Khoa Học: Dạy Học Theo “phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột”

--- Bài mới hơn ---

  • Trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Thực Dưỡng Ohsawa Và Những Điều Chưa Chắc Bạn Đã Biết
  • Ăn Chay Đúng Pháp Và Đúng Cách
  • Tiết Lộ Cách Bắt Lô Đề Kép Mb Siêu Chuẩn Không Thể Bỏ Qua
  • Bạc Nhớ Cách Bắt Số Theo Ngày ????kinh Nghiệm Bắt Lô Đề 2021
  • Dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột

    ( Nguồn: http://bantaynanbot.edu.vn/btnb/index.php?PHPSESSID=pji31hrcdf7lul78b30274g2e3&action=articleDetail&id=44 ).

    Tính vượt trội của phương pháp dạy học mới

    Xuất bản lúc 30/11/2012 10:11:11 Đã xem 92 lần.

    “Bàn tay nặn bột” là mô hình giáo dục tương đối mới trên thế giới, có tên tiếng Anh là “Hands On”, tiếng Pháp là “La main à la pâte”, đều có nghĩa là “bắt tay vào hành động”. Chương trình tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực tế, từ đó khám phá ra bản chất vấn đề.

    Trẻ luôn cảm thấy tò mò trước những hiện tượng mới mẻ của cuộc sống xung quanh, các em luôn đặt ra các câu hỏi “tại sao”. Chương trình “Bàn tay nặn bột” là sự quy trình hóa một cách logic phương pháp dạy học, dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết theo một phương pháp mới mẻ là để học sinh tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm. Phương pháp này giúp các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mình tìm được. Qua đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việc khi trưởng thành.

    Cô và trò say mê theo bài giảng (trong giờ học theo phương pháp BTNB)

    Hiện nay, chương trình “Bàn tay nặn bột” đã được áp dụng tại một số quốc gia phát triển trên thế giới như Pháp, Mỹ, Canada…

    Là một trong những tỉnh tham gia dự án dạy thí điểm, Thừa Thiên Huế có 18 trường đã triển khai dạy thí điểm, trong đó có 3 trường là đơn vị trực tiếp tham gia dự án của Bộ GD&ĐT (Trường tiểu học Lê Lợi, Huế, tiểu học số 1 Hương Vinh, Hương Trà và tiểu học số 2 Phú Bài, Hương Thủy). Giáo viên trong chương trình này đã qua nhiều đợt tập huấn để nắm bắt phương pháp đưa vào thực tế tại đơn vị mình đồng thời được bồi dưỡng để có khả năng truyền đạt lại cho đồng nghiệp. Theo đánh giá của Sở GD&Đ, hầu hết các thầy cô tham gia dự án thí điểm thể hiện chất lượng giáo dục khá tốt, có sức thuyết phục và thu hút sự quan tâm của đồng nghiệp cũng như cán bộ quản lý về một phương pháp mới hiệu quả. Một số cán bộ quản lý ngành GD&ĐT cho rằng, cần phải tổ chức thêm nhiều khóa tập huấn nữa để nhanh chóng nhân rộng mô hình.

    Ông Phan Văn Hải, Phó Trưởng phòng Tiểu học Sở GD&ĐT khẳng định: “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp giáo dục tiên tiến, giúp hình thành kiến thức và nhân cách cho trẻ em một cách sâu sắc và nhân văn. Theo các chuyên gia, nó không chỉ phát huy hiệu quả ở cấp tiểu học mà còn có thể áp dụng cho các cấp giáo dục cao hơn.” Trên thực tế, Việt Nam rất cần một chương trình mang tính thể nghiệm như thế, bởi hiện nay, học sinh đang thiếu kiến thức thực tiễn nghiêm trọng. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục nhận định rằng, trong cuộc thi Olympic quốc tế vừa qua, Việt Nam không có học sinh nào đoạt giải về sinh học, trong khi toán lại đoạt giải cao là minh chứng hùng hồn cho sự thiếu trải nhiệm thực tế của học sinh… Đây là điểm mà ngành GD&ĐT cần khắc phục và phương pháp “Bàn tay nặn bột” có thể được coi là một lối đi? Riêng với Thừa Thiên Huế, phương pháp mới này đã và đang thu hút các nhà quản lý giáo dục cũng như những cô giáo trực tiếp giảng dạy. Vì thế, nhu cầu về một sự đào tạo toàn diện cho giáo viên đứng lớp là cấp thiết để dự án có thể được áp dụng sớm, chất lượng vào giáo dục tỉnh nhà là mong muốn của nhiều nhà giáo đang tham gia chương trình thí điểm này.

    Bài và ảnh: Châu Giang- baothuathienhue.vn

    Triển khai phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” cấp tiểu học

    Xuất bản lúc 28/11/2012 09:11:57 Đã xem 103 lần.

    Từ ngày 29 đến ngày 30/10/2012 Phòng Giáo dục Tiểu học tổ chức lớp tập huấn triển khai phương pháp “Bàn tay nặn bột” cho cán bộ quản lý là Chuyên viên phụ trách tiểu học của phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thị xã; cán bộ quản lý, giáo viên trong Tổ mạng lưới chuyên môn tiểu học cấp tỉnh cùng giáo viên các lớp dạy thí điểm về phương pháp “Bàn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Phương Pháp “bàn Tay Năn Bột”
  • Phương Pháp Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Hiệu Quả
  • 10 Điều Phải Cân Nhắc Khi Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Nhỏ
  • Phương Pháp Dạy Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Trẻ Nhỏ
  • Phương Pháp Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Nhỏ
  • Quy Trình Tiết Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giá Bình Quân Gia Quyền (Avco) Cho Hàng Tồn Và Nhập
  • Hướng Dẫn Tính Giá Xuất Kho Bằng Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền Chuẩn Nhất
  • Trung Tâm Đào Tạo Kế Toàn Thực Hành Mac
  • Vốn Bình Quân Gia Quyền (Wacc) Là Gì? Cách Tính Chi Phí Sử Dụng Vốn Bình Quân Gia Quyền
  • Vận Dụng Phép Biện Chứng Duy Vật Trong Quá Trình Xây Dựng Và Thực Hiện Đường Lối Đổi Mới Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Bước 1:

    Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

    – Quan sát, suy nghĩ

    – Câu hỏi nêu vấn đề đảm bảo ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu…

    – Bộc lộ quan niệm ban đầu nêu những suy nghĩ từ đó hình thành câu hỏi, giả thuyết. …..bằng nhiều cách nói, viết, vẽ.

    – GV cần: Khuyến khích HS nêu những suy nghĩ …..bằng nhiều cách nói, viết, vẽ.

    – GV quan sát nhanh để tìm các hình vẽ khác biệt.

    Đây là bước quan trọng đặc trưng của PP BTNB

    Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

    – Kiểm soát lời nói, cấu trúc câu hỏi, chính xác hoá từ vựng của học sinh.

    b, Đề xuất phương án thực nghiệm

    – Bắt đầu từ những vấn đề khoa học được xác định, HS xây dựng giả thuyết

    HS trình bày các ý tưởng của mình, đối chiếu nó với những bạn khác

    -GV đặt câu hỏi đề nghị HS đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi đó.

    – GV ghi lại các cách đề xuất của học sinh (không lặp lại)

    – GV nhận xét chung và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn

    ( Nếu HS chưa đề xuất được GV có thể gợi ý hay đề xuất phương án cụ thể)

    (chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giữa các ý kiến)

    Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu

    HS hình dung có thể kiểm chứng các giả thuyết bằng…

    – Nêu rõ yêu cầu, mục đích thí nghiệm sau đó mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm

    – GV bao quát và nhắc nhở các nhóm chưa thực hiện, hoặc thực hiện sai…

    … tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian tạm đủ mà HS có thể suy nghĩ

    … khẳng định lại các ý kiến về phương pháp kiểm chứng giả thuyết mà HS đề xuất.

    – GV không chỉnh sửa cho học sinh

    …thí nghiệm (Ưu tiên thí nghiệm trực tiếp trên vật thật)

    …quan sát,

    …điều tra

    …nghiên cứu tài liệu.

    – HS sinh ghi chép lại vật liệu thí nghiệm, cách bố trí, và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay hình vẽ),

    – HS kiểm chứng các giả thuyết của mình bằng một hoặc các phương pháp đã hình dung ở trên (thí nghiệm, quan sát, điều tra, nghiên cứu tài liệu).

    … tập hợp các điều kiện thí nghiệm nhằm kiểm chứng các ý tưởng nghiên cứu được đề xuất.

    Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày

    … giúp HS phương pháp trình bày các kết quả.

    Bước 5: Kết luận và hợp thức hoá kiến thức

    HS kiểm tra lại tính hợp lý của các giả thuyết mà mình đưa ra

    … động viên HS và yêu cầu bắt đầu lại tiến trình nghiên cứu.

    …giúp HS lựa chọn các lý luận và hình thành kết luận.

      Sau khi thực hiện nghiên cứu, các câu hỏi dần dần được giả quyết, các giải thuyết dần dần được kiểm chứng tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chính xác một cách khoa học. – GV có trách nhiệm tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức bài học.

    – GV khắc sâu kiến thức bằng cách đối chiếu biểu tưởng ban đầu

    * Nếu giả thuyết sai: thì quay lại bước 3.

    * Nếu giả thuyết đúng:

    Thì kết luận và ghi nhận chúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Qui Trình Bài Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Những Vấn Đề Cần Quan Tâm Khi Vận Dụng Pp Bàn Tay Nặn Bột Vào Thực Tiễn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Chỉ Đạo Việc Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Và Học
  • Chuyên Đề Khoa Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Qui Trình Bài Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Tiết Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Phương Pháp Giá Bình Quân Gia Quyền (Avco) Cho Hàng Tồn Và Nhập
  • Hướng Dẫn Tính Giá Xuất Kho Bằng Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền Chuẩn Nhất
  • Trung Tâm Đào Tạo Kế Toàn Thực Hành Mac
  • Vốn Bình Quân Gia Quyền (Wacc) Là Gì? Cách Tính Chi Phí Sử Dụng Vốn Bình Quân Gia Quyền
  • QUI TRÌNH DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC MÔN TXH KHỐI 1,2,3 VÀ MÔN KHOA HỌC KHỐI 4,5

    II. QUY TRÌNH CỤ THỂ:

    Bước 1:

    Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

    – Quan sát, suy nghĩ

    Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh

    – Bộc lộ quan niệm ban đầu nêu những suy nghĩ từ đó hình thành câu hỏi, giả thuyết. …..bằng nhiều cách nói, viết, vẽ.

