Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 15/01/2021 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 10.197 lượt xem.

Có 37 tin bài trong chủ đề【Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột】

【#1】Tham Luan_Sử Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Giảng Dạy Bài 36, Địa Lí 10

Đề tài:

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT VÀO GIẢNG DẠY BÀI

36, ĐỊA LÍ 10, CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN “VAI TRÒ ĐẶC ĐIỂM, CÁC

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN PHÂN BỐ NGÀNH GIAO

THÔNG VẬN TẢI”

Kính thưa: các quý vị đại biểu

Kính thưa các thầy cô giáo

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thực hiện công văn số: 3535 /BGDĐT-GDTrH về việc: Hướng dẫn triển khai

thực hiện phương pháp “Bàn tay nặn bột” và các phương pháp dạy học tích cực

khác trong giảng dạy, hôm nay chúng tôi xin phép được trình bày tham luận về việc

sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột và các phương pháp dạy học tích cực khác

vào giảng dạy bài 36, Địa lí 10: Vai trò đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng tới phát

triển, phân bố ngành giao thông vân tải.

Chúng tôi hi vọng qua tham luận này chúng tôi được góp thêm 1 tiếng nói về

việc sử dụng phương pháp BTNB vào thực tiễn giảng dạy ở nhà trường THPT hiện

nay.

II. KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

1. Lịch sử của phương pháp “Bàn tay nặn bột” và hành động quốc tế của

phương pháp này.

– BTNB được sáng lập vào năm 1995 bởi Giáo sư Georges Charpak (đạt giải

Nobel Vật lý năm1992).

– Năm 1998, Viện hàn lâm khoa học Pháp soạn thảo và công bố 10 nguyên

tắc của BTNB, được coi là hiến chương của phương pháp dạy học tích cực này.

– Năm 2001, được sự bảo trợ của Viện hàn lâm khoa học Pháp, một mạng

lưới các chuyên gia nghiên cứu về BTNB được thành lập với mục đích trao đổi kinh

nghiệm, củng cố và phát triển BTNB.

– BTNB đã có mặt nhiều nơi trên thế giới từ các nước đang phát triển đến

các nước phát triển có nền giáo dục tiên tiến: Mỹ, Pháp, Đức, Canada, Mexico,

Brazil, Trung Quốc, Philipin, Iran, Việt Nam…

2. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” tại Việt Nam:

1998-1999: 2 giáo viên đầu tiên của Việt Nam (GS Trần Thanh Vân, chủ

tịch hội “Gặp gỡ Việt Nam” ở Pháp, cùng vợ là GS Lê Kim Ngọc) đã được Hội Gặp

gỡ Việt Nam tạo điều kiện sang Pháp học tập và nghiên cứu về BTNB.

1

III. SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT VÀO GIẢNG DẠY BÀI VAI

TRÒ ĐẶC ĐIỂM, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN PHÂN BỐ NGÀNH

GIAO THÔNG VẬN TẢI – BÀI 36, ĐỊA LÍ 10.

A. Mục tiêu bài học: Sau bài học HS có thể:

1. Về kiến thức:

– Hiểu rõ vai trò, đặc điểm của ngành giao thông vận tải

– Hiểu và phân tích được ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên và các nhân tố kinh tế xã

hội tới sự phát triển và phân bố GTVT.

2. Về kĩ năng:

– Biết phân tích mối quan hệ qua lại và mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng

địa lý kinh tế xã hội,

– Biết, tính toán, xử lí số liệu.

– Biết liên hệ kiến thức bài học với thực tế.

3. Về thái độ, hành vi

– Biết quan tâm tới thực trạng và việc giải quyết các vấn đề phát triển GTVT của đất

nước.

– Từng bước hình thành văn hóa giao thông.

4. Về phát triển năng lực

+ Năng lực giải quyết vấn đề

+ Năng lực tự học

+ Năng lực hợp tác

+ Năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng ngôn ngữ

+ Năng lực tính toán

+ Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.

+ Năng lực khai thác thông tin từ bản đồ, tranh ảnh, video clip.

B. Chuẩn bị phương tiện day học:

– Bản đồ tự nhiên Việt Nam

– Bản đồ kinh tế Việt Nam

– Tranh ảnh, video clip về các ngành, các hoạt động giao thông vận tải trên thế giới và

VN.

– Máy chiếu, màn chiếu.

C. Tiến trình dạy học:

1. Tổ chức: Kiểm tra sĩ số, nề nếp.

2. Kiểm tra bài cũ:

3. Bài mới:

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

Hoạt động 1: Tìm hiểu vai trò của ngành GTVT

6

Hình thức: cá nhân

* Mục tiêu:

I. Vai trò, đặc điểm

HS biết quan sát tranh ảnh và dựa vào vốn 1. Vai trò.

kiến thức thực tế để trả lời câu hỏi: GTVT

làm nhiệm vụ gì trong nền KTXH?

* Cách tiến hành:

– GV chiếu những hình ảnh, đoạn phim HS

đã chuẩn bị về các hoạt động của ngành

GTVT, từ đó đẫn dắt HS tìm ra vai trò của

GTVT trong sản xuất, đời sống và an ninh

quốc phòng:

Ô tô chở nguyên liệu đến nơi sản xuất

– Đảm bảo cho các quá trình sản xuất

diễn ra thường xuyên, liên tục.

Chở sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu

thụ

7

Tàu chở khách

– Phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân.

Taxi chở khách

Tàu hỏa từ Davos đến Tirano, nối 2 sườn

dãy Anpơ thuộc lãnh thổ Thụy Sĩ và Italia

8

Các tuyến đường ô tô nối liền các đô thị, các

TTCN lớn của miền Bắc nước ta

 Góp phần thực hiện các mối liên kết

kinh tế xã hội giữa các địa phương, các

vùng, các quốc gia, các châu lục trên thế

giới.

– Góp phần thay đổi phân bố dân cư và

phân bố sản xuất.

Các luồng vận tải biển

– Video clip về tác động của các tuyến GT

mới tới việc thu hút đầu tư và sự phát triển

phân bố các công nghiệp ở tại ĐBSH.

9

Đường Hồ Chí Minh trên biển trong kháng

chiến chống Mỹ

Đường Hồ Chí Minh trên đất liền trong

kháng chiến chống Mỹ

– Tăng cường sức mạnh quốc phòng.

Nga không kích IS

Tiểu kết:

 GTVT là mạch máu của nền kinh tế.

Chuyển ý: Như vậy, chúng ta đã nhận ra

10

vai trò quan trọng của GTVT trong nền

kinh tế XH, vậy ngành này có những đặc

điểm riêng gì khác hẳn các ngành khác,

chũng ta cùng tìm hiểu tiếp mục 2: Đặc

điểm của ngành GTVT

Hoạt động 2: Tìm hiểu đặc điểm của ngành GTVT (Cặp)

– GV Yêu cầu trao đổi theo cặp cùng bàn, 2. Đặc điểm:

tìm hiểu về đặc điểm của ngành GTVT

theo dàn ý rồi điền lên bảng:

– Sản phẩm:

– Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:

+

+

+

+

……

* Các HS cùng bàn trao đổi, thống nhất,

lên điền vào bảng.

– Sản phẩm: sự vận chuyển người và

* Cặp khác nhận xét, bổ sung.

hàng hoá.

*GV chuẩn kiến thức, lấy ví dụ

– Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:

+ Khối lượng vận chuyển: số hành

khách, số tấn hàng.

+ Khối lượng luân chuyển: người.km,

tấn.km

+ Cự ly vận chuyển trung bình: km.

+ Các chỉ tiêu khác: mức độ tiện nghi,

tốc độ, mức độ an toàn….

Bài tập:

Có 2 chiếc xe tải A và B,

a. Trong 1 ngày, xe A vận chuyển được 1

tấn hàng, xe B vận chuyển được 10 tấn

hàng. Xác định khối lượng vận chuyển

của xe A và xe B.

b. Xe A vận chở hàng đi 1800 km từ Hà

Nội đến TP HCM. Xe B chở hàng đi 5 km

từ Ngã Tư Sở đến Hà Đông. Xác định

khối lượng luân chuyển của xe A và xe B.

11

c. Xe B chở hàng đến nơi an toàn, xe B

chở hàng đến Bình Định, do tài xế phóng

nhanh vượt ẩu, xe bị lật và hỏng toàn bộ

số hàng trên xe.

(GV dừng lại ở từng tình huống và hỏi HS

xe nào thu về nhiều cước phí hơn).

– Các nhóm treo lên bảng

– Đại diện nhóm trình bày ý kiến của nhóm

mình

– Yêu cầu HS nhận xét ý kiến của các

nhóm

– GV yêu câu HS nêu thắc mắc muốn hỏi.

Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thực nghiệm

– GV yêu cầu HS ghi lại câu hỏi vào vở thực

hành.

– Theo các em, để trả lời cho các câu hỏi này

chúng ta cần làm gì?

– GV ghi bảng các ý kiến:

– GV nhận xét các ý kiến đưa ra và thống

nhất cả lớp sẽ cùng tham gia một cuộc hành

trình khám phá các nhân tố tới sự phát triển,

phân bố GTVT. Cuộc hành trình có nhiều

trạm dừng chân, ở tại mỗi trạm, các nhóm sẽ

trải nghiệm và tìm hiểu qua hệ thống tranh

ảnh, video clip, bản đồ.

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm:

– GV thống nhất sơ đồ các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển phân bố GTVT

– GV tiến hành cho các nhóm tham quan tìm hiểu tại các trạm thông tin, mỗi trạm

được thiết kế như triển lãm, thông tin, hình ảnh và bố trí máy tính chiếu video clip.

Sau khi trải nghiệm, các nhóm thống nhấtbáo cáo kết quả bằng cách điền vào sơ đồ.

Trạm 1: ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ ĐỊA LÍ:

1. Các nhân tố tự nhiên:

TRANH ẢNH VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG GTVT Ở

CÁC KHU VỰC CÓ VỊ TRÍ ĐỊA LÍ KHÁC NHAU

13

Vùng gần cực

Vùng hoang mạc

Vùng biển

– Vị trí địa lí: Quy định sự có mặt và

vai trò của một số loại hình vận tải.

14

Trên đất liền

Trạm 2: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỊA HÌNH

Bản đồ địa hình và mạng lưới đường ô tô

miền Bắc

CHÙM ẢNH VÀ THÔNG TIN VỀ QUÁ TRÌNH

XÂY DỰNG CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC

– Thông tin: In từ file đính kèm tài liệu

Con đường cheo leo bên vách đá

15

Bia kỉ niệm tại Mã Pí Lèng

Qua núi phải đào hầm

… hoặc xây dựng đèo

16

Qua sông phải xây cầu

– Địa hình: ảnh hưởng tới công tác

thiết kế và khai thác các công trình

GTVT.

Trạm 3: ẢNH HƯỞNG CỦA KHÍ HẬU

Tuyết rơi tại châu Âu làm giao thông tê

17

liệt

Tình hình giao thông trong mưa ngập ở

Hà Nội

Giao thông tại miền Trung trong bão

– Video clip về tác động của bão tuyết đến

GTVT tại Mỹ tháng 1/2016.

– Video clip về tác động của tuyết rơi đến

GTVT tại miền núi nước ta tháng 1/2016.

Trạm 4: ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

– Khí hậu, thời tiết: ảnh hưởng tới hoạt

động của các phương tiện vận tải

2. Các nhân tố kinh tế xã hội:

PHÂN BỐ CÁC NGÀNH KINH TẾ

18

Sơ đồ tác động của các ngành kinh tế tới sự

phát triển phân bố GTVT

Mối quan hệ giữa kinh tế và GTVT ở

ĐBSH và ĐBSCL

– Sự phát triển và phân bố các ngành

kinh tế: quyết định sự phát triển, phân

bố, hoạt động của ngành GTVT.:

+ Các ngành kinh tế là khách hàng của

ngành giao thông vận tải.

+ Công nghiệp cơ khí, xây dựng, . . .:

trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật cho

ngành GTVT

Mối quan hệ giữa phân bố dân cư và

GTVT ở Bắc Á và Đông Á

– Video clip về CN chế tạo ô tô.

