được sử dụng rộng rãi vì nó trực quan dễ thấy hướng di chuyển. Hướng của véc tơ cho biết hướng di chuyển của hiện tượng hay hướng của mối liên hệ, hướng gió…Độ rộng hoặc chiều dài của véc tơ biểu hiện chất lượng của hiện tượng, cấu trúc của hiện tượng được biểu hiện bằng sự phân chia theo tỷ lệ trong véc tơ, sự phân chia đó có thể theo chiều ngang hay chiều dọc của véc tơ . Khi phản ánh cường độ của hiện tượng, ví dụ lưu lượng chuyên chở khách, hàng hoá hoặc cần thể hiện cả lưu lượng, cả thể loại, ta dùng ký hiệu chuyển động ở dạng “băng” (băng tải, đai) được đặt dọc theo trục đường di chuyển. Chiều rộng của dải băng thể hiện chất lượng của hiện tượng. Cấu trúc của hiện tượng được thể hiện bằng cách phân chia dải băng thành các bộ phận theo tỷ lệ với trọng số của các hiện tượng hợp thành và được phân chia bằng màu sắc hay kẻ vạch.

Tóm lại: phương pháp ký hiệu đường chuyển động cho biết sự vận động của các hiện tượng và trình bày rõ cả hướng vận động, phương thức và tốc độ di chuyển, số lượng, chất lượng cũng như cơ cấu hiện tượng vận động.

Phương pháp này biểu thị những hiện tượng không phân bố đều khắp trên lãnh thổ mà chỉ có ở từng vùng đất nhất định. Ví dụ các bản đồ chính trị với diện tích riêng của từng nước. Một đặc điểm quan trọng của phương pháp khoanh vùng là các vùng thuộc các hiện tượng khác nhau có thể không kề nhau, hoặc xen kẽ nhau và cũng có thể che nhau hoàn toàn do phụ thuộc vào vị trí tương quan thực tế của các hiện tượng đó. Khi thể hiện các vùng phân bố trên bản đồ, trước hết xác định chính xác vùng ranh giới hoặc chỉ cần biết khu vực đó có hiện tượng, sau đó dùng nét gạch hoặc ký hiệu hay viết tên hiện tượng vào vùng đó.

7.Thể hiện nội dung bản đồ bằng Phương pháp đường đẳng trị

8.Thể hiện nội dung bản đồ bằng Phương pháp nền chất lượng

Để nêu lên đặc trưng định tính cho các hiện tượng phân bố liên tục trên bề mặt dết (lớp phủ thổ nhưỡng, thực vật…hay các hiện tượng có sự phân bố phân tán theo khối dân cư) người ta thường dùng phương pháp nền chất lượng để thể hiện trên bản đồ. Như vậy, phương pháp nền chất lượng là phương pháp biểu hiện các hiện lượng, còn đặc tính số lượng thì phương pháp này không có khả năng biểu thị trực tiếp.

Các bản đồ được xây dựng bằng phương pháp nền chất lượng về mặt hình thức la thấy, ở trên đó có những khu vực nhất định được giới hạn bằng những đường ranh giới rõ ràng, trong mỗi khu vực đó được phân biệt bằng màu sắc, bằng kẻ vạch hoặc đánh số khu vực. Vấn đề đầu tiên khi xây dựng bản đồ theo phương pháp này là phải vạch ra được đường ranh giới giữa các khu vực và đặc điểm trong các chú thích theo dấu hiệu định tính. Đặc tính chất lượng của lãnh thổ có thể là một chỉ số nào đó hoặc là tổng hợp các chỉ số. Việc phân loại các hiện tượng có thể đối với một hiện tượng cụ thể, nhưng phải đảm bảo sự thống nhất về tính chất liên tục của bảng phân loại, cần lấy đấu hiệu chính có tính chất quyết định làm cơ sở cho bảng phân loại. Nếu phân loại tổng hợp thì việc phân vùng được thực hiện theo những chỉ số khác nhau và đưa ra những dấu hiệu chính.

Ví dụ: khi thành lập bản đồ thành phần dân tộc Việt Nam, trước hết phải tiến hành phân loại các dân tộc Việt Nam theo ngôn ngữ: dòng Nam á, dòng Nam Đảo (Malaipôlinêxia) và dòng Hán Tạng. Sau đó lại chia tiếp thành các phân hệ, mỗi phân hệ bao gồm một số dân tộc, các phân hệ là: ngôn ngữ Việt – Mường, ngôn ngữ Môn – Khơ me, ngôn ngữ Tày – Thái…Sau đó dùng phương pháp nền chất lượng thể hiện các vùng lãnh thổ của các dân tộc theo ngôn ngữ, kết hợp với phương pháp vùng phân bố thể hiện các dân tộc sống xen kẽ nhau.