    Đây là bước quan trọng đặc trưng của PP BTNB

    – GV cần: Khuyến khích HS nêu những suy nghĩ …..bằng nhiều cách nói, viết, vẽ.

    – GV quan sát nhanh để tìm các hình vẽ khác biệt.

    Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

    b, Đề xuất phương án thực nghiệm

    – Bắt đầu từ những vấn đề khoa học được xác định, HS xây dựng giả thuyết

    HS trình bày các ý tưởng của mình, đối chiếu nó với những bạn khác

    -GV đặt câu hỏi đề nghị HS đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi đó.

    – GV ghi lại các cách đề xuất của học sinh (không lặp lại)

    – GV nhận xét chung và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn

    ( Nếu HS chưa đề xuất được GV có thể gợi ý hay đề xuất phương án cụ thể)

    (chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giữa các ý kiến)

    Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu

    HS hình dung có thể kiểm chứng các giả thuyết bằng…

    …thí nghiệm (Ưu tiên thí nghiệm trực tiếp trên vật thật)

    …quan sát,

    …điều tra

    …nghiên cứu tài liệu.

    – HS sinh ghi chép lại vật liệu thí nghiệm, cách bố trí, và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay hình vẽ),

    – Nêu rõ yêu cầu, mục đích thí nghiệm sau đó mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm

    – GV bao quát và nhắc nhở các nhóm chưa thực hiện, hoặc thực hiện sai…

    … tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian tạm đủ mà HS có thể suy nghĩ

    … khẳng định lại các ý kiến về phương pháp kiểm chứng giả thuyết mà HS đề xuất.

    – GV không chỉnh sửa cho học sinh

    – HS kiểm chứng các giả thuyết của mình bằng một hoặc các phương pháp đã hình dung ở trên (thí nghiệm, quan sát, điều tra, nghiên cứu tài liệu).

    … tập hợp các điều kiện thí nghiệm nhằm kiểm chứng các ý tưởng nghiên cứu được đề xuất.

    Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày

    … giúp HS phương pháp trình bày các kết quả.

    Bước 5: Kết luận và hợp thức hoá kiến thức

    … động viên HS và yêu cầu bắt đầu lại tiến trình nghiên cứu.

    …giúp HS lựa chọn các lý luận và hình thành kết luận.

    – Sau khi thực hiện nghiên cứu, các câu hỏi dần dần được giả quyết, các giải thuyết dần dần được kiểm chứng tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chính xác một cách khoa học. – GV có trách nhiệm tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức bài học.

    – GV khắc sâu kiến thức bằng cách đối chiếu biểu tưởng ban đầu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vấn Đề Cần Quan Tâm Khi Vận Dụng Pp Bàn Tay Nặn Bột Vào Thực Tiễn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Chỉ Đạo Việc Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Và Học
  • Chuyên Đề Khoa Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Chỉ Đạo Việc Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Và Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Vấn Đề Cần Quan Tâm Khi Vận Dụng Pp Bàn Tay Nặn Bột Vào Thực Tiễn
  • Qui Trình Bài Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Quy Trình Tiết Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Phương Pháp Giá Bình Quân Gia Quyền (Avco) Cho Hàng Tồn Và Nhập
  • Hướng Dẫn Tính Giá Xuất Kho Bằng Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền Chuẩn Nhất
  • Phương pháp dạy học là một vấn đề có tính lịch sử, muốn đổi mới phương pháp dạy học thì phải đổi mới trước hết ở ý thức.Trong việc thực hiện đổi mới PPDH thì vai trò của giáo viên là rất quan trọng bởi khó mà chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH đạt kết quả cao khi giáo viên không muốn đổi mới. Đây là mâu thuẫn trong thực tế mà nhiều cán bộ quản lí cần phải giải quyết. Để nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học và những ưu điểm của phương pháp Bàn tay nặn bột, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:

    không khí, bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực nghiệm. Các em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần thay đổi mỗi lần một thông số là có thể có những kết luận khác nhau.Và trong quá trình ấy, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc: Tại sao có những loại cây sống bám trên cây khác mà không cần đến yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất mà còn cả trên nhựa, tờ giấy?... Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại sao lại bón phân cho cây ?.... 1.2.5. Tiến trình dạy học môn Tự nhiên- Xã hội và môn khoa học ở trường Tiểu học theo phương pháp Bàn tay nặn bột: - Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề. - Bước 2: Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh. - Bước 3: Đề xuất câu hỏi (dự đoán/ giả thiết) và phương án tìm tòi. - Bước 4: Thực hiện phương án tìm tòi. - Bước 5: Kết luận kiến thức. 1.2.6. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" trong dạy học: - Trong quá trình HS thực hành, GV phải khéo léo theo dõi, quan sáthọc sinh xem các em đang nghĩ gì về vấn đề mà mình đặt ra để nắm được tình hình. Nếu có điều gì không khớp với dự định ban đầu thì cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. - Các biểu tượng HS đưa ra có thể đúng, có thể sai nhưng giáo viên không đánh giá và cũng không đưa ra câu trả lời. GV chỉ gợi ý hay đặt thêm những câu hỏi dẫn dắt HS đi tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính các em chứ không làm thay. Ví dụ; " Theo em, nó sẽ như thế nào"? " Em nghĩ (làm) thử xem"? "Em tìm cách làm nào đó để xem có đúng không"?..... Ví dụ khi các em lọc nước mà kết quả vẫn đục Gv chỉ gợi ý " Các em thử xem thiết bị thí nghiệm có vấn đề gì không"? " Xem lại các bước tiến hành lọc nước của các em".....Trong trường hợp thí nghiệm cần đến các điều kiện, GV phải giúp các em xác định được điều kiện của thí nghiệm (Ví dụ: Về mặt thời gian, môi trường, nhiệt độ...). Điều này, bước đầu HS có thể gặp khó khăn nhưng thực hiện nhiều lần các em sẽ quen dần trong việc đặt điều kiện cho thí nghiệm để đảm bảo độ chính xác cao. * Tình huống xuất phát từ câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau : - Câu hỏi thường mang tính chất mở hoặc nửa mở phù hợp với mục tiêu bài học và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh sao cho các em có khả năng giải quyết. - Có tác dụng khêu gợi trí tò mò và ham hiểu biết khoa học, kích thích các em suy nghĩ và tiến hành giải quyết để đem lại những hiểu biết. - Câu hỏi phải gọn, rõ ràng, dễ hiểu, hạn chế những từ ngữ mang khái niệm mà các em chưa biết. Nếu có, GV nên tìm những từ ngữ thay thế sao cho vừa đảm bảo HS hiểu được vừa vẫn giữ nguyên được ý nghĩa của nó. - Khi nêu câu hỏi phải đảm bảo cho tất cả học sinh nghe và biết được mình cần phải làm gì. - Việc chuẩn bị các vật liệu, đồ dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng. Đối với phương pháp Bàn tay nặn bột nếu không có đồ dùng dạy học thì không thể tiến hành được. - Đối với phương pháp Bàn tay nặn bột nếu chỉ dừng lại ở việc đánh giá bằng điểm số thì chưa đủ mà cần phải phối hợp đánh giá về năng lực quan sát, năng lực tư duy, khả năng suy luận và phán đoán, kỹ năng làm thí nghiệm, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt (kể cả trong khi nói và viết), sự hứng thú tìm tòi, sự tò mò ham hiểu biết, sự tham gia tích cực trong giờ học...Tất cả những điều đó nhằm kích thích, lôi kéo các em khám phá thế giới không ngừng, tạo ra sự cân đối ở các em giữa kiến thức và kỹ năng, giữa lý thuyết và thực hành. - Không chia nhóm HS quá đông, mỗi nhóm chỉ từ 2, 4 đến 6 em và từ hai bàn ghép lại. - Không nên cho HS biết trước kiến thức của bài học một cách tiêu cực mà phải để cho các em tự khám phá ra chúng. Không để các em sử dụng sách giáo khoa để trả lời câu hỏi mà giáo viên đưa ra vì như vậy sẽ làm cho HS có thói quen ỷ lại không chịu suy nghĩ, tìm tòi trong học tập. Sách giáo khoa có thể chỉ được sử dụng làm tài liệu quy chiếu với các kết quả nghiên cứu của HS ở cuối tiết học. - Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài). - Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp Bàn tay nặn bột để áp dụng, không nhất thiết hoạt động nào cũng áp dụng phương pháp này. 1.3. Cơ sở lý luận quản lý giáo dục: Quá trình quản lý là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thực hiện tổ hợp các chức năng quản lý, đưa hệ quản lý tới mục tiêu. Quá trình quản lý bao gồm 4 chức năng: Kế hoach hoá Tổ chức Chỉ đạo Kiểm tra Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tập trung vào chức năng chỉ đạo. 1.3.1. Khái niệm chức năng chỉ đạo: Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu chất lượng cao. 1.3.2. Vị trí, vai trò của chức năng chỉ đạo: Chức năng chỉ đạo là chức năng thứ 3 trong 1 quá trình quản lý, nó có vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hoá các mục tiêu. Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu có chất lượng và hiệu quả. Thực chất của chức năng chỉ dạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức, hệ thống giáo dục và nhà trường thành nhu cầu của mọi cán bộ công chức, trên cơ sở đó mọi người tích cực tự giác và mang hết khả năng để làm việc. Do đó chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động. 1.3.3. Nội dung chủ yếu của chức năng chỉ đạo: Chức năng chỉ đạo là một chức năng quản lý quan trọng và cần thiết cho việc hiện thực hoá các mục tiêu, do trong chỉ đạo giáo dục quán triệt phương châm "duy trì - ổn định - đổi mới - phát triển" trong các hoạt động của nhà trường và cả hệ thống giáo dục, từ đó, chức năng chỉ đạo trong giáo dục cần thực hiện các nội dung sau: (1). Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ (2). Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích. (3). Giám sát và sửa chữa. (4). Thúc đẩy các hoạt động phát triển. Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ cũng như tác động ảnh hưởng tới các thành viên khác phảI đảm bảo phù hợp, thiết thực và cụ thể với khả năng và trình độ của từng thành viên trong tổ chức hay trong trường học. Việc thực hiện thường xuyên đôn đốc, động viện và kích thích lao động có tác dụng như quá trình tạo động cơ làm việc của mọi thành viên. Trong giai đoạn này, người quản lý cần có những tác động cần thiết tới các đối tượng nghiên cứu để biến các yêu cầu tập thể thành nhu cầu hoạt động của từng người. Khi đó mọi người sẽ thể hiện được hết khả năng và công sức của mình cho việc thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức. Giám sát là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ của cấp dưới, khi thấy có sự sai lệch, lúng túng thì giúp sữa chữa hoặc hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Như vậy chỉ đạo đổi mới PPDH nằm trong mục tiêu của hệ thống giáo dục quốc dân, chịu sự chỉ đạo chung và tuân thủ theo lý luận quản lý. Chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH của Hiệu trưởng ở trường THCS về thực chất là sự can thiệp của Hiệu trưởng trong toàn bộ quá trình dạy học, huy động lực lượng giáo viên tham gia thực hiện đổi mới PPDH, điều khiển hoạt động đổi mới PPDH, phối hợp các lực lượng trong nhà trường thực hiện kế hoạch đưa hoạt động đổi mới PPDH đạt tới mục tiêu đã định. Trong quá trình chỉ đạo Hiệu trưởng chú ý tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cũng như các điều kiện khác cho hoạt động đổi mới PPDH. CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC CHỈ ĐẠO ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT VÀO DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN- XÃ HỘI VÀ MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC Để tìm hiểu thực trạng chỉ đạo áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột và dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học ở trường Tiểu học , tôi đã tiến hành điều tra khảo sát thực trạng ở trường Tiểu học Linh Đàm và một số trường Tiểu học trên địa bàn quận . Trên cơ sở nghiên cứu thực tế cùng với phân tích và xử lý số liệu đã thu thập , tôi đã có được một số nét cơ bản về thực trạng việc chỉ đạo áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột và dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học ở trường Tiểu học. 2.1.Thực trạng: Bảng kết quả điều tra về mức độ hiểu biết và kỹ năng vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột của giáo viên trường Tiểu học Linh Đàm( thời điểm tháng 11 năm 2013): Số lượng GV tham gia khảo sát Mức độ hiểu biết về PP Bàn tay nặn bột Kĩ năng vận dụng PP Bàn tay nặn bột Không hiểu Hiểu Hiểu rõ Chưa biết vận dụng Biết vận dụng Vận dụng thành thạo 30 8% 70% 22% 80% 13% 7% Bảng kết quả điều tra về năng lực của học sinh trường Tiểu học Linh Đàm ( thời điểm tháng 11 năm 2013): Số lượng HS tham gia khảo sát Kĩ năng làm thí nghiệm Kĩ năng diễn đạt Rất thành thạo Thành thạo Chưa đạt Rất thành thạo Thành thạo Chưa đạt 100 5% 15% 80% 20% 29% 51% Với kết quả như bảng trên chứng tỏ rằng đa số giáo viên đã hiểu biết về phương pháp Bàn tay nặn bột nhưng chưa mạnh dạn áp dụng phương pháp này vào dạy học dẫn đến kĩ năng vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột còn hạn chế. 2.2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng: Qua thực tế điều tra cho thấy giáo viên rất ít khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học với nhiều lí do khác nhau: STT Lí do Tỷ lệ % GV 1 Thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 2 Thiếu kĩ năng về phương pháp Bàn tay nặn bột 3 Mất nhiều thời gian chuẩn bị cho tiết dạy 4 Số học sinh/lớp đông 5 Ít tài liệu phục vụ giảng dạy và học tập Qua điều tra, khảo sát thực tế cho thấy trường Tiểu học Linh Đàm và một số trường Tiểu học trên địa bàn quận đã triển khai áp dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH; đã tổ chức tập huấn cho100% giáo viên về phương pháp Bàn tay nặn bột. Đa số các đồng chí cán bộ quản lí đều cho rằng: Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực, giúp hình thành cho học sinh thói quen làm việc như các nhà khoa học và niềm say mê sáng tạo giải quyết vấn đề. Tuy nhiên hiệu quả của việc chỉ đạo áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học ở trường Tiểu học chưa cao vì việc chỉ đạo một số cán bộ quản lí còn nhiều bất cập, nhiều yếu tố không đồng bộ: - Hầu hết chỉ đạo theo phương pháp chung chung, thiếu trọng tâm, không theo qui trình.Tính kế hoạch trong chỉ đạo còn hạn chế nên việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột và dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học ở trường Tiểu học chưa thường xuyên, liên tục. - Công tác chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên còn nhiều hạn chế, nội dụng bồi dưỡng chưa cụ thể, một số nội dung cần thiết chưa được quan tâm, hình thức bồi dưỡng chưa hợp lý nên hiệu quả thấp. - Thiếu tác động nâng cao động lực làm việc đối với giáo viên trong việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học, chưa khuyến khích, động viên đúng mức tạo niềm say mê, hứng thú để giáo viên việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học. Tóm lại: Kết quả khảo sát thực trạng việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học cho thấy một bộ phận giáo viên đã có những cố gắng nhất định trong việc sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột nhằm giúp học sinh hình thành thế giới quan khoa học và niềm say mê sáng tạo song chúng ta phải thừa nhận một thực tế: giáo viên vẫn chưa mạnh dạn sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong quá trình dạy học. Nguyên nhân của thực trạng trên là do nhiều yếu tố nhưng cần phải nhấn mạnh vai trò chỉ đạo của cán bộ quản lí. Những thực trạng nêu trên cũng chính là điểm xuất phát để tìm ra những biện pháp phù hợp với đặc điểm và điều kiện của nhà trường để việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Tự nhiên-Xã hội và môn Khoa học đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành Giáo dục và Đào tạo. CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT VÀO DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN-XÃ HỘI VÀ MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC LINH ĐÀM 3.1 Chỉ đạo xây dựng đội ngũ giáo viên : 3.1.1. Nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học và những ưu điểm của phương pháp Bàn tay nặn bột: Phương pháp dạy học là một vấn đề có tính lịch sử, muốn đổi mới phương pháp dạy học thì phải đổi mới trước hết ở ý thức.Trong việc thực hiện đổi mới PPDH thì vai trò của giáo viên là rất quan trọng bởi khó mà chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH đạt kết quả cao khi giáo viên không muốn đổi mới. Đây là mâu thuẫn trong thực tế mà nhiều cán bộ quản lí cần phải giải quyết. Để nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học và những ưu điểm của phương pháp Bàn tay nặn bột, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau: -Tổ chức các buổi sinh hoạt tư tưởng, chính trị như tổ chức cho cán bộ giáo viên được nghe thời sự, được đọc sách báo, để nắm được sự biến chuyển của xã hội, sự phát triển về kinh tế, văn hoá giáo dục của địa phương của đất nước, nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, bám sát các chương trình hành động quốc gia của tỉnh, của huyện, để giúp mọi thành viên trong nhà trường nâng cao nhận thức hiểu biết về chính trị- xã hội, làm cho họ có ý thức quan tâm đến những vấn đề cấp thiết của cuộc sống, của thời đại. - Tổ chức cho cán bộ, giáo viên học tập các văn bản pháp quy Giáo dục và đào tạo: Làm cho mọi thành viên của nhà trường nắm vững đường lối, quan điểm giáo dục, chính sách của Đảng và Nhà nước, qua việc tổ chức học tập các Nghị quyết, Chỉ thị, các giải pháp, mục tiêu Giáo dục và đào tạo- điều này rất quan trọng với bậc Tiểu học; làm cho cán bộ giáo viên hiểu rõ nhiệm vụ, quyền hạn của mình và mọi người, ý thức được trách nhiệm của mình trong mỗi công việc được giao, xây dựng tập thể sư phạm đoàn kết, nhất trí cộng đồng trách nhiệm, cùng nhau thực hiện nhiệm vụ, phấn đấu vì mục đích chung. Giúp giáo viên có nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học: Xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong công cuộc đổi mới , đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục hiện đại và đào tạo con người lao động năng động, tự tin, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với làn sóng đổi mới kinh tế và xã hội hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng với yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới cần phải có phương pháp dạy học mới phù hợp với yêu cầu tiến bộ của xã hội. Bởi thế việc áp dụng lí luận dạy học tích cực vào giảng dạy các môn học là rất quan trọng và cần thiết. 3.1.2. Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên về phương pháp Bàn tay nặn bột: 3.1.2.1.Nội dung bồi dưỡng: - Giới thiệu chung về phương pháp Bàn tay nặn bột: + Khái niệm phương pháp Bàn tay nặn bột + Các nguyên tắc cơ bản của dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột. + Ưu điểm của phương pháp Bàn tay nặn bột. + Khó khăn, hạn chế của phương pháp Bàn tay nặn bột. + Các bước dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột. - Một số vấn đề về sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội, môn Khoa học ở Tiểu học. - Thiết kế một vài tiết dạy Tự nhiên - Xã hội và Khoa học theo phương pháp Bàn tay nặn bột. Hình thức bồi dưỡng: a.Tổ chức chuyên đề về phương pháp Bàn tay nặn bột theo hướng đổi mới: Để mang lại hiệu quả thiết thực trong việc tổ chức chuyên đề, tôi đã chỉ đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn. Những năm trước đây, ở mỗi chuyên đề , giảng viên (người báo cáo) trình bày lí thuyết- học viên (giáo viên) nghe và ghi chép. Ở hình thức này, giáo viên thụ động tiếp nhận kiến thức dẫn đến hiệu quả chuyên đề không cao. Để có được hiệu quả cao trong việc tổ chức chuyên đề, cần phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của giáo viên, giáo viên phải thực sự được nghiên cứu, được động não. Chính vì vậy , tôi đã tiến hành tổ chức chuyên đề về phương pháp Bàn tay nặn bột theo các bước sau: Bước 1: Giáo viên nghiên cứu tài liệu về phương pháp Bàn tay nặn bột; xem băng hình 1 tiết dạy có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột. (Để tránh lãng phí thời gian, có thể cung cấp tài liệu cho giáo viên nghiên cứu trước). - Cách nêu tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề: mức độ phù hợp và hấp dẫn của tình huống xuất phát. - Cách gợi ý để học sinh đưa ra các câu hỏi thắc mắc(giả thuyết). - Cách hợp tác học tập của học sinh trong nhóm. Tổ chức dạy minh họa theo phương pháp Bàn tay nặn bột: * Công tác chuẩn bị: - Lựa chọn bài dạy minh họa: - Lựa chọn người dạy minh họa: nên chọn những giáo viên dạy giỏi, nhiệt tình hăng hái và thích sáng tạo thì việc dạy thí điểm sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. - Giáo viên dạy minh họa chuẩn bị bài dạy: Trong qua trình chuẩn bị, nên trao đổi về kế hoạch bài học (giáo án) với người phụ trách chuyên đề. - Bố trí địa điểm dạy minh họa có đủ chỗ ngồi cho người dự giờ quan sát thuận lợi. * Tổ chức dạy minh họa phương pháp Bàn tay nặn bột : Cần lưu ý để người dự giờ tập trung quan sát hoạt động học của học sinh (thái độ, nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói,mối quan hệ giữa các học sinh, sản phẩm của học sinh). Định hướng tập trung quan sát để trả lời các câu hỏi sau: - Tình huống xuất phát của giáo viên đưa ra có phù hợp với nội dung bài học không? Có thực sự gây hứng thú học tâp cho học sinh không? - Câu hỏi nêu vấn đề có gần g