– Video clip về kĩ thuật xây dựng công trình

19

giao thông: xây cầu, làm đường.

Trạm 5: ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BỐ DÂN

Xe buýt

Tàu điện trên cao

Tàu điện ngầm Nhật Bản

20


【#2】Tiến Trình Tổ Chức Dạy Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

Các pha của tiến trình dạy học

Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đýa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học. Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêuvấn đề. Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ. Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể).

Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay môdun kiến thức mà học sinh sẽ được học). Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằmchuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề. Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện thành công.

Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị các em đề xuất các giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu để để kiểm chứng các giả thuyết nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các phương ánthực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu ở đây là các phương án để tìm ra câu trả lời như quan sát, thực hành thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu…

Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra mà học sinh có thể đề xuất các phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu khác nhau. Trong quá trình đề xuất phương án thực nghiệm, nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chýa chuẩn xác hoặcdiễn đạt chýa rõ thì giáo viên nên gợi ý và từng bước giúp học sinh hoàn thiện diễn đạt. Giáo viên cũng có thể yêu cầu các học sinh khác chỉnh sửa cho rõ ý. Đây là một vấn đề quan trọng trong việc rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh. Trường hợp học sinh đýara ngay phương án đúng nhưng vẫn còn nhiều phương án khác khả thi thì giáo viên nên tiếp tục hỏi các học sinh khác để làm phong phú các phương án tìm câu trả lời. Giáo viên có thể nhận xét trực tiếp nhưng yêu cầu các học sinh khác cho ý kiến vềphương pháp mà học sinh đó nêu ra thì tốt hõn. Phương pháp BTNB khuyến khích học sinh tự đánh giá ý kiến của nhau hõn là của giáo viên nhận xét.

Sau khi học sinh đề xuất được phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, giáo viên nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án với các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn.

Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu mà học sinh nêu ra, giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạy học thích hợp để học sinh tiến hành nghiên cứu. Nếu phải làm thí nghiệm thì ýu tiên thực hiện thínghiệm trực tiếp trên vật thật. Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm trên mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ. Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học sinh quan sát vật thật trước, sau đó mới cho họcsinh quan sát tranh vẽ khoa học hay mô hình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật.

Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành. Sau đó giáo viên mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạt động. Nếu để sẵncác vật dụng thí nghiệm trên bàn học sinh sẽ nghịch các đồ vật mà không chú ý đến các đồ vật khác trong lớp; hoặc học sinh tự ý thực hiện thí nghiệm trước khi lệnh thực hiện của giáo viên được ban ra; hoặc học sinh sẽ dựa vào đó để đoán các thí nghiệm cầnphải làm (trường hợp này mặc dù học sinh có thể đề xuất thí nghiệm đúng nhưng ý đồ dạy học của giáo viên không đạt).

Các thí nghiệm được tiến hành lần lượt tương ứng với từng môđun kiến thức. Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, giáo viên nên dừng lại để học sinh rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng). Giáo viên lýu ý học sinh ghi chépvật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sõ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành. Phần ghi chép này giáo viên để học sinh ghi chép tự do, không nên gò bó và có khuôn mẫuquy định, nhất là đối với những lớp mới làm quen với phương pháp Bàn tay nặn bột. Đối với các thí nghiệm phức tạp và nếu có điều kiện, giáo viên nên thiết kế một mẫu sẵn để học sinh điền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm. Ví dụ như các thí nghiệm phải ghi số liệu theo thời gian, lặp lại thí nghiệm ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau…

Khi học sinh làm thí nghiệm, giáo viên bao quát lớp, quan sát từng nhóm. Nếu thấy nhóm hoặc học sinh nào làm sai theo yêu cầu thì giáo viên chỉ nhắc nhỏ trong nhóm đó hoặc với riêng học sinh đó, không nên thông báo lớn tiếng chung cho cả lớp vìlàm như vậy sẽ phân tán tý tưởng và ảnh hưởng đến công việc của các nhóm học sinh khác. Giáo viên chú ý yêu cầu học sinh thực hiện độc lập các thí nghiệm trong trường hợp các thí nghiệm được thực hiện theo từng cá nhân. Nếu thực hiện theo nhóm thìcũng yêu cầu tương tự như vậy. Thực hiện độc lập theo cá nhân hay nhóm để tránh việc học sinh nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợi cho giáo viên phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệmnghiên cứu, đặc biệt là các thí nghiệm được thực hiện với các dụng cụ, vật liệu thí nghiệm giống nhau nhưng nếu bố trí thí nghiệm không hợp lý sẽ không thu được kết quả thí nghiệm như ý.

Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chýa có hệ thống hoặc chýa chuẩn xác một cách khoa học.

Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học. Trước khi kết luận chung, giáo viên nên yêu cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực nghiệm (rút ra kiến thức của bài học). Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu (quan niệm ban đầu) trước khi học kiến thức. Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu,chính học sinh tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt. Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớlâu hõn, khắc sâu kiến thức.

Nếu có điều kiện, giáo viên có thể in sẵn tờ rời tóm tắt kiến thức của bài học để phát cho học sinh dán vào vở thực hành hoặc tập hợp thành một tập riêng để tránh mất thời gian ghi chép. Vấn đề này hữu ích cho học sinh các lớp nhỏ tuổi ở tiểu học. Đốivới các lớp trung học cơ sở thì giáo viên nên tập làm quen cho các em tự ghi chép, chỉ in tờ rời nếu kiến thức phức tạp và dài.


【#3】10 Nguyên Tắc Khi Dạy Học Theo Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

“Bàn tay nặn bột” được hiểu là phương pháp tạo cho học sinh tích cực, chủ động trong học tập. Học sinh phải tự làm các thực nghiệm để tiếp thu các kiến thức khoa học.

“Bàn tay nặn bột” được hiểu là phương pháp tạo cho học sinh tích cực, chủ động trong học tập. Học sinh phải tự làm các thực nghiệm để tiếp thu các kiến thức khoa học. Các em tiếp cận tri thức khoa học như một quá trình nghiên cứu của chính bản thân. Trong đó vai trò của giáo viên ở phương pháp này không phải là truyền thụ những kiến thức khoa học dưới dạng thuyết trình, trình bày mà là giúp xây dựng kiến thức bằng cách cùng hành động với học sinh.

I) Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đã đưa ra 10 nguyên tắc như sau :

1) Trẻ quan sát một sự vật, hiện tượng của thế giới thực tại, gần gủi với chúng, dễ cảm nhận và tiến hành thực nghiệm về chúng.

3) Các hoạt động giáo viên đề ra cho học sinh được tổ chức theo các giờ học nhằm đến một sự tiến bộ trong học tập. Các hoạt động này gắn với chương trình và dành phần lớn quyền tự chủ cho học sinh.

4) Cần một thời lượng tối thiểu là 2giờ/tuần dành cho một đề tài và nó có thể kéo dài trong nhiều tuần. Tính liên tục của các hoạt động và những phương pháp sư phạm được đảm bảo trong toàn bộ hoạt động của nhà trường.

5) Mỗi học sinh có một quyển vở thí nghiệm và họ trình bày trong đó bằng ngôn ngữ của riêng mình. Vở thực hành là một công cụ quan trọng của phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Đó là nơi hội tụ của suốt quá trình học khoa học và nắm bắt ngôn ngữ. Bởi vì ở trong đó, các em viết ra những suy nghĩ, thể hiện những hiểu biết, những việc làm và diễn đạt bằng chính ngôn ngữ của mình, có sự điều chỉnh, sửa chữa, giữ lại những vết tích của những thử nghiệm liên tiếp và như thế các em đánh giá được sự tiến bộ của mình (sự tiến bộ trong sử dụng ngôn ngữ, trong chất lượng của lý lẽ và trong nhận thức khoa học).

6) Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kỹ thuật được thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt nói và viết.

8) Các nhà khoa học (ở các trường đại học, viện nghiên cứu) tham gia công việc ở lớp học bằng khả năng của mình.

9) Các cơ sở đào tạo giáo viên giúp các giáo viên về kinh nghiệm sư phạm và didactic.

10) Giáo viên có thể tìm thấy trên Site Internet những bài học đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải đáp thắc mắc. Họ cũng có thể trao đổi với các đồng nghiệp, các nhà sư phạm và với các nhà khoa học. Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách

II) Để sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột thực sự có hiệu quả, đòi hỏi giáo viên và học sinh cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

Các em cần được quan sát một số sự vật, hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi, dễ cảm nhận và tiến hành thực nghiệm về chúng.

Các hoạt động giáo viên đề ra cho học sinh được tổ chức trong các giờ học nhằm đến một sự tiến bộ trong học tập. Các hoạt động này gắn với chương trình và dành phần lớn quyền tự chủ cho học sinh.

Mỗi học sinh có một quyển vở ghi chép thí nghiệm và các em trình bày trong đó bằng ngôn ngữ của riêng mình.

Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt nói và viết.

Học theo phương pháp Bàn tay năn bột, học sinh có thể tiến hành những nghiên cứu dẫn đến sự hiểu biết.

Nhưng các em cần được hướng dẫn và giúp đỡ bởi các câu hỏi của thầy giáo và hoạt động trong khuôn khổ một đề tài đã được xây dựng chứ không phải chỉ lựa chọn theo các “cơ hội”.

Trong quá trình nghiên cứu, học sinh phải sử dụng tất cả các giác quan để tìm ra tri thức mới. Các em cần có vở ghi chép cá nhân để ghi lại những ý tưởng của mình, những điều đã được sửa chữa lại, cho phép giữ lại vết tích của những thử nghiệm liên tiếp, đánh dấu được tiến trình nghiên cứu.

Vở ghi chép được học sinh giữ suốt trong thời gian học tiểu học và cuối cấp học sẽ hình thành một tập vở ghi nhớ đặc biệt.

Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử dụng những dụng cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà đa số dễ kiếm và dễ sử dụng, không nặng nề.

Các thao tác trên những dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức đơn giản và không cần có hiểu biết kĩ thuật gì đặc biệt. Các em có thể thử nghiệm nhu cầu của cây trồng bằng cách thay đổi các thông số: Đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí, bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực nghiệm.

Từ đó, phát hiện ra rằng: Chỉ cần thay đổi mỗi lần một thông số là có thể có những kết luận khác nhau. Và trong quá trình ấy, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc: Tại sao có những loại cây sống bám trên cây khác mà không cần đến yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất mà còn cả trên nhựa, tờ giấy?… Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại sao lại bón phân cho cây?….

III) Lưu ý sử dụng Bàn tay nặn bột trong môn Khoa học

Trong quá trình học sinh thực hành, giáo viên phải khéo léo theo dõi, quan sát học sinh xem các em đang nghĩ gì về vấn đề mà mình đặt ra để nắm được tình hình. Nếu có điều gì không khớp với dự định ban đầu thì cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp.

Các biểu tượng học sinh đưa ra có thể đúng, có thể sai nhưng giáo viên không đánh giá và cũng không đưa ra câu trả lời. Giáo viên chỉ gợi ý hay đặt thêm những câu hỏi dẫn dắt học sinh đi tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính các em chứ không làm thay.

Ví dụ: Theo em, nó sẽ như thế nào? Em nghĩ (làm) thử xem? Em tìm cách làm nào đó để xem có đúng không?…

Hoặc, khi học sinh lọc nước mà kết quả vẫn đục, giáo viên chỉ gợi ý: Các em thử xem thiết bị thí nghiệm có vấn đề gì không? Xem lại các bước tiến hành lọc nước của các em…

Trong trường hợp thí nghiệm cần đến các điều kiện, giáo viên phải giúp học sinh xác định được điều kiện của thí nghiệm, ví dụ: Về mặt thời gian, môi trường, nhiệt độ…

Bước đầu, học sinh có thể gặp khó khăn nhưng thực hiện nhiều lần các em sẽ quen dần trong việc đặt điều kiện cho thí nghiệm để đảm bảo độ chính xác cao.