Phương pháp này còn gọi là phương pháp bản đồ – biểu đồ là phương pháp thể hiện sự phân bố của các hiện tượng bằng các biểu đồ (diagram) đặt trong các đơn vị phân chia lãnh thổ (thường là đơn vị hành chính). Biểu đồ biểu thị độ lớn tổng cộng của hiện tượng trong đơn vị lãnh thổ. Phương pháp Cartodiagram có khả năng thể hiện được các đặc tính số lượng, chất lượng cấu trúc và động lực của hiện tượng.

Phương pháp Cartodiagram được sử dụng có hiệu quả để thể hiện sự phân bố không gian của các hiện tượng, đối tượng nghiên cứu, với các giá trị tuyệt đối hoặc tương đối của chúng. Đặc tính số lượng của hiện tượng được biểu thị bằng kích thước của các biểu đồ (diagram).

Trường hợp các biểu đồ thể hiện các giá trị tương đối (tỷ lệ phần trăm) thường chậm và trở nên lạc hậu hơn so với giá trị tuyệt đối, do vậy giá trị tương đối được lâu dài hơn so với các bản đồ Cartodiagram thể hiện giá trị tuyệt đối. Ví dụ thể hiện sự tăng dân số tự nhiên của các xã bằng biểu đồ cột. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên được tính bằng hiệu số giữa tỷ lệ sinh và tỷ lệ chết, đơn vị là %. Một trong những khó khăn lớn khi thành lập bản đồ bằng phương pháp Cartodiagram là việc chia tỷ lệ của các biểu đồ (diagram) sao cho phù hợp với sự chênh lệch của các chỉ liêu lớn nhất và nhỏ nhất. Nếu kích thước chiếm mất nhiều diện tích, bản đồ sẽ rườm rà và khó đọc. Một trong những nguyên tắc quan trọng bảo đảm độ chính xác và mỹ thuật của bản đồ là các biểu đồ không được đặt chờm ra ngoài biên giới lãnh thổ thành lập bản đồ. Để dễ dàng so sánh đối chiếu về số lượng hiện tượng ta có thể không bố trí trong giới hạn hành chính một bản đồ đường (cột) hay diện tích (vuông hoặc tròn) có số lượng tổng cộng mà thay băng các nhóm những hình có giá trị tương đương nhau (các hình vuông nhỏ hay tròn nhỏ…) mỗi hình nhỏ đó biểu thị một số lượng nhất định của các hiện tượng được biểu hiện. Như thế đặc trưng số lượng của hiện tượng dại diện cho một đơn vị hành chính bằng tổng số các hình nhỏ với chỉ số lượng được chọn. Chất lượng của hiện lượng được thể hiện bằng màu sắc hoặc hình dạng của các hình nhỏ. Ví dụ biểu hiện tổng số dân theo nam nữ của các xã bằng nhóm những hình có giá trị tương đương nhau

Phương pháp Cartodiagram còn thể hiện được cả cấu trúc của hiện tượng bằng cách chia các biểu đồ thành những phần nhỏ tương ứng với các thành phần của hiện tượng. Ngoài những khả năng trên, phương pháp Cartodiagram còn thể hiện được cả động lực của hiện tượng. Động lực của hiện tượng được thể hiện bằng nhiều cách: có thể dựng các biểu đồ có độ lớn khác nhau tương ứng với số lượng hiện tượng qua các thời kỳ khác nhau đặt lồng lên nhau như phương pháp ký hiệu. Hoặc có thể bố trí nhiều hình cột đặt cách nhau để thể hiện sự phân bố dân số qua các năm. Phương pháp Cartodiagram được sử dụng nhiều để thành lập các bản đồ kinh tế – xã hội, vì phương pháp này có những ưu điểm cơ bản sau:

* Bằng phương pháp Cartodiagram, trên cùng một bản đồ có thể thể hiện một vài chỉ tiêu khác nhau, thể hiện rõ ràng mối quan hệ qua lại và sự kết hợp các yếu tố nội dung thể hiện trên bản đồ. Khì nghiên cứu lập các loại bản đồ, các mối tương quan số lượng được tính toán một cách chính xác và đầy đủ.