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Khoa Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới
  • Chuyên Đề Khoa Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Chỉ Đạo Việc Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Và Học
  • Những Vấn Đề Cần Quan Tâm Khi Vận Dụng Pp Bàn Tay Nặn Bột Vào Thực Tiễn
  • Qui Trình Bài Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Quy Trình Tiết Dạy Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Phương Pháp Giá Bình Quân Gia Quyền (Avco) Cho Hàng Tồn Và Nhập
  • Theo kế hoach chuyên môn nhà trường và kế hoạch chuyên môn tháng 3, tổ 4-5 tham gia chuyên đề cấp trường dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột Bài 26: Nóng lạnh và nhiệt độ (Tiết 2) do đồng chí Nguyễn Thị Chiên thực hiện. Chuyên đề giúp giáo viên rút kinh nghiệm về vận dụng phương pháp dạy học phù hợp và hiệu quả nhất.

    Trong tiết dạy có bốn hoạt động cơ bản, từ hoạt động cơ bản 5 đến hoạt động cơ bản 8. Các hoạt động cơ bản được thiết kế tổ chức học tập theo logo nhóm lớn, hoạt động 5 và hoạt động 7 là hai hoạt động thí nghiệm để tìm ra kiến thức khoa học. Để so sánh đặc điểm phương pháp BTNB với phương pháp học tập VNEN theo thiết kế, tiết dạy được giáo viên tổ chức hoạt động 5 theo đúng thiết kế hoạt động nhóm theo logo và hoạt động 7 được tổ chức học tập theo phương pháp BTNB.

    Sau tiết dạy, các đồng chí giáo viên nhận xét và chỉ ra một số ưu, nhược điểm của tiết dạy và có một số nhận xét về hai phương pháp học tập:Tiết dạy đã phát huy được tính tích cực chủ động trong học tập của học sinh, các em được tham gia thí nghiệm chủ động chiếm lĩnh kiến thức, hiểu bài và điều hành hoạt động nhóm hết sức hiệu quả, Tuy nhiên các đồng chí giáo viên cũng chỉ rõ một số ít học sinh đặt câu hỏi còn chưa sát với dự đoán kết quả thí nghiệm, một số em hiểu bài nhưng diễn đạt trong phần chia sẻ chưa được tự tin. Hai phương pháp học tập tuy khác nhau nhưng được các giáo viên nhận định là khá tương đồng, chỉ khác là hoạt động 5 theo logo được tổ chức theo nhóm, còn hoạt động 7 tổ chức theo phương pháp BTNB có một số hoạt động được đưa lên trước lớp. Cụ thể là hoạt động 5 giáo viên giao nhiệm vụ, nhóm trưởng tự điều hành nhóm làm thí nghiệm. Khác với hoạt động 5, hoạt động 7 có 5 bước cơ bản thì thực hiện ba bước trước lớp là giáo viên đưa tình huống có vấn đề, bộc lộ biểu tượng ban đầu cho học sinh và đề xuất các câu hỏi. Hoạt động 7 theo phương pháp BTNB gây nhiều hứng thú học tập cho học sinh hơn và lớp học cũng sôi nổi hơn. Tuy nhiên, tổ chức theo PP BTNB sẽ chiếm nhiều thời gian hơn và cũng không đảm bảo tiến độ học tập như VNEN.

    Thống nhất chỉ đạo về chuyên môn về dạy học là giáo viên bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng đặt câu hỏi cho học sinh và cũng rèn tính chủ động cho học sinh. Giáo viên chủ động nghiên cứu bài học và áp dụng PPDH một cách linh hoạt làm soa cho hiệu quả tiết dạy tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới
  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Nhằm Áp Dụng Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4. Minh Họa Qua Bài: Nước Có Những Tính Chất Gì
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Chuyên Đề Khoa Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Chỉ Đạo Việc Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Và Học
  • – Tính chất hóa học của axit : Tác dụng với quì tím, với bazơ, oxit bazơ và kim loại.

    – Tính chất, ứng dụng, cách nhận biết axit HCl, H2SO4 loãng và H2SO4 đặc (tác dụng với kim loại, tính háo nước). Phương pháp sản xuất H2SO4 trong công nghiệp.

    – Quan sát thí nghiệm và rút ra kết luận về tính chất hóa học của axit nói chung.

    – Tính nồng độ hoặc khối lượng dung dịch axit HCl, H2SO4 trong phản ứng.

    – Giáo dục học sinh lòng yêu thích bộ môn và có ý thức cẩn thận khi làm thí nghiệm.

    II. NỘI DUNG HỌC TẬP:

    – Tính chất hóa học của axit.