Phương pháp Bàn tay nặn bột nếu chỉ dừng lại ở việc đánh giá bằng điểm số thì chưa đủ mà cần phải phối hợp đánh giá về năng lực quan sát, năng lực tư duy, khả năng suy luận và phán đoán, kỹ năng làm thí nghiệm, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt (kể cả trong khi nói và viết), sự hứng thú tìm tòi, sự tò mò ham hiểu biết, sự tham gia tích cực trong giờ học…

Tất cả những điều đó nhằm kích thích, lôi kéo các em khám phá thế giới không ngừng, tạo ra sự cân đối ở các em giữa kiến thức và kỹ năng, giữa lý thuyết và thực hành. Bên cạnh đó, không chia nhóm học sinh quá đông, mỗi nhóm chỉ từ 2, 4 đến 6 em và từ hai bàn ghép lại.

Không nên cho học sinh biết trước kiến thức của bài học một cách tiêu cực mà phải để cho các em tự khám phá ra chúng.

Không để các em sử dụng sách giáo khoa để trả lời câu hỏi mà giáo viên đưa ra vì như vậy sẽ làm cho học sinh có thói quen ỷ lại không chịu suy nghĩ, tìm tòi trong học tập.

Sách giáo khoa có thể chỉ được sử dụng làm tài liệu quy chiếu với các kết quả nghiên cứu của học sinh ở cuối tiết học.

Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài).

Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp Bàn tay nặn bột để áp dụng, không nhất thiết hoạt động nào cũng áp dụng phương pháp này.

IV) Đề xuất quy trình dạy học môn Khoa học ở tểu học với Bàn tay nặn bột

Quy trình dạy học môn Khoa học ở tểu học bằng phương pháp Bàn tay nặn bột với 4 bước.

Bước 1: Giao nhiệm vụ. Giáo viên chia lớp thành các nhóm, thường thì mỗi nhóm có 2, 4 hoặc 6 học sinh; sau đó, giao nhiệm vụ cho các nhóm; phát cho từng nhóm những phương tiện cần thiết để làm thí nghiệm; làm thực nghiệm khoa học theo yêu cầu; quan sát hiện tượng xảy ra rồi ghi chép lại; giải thích hiện tượng và rút ra kết luận khoa học .

Bước 3: Trình bày kết quả. Một nhóm học sinh trình bày kết quả thí nghiệm trước lớp. Các nhóm khác đặt câu hỏi mà nhóm mình quan tâm thắc mắc. Các nhóm khác có thể tiếp tục làm thí nghiệm nếu có cách giải quyết khác.

B­ước 4: Tổng kết, đánh giá: Giáo viên kết luận, khẳng định kết quả thí nghiệm đúng và kết luận khoa học tương ứng mà học sinh phát hiện.

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đòi hỏi nhiều trang thiết bị dạy học như: thiết bị thí nghiệm, tranh ảnh, mô hình, sa bàn, sách vở tài liệu, báo chí…. Nếu tổ chức không khéo, không chu đáo đẽ tốn nhiều thời gian, không thực hiện đúng kế hoạch dạy học thâm chí xảy ra tai nạn hoặc dẫn đến kết quả sai, ảnh hưởng đến niềm tin của học sinh về chân lý của vấn đề. Để đạt hiệu quả cao khi áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào các hoạt động học, giáo viên cần lưu ý những vấn đề sau:

– Nghiên cứu nội dung chương trình, lựa chọn các bài học và nội dung kiến thức có thể áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột.

– Tổ chức lớp học tốt ngay từ đầu. – Tình huống xuất phát giáo viên đưa ra phải ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu với học sinh.

– Ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật.

– Cần chuẩn bị trước các thí nghiệm dự kiến để có kết quả như mong muốn.

– Vận dụng tối đa những nguyên liệu sẵn có, dễ kiếm để thực hiện thí nghiệm.

– Sử dụng công nghệ thông tin cho bài dạy áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột đúng lúc, đúng chỗ, hợp lí.

– Giao cho học sinh chuẩn bị các vật liệu đối với thí nghiệm đơn giản.

– Sắp xếp bàn ghế phù hợp với số học sinh, chia nhóm 4 – 6 em/nhóm.

– Có chỗ dành riêng để vật liệu lớp học.


【#4】Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

Đối với học sinh tiểu học vốn sống của các em còn ít, vì vậy các sự vật hiện tượng càng gần gũi với học sinh càng kích thích sự tìm hiểu, khuyến khích sự tìm tòi của các em.

c) Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn.

Mức độ nhận thức được hình thành theo quy luật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Để học sinh hiểu sâu sắc kiến thức, yêu cầu của sự hình thành kiến thức cũng theo quy tắc này. Từ hiểu biết cơ bản, rồi nâng dần lên theo cấp độ tương ứng với khả năng nhận thức của học sinh sẽ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả và chắc chắn.

2. Những đối tượng tham gia. a) Các gia đình và/hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học.

Nguyên tắc này nhấn mạnh vai trò của gia đình và xã hội trong việc phối kết hợp với nhà trường để thực hiện tốt quá trình giáo dục học sinh.

b) Ở địa phương, các đối tác khoa học (Trường Đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu,…) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình.

Các trường học có thể mời các chuyên gia, các nhà khoa học, các giáo sư tới nói chuyện với học sinh trong lớp học hay giúp đỡ giáo viên trong việc thiết kế hoạt động dạy học (kiến thức, thí nghiệm). Điều này là thực sự cần thiết nhất là đối với các giáo viên tiểu học vì trong chương trình đào tạo không được học nhiều về các kiến thức khoa học. Cần chú ý một số vấn đề mấu chốt, giáo viên là người không thể thay thế trong hoạt động dạy học ở lớp, sự giúp đỡ tham gia vào lớp học (nếu có) của các nhà khoa học, chuyên gia chỉ dừng lại ở mức độ hỗ trợ giáo viên.

c) Ở địa phương, các viện đào tạo giáo viên (Trường cao đẳng sư phạm, đại học sư phạm) giúp các giáo viên kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy.

Cũng tương tự nguyên tắc 8, nguyên tắc này nhấn mạnh sự hợp tác giúp đỡ về mặt sư phạm, phương pháp, kinh nghiệm của các giảng viên, chuyên gia nghiên cứu về phương pháp BTNB giúp đỡ giáo viên thiết kế giảng dạy, tư vấn giải đáp những vướng mắc của giáo viên.

d) Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những môđun kiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải pháp thắc mắc. Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học. Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.

Từ sự cần thiết phải có nguồn thông tin, các tư liệu giúp đỡ cho giáo viên được đặt ra cấp thiết. Giáo viên cần được quan tâm giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình chuẩn bị các tiết học. Internet và các trang web là một kênh hỗ trợ quan trọng cho giáo viên, nơi mà giáo viên có thể trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm với nhau, đề xuất những vấn đề vướng mắc, các câu hỏi cho các chuyên gia, các nhà nghiên cứu để được giải đáp và giúp giáo viên thực hiện tốt kế hoạch dạy học của mình.


【#5】Một Số Kết Quả Sau Thời Gian Vận Dụng ” Phương Pháp Bàn Tay Năn Bột” Vào Dạy Học

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn tự nhiên. Thực hiện phương pháp “Bàn tay nặn bột”, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu.

Phương pháp ” Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểu học và trung học cơ sở, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học. Tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực tế, từ đó khám phá ra bản chất vấn đề.

Chương trình “Bàn tay nặn bột” là sự quy trình hóa một cách logic phương pháp dạy học, dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết theo một phương pháp mới mẻ là để học sinh tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm. Phương pháp này giúp các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mình tìm được. Qua đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việc khi trưởng thành.

- Mục đích quan trọng của thực nghiệm là giúp hs tiếp cận dần với tri thức khoa học , có kỹ năng thực hành và củng cố kỹ năng diễn đạt theo cả hai hình thức ngôn ngữ Nói - Viết

+ Chính xác hóa các ý tưởng của hs , tổ chức đối chiếu các biểu tượng ban đầu của hs .

- Vai trò của gv : + Giúp hs hình thành các vấn đề khoa học và tiếp theo là đưa ra các dự đoán / giả thuyết khoa học ( chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giữa các ý kiến )

VI. Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp BTNB tại Việt Nam

Để bài học thành công phải tạo cho các em nhiều cơ hội để trải nghiệm (như thực hành, thí nghiệm) thì các em mới hình thành được kĩ năng và trở thành thói quen (kĩ năng viết phiếu cá nhân và bảng phụ). Phải dùng những lời khen ngợi, động viên khích lệ thậm chí đề cao các em sẽ khiến các em tự tin hơn, hứng thú hơn trong tiết học. Đồng thời phải tạo cho học sinh cơ hội được nói, được bày tỏ ý kiến nhiều trong giờ lên lớp (cho học sinh hỏi đáp) cũng như các hoạt động ngoại khóa. Và muốn các em đạt được đến đích bài học ngày hôm nay thì các em phải nắm được đích của những bài học trước. Bởi vì kiến thức luôn được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm, nó luôn có sự liên hệ gắn bó mật thiết giữa kiến thức cũ và mới chứ không đứng độc lập một mình trong một bài học. Nhưng để làm được như vậy thì tôi nghĩ, giáo viên phải hiểu học sinh nhiều hơn để biết các em muốn gì, thích gì, và nghĩ gì? Lúc này người giáo viên phải thoát li cương vị là người thầy dạy kiến thức mà phải hóa thân vào làm người đi tìm tòi kiến thức hay nói cách khác phải hóa thân thành người học sinh.

Phan Sỹ Việt – TTCM- khối 4+5


【#6】Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Trong Giảng Dạy Môn Vật Lí 8

– Rèn luyện khả năng làm việc độc lập, khả năng hợp tác thông qua hoạt động nhóm.

– Phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo, hứng thú tham gia các hoạt động với tư cách giống nhà nghiên cứu khoa học.

2. Thời lượng dự kiến: 2 tiết (90 phút) 3. Chuẩn bị

– Bình hoặc chậu đựng nước trong suốt.

– Một số chai nhựa trong (chai nước) và một số nút chai hoặc miếng xốp

– Kéo, băng dính, bút, giấy …

4. Tiến trình dạy học

Giáo viên đưa ra một vật có hình dạng đều đặn không thấm nước (hình cầu hoặc hình trụ đứng ..) rồi đưa ra câu hỏi: Tình huống xuất phát: “Có thể xác định được thể tích của một vật có hình dạng bất kì mà không cần phải tính toán chi tiết không? Vì sao?”

Mỗi học sinh, mỗi nhóm tự đưa ra các ý kiến của mình để xác định thể tích của một vật

– Đo kích thước rồi dùng công thức tính thể tích.

– Thả chìm hoàn toàn vật vào bình nước có vạch chia độ.

– Thả vào bình tràn rồi đo thể tích của phần nước tràn ra.

Ở Vật lí lớp 6 đã học cách xác định thể tích của một vật không thấm nước bằng bình chia độ hoặc bình tràn nên có thể dễ dàng đưa ra các giải pháp. Nếu vật chìm trong nước thì thể tích của vật chính là thể tích của phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ.

– Thả vật có hình dạng đều đặn vào nước (dùng bình chia độ). Xác định thể tích của phần nước dâng lên (nước bị vật chiếm chỗ). So sánh với kết quả tính toán.

– Thả vật vào bình chứa đầy nước, xác định thể tích của phần nước tràn ra ngoài. So sánh với kết quả tính toán.

Học sinh xác định các vật liệu cần thiết

+ Vật nặng có hình dạng đều đặn (hình cầu hoặc hình trụ)

+ Bình nước có chia độ (mỗi nhóm 1 bình).

+ Bình tràn, ca đong thể tích

Mỗi nhóm nhận một bình và 1 lít nước có, vật nặng có dạng đều đặn, bình tràn, ca, thước đo. Học sinh tiến hành theo các giả thuyết đã đề xuất (đọc kết quả trước và sau khi nhúng vật). So sánh với kết quả đo được với tính toán.

Kết quả cho thấy vật nhúng chìm trong chất lỏng có thể tích đúng bằng thể tích của chất lỏng bị vật chiếm chỗ.