* Các bản đồ được thành lập bằng phương pháp Cartodiagram thể hiện được nội dung nghiên cứu một cách rõ ràng, dễ đọc, dễ so sánh.

Về mặt hình thức biểu hiện bề ngoài thì các bản đồ (diagram) được sử dụng trong phương pháp Cartodiagram rất giống với các ký hiệu được dùng trong phương pháp ký hiệu. Nhưng thực ra giữa hai phương pháp này lại khác nhau về nguyên tắc. Các ký hiệu trong phương pháp ký hiệu được định vị theo điểm, tức theo vị trí chính xác của đối tượng được thể hiện, còn các biểu đồ trong phương pháp Cartodiagram thể hiện số lượng của hiện tượng được thống kê trong từng đơn vị lãnh thổ gắn liền với sự phân chia lãnh thổ. Do vậy buộc phải có ranh giới phân chia lãnh thổ.

Ưu điểm của phương pháp Cartogram là đơn giản, dễ tính toán, tính trực quan cao. Đặc biệt phương pháp này thể hiện được sự biến đổi cường độ của hiện tượng nghiên cứu một cách rõ ràng, liên tục.

Chất lượng của Cartogram phụ thuộc vào hệ thống phân chia các đơn vị lãnh thổ và số lượng các thang bậc thể hiện nội dung số liệu. Càng ít đơn vị phân chia lãnh thổ thì Cartogram càng thể hiện được tết các đặc trưng địa lý của các hiện tượng và đối tượng thành lập bản đồ. Càng nhiều bậc thang thì mức độ chi tiết của nội dung bản đồ càng cao nhưng bản đồ lại khó đọc, nói chung số lượng thang bậc không nên quá nhiều, chỉ từ 5 – 7 bậc là vừa. Vì thế, phải tuỳ theo mục đích thành lập mà chọn thang bậc sao cho hợp lý.

Trong thực tế nghiên cứu, xây dựng các bản đồ, chúng ta thấy mỗi phương pháp đều có những đặc điểm riêng, nên phải lựa chọn phương pháp biểu hiện cho thích hợp, thường là phải phối hợp nhiều phương pháp để thể hiện nhiều nội dung và nâng cao chất lượng bản đồ.

Tài Chính Doanh Nghiệp (Ross Westerfield Jaffe)

Giảng Dạy Theo Phương Pháp Ghép Hình (1)

Phương Pháp Nhóm Học Tập Jigsaw

Tìm Hiểu Hệ Thống Sản Xuất Tức Thời Just In Time (Jit) Và Lợi Ích C…

Phương Pháp Quản Lý Tài Chính Cá Nhân Jars

Bài 2. Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ

Phân Tích Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng

Phương Pháp Bảo Toàn Electron Hay, Chi Tiết

Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Bảo Toàn Electron Để Giải Bài Toán Hóa Học

Phương Pháp Bảo Toàn Electron

Phuong Phap Bao Toan Electron Và Bai Tap Ung Dung

1. Phương pháp kí hiệu

a. Đối tượng biểu hiện

+ Biểu hiện các đối tượng phân bố theo những điểm cụ thể.

+ Những kí hiệu được đặt chính xác vào vị trí phân bố của đối tượng trên bản đồ.

b. Các dạng kí hiệu

+ Kí hiệu hình học

+ Kí hiệu chữ

+ Tượng hình

c. Khả năng biểu hiện

+ Vị trí phân bố của đối tượng.

+ Số lượng của đối tượng.

+ Chất lượng của đối tượng.

2. Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

a. Đối tượng biểu hiện

+ Biểu hiện sự di chuyển của các hiện tượng tự nhiên và kinh tế xã hội.

b. Khả năng biểu hiện

+ Hướng di chuyển của đối tượng.

+ Số lượng, tốc độ của đối tượng di chuyển.

3 Phương pháp chấm điểm

a. Đối tượng biểu hiện

+ Biểu hiện các đối tượng phân bố không đồng đều bằng những điểm chấm.

b. Khả năng biểu hiện

+ Sự phân bố của đối tượng.

+ Số lượng của đối tượng.

4. Phương pháp bản đồ – biểu đồ

a. Đối tượng biểu hiện

+ Biểu hiện giá trị tổng cộng của một đối tượng trên một đơn vị lãnh thổ bằng cách dùng các biểu đồ đặt vào phạm vi của đơn vị lãnh thổ đó.

b. Khả năng biểu hiện

+ Số lượng của đối tượng.