    i là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức. Sự trao đổi, tranh luận giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên nhằm tranh thủ sự hỗ trợ xã hội từ phía giáo viên và tập thể học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Hoạt động của giáo viên bao gồm hành động với tư liệu dạy học và sự trao đổi định hướng trực tiếp với học sinh. Giáo viên là người tổ chức, cung cấp tư liệu nhằm tạo tình huống cho hoạt động học tập của học sinh, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động của học sinh với tư liệu, sự trao đổi, tranh luận của học sinh với nhau. Theo quan điểm hiện đại thì dạy học là dạy giải quyết vấn đề. Trong quá trình dạy học , giáo viên tổ chức hành động chiếm lĩnh tri thức của học sinh phỏng theo tiến trình của chu trình sáng tạo khoa học.Ta có thể hình dung diễn biến của hoạt động dạy học như sau: + Giáo viên tổ chức tình huống, nảy sinh vấn đề cần giải quyết, cần tìm tòi. + Học sinh tự chủ tìm tòi giải quết vấn đề đặt ra với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của giáo viên. + Giáo viên chỉ đạo sự tranh luận của học sinh, bổ sung, tổng kết, kiểm tra kết quả học tập. Điểm tương đồng của phương pháp bàn tay nặn bột so với các phương pháp dạy học tích cực khác là ở chỗ đều nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực giải quyết vấn đề tuy nhiên điểm khác biệt của phương pháp BTNB so với các phương pháp khác là ở chổ các tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề là những sự vật hay hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó. Đặc biệt còn chú trọng giúp học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu để tạo ra các mâu thuẫn nhận thức làm cơ sở đề xuất các câu hỏi giả thuyết, các phương án thí nghiệm nếu được tiến hành thì đó là các thí nghiệm do chính các em đề xuất với các thí nghiệm đơn giản, dễ tìm, dễ thực hiện. Thông qua các hoạt động như vậy phương pháp BTNB nhằm chiếm lĩnh dần các khái niệm khoa học, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết, nói. d. Cơ sở sư phạm của tiến trình dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột: Học sinh học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động. Học sinh học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn. Học sinh học tập bằng hỏi đáp với các học sinh cùng lớp bằng cách trình bày quan điểm cá nhân của mình, đối lập với quan điểm của bạn và về các kết quả thực nghiệm để kiểm tra sự đúng đắn và tính hiệu lực của nó. e. Không khí làm việc trong lớp học: Phương pháp BTNB khuyến khích học sinh xây dựng kiến thức thông qua làm việc chung, tiến hành thí nghiệm, chia sẽ ý tưởng, khác với một số phương pháp dạy học, giáo viên luôn bận tâm học sinh phải đưa ra câu trả lời đúng. Để có một bầu không khí học tập sôi nổi trong lớp, giáo viên cần xây dựng không khí làm việc và mối quan hệ giữa các học sinh dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và đối xử công bằng giữa các học sinh trong lớp. Tránh tuyệt đối luôn khen ngợi quá mức một vài học sinh nào đó hoặc để học sinh khá, giỏi trong lớp luôn làm thay công việc của cả nhóm, tạo cơ hội làm việc cho các học sinh khác. Giáo viên cần chú ý bao quát lớp, khuyến khích các học sinh có ý tưởng tốt nhưng còn rụt rè không giám trình bày. Không khí làm việc tốt là giáo viên tạo được sự thoải mái cho tất cả các học sinh và việc học không trở nên là một điều gì đó căng thẳng, các học sinh tham gia và yêu thích hoạt động. 2. Cơ sở thực tiễn: 2.1. Về học sinh: Qua quan sát theo dõi tình hình học tập bộ môn, qua kháo sát chất lượng giữa học kỳ và kết quả các tiết kiểm tra ở khối 9 trường THCS Biên Giới tôi nhận thấy: * Ưu điểm: + Đa số học sinh có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực trong học tập bộ môn, có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp + Các em nắm vững kiến thức lý thuyết thông qua đó giải thích được một số hiện tượng hoặc vận dụng lý thuyết để giải bài tập + Một số học sinh có khả năng diễn đạt, trình bày lưu loát, logic. * Tồn tại: Bên cạnh học sinh tích cực học tập thì còn rất nhiều học sinh: + Thái độ và ý thức học tập chưa cao do ý thức chủ quan. + Học sinh chưa đầu tư nhiều trong việc học lý thuyết. + Một bộ phận học sinh trung bình, yếu thường chưa nắm vững hoặc quên đi kiến thức lý thuyết cơ bản do các em chưa có kỹ năng tự tìm tòi, tự mình khám phá tri thức thông qua các phương pháp dạy học mới mà giáo viên áp dụng, từ đó chất lượng bộ môn còn thấp. + Đa số các em chưa chủ động trong việc tự mình tiếp cận tri thức mới, chưa tích cực nghiên cứu, chủ yếu trong chờ vào quá trình truyền đạt từ giáo viên. + Đây là môn học các em mới được làm quen ở lớp 8 chỉ với những kiến thức cơ bản là tìm hiểu khái niệm nhưng ở lớp 9 các em đi tìm hiểu chuyên sâu hơn, với lượng kiến thức nhiều vì vậy đa số các em hầu như không nhớ kiến thức lý thuyết để vận dụng từ đó các em rụt rè không giám đưa ra ý kiến tranh luận với các bạn, chất lượng bộ môn vì thế cũng chưa được nâng lên. + Đa số các em chưa tự mình hình dung ra những nội dung gì trong bài học (chưa có sự chuẩn bị tốt ở nhà), chưa được đưa ra các ý kiến đề xuất ban đầu, chủ yếu các nội dung mà các em biết được qua sự dẫn dắt, chuyển ý của giáo viên khi vào từng mục của bài học. 2.1. Về giáo viên - Việc đổi mới phương pháp dạy học đôi khi còn lúng túng về kỹ thuật thực hiện trong việc đổi mới phương pháp. - Thực hiện đổi mới phương pháp nhiều năm liền cùng với việc áp dụng rất nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học. Tuy nhiên bản thân giáo viên nhận thấy chưa phát huy hết năng lực tự học, khả năng sáng tạo ở các em. - Trong việc đổi mới phương pháp, lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người hướng dẫn tuy nhiên giáo viên chủ yếu là người thay thế các em diễn đạt thành lời, học sinh chưa thật sự được rèn luyện kỹ năng diễn đạt. - Một bộ phận giáo viên chưa thật sự chú tâm trong việc đổi mới phương pháp, năng lực giảng dạy còn yếu kém vì thế mà chưa chuẩn bị đầy đủ ĐDDH, hình ảnh tư liệu từ mạng Internet, nhất là các ĐDDH tự làm hoặc ĐDDH liên môn để phục vụ cho công tác giảng dạy, cũng chính từ đó các em chưa pát huy hết năng lực tự học, chưa bộc lộ hết quan điểm của các em. 2.3. Về phía gia đình học sinh: Do điều kiện kinh tế đa số các gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên các bậc phụ huynh chưa quan tâm sâu sát, chưa đôn đốc nhắc nhở các em trong học tập vì thế mà tinh thần tự học của các em chưa cao, chưa có tính tự giác. 2.4. Sự cần thiết của đề tài: Từ những cơ sở lý luận và thực tiển trên cho thấy để học sinh học tập tốt môn Hóa học, nâng cao chất lượng dạy và học cần thiết phải tổ chức cho các em tự chiếm lĩnh nguồn tri thức mới, phải có tinh thần tự học thông qua việc tự mình nghiên cứu thông tin, nêu ra được các vấn đề cần nghiên cứu, tự làm được các thí nghiệm đồng thời các em tranh luận, chất vấn nhau hoặc với giáo viên sau đó tự trình bày nội dung mà mình thu thập được. Điều này ta có thể bắt gặp được ở các phương pháp dạy học khác tuy nhiên điểm tương đồng của phương pháp bàn tay nặn bột so với các phương pháp dạy học tích cực khác là ở chổ đều nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, điểm khác biệt của phương pháp BTNB so với các phương pháp khác là ở chổ các tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề là những sự vật hay hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó. Đặc biệt còn chú trọng giúp học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu để tạo ra các mâu thuẫn nhận thức làm cơ sở đề xuất các câu hỏi giả thuyết, các phương án thí nghiệm nếu được tiến hành thì đó là các thí nghiệm do chính các em đề xuất với các thí nghiệm đơn giản, dễ tìm, dễ thực hiện, chính điểm khác biệt của phương pháp BTNB cũng là sự cần thiết mà đề tài đưa ra nghiên cứu. 3. Nội dung vấn đề: Các giải pháp trong quá trình sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột như sau: + Ví dụ: Trong hoạt động 3 của bài "Một số Oxit quan trọng", Học sinh tự mình đưa ra các tình huống, thông qua đó các em tự tay tiến hành thí nghiệm đơn giản của bột vôi với nước, bột vôi với dung dịch Axit từ đó giải thích hiện tượng trong cuộc sống, thông qua một số hiện tượng trong cuộc sống các em tự lĩnh hội tri thức mới. Tuần: 2 Tiết : 3 Bài 2 MỘT SỐ OXIT QUAN TRỌNG I. MỤC TIÊU: Kiến thức: Hs biết được: - Tính chất , ứng dụng, điều chế canxi oxit. Kỹ năng: - Dự đoán, kiểm tra và kết luận được về tính chất hóa học của canxi oxit. - Viết được các PTHH minh họa tính chất hóa học của canxi oxit. - Tính thành phần % về khối lượng của oxit trong hỗn hợp hai chất. 3. Thái độ: - Hs thấy được lợi ích của bộ môn và yêu thích môn học. II. NỘI DUNG HỌC TẬP: - Tính chất hóa học của canxi oxit, phản ứng điều chế canxi oxit. III. CHUẨN BỊ: 1. Giáo viên: - Hoá chất: CaO, H2O, HCl. - Dụng cụ: Ống nghiệm, muỗng thuỷ tinh, ống hút, kẹp gỗ. - Tranh sơ đồ lò nung vôi công nghiệp, thủ công. 2. Học sinh: Kiến thức về Oxit, phản ứng phân hủy. IV. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP: Ổn định tổ chức và kiểm diện Kiểm tra miệng Tiến trình bài học: HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY - TRÒ NỘI DUNG BÀI HỌC * Hoạt động 3: Tìm hiểu hoá tính của CaO (10p) GV cho học sinh các nhóm tự nêu vấn đề xuất phát dưới sự điều khiển của một học sinh trong lớp được chọn bất kỳ. Học sinh này có nhiệm vụ ghi lại các câu hỏi nêu vấn đề của các bạn bằng sơ đồ trên bảng, sau đó nhờ giáo viên tiếp tục điều khiển tiết học.. - Vì sao vôi sống để lâu ngày trong không khí bị chết (cứng) ? - Vì sao trước khi nuôi tôm,cá lại phải bón vôi? - Ổ những nơi đất bị nhiễm phèn em thường thấy người ta rải vôi? - Nước vôi để lâu ngày sẽ có lớp màng mỏng, cứng trên mặt nước ? - Vôi chết là chết luôn hay do biến đổi chất? Có thể thực hiện các thí nghiệm nào để chứng minh tính chất CaO? HS: Để giải thích được những đề xuất đưa ra ta sẽ thực hiện thí nghiệm gì ? GV: Vậy theo các em để có dung dịch nước vôi ta cần làm gì? Làm bằng cách nào? Sử dụng dụng cụ gì cho thí nghiệm? HS: Hòa tan bột vôi vào trong nước bằng cách dùng chén sứ ( cốc thủy tinh) đựng bột vôi, dùng muỗng sắt lấy bột vôi, dùng ống nhỏ giọt nhỏ nước vào cốc hoặc chén sứ đựng bột vôi. - Để biết được vì sao nước bị nhiễm phèn ta thường bón vôi ta thực hiện thí nghiệm cho dung dịch Axit vào bột vôi. ¶HS: Nêu cách thực hiện các thí nghiệm, Các nhóm thực hiện hai thí nghiệm: đại diện nhóm đề xuất dụng cụ, hóa chất HS: Các nhóm tiến hành thí nghiệm. TN1: Cho CaO tác dụng với H2O. TN2: Cho CaO tác dụng với HCl. - Khi cho nước vào bột vôi ta thấy có hiện tượng gì? HS: Bột vôi tan chảy trong nước (tan chảy ít). - Ta rút ra được gì về có tính chất hóa học của CanxiOxit? HS: Tác dụng với nước - Giải thích vì sao dung dịch nước vôi để lâu ngày trong không khí lại có lớp màng ? HS: Giải thích theo sự hiểu biết của mình GV tổng kết, bổ sung . A. CANXI OXIT (CaO) I. CANXIOXIT CÓ NHỮNG TÍNH CHẤT GÌ ? 1. Tính chất vật lí: - Canxi oxit là chất rắn, màu trắng, nóng chảy ở 2.5850C. 2. Tính chất hóa học: a. Tác dụng với nước (phản ứng tôi vôi) Phương trình hoá học: CaO + H2O → Ca(OH)2 Canxi hiđroxit Ca(OH)2 tan ít trong nước. Phần tan tạo thành dung dịch bazơ (gọi là nước vôi trong). b. Tác dụng với Axit Phương trình hoá học: CaO + 2HCl → CaCl2 + H2O Canxi clorua c. Tác dụng với oxit axit Phương trình hoá học: CaO + CO2 → CaCO3 Kết luận: Canxi oxit là oxit bazơ Ví Dụ : Bài 3 Tuần: 3 Tiết: 5. TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA AXIT MỤC TIÊU: 1. Kiến thức: - Tính chất hóa học của axit : Tác dụng với quì tím, với bazơ, oxit bazơ và kim loại. - Tính chất, ứng dụng, cách nhận biết axit HCl, H2SO4 loãng và H2SO4 đặc (tác dụng với kim loại, tính háo nước). Phương pháp sản xuất H2SO4 trong công nghiệp. 2. Kỹ năng: - Quan sát thí nghiệm và rút ra kết luận về tính chất hóa học của axit nói chung. - Tính nồng độ hoặc khối lượng dung dịch axit HCl, H2SO4 trong phản ứng. 3. Thái độ: - Giáo dục học sinh lòng yêu thích bộ môn và có ý thức cẩn thận khi làm thí nghiệm. II. NỘI DUNG HỌC TẬP: - Tính chất hóa học của axit. III. CHUẨN BỊ: 1. Giáo Viên: - Hoá chất: Dung dịch HCl, quỳ tím, dung dịch H2SO4, Zn, Cu(OH)2, NaOH, Fe2O3. - Dụng cụ: Đế sứ, ống hút, muỗng thuỷ tinh, kẹp sắt. 2. Học sinh : Kiến thức về axit, xem và soạn bài ở nhà IV. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 1. Ổn định tổ chức và kiểm diện 2. Kiểm tra miệng: Tiến trình bài học: HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY - TRÒ NỘI DUNG BÀI HỌC * Hoạt động 1: Vào bài (5P) Giáo viên đưa ra tình huống: Các em biết được những thông tin gì về Axit? HS các nhóm lần lượt đưa ra các thông tin về axit, các nhóm bổ sung. ? Khái niệm axit. ? Tên gọi axit ? Tính chất hóa học . ? Ứng dụng ? Phân loại Thông qua các ý kiến đề xuất, giáo viên giới thiệu nội dung bài * Hoạt động 2: Tìm hiểu tính chất hóa học của axit (25P) GV giao cho các nhóm một số hóa chất ở thí nghiệm 1,2,3,4,5 (không giao dụng cụ) HS các nhóm sẽ luân phiên nhau trả lời kết quả, đưa ra ý kiến nhận xét, tranh luận, mỗi học sinh trả lời, hoặc nhận xét một lần theo thứ tự số chẳn, nếu hết sẽ đến số lẽ hoặc các em tự mời nhau tranh luận, GV nhận xét, tổng kết yêu cầu các nhóm làm thí nghiệm. HS : Các nhóm tiến hành thí nghiệm và báo cáo hiện tượng thí nghiệm. Rút ra kết luận qua thí nghiệm. Mỗi cá nhân đều ghi lại tính chất, sau đó cùng nhau thống nhất trong nhóm về tính chất hóa học của axit. Đại diện mỗi cá nhân trong nhóm trình bày một tính chất hóa học của Axit, Viết phương trình hóa học cho mỗi tính chất, mỗi nhiệm vụ là một học sinh. Bài tập: Trình bày phương pháp hoá học để phân biệt các dung dịch: NaCl, NaOH, HCl. ?.. Gọi 1 Hs trình bày phương pháp nhận biết. ¶- Rút ra kết luận chung. GV lưu ý: Một số kim loại không phản ứng với dung dịch axit: Cu, Ag, Hg, Au và HNO3, H2SO4 đặc, nóng tác dụng với nhiều kim loại nhưng không giải phóng khí H2. ? Vì sao những đồ vật bằng kim loại khi để ngoài sương hoặc trời mưa lại bị gỉ sét ? HS: trả lới cá nhân, do axit tác dụng với kim loại. GV yêu cầu học sinh viết PTHH của Al, Fe tác dụng dung dịch HCl. HS: Lên bảng viết PTHH GV nhận xét, bổ sung, sửa sai(nếu có). GV cho học sinh giải thích vì sao lại có mưa axit ? tác hại của mưa axit? cách khắc phục? GV cho học sinh tranh luận tìm ra câu trả lời, ưu tiên cho những học sinh trung bình, yếu có thể trả lời, sau đó đến học sinh khá, giỏi. Các nhóm cùng tranh luận, đưa ra nhận xét của từng cá nhân. GV nhận xét, tổng kết. I. TÍNH CHẤT HÓA HỌC 1. Axit làm đổi màu chất chỉ thị Dung dịch axit làm đổi màu quỳ tím thành đỏ. 2. Axit tác dụng với kim loại PTHH: Zn + H2SO4 → ZnSO4 + H2 Kẽm sunfat Mg + 2HCl → MgCl2 + H2 Magiê clorua Kết luận: Dd Axit + nhiều kim loại→ Muối + H2. 3. Aitx tác dụng với bazơ: (Phản ứng trung hoà) PTHH: Cu(OH)2 + 2HCl → CuCl2 + 2H2O NaOH + HCl → NaCl + H2O Kết luận: Axit + Bazơ →Muối + nước. 4. Axit tác dụng với Oxit bazơ: PTHH : Fe2O3 + 6HCl → 2FeCl3 + 3H2O Kết luận: Axit + Oxit bazơ →Muối + nước. Ví Dụ: Trước khi dạy bài " Một số muối quan trọng" giáo viên giới thiệu hình ảnh cho học sinh quan sát qua đó các em tự suy nghĩ để đề xuất vấn đề đặt ra - ? Phục vụ nhu cầu du lịch. - ? Sử dụng dùng làm gia vị. - ? Một số loại thức ăn có sử dụng muối. - ? Dùng sản xuất xà phòng. - ? Muối có ở đâu. - ? Phương pháp khai thác muối. - ? Ứng dụng của muối. - ? Cách sử dụng muối Iot. - ? Một số thức ăn dùng kèm với muối. - ? Một số loại thức ăn có chứa muối độc. Bài 10 Tuần: 8 Tiết : 15 MỘT SỐ MUỐI QUAN TRỌNG I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức: HS biết được: - Một số tính chất và ứng dụng của natri clorua (NaCl) và kali nitrat (KNO3). 2. Kỹ năng: - Nhận biết được một số muối cụ thể. - Tính khối lượng hoặc thể tích dung dịch muối trong phản ứng. 3. Thái độ: Giáo dục học sinh lòng yêu thích bộ môn thông qua liên hệ thực tế II. NỘI DUNG HỌC TẬP: - Ứng dụng của NaCl. III. CHUẨN BỊ: Giáo viên: Muối NaCl hạt Học sinh: Kiến thức thực tế về muối NaCl, KNO3.. IV.TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP: 1. Ổn định tổ chức và kiểm diện: 2. Kiểm tra miệng: 3. Tiến trình bài học: HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY - TRÒ NỘI DUNG BÀI HỌC * Hoạt động 1: Vào bài. (5p) - ? Phục vụ nhu cầu du lịch. - ? Sử dụng dùng làm gia vị. - ? Một số loại thức ăn có sử dụng muối. - ? Dùng sản xuất xà phòng. - ? Muối có ở đâu. - ? Phương pháp khai thác muối. - ? Ứng dụng của muối. - ? Cách sử dụng muối Iot. - ? Một số thức ăn dùng kèm với muối - ? Thức ăn có chứa muối độc. GV giới thiệu bài mới . Học sinh dự đoán nội dung kiến thức của bài bằng sơ đồ tư duy * Hoạt động 2: Tìm hiểu về muối natri clorua (30p) GV cho học sinh quan sát các hình ảnh giáo viên đã chiếu lên màn hình. Mỗi học sinh đều ghi lại thông tin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Nhằm Áp Dụng Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4. Minh Họa Qua Bài: Nước Có Những Tính Chất Gì
  • Tập Huấn Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Cấp Tiểu Học
  • Chuyên Đề Áp Dụng “phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột” Cấp Thcs
  • Dạy Và Học Tích Cực Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Nhằm Áp Dụng Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4. Minh Họa Qua Bài: Nước Có Những Tính Chất Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới
  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Chuyên Đề Khoa Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • “Bàn tay nặn bột” là một chiến lược về giáo dục khoa học, được Giáo sư Georges Charpak (người Pháp) sáng tạo ra và phát triển từ năm 1995 dựa trên cơ sở khoa học của sự tìm tòi – nghiên cứu, cho phép đáp ứng những yêu cầu dạy học mới. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” (BTNB) đã được vận dụng, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Pháp mà còn ở nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