Trao đổi xung quanh kết quả thu được, có thể giao nhiệm vụ cho học sinh

Xác định lực đẩy Ác – si – mét tác dụng lên vật nhúng vào chất lỏng

Lực đẩy này chính bằng trọng lượng của phần chất lỏng bị chiếm chỗ

Xác định khối lượng riêng của một cục đá hoặc củ khoai tây.

Để xác định khối lượng riêng cần xác định khối lượng (dùng cân) và xác định thể tích (nhờ bình tràn hoặc bình chia độ)

Chỉ ra các ứng dụng khác của lực đẩy Ác – si – mét

VD: Van tự ngắt của téc nước hay bồn cầu, tàu ngầm, thuyền bè, dụng cụ xác định nồng độ của dung dịch,….

Mỗi học sinh, mỗi nhóm tự đưa ra các ý kiến của mình về tình huống trên

– Do hình thù khác nhau.

– Do lực đẩy khác nhau.

– Do không khí chứa trong đó nhiều hay ít .

Làm việc cá nhân sau đó làm việc nhóm

Các giả thuyết học sinh có thể đưa ra:

– Không khí chứa trong vật có ảnh hưởng đến sự nổi hay chìm của vật.

– Không gian mà vật chiếm chỗ trong nước có ảnh hưởng đến sự nổi của các vật, nếu vật chứa một lượng lớn không khí thì các vật sẽ chiếm nhiều không gian trong nước và do đó sẽ nổi.

– Vật có khối lượng nhỏ hơn sẽ nổi, nặng hơn sẽ chìm

Như vậy, với một vật đang chìm, nếu làm tăng được vùng không gian chiếm chỗ của nước hoặc nếu cho không khí chiếm nhiều chỗ hơn trong vật thì vật có thể sẽ nổi.

Tiến hành các thí nghiệm

Vật liệu cần sử dụng:

– Bình trong suốt.

– Đất nặn, cân, chai nhựa rỗng có nắp, băng dính.

Học sinh trình bày những điều mình quan sát được: chai chiếm không gian của nước và chai có thể bị đẩy lên cao nếu không khí chiếm nhiều chỗ trong chai hơn.

Dùng cân để xác định được 3 miếng đất nặn có khối lượng bằng nhau rồi nặn thành quả cầu đặc, quả cầu rỗng và cái thuyền rồi nhẹ nhàng thả vào nước xem hiện tượng gì sẽ xảy ra.

– Khi nhấn chai nhựa đầy nước, chai sẽ chìm, nếu chai chứa ít nước thì chai sẽ nổi, chứa càng ít thì nổi càng tốt, chai chiếm một khoảng không gian trong nước và nước sẽ tác dụng lực đẩy lên chai.

– Khi thả đất nặn vào nước: với quả cầu đặc thì sẽ chìm, quả cầu rỗng thì lơ lửng, cái thuyền thì sẽ nổi trên mặt nước.

Phân tích kết quả từ hai thí nghiệm và đưa ra kết luận:

– Khối lượng không ảnh hưởng đến sự nổi hay chìm của vật.

– Thể tích không khí chứa trong vật ảnh hưởng đến việc nổi hay chìm của vật. Nếu chứa nhiều không khí sẽ nổi, càng ít thì càng dễ chìm.


【#7】Sáng Kiến Kinh Nghiệm Áp Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Giảng Dạy Bộ Môn Vật Lí