+ Chất lượng của đối tượng.

+ Cơ cấu của đối tượng

Tổng kết bài học

1. Phương pháp kí hiệu

Biểu hiện các đối tượng phân bố theo những điểm cụ thể.

Những kí hiệu được đặt chính xác vào vị trí phân bố của đối tượng trên bản đồ.

– Vị trí phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng

– Chất lượng của đối tượng.

2. Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

Biểu hiện sự di chuyển của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên

và kinh tế-xã hội.

– Hướng di chuyển của đối tượng.

– Khối lượng của đối tượng di chuyển.

– Chất lượng của đối tượng di chuyển.

3. Phương pháp chấm điểm

Biểu hiện các đối tượng phân bố không đồng đều bằng những điểm có giá trị như nhau.

– Sự phân bố của đối tượng.

– Số lượng của đối tượng.

4. Phương pháp bản đồ – biểu đồ

Biểu hiện các đối tượng phân bố trong những đơn vị phân

chia lãnh thổ bằng các biểu đồ đặt trong các lãnh thổ đó.

– Số lượng của đối tượng.

– Chất lượng của đối tượng.

– Cơ cấu của đối tượng.

Khám Phá Phương Pháp Truy Vấn Socrates

Phép Biện Chứng Trong Triết Học Phương Đông

Quá Trình Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Lịch Triết Học

Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

Lịch Sử Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Triết Học

Bài Tham Khảo Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lí Trên Bản Đồ

Trắc Nghiệm Địa Lí 10 Bài 2 (Có Đáp Án): Một Số Phương Pháp Biểu Diễn Các Đối Tượng Địa Lí Trên Bản Đồ ( Phần 1).

Phương Pháp Bảo Toàn Nguyên Tố Hay

Phương Pháp Bảo Toàn Nguyên Tố Trong Hóa Học Vô Cơ Hay, Chi Tiết, Có Lời Giải.

Phương Pháp Bảo Toàn Nguyên Tố Trong Hóa Học Vô Cơ

Giải Bài Toán Bằng Phương Pháp Bảo Toàn Nguyên Tố Và Bảo Toàn Khối Lượng Môn Hóa Học 12 Năm 2022

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BIỂU HIỆN CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐỊA LÍ TRÊN BẢN ĐỒ

Chúng ta đều biết rằng trên mỗi bản đồ đều sử dụng rất nhiều kí hiệu để thể hiện các đối tượng địa lí khác nhau. Các kí hiệu này đã được phân loại như thế nào? Chúng biểu hiện những đối tượng nào của địa lí ? Để tìm hiểu rõ hơn về những vấn đề này chúng ta cùng nghiên cứu trong bài này.

1. Phương pháp kí hiệu

– Phân bố không đều trên toàn bộ lãnh thổ

– Chỉ tập trung ở một số điểm cụ thể

Nhìn vào lược đồ ta thấy rằng các nhà máy điện đều phát triển ở những nơi có điều kiện thuận lợi và phương pháp kí hiệu đã thể hiện rất cụ thể về hiện trạng phân bố cũng như đặc điểm của công nghiệp điện Việt Nam.

Đối tượng biểu hiện :

Biểu hiện các đói tượng phân bố theo những điểm cụ thể : điểm dân cư, mỏ khoáng sản…

Kí hiệu được đặt chính xác vào vị trí phân bố của đối tượng.

Ví dụ : nhà máy thủy điện Hòa Bình tại tỉnh Hòa Bình, nhà máy nhiệt điện Phả Lại tại tỉnh Hải Dương…

Các dạng kí hiệu chính của phương pháp kí hiệu như sau:

Các dạng kí hiệu :

+ kí hiệu hình học

+ kí hiệu chữ

+ kí hiệu tượng hình

Ví dụ:

Các kí hiệu của mỏ sắt, than đá, crom, kim cương, vàng, nước khoáng, đá quý . Các kí hiệu này thường sử dụng trong bản đồ khoáng sản dung kí hiệu hình học là chủ yếu.

Kí hiệu của các nguyên tố hóa học như : apatit, uranium, bô xit, niken, thủy ngân, antimon, molipden. Các kí hiệu này thường được sử dụng trong các bản đồ khoáng sản dung kí hiệu chữ là chủ yếu.

Kí hiệu tượng hình : hình con cá, con trâu, nhà máy, hình bông lúa… thường sử dụng trong các bản đồ kinh tế thì dung kí hiệu tượng hình là chủ yếu.