    Ở nước ta, đề án phương pháp “Bàn tay nặn bột” giai đoạn 2011 – 2021 được Bộ GD&ĐT triển khai thử nghiệm từ năm 2011 và chính thức triển khai trong các trường phổ thông từ năm học 2013 – 2014 và đưa vào áp dụng đại trà từ năm học 2014 – 2021. Đây là phương pháp dạy học hiện đại, có nhiều ưu điểm trong việc: “Tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp Bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh” . Từ đó, giúp HS phát triển tư duy khoa học. Xác định phương pháp "Bàn tay nặn bột" là phương pháp dạy hình thành kiến thức cho học sinh (HS) bằng các thí nghiệm, thông qua cách HS chia nhóm để tự làm, tự trao đổi, nghiên cứu, quan sát để tìm ra câu trả lời cho các vấn đề trong cuộc sống, người thầy chỉ đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn. Trong quá trình thực hiện phương pháp mới này, thầy và trò đều phải nỗ lực nhiều hơn. Dạy học theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên (GV) phải có tầm hiểu biết rộng, có sự chuẩn bị công phu cho mỗi giờ học từ dụng cụ thí nghiệm, trang thiết bị học tập đến các tình huống có thể xảy ra trong quá trình HS làm thí nghiệm. Bởi lúc bắt tay vào làm thí nghiệm, khi thấy có bất cứ hiện tượng gì xảy ra, các em đều đặt ngay câu hỏi "Vì sao?". Điều này đòi hỏi GV phải vững kiến thức để cùng các em giải đáp các thắc mắc, lý giải các hiện tượng một cách khoa học. Tuy nhiên, khi tiến hành các tiết dạy theo phương pháp "Bàn tay nặn bột", bản thân tôi cũng như nhiều GV còn gặp rất nhiều khó khăn. Làm thế nào để giải đáp các thắc mắc của HS? Lí giải các hiện tượng cho HS như thế nào để đảm bảo tính khoa học, đảm bảo tính tự nhiên?... Trước những trăn trở đó, tôi đã suy nghĩ, tìm tòi xây dựng "Một số kinh nghiệm nhằm áp dụng hiệu quả phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học môn Khoa học lớp 4". Minh họa qua bài: Nước có những tính chất gì? 1.2. Mục đích nghiên cứu Đề tài này nghiên cứu, đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ nhằm áp dụng hiệu quả phương pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy học môn Khoa học ở lớp 4, minh họa qua bài: Nước có những tính chất gì? 1.3. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy học môn Khoa học cho học sinh khối 4 sao cho có hiệu quả nhất. 1.4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết; điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin; thống kê, xử lí số liệu; quan sát; thực nghiệm; thực hành luyện tập; gợi mở, vấn đáp; giải thích. 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm Theo quan điểm của Georges Charpar: "Bàn tay nặn bột" vượt quá sự tách đôi truyền thống giữa phương pháp và chương trình. Trong đó, trẻ em hành động, thí nghiệm, nghiên cứu, tìm kiếm và có những câu hỏi đi kèm, hướng tới xây dựng những kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự nhiên và kỹ thuật" . Cụ thể như sau: Các bước Nhiệm vụ của HS Nhiệm vụ của GV Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề . - Bộc lộ quan niệm ban đầu nêu những suy nghĩ từ đó hình thành câu hỏi, giả thuyết... bằng nhiều cách: nói, viết, vẽ. Đây là bước quan trọng đặc trưng của PP BTNB. - GV khuyến khích HS nêu những suy nghĩ bằng nhiều cách: nói, viết, vẽ. - GV quan sát nhanh để tìm các hình vẽ khác biệt. Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm . HS hình dung có thể kiểm chứng các giả thuyết bằng thí nghiệm (Ưu tiên thí nghiệm trực tiếp trên vật thật) quan sát, điều tra nghiên cứu tài liệu. - HS sinh ghi chép lại vật liệu thí nghiệm, cách bố trí, và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay hình vẽ), - Nêu rõ yêu cầu, mục đích thí nghiệm sau đó mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm - GV bao quát và nhắc nhở các nhóm chưa thực hiện, hoặc thực hiện sai Tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian tạm đủ mà HS có thể suy nghĩ Khẳng định lại các ý kiến về phương pháp kiểm chứng giả thuyết mà HS đề xuất. - GV không chỉnh sửa cho HS - HS kiểm chứng các giả thuyết của mình bằng một hoặc các phương pháp đã hình dung ở trên (thí nghiệm, quan sát, điều tra, nghiên cứu tài liệu). Tập hợp các điều kiện thí nghiệm nhằm kiểm chứng các ý tưởng nghiên cứu được đề xuất. Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày Giúp HS phương pháp trình bày các kết quả. Bước 5: Kết luận và hợp thứchoá kiến thức . Gv cần nêu vấn đề: Nếu ăn thiếu chất dinh dưỡng cơ thể chúng ta sẽ bị mắc bệnh gì ? Nếu ăn thừa chất dinh dưỡng cơ thể con người sẽ như thế nào ? Bài 8: Sử dụng thức ăn sạch và an toàn, phòng bệnh lây qua đường tiêu hóa (Trang 45 - Hướng dẫn học KH 4 - Tập 1) . Gv cần nêu vấn đề: Làm thế nào để tạo ra gió? Gió khác gì so với bão? b. Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh Làm bộc lộ quan niệm ban đầu hay biểu tượng ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi hay giả thuyết của HS là bước quan trọng, đặc trưng của phương pháp BTNB. Khi yêu cầu HS trình bày quan niệm ban đầu, GV có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của HS như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ. Khi thực hiện bước này, GV cần lưu ý các vấn đề sau: - Biểu tượng ban đầu của HS thường là quan niệm hay khái quát chung chung về sự vật hiện tượng, có thể sai hoặc chưa thực sự chính xác về mặt khoa học. Vì là lần đầu tiên được hỏi đến nên HS ngại nói, sợ sai và sợ bị chê cười. Do đó, GV cần khuyến khích HS trình bày ý kiến của mình. Cần biết chấp nhận và tôn trọng những quan điểm sai của HS khi trình bày biểu tượng ban đầu. Biểu tượng ban đầu có thể trình bày bằng lời nói hay viết, vẽ ra giấy. Biểu tượng ban đầu là quan niệm cá nhân nên GV phải đề nghị HS làm việc cá nhân để trình bày biểu tượng ban đầu. - Nếu một vài HS nào đó nêu ý kiến đúng, GV không nên vội vàng khen ngợi hoặc có những biểu hiện chứng tỏ ý kiến đó là đúng vì nếu làm như vậy GV đã vô tình làm ức chế các HS khác tiếp tục muốn trình bày biểu tượng ban đầu. Biểu tượng ban đầu của HS càng đa dạng, phong phú, càng sai lệch với kiến thức đúng thì tiết học càng sôi nổi, thú vị, gây hứng thú cho HS và ý đồ dạy học của GV càng dễ thực hiện hơn. - Khi HS làm việc cá nhân để đưa ra biểu tượng ban đầu bằng cách viết hay vẽ ra giấy thì GV nên tranh thủ đi một vòng quan sát và chọn nhanh những biểu tượng ban đầu không chính xác, sai lệch lớn với kiến thức khoa học. Nên chọn nhiều biểu tượng ban đầu khác nhau để đối chiếu, so sánh ở bước tiếp theo của tiến trình phương pháp. Làm tương tự khi HS nêu biểu tượng ban đầu bằng lời nói. Giáo viên tranh thủ ghi chú những ý kiến khác nhau lên bảng. Những ý kiến tương đồng nhau thì chỉ nên ghi lên bảng một ý kiến đại diện vì nếu ghi hết sẽ rất mất thời gian và ghi nhiều sẽ gây khó khăn việc theo dõi các ý kiến khác nhau của GV cũng như của HS. - Chú ý chỉ ghi những quan niệm nào phục vụ cho mục tiêu, nội dung yêu cầu hoạt động đang đề cập, tránh ý kiến "lạc" mục đích yêu cầu hoạt động đang tìm hiểu. - Sau khi có các biểu tượng ban đầu khác nhau, phù hợp với ý đồ dạy học, GV giúp HS phân tích những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa các ý kiến, từ đó hướng dẫn cho HS đặt câu hỏi cho những sự khác nhau đó. Ví dụ: Khi dạy: Bài 4: Các chất dinh dưỡng có vai trò gì? (Trang 18 - Hướng dẫn học KH 4 - Tập 1) . HS vẽ hình hoặc đưa ra ý kiến: Bệnh béo phì. Bệnh gầy còm, còi xương - Mẹ tớ nói thế. Bệnh quáng gà, mờ mắt. Bệnh suy nhược cơ thể Bài 13: Sự chuyển thể của nước (Trang 68 - Hướng dẫn học KH4 - Tập 1) [1]. Gv gợi mở: Nước trong tự nhiên tồn tại ở những thể nào? HS phát biểu hoặc vẽ: Nước ở thể lỏng. Nước đá. Nước bốc hơi. Nước tan chảy. Nước ở thể rắn, ... Lưu ý: Hs có thể nêu nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều thì GV phải kiên nhẫn lắng nghe, ghi nhanh hay bằng câu hỏi dẫn dắt để giúp HS tiếp tục khám phá bài học. c. Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm * Đề xuất câu hỏi: * Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu: Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS suy nghĩ đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó. Sau khi HS đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, GV nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương pháp thí nghiệm phù hợp. Trường hợp HS không đưa ra được phương án thích hợp, GV có thể gợi ý hay đề xuất cụ thể phương án (nếu gợi ý mà HS vẫn chưa nghĩ ra). Bước đề xuất thí nghiệm nghiên cứu hay các giải pháp tìm câu trả lời của HS cũng là một bước khá phức tạp, đòi hỏi GV phải có kỹ năng sư phạm để điều khiển tiết học, tránh để HS đi quá xa yêu cầu nội dung của bài học. Tùy từng trường hợp cụ thể mà GV có phương pháp phù hợp, tuy nhiên cần chú ý mấy điểm sau: - Đối với ý kiến ha