ọc chuẩn bị cho tiết học sau thì các em rất tích cực tham gia. Khi được phân công dạy môn Vật lý tại lớp 8A1, ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát thực tế, kết quả như sau: Số học sinh thích học môn vật lý là: 10 em Số học sinh thấy bình thường là : 18 em Số học sinh sợ học vật lý là : 17 em 3. Các giải pháp : Ứng dụng phương pháp bàn tay nặn bột hiệu quả trong giảng dạy môn vật lý * Đặc trưng cơ bản của Phương pháp BTNB: - Bản chất: Việc phát hiện, tiếp thu kiến thức của học sinh thông qua việc GV giúp HS tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra chân lý (kiến thức): Từ tình huống xuất phát, nêu vấn đề, quan niệm về vấn đề đó như thế nào, đặt câu hỏi khoa học (giả thuyết khoa học), đề xuất phương pháp nghiên cứu, thực hiện phương pháp nghiên cứu để kiểm chứng giả thuyết, đưa ra kết luận. - Đặc trưng: + Dạy học phải tự nhiên như qúa trình tìm ra chân lý. + PPBTNB chú trọng đến quan niệm ban đầu của học sinh về kiến thức mới sẽ học. + Sử dụng PPBTNB không được nhận xét quan điểm của ai đúng, ai sai. Thông qua thí nghiệm, chính HS sẽ tự đánh giá đúng hay sai. + Trong CT hiện nay có bài áp dụng cả, có bài áp dụng một phần, * Ứng dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong giảng dạy bài . "LỰC ĐẨY ÁC - SI - MÉT " Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề Khi thả các vật vào nước ta thường thấy có vật thì chìm vào trong nước nhưng có vật thì nổi trên mặt nước.Hãy lấy một số ví dụ trong thực tế về các vật nổi/chìm trong nước Với điều kiện nào thì một vật chìm trong nước? Với điều kiện nào thì một vật nổi trên mặt nước? Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh -Cá nhân tự ghi những quan niệm của mình về điều kiện vật nổi/chìm trong nước. Có thể có một số nhóm quan niệm ban đầu như sau: - Vật nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi; - Vật ngấm nước thì chìm, vật không ngấm nước thì nổi; - Vật đặc thì chìm, vật rỗng thì nổi; Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm -Chỉ đại diện vài nhóm phát biểu suy nghĩ vì sao mình lại có ý kiến như vậy (Làm cho quan niệm ban đầu lộ rõ hơn) Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi ,nghiên cứu -Y/C tiến hành TN theo nhóm với các TN cần làm cụ thể như sau: .TN1: - Thả quả bóng bàn vào nước trong bình chia độ, quan sát và đánh dấu phần bị ngập vào nước. - Dùng xilanh bơm một ít nước vào một trong các quả bóng bàn rồi thả vào nước, quan sát và đánh dấu phần ngập trong nước. - Bơm dần nước vào trong quả bóng bàn và lặp lại thí nghiệm, quan sát, ghi lại kết quả và nhận xét. .TN2: - Treo quả nặng hình trụ có vạch chia vào lực kế (treo trên giá thí nghiệm) để đo trọng lực của nó ngoài không khí, ghi lại kết quả đo. - Giữ nguyên vật trên lực kế, thả cho vật ngập dần vào trong nước, đọc số chỉ của lực kế tương ứng, ghi lại kết quả và suy ra lực đẩy của nước tác dụng lên quả nặng Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức -Y/C các các nhân nêu kết luận sau khi tiến hành TN. -Chuẩn hóa kiến thức và cho học sinh ghi vở. * Lực đẩy Ác - si - mét: - Một vật nhúng trong chất lỏng bị chất lỏng tác dụng một lực đẩy hướng từ dưới lên gọi là lực đẩy Ác - si - mét. - Độ lớn của lực đẩy Ác - si - mét tỷ lệ thuận với thể tích của phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ. - Ngoài ra, có thể chứng minh được lực đẩy Ác - si - mét phụ thuộc vào bản chất của chất lỏng, cụ thể là trọng lượng riêng của chất lỏng. - Công thức tính lực đẩy Ác - si - mét là: FA = d.V (d.V chính là trọng lượng của chất lỏng bị vật chiếm chỗ. Sử dụng bộ thí nghiệm đã cho, em hãy đề xuất phương án thí nghiệm nhằm kiểm nghiệm lại công thức nói trên). 4. Minh hoạ bằng giáo án Chủ đề . LỰC ĐẨY ÁC - SI - MÉT VÀ SỰ NỔI (3 tiết) I. Mục tiêu của bài học: Sau bài học, học sinh: - Phát biểu và viết được biểu thức lực đẩy Ác - si - mét trong chất lỏng; - Xác định được độ lớn của lực đẩy Ác - si - mét khi một vật nổi trên mặt thoáng của chất lỏng. - Nêu được điều kiện một vật chìm, nổi, lơ lửng trong chất lỏng. II. Thiết bị dạy học: - Bộ thí nghiệm về lực đẩy Ác - si - mét; - Bóng bàn: 3 quả; - Bình thủy tinh 500ml; - Xilanh và kim tiêm. III. Tiến trình dạy học cụ thể: Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Pha 1: Tình huống xuất phát. GV gợi lại cho HS thấy rằng khi thả các vật vào nước ta thường thấy có vật thì chìm vào trong nước nhưng có vật thì nổi trên mặt nước. Yêu cầu HS lấy một số ví dụ trong thực tế về các vật nổi/chìm trong nước và nêu câu hỏi: Với điều kiện nào thì một vật chìm trong nước? Với điều kiện nào thì một vật nổi trên mặt nước? HS nêu được một số ví dụ trong thực tế như: - Hòn đá/sỏi/gạch... chìm trong nước; - Tàu, thuyền, xuồng... nổi trên mặt nước; - Cái lá, miếng bấc... nổi trên mặt nước; ... Pha 2: Hình thành câu hỏi của học sinh Trong khi HS viết ra các ý kiến của mình về điều kiện chìm/nổi của một vật, GV đi xuống và quan sát vở thực hành của một số HS để nắm bắt nhanh các khái niệm ban đầu của HS về sự chìm, nổi của các vật. Trong quá trình quan sát, cố gắng nắm bắt nhanh những quan niệm khác biệt của HS, chọn những HS có quan niệm "sai" nhiều nhất để yêu cầu lên trình bày trước, những HS có quan niệm "đúng" nhất cho trình bày sau. HS làm việc cá nhân, ghi những quan niệm của mình về điều kiện vật nổi/chìm trong nước. Có thể có một số nhóm quan niệm ban đầu như sau: - Vật nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi; - Vật ngấm nước thì chìm, vật không ngấm nước thì nổi; - Vật đặc thì chìm, vật rỗng thì nổi; - Vật có đáy hẹp thì chìm, vật có đáy rộng thì nổi; ... Pha 3: Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm - Có vật rất nặng nhưng nổi, ngược lại có vật rất nhẹ nhưng lại chìm; - Các vật nổi luôn có một phần bị ngập trong nước. Vật càng nặng thì phần bị chìm vào nước càng nhiều; - Các vật nổi có thể nằm cân bằng trên mặt nước. ... Từ những quan niệm ban đầu, HS đưa ra các câu hỏi như: - Với các vật bị chìm vào trong nước thì có lực "đỡ" như đối với các vật nổi không? GV yêu cầu HS đề xuất các phương án thí nghiệm nhằm tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi mà HS nêu ra bằng cách nêu các câu hỏi: - Theo các em, làm thế nào để có thể kiểm tra xem lực "đỡ" của nước có phụ thuộc gì vào phần bị ngập trong nước hay không? - Theo các em, ta có thể kiểm tra xem vật bị ngập trong nước có chịu tác dụng của lực "đỡ" như trường hợp vật nổi hay không, bằng cách nào? nếu có thì lực đó có thể đo được độ lớn của nó không và đo bằng cách nào? HS đề xuất các phương án thí nghiệm: - Tìm hiểu xem phần bị ngập của vật trong nước phụ thuộc thế nào vào trọng lượng của vật, dùng quả bóng bàn, bơm dần nước vào trong và thả lên mặt nước để quan sát phần bị ngập vào trong nước. - Để tìm hiểu xem có lực nào tác dụng lên vật ngập trong nước hay không và nếu có thì độ lớn bằng bao nhiêu, dùng lực kế treo vật vào để đo trọng lượng khi ở ngoài không khí, sau đó nhúng vật ngập vào nước và quan sát số chỉ của lực kế. Pha 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu: GV phát cho HS các dụng cụ thí nghiệm: - Một số vật như: hòn sỏi, miếng sắt, miếng bấc hoặc nút nhựa... - Bóng bàn: 3 quả; - Xi lanh có kim tiêm; - Bộ thí nghiệm lực đẩy Ác - si - mét gồm: bình chia độ, bình tràn, lực kế và giá thí nghiệm, vật hình trụ có vạch chia, cốc nhựa hình trụ cùng thể tích với vật có vạch chia. Yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm, vẽ hình bố trí thí nghiệm và ghi các kết quả thí nghiệm vào vở thực hành. Trong quá trình HS làm thí nghiệm, GV đi đến từng nhóm để giúp đỡ HS khi cần, quan sát nhanh vở thực hành của HS để nắm bắt các kết quả thí nghiệm. Đưa ra những gợi ý, hướng dẫn cần thiết để các nhóm đi đúng hướng, tuy nhiên, không làm giúp HS. HS tiến hành thí nghiệm theo nhóm nhỏ: TN1: - Thả quả bóng bàn vào nước trong bình chia độ, quan sát và đánh dấu phần bị ngập vào nước. - Dùng xilanh bơm một ít nước vào một trong các quả bóng bàn rồi thả vào nước, quan sát và đánh dấu phần ngập trong nước. - Bơm dần nước vào trong quả bóng bàn và lặp lại thí nghiệm, quan sát, ghi lại kết quả và nhận xét. TN2: - Treo quả nặng hình trụ có vạch chia vào lực kế (treo trên giá thí nghiệm) để đo trọng lực của nó ngoài không khí, ghi lại kết quả đo. - Giữ nguyên vật trên lực kế, thả cho vật ngập dần vào trong nước, đọc số chỉ của lực kế tương ứng, ghi lại kết quả và suy ra lực đẩy của nước tác dụng lên quả nặng. Pha 5: Kết luân và hợp thực hóa kiến thức Có thể yêu cầu mỗi nhóm ghi kết quả thí nghiệm của nhóm mình trên tờ giấy A0 để treo lên và so sánh. Nêu các câu hỏi để HS giải thích thêm về các kết quả thí nghiệm thu được. Đại diện các nhóm HS báo cáo kết quả thí nghiệm của nhóm mình, trả lời các câu hỏi của nhóm bạn. Ghi chép các kết luận về kiến thức sau khi thống nhất chung toàn lớp. PHIẾU TỔNG KẾT KIẾN THỨC 1. Lực đẩy Ác - si - mét: - Một vật nhúng trong chất lỏng bị chất lỏng tác dụng một lực đẩy hướng từ dưới lên gọi là lực đẩy Ác - si - mét. - Độ lớn của lực đẩy Ác - si - mét tỷ lệ thuận với thể tích của phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ. - Ngoài ra, có thể chứng minh được lực đẩy Ác - si - mét phụ thuộc vào bản chất của chất lỏng, cụ thể là trọng lượng riêng của chất lỏng. - Công thức tính lực đẩy Ác - si - mét là: FA = d.V (d.V chính là trọng lượng của chất lỏng bị vật chiếm chỗ. Sử dụng bộ thí nghiệm đã cho, em hãy đề xuất phương án thí nghiệm nhằm kiểm nghiệm lại công thức nói trên). 2. Điều kiện chìm/nổi của vật: - Khi bị ngập hoàn toàn trong chất lỏng, nếu lực đẩy Ác - si - mét nhỏ hơn trọng lực tác dụng lên vật thì vật sẽ chìm trong chất lỏng, nếu lực đẩy Ác - si - mét lớn hơn trọng lực thì vật sẽ nổi lên trên mặt chất lỏng. - Khi đã nổi trên mặt chất lỏng thì lực đẩy Ác - si - mét (độ lớn chỉ còn bằng trọng lượng của phần thể tích chất lỏng bị vật chiếm chỗ) cần bằng với trọng lực tác dụng lên vật. - Trường hợp đặc biệt, nếu khi vật bị ngập hoàn toàn trong chất lỏng mà lực đẩy Ác - si - mét đúng bằng trọng lực tác dụng lên vật thì vật sẽ lở lửng trong chất lỏng. Khi đó, trọng lượng riêng của chất làm vật đúng bằng trọng lượng riêng của chất lỏng. - Từ đó quy ra: Khi dv < dcl thì vật nổi; Khi dv = dcl thì vật lơ lửng; GV phát cho HS phiếu tổng kết kiến thức, giao cho HS tiếp tục đề xuất phương án thí nghiệm để nghiệm lại công thức tính lực đẩy Ác - si - mét và tìm cách làm cho quả bóng bàn lơ lửng trong nước. Nhận các phiếu tổng kết kiến thức và dán vào vở thí nghiệm. Đề xuất phương án thí nghiệm và chuẩn bị cho buổi thực hành tiếp theo. 5. Hiệu quả của sáng kiến: Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về việc học môn Vật lý có sự kết hợp việc thực hiện đề tài, giảng dạy áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở trường THCS Phương Trung, tôi thấy chất lượng học vật lý của các em có tiến bộ rõ rệt. Giờ đây không khí học tập của lớp đã sôi nổi, hào hứng. Môn Vật lý đã trở thành môn học bổ ích và lý thú đối với các em. Tôi đã tổ chức khảo sát và được biết: Số em thích học vật lý là: 38 em Số cảm thấy bình thường là : 7 em Không có em nào không thích học vât lý. Các em không còn có tâm lí sợ và ngại học vật lý Kết quả xếp loại môn Vật lý lớp 9A1 là: Sĩ số Thời gian Giỏi Khá T.Bình S.lượng % S.lượng % S.lượng % 45 Đầu năm, 15 em 33,3% 15 em 33,3% 5 11,1% 45 Cuối năm 44 em 97,7% 1 em 2,3% 0 0 III- KẾT LUẬN Dạy học liên môn là một nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung và trong dạy học Vật lý nói riêng. Tuy nhiên để thực hiện tốt và có hiệu quả đòi hỏi sự nỗ lực ở cả thấy và trò. Và việc thực hiện nó không phải bài nào, không phải phần nào cũng thực hiện được. Ưu điểm của việc ứng dụng phương pháp bàn tay nặn bột -Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của học sinh không phải là một đường thẳng đơn giản mà là một quá trình phức tạp. - Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (câu hỏi lớn của bài học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; -Nếu không phù hợp học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm hoặc thử làm lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu. -Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải động não, trao đổi với các học sinh khác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức. Con đường tìm ra kiến thức của học sinh cũng đi lại gần giống với quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học. Do vậy học sinh sẽ ghi nhớ sâu sắc, lâu dài những thí nghiệm do mình tự làm. Mặt khác, học sinh đã có những ý tưởng về một số hiện tượng từ rất sớm. Sẽ là không đủ nếu giáo viên dành phần lớn thời gian để giảng giải cho học sinh những thí nghiệm này sẽ cho ra những kết quả như thế nào (không làm thí nghiệm, chỉ mô tả thí nghiệm hoặc làm mẫu đơn giản thí nghiệm), hoặc nói với học sinh những gì các em nghĩ là sai; mà giáo viên phải có ý thức về sự cần thiết để học sinh tự làm thí nghiệm kiểm chứng những gì học sinh tưởng tượng (với điều kiện các thí nghiệm đó có thể thực hiện ở trong lớp) và để tự các học sinh biện luận với nhau. Khó khăn của việc ứng dụng CNTT: -Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập. -Ở một số bài lượng kiến thức cần truyền tải cho học sinh tương đối nhiều, thời gian 40- 45 phút dạy học theo phương pháp " Bàn tay nặn bột " là không đủ, đa phần kéo dài hơn so với quy định nên ảnh hưởng đến các tiết học khác. Ngoài ra, thiết bị phục vụ cho thí nghiệm ở các trường hiện nay chưa đầy đủ, việc sáng tạo thiết kế các đồ dùng dạy học theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" còn gặp nhiều khó khăn với cả giáo viên và học sinh. Một số điểm cần lưu ý Không chọn hoàn toàn các quan niệm đúng Lựa chọn các quan niệm vừa đúng vứa sai Chọn vị trí thích hợp đề gắn các bài vẽ của học sinh + Không nên sử dụng SGK khi học bằng PP BTNB. + Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài). + Lựa chọn hoạt động phù hợp với PP BTNB để áp dụng, không nhất thiết hoạt động nào cũng áp dụng PP. Tuy nhiên theo ý kiến chủ quan của tôi, để khắc phục tình trạng dạy- học Vật lý như hiện nay, không chỉ đổi mới phương pháp mà phải thay đổi cả cách suy nghĩ của mọi người, của xã hội về vị trí của môn Vật lý trong việc đào tạo con người. Hơn nữa, để cải thiện chất lượng dạy và học môn Vật lý hiện nay không phải chỉ có giáo viên cố gắng mà học sinh cũng phải ý thức hơn trong việc học tập. Thử hỏi giáo viên dạy hay, tiết học sinh động, hấp dẫn nhưng học sinh không học bài, không chuẩn bị bài, không đọc sách giáo khoa, vậy thì kết quả sẽ như thế nào? Vì vậy để nâng cao chất lượng dạy - học môn Vật lý cũng như chất lượng giáo dục cần có sự quan tâm của tất cả mọi người, của cả xã hội. IV- KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT: Để tiến tới việc dạy học tích hợp các môn học trong nhà trường, cần: - Trước hết cần đào tạo bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia về dạy bằng PP BTNB theo hướng chung của nhiều nước. - Thiết kế lại nội dung chương trình - sách giáo khoa các môn học theo PP BTNB. - Bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên để đáp ứng được yêu cầu học tập. - Thiết kế lại chương trình đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm từ mục tiêu đến nội dung, PP để chuẩn bị năng lực cho đội ngũ giáo viên khi thực hiện chương trình. - Đổi mới cách thức tổ chức quản lý trong Nhà trường, cách kiểm tra đánh giá theo hướng mới. - Tăng cường cơ sở vất chất, thiết bị dạy học theo hướng tích hợp PP BTNB - Tiếp tục khai thác nghiên cứu thử nghiệm nội dung PP BTNB theo các phương án khác nhau để có thể triển khai đại trà. Phương Trung ngày 17 tháng 3 năm 2021 Tác giả đề tài Nguyễn Thị Thanh Tâm XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Hà Nội ,ngày tháng năm 2021 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết ,không sao chép nội dung của người khác. (Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Thị Thanh Tâm Ý KIẾN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CỞ SỞ: -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Chủ tịch (Ký tên, đóng dấu) MỤC LỤC Trang Phần I. Đặt vấn đề 3 1.Lí do chọ đề tài 3 2. Mục đích nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm 4 3. Phương pháp nghiên cứu 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 5. Kế hoạch nghiên cứu 5 6.Tài liệu tham khảo 5 Phần II. Nội dung 6 1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 6 Giải thích các thuật ngữ khoa học 6 2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 6 2.1 Về phía học sinh 6 2.2 Về phía giáo viên 6 2.3. Về cơ sở vật chất 8 2.4. Những ưu điểm và bất cập khi thực hiện vấn đề nghiên cứu 8 3. Các giải pháp 9 4. Minh họa bằng giáo án 10-13 5. Hiệu quả của sáng kiến 14 Phần III.Kết luận 14 Phần IV. Kiến nghị, đề xuất 16 Ý kiến nhận xét đánh giá của hội đồng cơ sở 18 19


【#8】Skkn Sử Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Trong Dạy Học Khoa Học 4

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

“SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG DẠY

HỌC KHOA HỌC 4″

thể lớp, cô giáo và mọi người xung quanh chấp nhận. Khoa học chứa đựng nhiều điều thú

vị kèm theo sự say mê, chinh phục, thắc mắc và đặt câu hỏi rồi đi tìm câu trả lời thuyết

phục, làm cho hoạt động khám phá diễn ra không ngừng nơi đứa trẻ, dần dần hình thành

ở các em phương pháp học, phương pháp tiếp cận tri thức khoa học để đáp ứng được xu

thế thời đại – Thời đại bùng nổ thông tin, với một khối lương tri thức khổng lồ mà nhà

trường không đủ khả năng truyền tải hết. Có như vậy mới phù hợp với bậc tiểu học là

“Bậc học phương pháp”.