Khi quan sát một bản đồ ví dụ bản đồ công nghiệp chung (atlat địa lí Việt Nam trang 16) các em thấy rằng các điểm công nghiệp được thể hiện bằng nhiều kích thước khác nhau tức là kích thước lớn nhỏ biểu hiện nhiều hoặc ít trữ lượng đối tượng.

– Khả năng biểu hiện :

+ Tên, vị trí

+ Số lượng, quy mô chất lượng

+ Động lực phát triển của đối tượng

Ví dụ:

Sử dụng hai phương pháp :

-phương pháp kí hiệu : các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, nhà máy thủy điện đang xây dựng, trạm biến áp 220KV, trạm 550KV.

-Phương pháp kí hiệu dạng đường : đường dây 220KV, 550KV, sông, biên giới…

Phương pháp kí hiệu không những chỉ nêu được tên và vị trí mà còn thể hiện được cả chất lượng của các đối tượng trên bản đồ:

-Thể hiện tên và vị trí các nhà máy điện : nhà máy nhiệt điện ( Phả Lại, Na Dương, Ninh Bình, phú Mĩ …), các nhà máy thủy điện ( Hòa Bình, Thác Bà, Yaly…), các nhà máy thủy điện đang xây dựng ( Sơn La, Bản Vẽ…).

-Thể hiện chất lượng đối tượng : các ngôi sao màu xanh thể hiện cho nhà máy thủy điện, thể hiện nhà máy nhiệt điện bằng ngôi sao màu đỏ, thể hiện các nhà máy thủy điện đang xây dựng bằng ngôi sao màu trắng. Các trạm điện 220KV thể hiện bằng đường kẻ màu đen, đường kẻ màu đỏ cho trạm 550KV…

Như vậy chúng ta vừa tìm hiểu xong phương pháp biểu hiện đầu tiên đó là phương pháp kí hiệu. Các đối tượng địa lí được thể hiện trên bản đồ theo những phương pháp khác như sau:

2. Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

– Đối tượng biểu hiện :

Biểu hiện sự di chuyển của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên, kinh tế – xã hội.

– Trên bản đồ tự nhiên là hướng gió, dòng biển…

– Trên bản đồ kinh tế – xã hội là các luồng di dân, vận chuyển hàng hóa, hành khách….

Phương pháp kí hiệu đường chuyển động có khả năng biểu hiện những nội dung của đối tượng địa lí như sau:

Kí hiệu được sử dụng nhiều nhất

trong phương pháp kí hiệu đường chuyển động là hệ thống các mũi tên. Hướng của mũi tên thể hiện hướng di chuyển của đối tượng, độ dài và độ lớn của mũi tên thể hiện cường độ mạnh, yếu, ít, nhiều của đối tượng. Màu sắc của mũi tên thể hiện chất lượng đối tượng.

Giới thiệu bản đồ thông qua bảng chú giải.

Ở atlat địa lí tự nhiên :

– Phương pháp kí hiệu đường chuyển động thể hiện được hướng gió và tính chất gió :

+ Mũi tên màu xanh chỉ hướng gió đông bắc, đó là gió mùa mùa đông.

+ Mũi tên màu đỏ chỉ hướng gió tây nam và đông nam, đó là gió mùa màu hạ.

+ Mũi tên màu cam chỉ hướng gió tây nam, đó là gió tây khô nóng.

+ Những kí hiệu hoa gió được sử dụng để biểu hiện tần suất các hướng gió thịnh hành trong năm trên từng địa phương của nước ta.

– Phương pháp kí hiệu đường chuyển động biểu hiện được hướng và tần suất bão đổ bộ vào các vùng của nước ta :

+ Các mũi tên màu đen cho biết hướng các cơn bão đổ bộ vào nước ta theo hướng tay hoặc tây bắc.

+ Mũi tên đen một nét chỉ tần suất từ 0.3 – 1 cơn bão / tháng, mũi tên nhỏ hai nét chỉ tần suất 1 – 1.3 cơn bão/ tháng, mũi tên lớn hai nét chỉ tần suất từ 1.3 – 1.7 cơn bão / tháng.( có thể tham khảo hình 2.3 SGK-NXB GD 2011).

3. Phương pháp chấm điểm

Trong lược đồ phân bố dân cư Châu Á ( tham khảo hình 2.4 SGK) để biểu hiện sự phân bố dân cư người ta dùng cách biểu hiện sau :

Trên lược đồ phân bố dân cư châu Á, dân cư châu Á được thể hiện bằng hai phương pháp : phương pháp chấm điểm và phương pháp kí hiệu.