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Huấn Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Cấp Tiểu Học
  • Chuyên Đề Áp Dụng “phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột” Cấp Thcs
  • Dạy Và Học Tích Cực Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Có Gì Hay?
  • Tập Huấn Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Cấp Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Nhằm Áp Dụng Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4. Minh Họa Qua Bài: Nước Có Những Tính Chất Gì
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới
  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • “bàn Tay Nặn Bột” Trong Đọc
  • Thực hiện Công văn số 554/PGD&ĐT ngày 20/7/2016 về việc tập huấn phương pháp “Bàn tay nặn bột”, ngày 02/8/2016 Phòng Giáo dục và Đào tạo Võ Nhai tổ chức khai mạc và triển khai tập huấn cho cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn các trường tiểu học về phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

    Đến dự khai mạc và chỉ đạo lớp tập huấn có đồng chí Hà Mạnh Cương – Phó Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo cùng các đồng chí cán bộ chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Võ Nhai.

    Tham dự tập huấn gồm có các đồng chí là cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn của các trường tiểu học, TH&THCS trên địa bàn huyện.

    Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểu học, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học. Tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực tế, từ đó khám phá ra bản chất vấn đề.Với phương pháp này, giáo viên sẽ dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết theo một phương pháp mới mẻ là để học sinh tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm. Phương pháp này giúp các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mình tìm được. Qua đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việc khi trưởng thành.

    Sau 2 ngày tập huấn các đồng chí cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn của các trường tiểu học, TH&THCS, PTDTBT TH trên địa bàn huyện đã lĩnh hội đầy đủ các nội dung của lớp tập huấn như: Phương pháp bàn tay nặn bột là gì, mục tiêu, nội dung, bản chất, các nguyên tắc cơ bản và các bước lên lớp của một tiết dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” để triển khai có hiệu quả tại các nhà trường từ năm học 2021 – 2021

    Đ/c Hà Mạnh Cương – Phó trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo

    phát biểu khai mạc và chỉ đạo lớp tập huấn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Áp Dụng “phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột” Cấp Thcs
  • Dạy Và Học Tích Cực Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Có Gì Hay?
  • Cách Nuôi Nick Facebook 2021 Bằng Phần Mềm Auto Fb Theo Phương Pháp Của Atp Software
  • Chuyên Đề Áp Dụng “phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột” Cấp Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Huấn Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Cấp Tiểu Học
  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Nhằm Áp Dụng Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4. Minh Họa Qua Bài: Nước Có Những Tính Chất Gì
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới
  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • Chuyên Đề Bàn Tay Nặn Bột Môn Toán Lớp 4
  • Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” (BTNB) là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên. Theo phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.

    Phòng GD&ĐT Quận xây dựng kế hoạch hướng dẫn các trường triển khai thực hiện phương pháp bàn tay nặn bột trong 3 môn Lý, Hóa, Sinh và lồng ghép, tích hợp trong một số môn học khác. Trong đó tập trung một số nội dung sau:

    Triển khai chuyên đề cấp quận (3 môn Lý- Hóa- Sinh ):

    Môn Sinh học 6: Ngày 08/10/2013 – do cô giáo Lưu Thị Thu Dung – Trường THCS Ngọc Thụy thực hiện. Với bài dạy lớp 6 ” Sợ biến dạng của thân” Tổng số GV- GV tham gia dự chuyên đề 52 CB-GV tham dự

    Môn Vật Lý 8 : Ngày 11/10/2013- do cô giáo Nguyễn Thị Mai trường THCS Ngọc Lâm thực hiện với bài dạy ” Áp Suất chất lỏng” Tổng số CB-GV tham dự 50 đ/c .