B- Mục đích nghiên cứu:

Đó là phương pháp ” Bàn tay nặn bột”. Phương pháp này là ý tưởng sáng tạo

của nhà vật lý người Mỹ Leon Ledeman vào những năm 40 của thế kỷ XX. Năm 1995

Giáo sư George Charpak cùng một số nhà khoa học Pháp đã nghiên cứu xây dựng

chương trình thí điểm dạy học khoa học. Tôi đã được học trong chương trình đào tạo

nâng chuẩn khóa học 2003 – 2006. Với tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, tìm tòi, khám phá

để có thêm kiến thức về phương pháp. Bản thân thấy rõ những ưu điểm vượt trội của

phương pháp và đã vận dụng vào quá trình giảng dạy môn Khoa học ở Tiểu học nhiều

năm qua bước đầu đã thu được kết quả đáng khích lệ. Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn đề

tài này nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Khoa học ở Tiểu học, đặc

biệt là với học sinh khối 4.

C- Đối tượng nghiên cứu:

– Tôi tiến hành nghiên cứu, đề xuất cách sử dụng một phương pháp dạy học mới,

phương pháp “Bàn tay nặn bột” có nhiều ưu điểm vào dạy môn khoa học ở Tiểu học.

D- Phạm vi nghiên cứu :

– Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng “Bàn tay nặn bột” vào dạy học môn Khoa

học cho học sinh khối 4.

E- Khách thể nghiên cứu :

– Giáo viên và học sinh khối 4 của trường Tiểu học Nguyên Hòa – Phù Cừ – Hưng

Yên.

G- Nhiệm vụ nghiên cứu:

– Tôi tiến hành tìm hiểu tình hình dạy học môn Khoa học lớp 4, thực hành xác định

phương pháp, hình thức tổ chức và các kiến thức cần thiết. Dự giờ, kiểm tra đánh giá kết

quả học tập của học sinh trong quá trình học tập ở phân môn. Từ đó đề xuất cách thực

hiện sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” phù hợp trong quá trình giảng dạy nhằm

nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học cho học sinh.

H- Phương pháp nghiên cứu:

– Phương pháp đọc tài liệu.

– Phương pháp điều tra.

– Phương pháp phân tích, tổng hợp.

– Phương pháp thực nghiệm.

– Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn.

– Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.

I – TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU:

– Đối với đề tài này, tôi thực hiện nghiên cứu các nội dung chính theo tiến trình sau:

1/ Khái niệm “Bàn tay nặn bột”.

2/ Một số đặc điểm của phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

3/ Một số nguyên tắc khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào quá trình dạy học

ở Tiểu học.

4/ Bản chất của việc dạy – học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

5/ Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học.

6/ Ứng dụng “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học.

6.1. Quy trình dạy học của Bàn tay nặn bột.

6.2. Đề xuất quy trình cụ thể trong dạy học Khoa học ở Tiểu học theo phương pháp Bàn

tay nặn bột.

6.3. Ví dụ minh hoạ.

6.4. Một số trích đoạn trong quá trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột của GV và

HS trong dạy học Khoa học 4.

7/ Những bài học trong chương trình Khoa học 4 có thể áp dụng phương pháp Bàn tay

nặn bột.

K- KẾT QUẢ ĐIỀU TRA:

Để xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát thực

trạng việc dạy và học của giáo viên và học sinh trường Tiểu học Nguyên Hòa.

– Tôi tiến hành làm một đợt khảo sát chất lượng lớp. Tôi lựa chọn lớp thực nghiệm là lớp

4A, lớp đối chứng là lớp 4B để đánh giá chất lượng ban đầu các khối lớp làm cơ sở để

khảo sát thực nghiệm của đề tài.

– Nội dung khảo sát nhằm đánh giá khả năng nắm kiến thức của các em, kỹ năng vận

dụng các kiến thức đã học để làm bài tập, hệ thống kiến thức, trả lời câu hỏi, Vận dụng

thực tế…

* Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm ở hai lớp 4A và 4B của trường Tiểu học

Nguyên Hòa như sau:

Lớp

Số

Điểm giỏi

Điểm khá

Điểm TB

Điểm yếu

HS

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

4A

32

5

15,6

7

21,9

15

53

3

9,5

4B

30

6

20

6

20

16

53,4

2

6,6

Qua kết quả khảo sát thì thấy rằng chất lượng của hai lớp trong cùng một khối là

tương đương, sự chênh lệch giữa trình độ hai lớp là không đáng kể. Môi trường sống

tương đương nhau vì các em là học sinh thuộc địa bàn trong cùng một xã.

PHẦN II- NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY – HỌC KHOA

HỌC CHO HS LỚP 4.

Để ứng dụng giảng dạy đạt hiệu quả, trước hết, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ,

hiểu và nắm vững những vấn đề sau:

1/ Khái niệm “Bàn tay nặn bột”.

Theo Gioerges Charpak thì:

“Bàn tay nặn bột” vượt quá sự tách đôi truyền thống giữa phương pháp và chương

trình. Trong đó, trẻ em hành động, thí nghiệm, nghiên cứu, tìm kiếm và có những câu hỏi

đi kèm, hướng tới xây dựng những kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự nhiên và kỹ

thuật.

1.1. Giải thích về thuật ngữ “Bàn tay nặn bột”.

“Bàn tay nặn bột” nói vậy để cho ngắn gọn nhưng thực ra, nó huy động cả năm giác

quan: xúc giác cũng như thị giác, thính giác và có cả khứu giác, vị giác nữa để phát triển

trong các em sự tiếp xúc diệu kỳ với thế giới bao quanh, để các em học cách khám phá và

tìm hiểu nó.

1.2. Ý nghĩa của thuật ngữ “Bàn tay nặn bột”:

– Bàn tay- tượng trưng cho việc học sinh tự hành động, trực tiếp hành động.

– Nặn bột – tượng trưng cho sản phẩm của chính các em trong hoạt động tự tìm tòi, sáng

tạo.

– Lòng bàn tay tượng trưng cho trái đất tròn. Năm ngón tay tượng trưng cho trẻ em ở năm

châu lục khác nhau.

Ý nói: Toàn trẻ em trên trái đất đều cùng nhau tham gia vào chương trình học tiên

tiến, thú vị này để xây dựng một trái đất đẹp trong tương lai.

2/ Khái niệm “Bàn tay nặn bột”của nhóm nghiên cứu:

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học mà trong đó, học

sinh tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một sô dụng cụ và những giác

quan để nghiên cứu, tìm tò, khám phá ra tri thức mới. Tất cả suy nghĩ và kết quả được

học sinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ.

được học sinh giữ suốt trong thời gian học Tiểu học và cuối cấp học sẽ hình thành một

tập vở ghi nhớ đặc biệt.

Như vậy bản chất của ” Bàn tay nặn bột” không phải là phương thức mới cho phép các

em hội nhập tốt hơn vào đời sống tự nhiên mà tạo cho các em một cách xử lý độc lập, có

phần nào giống như một nhà nghiên cứu. Khi xử lý độc lập, học sinh sử dụng giác quan

và một số dụng cụ hỗ trợ cho các thao tác trí tuệ.

Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử dụng những dụng

cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà các dụng cụ ở đây không quá tốn kém, đa số

là các vật dụng dễ kiếm và dễ sử dụng, không nặng nề. Nó được sử dụng hàng ngày với

vài vật liệu đơn giản là đủ. Các thao tác trên những dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức đơn

giản và không cần có hiểu biết kĩ thuật gì đặc biệt. Các em có thể thử nghiệm nhu cầu của

cây trồng bằng cách thay đổi các thông số : đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí,

bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực nghiệm. Các em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần

thay đổi mỗi lần một thông số là có thể có những kết luận khác nhau.Và trong quá trình

ấy, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc: Tại sao có những loại cây sống bám trên

cây khác mà không cần đến yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất

mà còn cả trên nhựa, tờ giấy?… Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại

sao lại bón phân cho cây ?….

5/ Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học.

– Trong quá trình HS thực hành, GV phải khéo léo theo dõi, quan sát học sinh xem các

em đang nghĩ gì về vấn đề mà mình đặt ra để nắm được tình hình. Nếu có điều gì không

khớp với dự định ban đầu thì cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp.

– Các biểu tượng HS đưa ra có thể đúng, có thể sai nhưng giáo viên không đánh giá và

cũng không đưa ra câu trả lời. GV chỉ gợi ý hay đặt thêm những câu hỏi dẫn dắt HS đi

tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính các em chứ không làm thay. Ví dụ; ” Theo em, nó sẽ

như thế nào”? ” Em nghĩ (làm) thử xem”? “Em tìm cách làm nào đó để xem có đúng

không”?….. Ví dụ khi các em lọc nước mà kết quả vẫn đục Gv chỉ gợi ý ” Các em thử

xem thiết bị thí nghiệm có vấn đề gì không”? ” Xem lại các bước tiến hành lọc nước của

các em”…..Trong trường hợp thí nghiệm cần đến các điều kiện, GV phải giúp các em xác

định được điều kiện của thí nghiệm (Ví dụ: Về mặt thời gian, môi trường, nhiệt độ…).

Điều này, bước đầu HS có thể gặp khó khăn nhưng thực hiện nhiều lần các em sẽ quen

dần trong việc đặt điều kiện cho thí nghiệm để đảm bảo độ chính xác cao.

* Tình huống xuất phát từ câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau :

– Câu hỏi thường mang tính chất mở hoặc nửa mở phù hợp với mục tiêu bài học và phù

hợp với trình độ nhận thức của học sinh sao cho các em có khả năng giải quyết.

– Có tác dụng khêu gợi trí tò mò và ham hiểu biết khoa học, kích thích các em suy nghĩ

và tiến hành giải quyết để đem lại những hiểu biết.

– Câu hỏi phải gọn, rõ ràng, dễ hiểu, hạn chế những từ ngữ mang khái niệm mà các em

chưa biết. Nếu có, GV nên tìm những từ ngữ thay thế sao cho vừa đảm bảo HS hiểu được

vừa vẫn giữ nguyên được ý nghĩa của nó.

– Khi nêu câu hỏi phải đảm bảo cho tất cả học sinh nghe và biết được mình cần phải làm

gì.

– Việc chuẩn bị các vật liệu, đồ dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng. Đối với phương

pháp Bàn tay nặn bột nếu không có đồ dùng dạy học thì không thể tiến hành được.

– Đối với phương pháp Bàn tay nặn bột nếu chỉ dừng lại ở việc đánh giá bằng điểm số thì

chưa đủ mà cần phải phối hợp đánh giá về năng lực quan sát, năng lực tư duy, khả năng

suy luận và phán đoán, kỹ năng làm thí nghiệm, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt (kể

cả trong khi nói và viết), sự hứng thú tìm tòi, sự tò mò ham hiểu biết, sự tham gia tích cực

trong giờ học…Tất cả những điều đó nhằm kích thích, lôi kéo các em khám phá thế giới

không ngừng, tạo ra sự cân đối ở các em giữa kiến thức và kỹ năng, giữa lý thuyết và

thực hành.

– Không chia nhóm HS quá đông, mỗi nhóm chỉ từ 2, 4 đến 6 em và từ hai bàn ghép lại.

– Không nên cho HS biết trước kiến thức của bài học một cách tiêu cực mà phải để cho

các em tự khám phá ra chúng. Không để các em sử dụng sách giáo khoa để trả lời câu hỏi

mà giáo viên đưa ra vì như vậy sẽ làm cho HS có thói quen ỷ lại không chịu suy nghĩ, tìm

tòi trong học tập. Sách giáo khoa có thể chỉ được sử dụng làm tài liệu quy chiếu với các

kết quả nghiên cứu của HS ở cuối tiết học.

– Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài).

– Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp Bàn tay nặn bột để áp dụng, không nhất

thiết hoạt động nào cũng áp dụng phương pháp này.

Đó là những lưu ý đối với Gv khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào giảng

dạy môn Khoa học ở Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này đạt hiệu

quả hơn.

6/ Ứng dụng “Bàn tay nặn bột” trong dạy học.