Trong đó các điểm chấm phản ánh một số lượng dân cư nhất định, các kí hiệu biểu hiện dân cư ở hai cấp đô thị.

– Đối tượng biểu hiện :

Thể hiện các hiện tượng địa lí phân bố lẻ tẻ bằng các điểm chấm trên bản đồ.

Ví dụ :

như các điểm dân cư, các cơ sở chăn nuôi….

Để sử dụng phương pháp này người ta đặt ra các chấm có kích thước khác nhau, mỗi cỡ tương ứng với mỗi giá trị ( số lượng, khối lượng ) nào đó.

Quy định của phương pháp này là :

– Chấm lớn bằng 8 triệu người

– Chấm trung bình bằng 5 đến 8 triệu người

– Chấm nhỏ bằng 500.000 người

– Khả năng biểu hiện

+ Sự phân bố của đối tượng

+ Số lượng của đối tượng

4. Phương pháp bản đồ – biểu đồ

Trong bản đồ biểu hiện diện tích và sản lượng lúa(tham khảo hình 2.5 SGK) được thể hiện bằng biểu đồ cột : diện tích – biểu đồ cột xanh, sản lượng – biểu đồ cột đỏ. Trong bảng chú giải, một ô màu xanh tương ứng với 50.000 ha, còn một ô màu đỏ tương ứng với 100.000 tấn.

Khu vực có diện tích và sản lượng lúa cao nhất là đồng bằng sông Cửu Long.

Như vậy, qua hệ thống các biểu đồ ta biết được tổng giá trị của hiện tượng địa lí trong một phạm vi lãnh thổ nào đó.

– Đối tượng biểu hiện

Biểu hiện các đối tượng phân bố trong những đơn vị phân chia lãnh thổ bằng các biểu đồ đặt trong các đơn vị lãnh thổ đó.

– Khả năng biểu hiện

+ Số lượng của đối tượng

+ Chất lượng của đối tượng

+ Cơ cấu của đối tượng

– Chú ý: trong phương pháp bản đồ – biểu đồ các biểu đồ được đặt trong những lãnh thổ có ranh giới xác định.

Ngoài ra, còn có các phương pháp khác để biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ như : phương pháp kí hiệu theo đường, đường đẳng trị, khoanh vùng…

Phương pháp khoanh vùng là biểu hiện trên bản đồ các đối tượng không phân bố trên khắp lãnh thổ mà chỉ phát triển ở những khu vực nhất định, đặc trưng của phương pháp này ở chỗ nó thể hiện sự phổ biến của một loại đối tượng riêng lẻ, phương pháp này ta có thể phân biệt được vùng này với vùng khác.

Ví dụ:

Các vùng phân bố dân tộc khác nhau, các vùng phân bố rừng, các đồng cỏ…

Có nhiều cách khác nhau để khoanh vùng trên bản đồ như, dùng các đường nét liền, đường nét đứt để tạo đường viền, dùng nét gạch ngang hoặc kí hiệu, màu sắc để phân biệt các vùng.

Trong hình 2.6 SGK người ta đã sử dụng những cách sau để thể hiện vùng trồng thuốc lá:

Thể hiện 5 cách biểu hiện khác nhau:

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng những kí hiệu( lá thuốc màu xanh), những kí hiệu này được đặt ở vùng có trồng thuốc lasvaf không có đường viền quanh xác định ranh giới.

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng màu xanh, không có đường viền, chữ thuốc lá được dặt trên nền xanh đó

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng những nét gạch chéo dày, nhỏ, đường viền xác định vùng cũng được tạo bởi các gạch chéo này.

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng những nét gạch chéo màu đậm, thưa, đường viền xác định vùng cũng được tạo bởi các gạch chéo này.

– Vùng trồng thuốc lá được thể hiện bằng màu nâu nhạt, có đường viền quanh, đó là vùng trồng thuốc lá đã được xác định ranh giới chính xác.

Tongthieugia

Help ! Bài Tập Về Phương Pháp Bảo Toàn E .

Bỏ Túi Phương Pháp Bảo Toàn Electron

Phương Pháp Bảo Toàn Electron Trong Hóa Học

Phương Pháp Bảo Toàn Electron Trong Hóa Học Hay, Chi Tiết, Có Lời Giải.

Phuong Phap Bao Toan Electron Và Bai Tap Ung Dung

🌟 Home
🌟 Top