    Môn Hóa học 9 : Ngày 15/10/2013 – do cô giáo Lê Thị Loan thực hiện với bài dạy ” Tính chất hóa học của kim loại” . Với 56 Đ/c CB, GV các trường tham dự.

    Các trường được phân công thực hiện chuyên đề cấp Quận chuẩn bị chu đáo về CSVC cho tiết dạy chuyên đề. Tạo điều kiện để các nhóm Giáo viên cốt cán tập trung xây dựng tiết dạy. Các tiết chuyên đề đã thể hiện rõ 5 pha trong phương pháp Bàn tay nặn bột đồng thời các bước chuyển giữa các pha đã hợp lý và hiệu quả. Học sinh hào hứng tham gia trong các thí nghiệm thực hành. Các em đã chủ động, tìm tòi xây dựng nên kiến thức bài học.

    Phòng Giáo dục – Đào tạo đã chỉ đạo các trường để khai thác được hiệu quả của phương pháp này trong dạy học, các trường cần triển khai 100% chuyên đề cấp trường, chú trọng rèn kĩ năng thí nghiệm, thực hành trong học sinh, đồng thời giáo viên cần sử dụng hợp lý một số pha của phương pháp, sử dụng một phần kiến thức trong bài học. Với các môn học khác, tổ nhóm chuyên môn lựa chọn các đơn vị kiến thức phù hợp để tích hợp phương pháp này trong giảng dạy.

    admin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Và Học Tích Cực Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Có Gì Hay?
  • Cách Nuôi Nick Facebook 2021 Bằng Phần Mềm Auto Fb Theo Phương Pháp Của Atp Software
  • Acc Minecraft Miễn Phí 2021 ❤️ Cách Tạo Acc Minecraft Free
  • Dạy Và Học Tích Cực Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Áp Dụng “phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột” Cấp Thcs
  • Tập Huấn Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Cấp Tiểu Học
  • Skkn Một Số Kinh Nghiệm Nhằm Áp Dụng Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4. Minh Họa Qua Bài: Nước Có Những Tính Chất Gì
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Các Bài Của Chương Các Hợp Chất Vô Cơ Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp 9A Trường Thcs Biên Giới
  • Bàn Tay Nặn Bột Trong Tnxh 2
  • PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT 1. PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT LÀ GÌ?

    Thuật ngữ được dịch từ “La main à la pâte”

    Được đề xuất bởi nhóm giáo sư Viện hàn lâm Pháp (GS George Charpak, GS Pierre Léna…)

    PP dạy học “BTNB” là phương pháp giảng dạy khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên.

    “BTNB” là phương pháp hình thành kiến thức khoa học cho học sinh, dưới sự hướng dẫn của GV và bằng chính các hành động của HS, để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra.

    Mục tiêu của “BTNB” là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của HS.

    Ngoài việc chú trọng đến KTKH, BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết của trẻ.

    1/ Giáo dục tiểu học đang rơi vào nạn mù khoa học: GS Pierre Léna trường ĐH Paris VII, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp đánh giá “Ở cuối thế kỉ thứ XX, thế kỉ mang nặng dấu ấn khoa học, thì việc giảng dạy khoa học ở các trường tiểu học lại thụt lùi một cách kì lạ, đến mức hầu như mất hẳn. Hiện tượng này có ở các nước phát triển, mà người ta gọi là sự “mù khoa học”.

    Đặc điểm cơ bản của PP BTNB:

    + Chú trọng quan niệm ban đầu của HS trước khi tiếp cận kiến thức mới;

    + Sự tiếp thu kiến thức của HS thông qua việc GV giúp HS tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã tìm ra chân lý;

    + Sử dụng vở thí nghiệm như là một phương tiện để rèn luyện ngôn ngữ viết cho HS, tập làm quen với việc ghi chép một cách khoa học thông tin.

    2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

    1. HS quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó.

    3. Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho HS được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn.

    3. 5 BƯỚC KHI SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

    Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

    Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh

    Bước 3: Đề xuất câu hỏi (hoặc giả thuyết) và giải pháp (phương án) tìm tòi, nghiên cứu.

    Bước 4: Tiến hành thực hiện giải pháp tìm tòi – nghiên cứu

    Bước 5: Kết luận kiến thức

    3.1. Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.

    – Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học.

    – Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu đối với học sinh. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề. Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ. Tuy nhiên, có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề xuất câu hỏi nêu vấn đề.

    – Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học. Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.

    – GV phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng đối với câu hỏi nêu vấn đề.

    – Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện thành công.

    3.2. Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu.

    Quan trọng nhất. Là đặc trưng của phương pháp BTNB

    3.3. Đề xuất câu hỏi và giải pháp tìm tòi nghiên cứu.

    a. Cách đề xuất câu hỏi

    b. Đề xuất giải pháp tìm tòi – nghiên cứu

    Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên: “Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?”; “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra!”

    Tùy theo kiến thức, vấn đề đặt ra trong câu hỏi mà học sinh có thể đề xuất phương án tìm tòi – nghiên cứu. GV cần ghi bảng các ý kiến đề xuất của HS, GV giúp các em hoàn thiện diễn đạt

    4. Tiến hành thực hiện phương án tìm tòi – nghiên cứu

    Từ các đề xuất HS, GV nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để HS tiến hành. Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm có thể cho trẻ làm mô hình, hoặc cho HS quan sát tranh. Đối với phương pháp quan sát, GV cho HS quan sát vật thật trước, sau đó cho quan sát tranh vẽ

    Khi tiến hành thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu HS cho biết mục đích thí nghiệm chuẩn bị tiến hành để làm gì? Trả lời câu hỏi gì? Lúc này GV mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm.

    Tiến hành thí nghiệm. Mỗi thí nghiệm thực hiện xong nên dừng lại để HS rút ra kết luận

    GV lưu ý HS ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm, kết quả, kết luận sau thí nghiệm

    5. Kết luận.

    Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi-nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống, chưa chuẩn xác. GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống để HS ghi vở

    Ví dụ: GV giới thiệu cấu tạo bên trong hạt đậu với hình vẽ khoa học có sẵn hoặc hình tự vẽ. Để khắc sâu KT cho HS, GV quay lại các biểu tượng ban đầu trước khi học kiến thức của học sinh còn lưu trên bảng cùng các câu hỏi nghi vấn ở bước 3 đã đề xuất. Thông qua đó, GV khéo léo nhấn mạnh cho HS với hoạt động thí nghiệm mà HS đề xuất.

    I/ NHỮNG KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP KHI SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”:

    – Một số bài TN&XH – Khoa học nặng về lí thuyết.

    – Lượng kiến thức cần cung cấp trong 1 tiết học nhiều. (VD: Bài Ánh sáng/ KH 4).

    – Bàn ghế: chưa thuận lợi cho việc tổ chức học nhóm.

    – Phòng thí nghiệm: chưa có (ở tiểu học)

    – Thiết bị dạy học: chưa đầy đủ, chưa đảm bảo tính khoa học, chính xác.

    – Điều kiện cho HS tham quan, điều tra còn hạn chế.

    II/ Một số giải pháp khắc phục những khó khăn khi sử dụng phương pháp này như sau:

    – Dạy học theo phương pháp này cần có nhiều thời gian hơn cho một tiết học. Vì vậy, cần xây dựng một chương trình và sắp xếp vào buổi học thứ 2 trong ngày.

    – Cần phải rèn cho học sinh cách tự tư duy, chủ động không trông chờ, ỷ lại vào GV mọi lúc mọi nơi đặc biệt là đối với các lớp đầu cấp

    – Mọi PPDH dù có hay, có tiến bộ và tích cực như thế nào đi nữa thì vai trò, trách nhiệm của đội ngũ GV là cực kỳ quan trọng. Một PP hay nhưng GV không chịu tác động tích cực thì PP đó trở thành vô dụng; mong muốn PP “Bàn tay nặn bột” sớm được áp dụng rộng rãi, trở thành một phương pháp dạy học quen thuộc trong các tiết Khoa học trong nhà trường.

    * Kết luận qua tổ chức chuyên đề tại trường:

    – Sau khi HS thí nghiệm xong nên cho HS trình bày lại trước lớp (nhóm khác nhận xét phù hợp với nhóm mình chưa, đúng chưa?…)

    – Không nhất thiết phải sử dụng SGK vì HS sẽ biết trước kết quả; nếu cần thiết thì sử dụng phần kết luận ở cuối bài.

    – Đồ dùng thí nghiệm do HS chuẩn bị, những đồ dùng khó tìm thì GV chuẩn bị.

    – Chọn phương án để kiểm tra dự đoán kết quả.(thí nghiệm, quan sát, trải nghiệm, điều tra…)

    – So sánh kết quả sau khi thí nghiệm với kết quả dự đoán ban đầu nên dừng lại ít phút để HS so sánh. (nên ghi tên nhóm vào bảng phụ để dễ so sánh, kết quả)

    – GV có nên định hướng cách làm thí nghiệm cho HS không (GV theo dõi từng nhóm để gợi ý cách làm và nhóm nhỏ khi HS lúng túng).

    – Dành thời gian các môn Toán, TV để đầu tư cho tiết dạy có sử dụng PP BTNB.

    – Thí nghiệm nào khó không thuận lợi GV không cho HS thực hiện.

    – Thí nghiệm không an toàn thì dặn HS không được làm ở nhà.

    – Vật liệu nào làm thí nghiệm dẫn đến gây cháy thì GV hướng dẫn gợi ý HS chọn vật liệu khác.

    * Mỗi tổ có kế hoạch thao giảng 1 tiết/năm học, riêng GV dạy phân môn TNXH, KH tích cực sử dụng PP BTNB ở 1 số bài.

    Chuyên môn

    Trần Đình Huy @ 16:17 11/09/2014

    Số lượt xem: 120

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Có Gì Hay?
  • Cách Nuôi Nick Facebook 2021 Bằng Phần Mềm Auto Fb Theo Phương Pháp Của Atp Software
  • Acc Minecraft Miễn Phí 2021 ❤️ Cách Tạo Acc Minecraft Free
  • Điều Chỉnh Hành Vi Cho Trẻ Tự Kỷ Bằng Phương Pháp Aba
  • Tin tức online tv