6.1.Quy trình chung khi sử dụng phương pháp” Bàn tay nặn bột” trong dạy – học

Khoa học ở Tiểu học.

Sơ đồ: Quy trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học

môn Khoa học ở Tiểu học.

GIÁO VIÊN

Xác định mục tiêu bài h

Chuẩn bị đồ dùng dạy h

Lập kế hoạch dạy học

Nêu ra tình huống có vấn

Tổ chức HS TLN để đưa

GT

Yêu cầu các nhóm nêu G

Lựa chọn những GT ph

hợp

Tổ chức các nhóm kiểm

GT GGT

Yêu cầu HS TLN để đ

ra PA kiểm tra GT

Yêu cầu các nhóm

xuất PA kiểm tra GT; l

chọn những PA có th

tiến hành

Yêu cầu các nhóm tiế

hành kiểm tra GT

Theo dõi, giúp đỡ học

sinh

Yêu cầu các nhóm báo

kết quả; giúp HS chính

hóa và chốt lại kiến

trọng tâm.

Đánh giá chung

” Tính chất của nước” ( Trang 42) Lớp 4.

 Kiến thức cần đạt: ( Học sinh đưa ra được các kết luận).

1- Nước là chất lỏng trong suốt, không màu, không mùi, không vị, không có hình dạng

nhất định .

 Phương tiện : Một viên phấn trắng, một viên bi, một cốc thuỷ tinh, nước trắng,

thìa, muối, cát một cái chai.

 Giao nhiệm vụ :

*Lệnh : Hãy dùng một cốc nước để dấu đi một viên bi ?

( Học sinh tìm nhiều cách nhưng sẽ không có cách nào dấu được viên bi )

* Kết luận : Nước trong suốt.

*Lệnh : Hãy dùng một cốc nước để làm đổi màu viên phấn?

( Viên phấn không đổi màu )

 Kết luận : Nước không màu.

*Lệnh : Hãy chuyển cốc nước sang chai mà vẫn giữ nguyên hình dạng ?

(Hs phát hiện : Hình dạng của nước là bình chứa nó)

i. Kết luận : Nước không có hình dạng nhất định.

2 – Nước chảy từ cao xuống thấp, lan ra khắp mọi phía, thấm qua một số vật, hoà tan một

số chất.

 Phương tiện : – 1 tấm kính ( vẽ một vòng tròn)

– 1 ít nước trong cốc.

– Bông, muối, đường, cát.

* Lệnh : Dùng ít nước trong cốc , hãy giữ nguyên lượng nước trong phạm vi vòng tròn

tấm kính ?

( Học sinh sẽ không thể tìm được cách nào thoả mãn được yêu cầu trên)

* Kết luận : Nước lan ra khắp mọi phía.

* Lệnh : Làm thế nào để giữ nguyên được vị trí của giọt nước khi ta nghiêng tấm kính ?

(Đó là điều vô lí không thể xảy ra).

* Kết luận : Nước chảy từ cao xuống thấp, lan ra khắp mọi nơi.

* Lệnh : Hãy làm giảm nước trong cốc bằng bông ?

( Nước thấm qua bông ) .

* Kết luận : Nước thấm qua 1 số vật.

* Lệnh : Đổ 1 thìa muối (đường) nhỏ vào cốc , lấy thìa khuấy đều .

– Hãy tìm những hạt muối (đường) có trong cốc ?( Không tìm thấy).

Hoặc : Điều gì sẽ xảy ra với những hạt đường khi ta bỏ chúng vào một côc nước? v.v..

 Kết luận : Muối (đường) tan trong nước.

– Cho 1 ít cát vào cốc nước .

* Lệnh : Hãy giấu những hạt cát vào cốc nước ?( Không dấu được. Cát không tan trong

nước).

* Kết luận : Nước hoà tan 1 số chất , không hoà tan một số chất.

* Ví dụ 2: Bài 35 : Không khí cần cho sự cháy( Trang 70). Yêu cầu học sinh không

được mở sách giáo khoa.

* Lệnh : Có một ngọn nến đang cháy và một cốc thuỷ tinh . Hãy làm tắt ngọn nến bằng

cốc thuỷ tinh mà không được chạm cốc vào ngọn lửa ?

( Học sinh thử các phương án, phát hiện ra cách làm đúng là: Úp cốc vào ngọn nến trong

thời gian nhất định ).

– Học sinh ghi lại quá trình thí nghiệm như cách làm và thời gian cần thiết .

– Học sinh giải thích: Thành phần của không khí gồm có ôxi và nitơ. Khí ôxi duy trì

sự cháy.

* Ví dụ 3: Bài 50 : Nóng , lạnh và nhiệt độ. (Trang 102).

* Lệnh : Hãy làm nóng chiếc thìa bằng ngọn nến mà không được chạm thìa vào ngọn

lửa? (Cách làm đúng là để thìa gần ngọn lửa).

* Lệnh : Hãy làm lạnh chiếc bơ bò (bằng sắt) bằng khay đá mà không chạm ống bơ bò

vào khay đá đó? ( Cách làm đúng là chụp bơ bò lên đá).

* Kết luận: Các vật ở gần vật nóng thì nóng lên, các vật ở gần vật lạnh hơn thì lạnh đi.

6.4. Một số trích đoạn trong quá trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột của

GV và HS trong dạy học Khoa học 4.

Tôi xin nêu ra một số tình tiết ấn tượng trong quá trình giảng dạy môn Khoa học áp

dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong chương trình Khoa học lớp 4 mà thầy và trò

chúng tôi đã trải nghiệm trong thời gian qua.

* Ví dụ 1: Bài 30: Làm thế nào để biết có không khí?

– Giáo viên đưa ra một túi ni lông màu đen trong đó đựng đầy không khí (miệng của túi

ni lông đã cột chặt) cho học sinh sờ nắn và bảo các em đoán xem trong túi này có gì?

* Học sinh sờ nắn và đưa ra các phương án:

– Không có gì.

– Có bông.

– Có không khí.

………………………..

* Giáo viên mở túi ni lông ra để cho học sinh xác định rằng trong đó có không khí. Sau

đó đặt vấn đề : Theo các em, không khí có ở những nơi nào?

– Học sinh:

– Có ở khắp nơi.

– Có trong cái chai rỗng.

– Trong cục đất khô…..

* GV : Để biết được không khí có ở trong chai rỗng, trong miếng đất khô và có ở khắp

nơi hay không, chúng ta cần phải làm gì?

– HS: Làm thí nghiệm.

– Đề xuất phương án thí nghiệm, tiên đoán kết quả, tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết

quả.

Trong khi học bài này, có em học sinh lúc đầu lựa chọn dùng viên gạch để bỏ

xuống chậu nước. Nhưng sau đó em đã gạch bỏ sự lựa chọn này thay vào đó là mẩu đất

khô. Sau giờ học, tôi hỏi vì sao lại có sự thay đổi dó, em nói “miếng đất khô có nhiều chỗ

rỗng hơn nên khi bỏ vào nước thì bong bóng khí bay lên nhiều hơn”… Có nhóm HS khác

đã nghĩ ra một phương án thí nghiệm rất thuyết phục là” Nhấn chìm vỏ chai xuống một

chậu nước, nước sẽ tràn vào trong chai đẩy không khí ra ngoài tạo ra những bong bóng.

Có nhóm lại đưa ra phương án ” Vặn nắp chai thật chặt, sau đó đục một lỗ trên vỏ chai.

Nếu chúng ta đưa lên và hướng lỗ thủng vào mặt và bóp thân chai thì sẽ cảm thấy được

không khí từ trong đó bay ra”……

Như vậy, qua kết quả trên ta thấy, điều đáng lưu ý và ấn tượng ở chỗ HS không

chỉ đơn thuần thực hiện thành thạo với các dụng cụ thí nghiệm mà còn thể hiện sự thông

minh, sáng tạo vận dụng linh hoạt trong việc đưa ra nhiều phương án để kiểm tra cùng

một giả thuyết.

* Ví dụ 2: Bài 27: Một số cách lọc nước.

* Giáo viên đưa chai nước và nói: Đây là chai nước đã bị nhiễm bẩn. Vậy theo em trong

chai nước này có những gì?( HS: Có cát bụi, đất, vi trùng, các chất độc hại…)

* GV: Chúng ta có thể làm sạch chai nước này được không? Bằng cách nào?…

– HS: Làm thí nghiệm.

– Đề xuất phương án thí nghiệm, tiên đoán kết quả, tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết

quả.


【#9】Tập Huấn Về Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

Giảng dạy Sinh học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TS. NGÔ VĂN HƯNG – BỘ GDĐT

GiẢNG DẠY KHOA HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG

Mme Maryvonne STALLAERTS, professeur agrégé de sciences naturelles, docteur en écologie, formatrice ” La Main à la Pâte “, ” rencontres du Vietnam “

Mme Elizabeth PLE, professeur de sciences physiques à l’Université de Reims /IUFM de Champagne Ardennes, formatrice ” la Main à la pâte “

Phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Mục tiêu

Học viên có khả năng:

Phân tích để rút ra được những đặc trưng của Phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Sinh học.

So sánh, tổng hợp để rút ra được những điểm giống nhau và những điểm khác biệt giữa Phương pháp “Bàn tay nặn bột” và một số phương pháp dạy học tích cực khác.

Rèn luyện kỹ năng tổ chức tiến trình dạy học theo phương pháp BTNB.

Tiến trình hoạt động

Hoạt động 1:

Khảo sát ban đầu

Hoạt động 2

Khởi động

Hoạt động 3 :

Tìm hiểu đặc trưng của Phương pháp

“Bàn tay nặn bột” trong dạy học Sinh học

Hoạt động 4:

Phân nhóm chuẩn bị bài cho ngày hôm sau

Khảo sát ban đầu

Mục tiêu :

Khảo sát những hiểu biết ban đầu của học viên về Phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

Thực hiện:

Bước 1: Báo cáo viên chuẩn bị sẵn “Phiếu khảo sát” và phát cho mỗi học viên một bản.

Bước 2: Học viên hoàn thành phiếu khảo sát.

Bước 3: Báo cáo viên thu phiếu khảo sát, phân tích dữ liệu và chia sẻ kết quả vào ngày hôm sau.

Khởi động

Hợp tác quốc tế trong chương trình Bàn tay nặn bột

8

Các quốc gia tham dự

Sénégal

Afghanistan

Hy Lạp

Chili

Trung Quốc

Các hình thức hành động khác nhau

Phổ biến các kinh nghiệm và đổi mới của khoa học giáo dục, đặc biệt trong chính tổ chức quốc tế (IPA, UNESCO …) và giám hộ của giáo dục quốc dân và nghiên cứu.

Đào tạo giảng viên nước ngoài

Cung cấp quyền đối với tài nguyên miễn phí cho dịch thuật.

Trao đổi các thực hành.

Sáng tạo của “Mirrors” Các thực hành

Phát triển các dự án hợp tác quốc tế và những thách thức giữa sinh viên từ các nước khác nhau.

9

Bàn tay nặn bột tại Việt Nam

Tháng 10 năm 1995 George Charpak tham gia Hội nghị quốc tế Vật lý năng lượng cao tại TP Hồ Chí Minh và hứa hẹn sẽ hỗ trợ việc thành lập các “Hand on” trong trường học Việt Nam

Tháng 6 năm 2000: Khởi động phương pháp “Bàn tay nặn bột” tại Việt Nam dưới sự lãnh đạo của GS. Jean Trần Thanh Vân và “Hội gặp gỡ Việt Nam”.

10

11

27 au 31 juillet 2009, Da Nang

École Hermann Gmeiner – Services d’éducation et de la formation

Các lớp tập huấn phối hợp tổ chức với

Hội Gặp gỡ Việt Nam

Các hội thảo phối hợp tổ chức với

Hội Gặp gỡ Việt Nam

Séminaires sur l’enseignement des sciences

à l’école primaire

” La Main à la Pâte “

Tìm hiểu về phương pháp BTNB

Mục tiêu hoạt động

Học viên phân tích và rút ra được những điểm đặc trưng của Phương pháp “Bàn tay nặn bột”, những điểm giống nhau và những điểm khác biệt giữa Phương pháp “Bàn tay nặn bột” và một số phương pháp dạy học tích cực khác.

Một số kĩ thuật dạy học trong triển khai phương pháp bàn tay nặn bột

17

18

Kỹ thuật “SƠ ĐỒ KWL” để tìm hiểu

“PP Bàn tay nặn bột”

Bàn tay nặn bột là gì?

Mười nguyên tắc của phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Tại sao giảng dạy các môn khoa học?

Lịch sử của phương pháp “Bàn tay nặn bột”

“Bàn tay nặn bột” tại Việt Nam

Bối cảnh ra đời của phương pháp

“Bàn tay nặn bột”

Trước năm 1995, tại Pháp, GDTH có một số hạn chế :

chỉ chú trọng vào đọc, viết và tính toán

rất ít nội dung về khoa học tự nhiên (ít hơn 3%)

không có thực nghiệm.

khoảng 40% học sinh tốt nghiệp tiểu học không đủ kĩ năng ngôn ngữ (nói, viết, lập luận) để học ở cấp trung học cơ sở.

Người Pháp nhận thấy cần tăng cường dạy học khoa học, công nghệ ở tiểu học và cần tìm kiếm phương pháp dạy học để học sinh có thể làm chủ được kĩ năng về ngôn ngữ.

Cùng thời điểm đó, phương pháp “Hands-on” gặt hái thành công ở Mĩ với khả năng suy luận, kĩ năng ngôn ngữ (diễn đạt) và hợp tác làm việc nhóm ở học sinh.

Năm 1995, giáo sư Georges Charpak đã cùng đồng nghiệp tại viện hàn lâm khoa học Pháp sáng tạo ra phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

“Bàn tay nặn bột”, tiếng pháp là “La main à la pâte ” (LAMAP), là một phương pháp dạy học tích cực, do giáo sư Georges Charpak (đoạt giải Nobel về vật lý năm 1992), viện hàn lâm khoa học Pháp, sáng tạo và phát triển từ năm 1995.

Bàn tay nặn bột là gì?

Bàn tay nặn bột là gì?

.

Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của BTNB:

Là một tiến trình sư phạm dựa trên hoạt động tìm tòi khám phá của học sinh

Là một sự kết hợp của cộng đồng các nhà khoa học

Hình thành một mạng lưới và tương tác giữa các giáo viên

Các tài liệu được cung cấp miễn phí trên Internet và mạng lưới những chuyên gia làm việc với phương pháp BTNB

Sự cộng tác của các trường đào tạo sư phạm và Bộ Giáo dục.

Hoàn toàn miễn phí

– Giảng dạy khoa học dựa trên tìm tòi khám phá

Đặc trưng của Bàn tay nặn bột

Nhiệm vụ: Chọn lựa tình huống xuất phát

Phân biệt: tình huống và tình huống xuất phát

Không phải bất kì tình huống nào cũng là tình huống xuất phát vì phải phù hợp với các mối quan tâm riêng của học sinh.

Kinh nghiệm thực hiện: tr. 48

Ví dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ”, GV có thể đặt vấn đề tạo tình huống xuất phát: Bắp thịt được gắn với xương như thế nào?

37

Bước 2 – Hình thành biểu tượng ban đầu của học sinh

Nhiệm vụ: Làm bộc lộ các quan niệm ban đầu của học sinh về nội dung khoa học của bài học; Phát biểu các câu hỏi của học sinh;

Trình bày các biểu tượng ban đầu của học sinh.

Kinh nghiệm thực hiện: tr . 49

Ví dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ”, yêu cầu HS cử động tay (gập, duỗi tay); sờ các bắp cơ rồi sau đó vẽ hình để trả lời câu hỏi: Bắp thịt được gắn với xương như thế nào?

38

Bước 3 – Đề xuất giả thuyết và phương án kiểm chứng giả thuyết

39

Nhiệm vụ: Phát biểu bằng lời các giả thuyết ở các nhóm; xây dựng các qui trình để chứng minh hay loại bỏ các giả thuyết; Viết các đoạn mô tả các giả thuyết và các tiến trình (bằng lời và hình vẽ, sơ đồ); Phát biểu bằng lời hay viết mô tả các dự đoán của học sinh: “điều gì sẽ xảy ra?” “vì sao?”;

Kinh nghiệm thực hiện:

Ví dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ”, Vì sao tay có thể cử động (gập, duỗi tay) được? Làm mô hình?

Bước 4 – Tìm tòi – nghiên cứu (nhằm kiểm chứng các giả thuyết)

40

Nhiệm vụ: tiến hành quan sát hay thí nghiệm;

(học sinh chỉ rõ các điều kiện thí nghiệm). Mô tả thí nghiệm, hay quan sát (bằng các sơ đồ, các đoạn văn mô tả).

Kinh nghiệm thực hiện

Ví dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ”, GV yêu cầu HS làm thí nghiệm trên ếch để quan sát “Bắp thịt được gắn với xương như thế nào?”

Bước 5 – Kết luận, hệ thống hóa kiến thức

41

Nhiệm vụ: So sánh và liên hệ các kết quả thu được trong các nhóm khác nhau, trong các lớp khác…Trình bày các kiến thức mới lĩnh hội được cuối bài học bằng lời văn viết của học sinh với sự giúp đỡ của giáo viên. Đặt ra các câu hỏi mới.

Kinh nghiệm thực hiện

Ví dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ” (Tr 55)

Ví dụ về dạy học sử dụng phương pháp

“Bàn tay nặn bột”

Tìm hiểu thành phần của một bông hoa

hoạt động 1: bóc tách một bông hoa

hoạt động 2: phân loại các thành phần của bông hoa

hoạt động 3: gọi tên các thành phần của bông hoa

hoạt động 4: vẽ hay cắt dán một bông hoa

42

Bóc tách một bông hoa

học sinh sử dụng các dụng cụ đơn giản như dao, kéo, kẹp nhíp để tách các thành phần của bông hoa

43

Phân loại các thành phần của bông hoa

Gọi tên các thành phần của bông hoa


【#10】Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Là Gì?

Bàn tay nặn bột là một chiến lược về giáo dục khoa học, được Giáo sư Georger Charpak (người Pháp) sáng tạo ra và phát triển từ năm 1995 dựa trên cơ sở khoa học của sự tìm tòi – nghiên cứu, cho phép đáp ứng những yêu cầu dạy học mới. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đã được vận dụng, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Pháp mà còn ở nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới

Vậy phương pháp Bàn tay nặn bột là gì? Phương pháp Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm tìm tòi- nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên.

Bàn tay nặn bột chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…

Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác,Bàn tay nặn bột luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên.

Mục tiêu của phương pháp Bàn tay nặn bột?

Mục tiêu của phương pháp Bàn tay nặn bột là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.

Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu

Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu là một phương pháp dạy và học khoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức học tập của học sinh, bản chất của nghiên cứu khoa học và sự xác định các kiến thức cũng như kĩ năng mà học sinh cần nắm vững.

a) Bản chất của nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB

Tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB là một vấn đề cốt lõi, quan trọng. Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của học sinh không phải là một đường thẳng đơn giản mà là một quá trình phức tạp. Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (câu hỏi lớn của bài học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; nếu không phù hợp học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu. Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải động não, trao đổi với các học sinh khác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức.

b) Lựa chọn kiến thức khoa học trong phương pháp BTNB

Việc xác định kiến thức khoa học phù hợp với học sinh theo độ tuổi là một vấn đề quan trọng đối với giáo viên. Giáo viên phải tự đặt ra các câu hỏi như: Có cần thiết giới thiệu kiến thức này không? Giới thiệu vào thời điểm nào? Cần yêu cầu học sinh hiểu ở mức độ nào? Giáo viên có thể tìm câu hỏi này thông qua việc nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và tài liệu hỗ trợ giáo viên để xác định rõ hàm lượng kiến thức tương đối với trình độ, độ tuổi của học sinh và điều kiện địa phương.

c) Cách thức học tập của học sinh

Phương pháp BTNB dựa trên thực nghiệm và nghiên cứu cho phép giáo viên hiểu rõ hơn cách thức mà học sinh tiếp thu các kiến thức khoa học. Phương pháp BTNB cho thấy cách thức học tập của học sinh là tò mò tự nhiên, giúp các em có thể tiếp cận thế giới xung quanh mình qua việc tham gia các hoạt động nghiên cứu

d) Quan niệm ban đầu của học sinh

Quan niệm ban đầu là những biểu tượng ban đầu, ý kiến ban đầu của học sinh về sự vật, hiện tượng trước khi được tìm hiểu về bản chất sự vật, hiện tượng. Đây là những quan niệm được hình thành trong vốn sống của học sinh, là các ý tưởng giải thích sự vật, hiện tượng theo suy nghĩ của học sinh, còn gọi là các “khái niệm ngây thơ”. Biểu tượng ban đầu không phải là kiến thức cũ, đã được học mà là quan niệm của học sinh về sự vật, hiện tượng mới (kiến thức mới) trước khi học kiến thức đó.

Tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu là một đặc trưng quan trọng của phương pháp dạy học BTNB. Biểu tượng ban đầu của học sinh là rất đa dạng và phong phú. Biểu tượng ban đầu là một chướng ngại trong quá trình nhận thức của học sinh. Chướng ngại chỉ bị phá bỏ khi học sinh tự mình làm thí nghiệm, tự rút ra kết luận, đối chiếu với quan niệm ban đầu để tự đánh giá quan niệm của mình đúng hay sai.

Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi – nghiên cứu

Dạy học theo phương pháp BTNB hoàn toàn khác nhau giữa các lớp khác nhau phụ thuộc vào trình độ của học sinh. Giảng dạy theo phương pháp BTNB bắt buộc giáo viên phải năng động, không theo một khuôn mẫu nhất định (một giáo án nhất định). Giáo viên được quyền biên soạn tiến trình giảng dạy của mình phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng lớp học. Tuy vậy, để giảng dạy theo phương pháp BTNB cũng cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

a)HScần phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm của bài học. Để đạt được yêu cầu này, bắt buộc học sinh phải tham gia vào bước hình thành các câu hỏi.

b) Tự làm thí nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức khoa học

c) Tìm tòi nghiên cứu khoa học đòi hỏihọc sinhnhiều kĩ năng. Một trong các kĩ năng cơ bản đó là thực hiện một quan sát có chủ đích.

d) Học khoa học không chỉ là hành động với các đồ vật, dụng cụ thí nghiệm màhọc sinhcòn cần phải biết lập luận, trao đổi; biết viết cho mình và cho người khác hiểu.

e) Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình tìm tòi – nghiên cứu.

f) Khoa học là một công việc cần sự hợp tác.

Một số phương pháp tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu

a) Phương pháp quan sát: Quan sát được sử dụng để:

– Giải quyết một vấn đề;

– Miêu tả một sự vật, hiện tượng;

– Xác định đối tượng;

– Kết luận.

b) Phương pháp thí nghiệm trực tiếp

Một thí nghiệm yêu cầu học sinh trình bày nên đảm bảo 4 phần chính:

– Vật liệu thí nghiệm;

– Bố trí thí nghiệm;

– Kết quả thu được

– Kết luận.

c) Phương pháp làm mô hình

d) Phương pháp nghiên cứu tài liệu

10 nguyên tắc cơ bản 2.1. Nguyên tắc về tiến trình sư phạm

  1. a) Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó.
  2. c) Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn.
  3. d) Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập.
  4. e) Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của các em.
  5. f) Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói của học sinh.

2.2. Những đối tượng tham gia

  1. a) Các gia đình, khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học.
  2. b) Ở địa phương, các cơ sở khoa học (Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu…) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình.
  3. c) Ở địa phương, các viện đào tạo giáo viên (Trường Cao đẳng Sư phạm, Đại học Sư phạm) giúp các giáo viên về kinh nghiệm và phương pháp dạy học.
  4. d) Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những môđun kiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải pháp thắc mắc. Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học. Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.

Trần Nam @ 13:13 26/10/2016

Số lượt xem: 207


Bạn đang xem chủ đề Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!