Top #10 ❤️ Phương Pháp Biện Chứng Là Gì Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

Quá Trình Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Lịch Triết Học

Phép Biện Chứng Trong Triết Học Phương Đông

Khám Phá Phương Pháp Truy Vấn Socrates

Bài 2. Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ

Phân Tích Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng

Các khái niệm “biện chứng” và “siêu hình” trong lịch sử được dùng theo một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mác-xít, chúng được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đối lập nhau của triết học.

Phương pháp biện chứng phản ánh “biện chứng khách quan” trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là “phép biện chứng”.

Phương pháp siêu hình là phương pháp:

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại. Nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thứcnnó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định.

Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

2.1. Phương pháp biện chứng là phương pháp:

– Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

2.2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng:

Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận.

Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là và người hoàn thiện là Hêghen.

Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng.

Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.

Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

Lịch Sử Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Triết Học

Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?

Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng

Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng

Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta

Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?

Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng

Giáo Án Gdcd Khối 10

Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt

Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng

Phương pháp biện chứng và ph­ương pháp siêu hình

Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện t­ợng của thế giới xung quanh ta tồn tại nh­ thế nào?

Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nh­ng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình.

*. Ph­ương pháp siêu hình

– Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái cô lập, tách rời đối t­ợng khỏi các chỉnh thể khác; giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

– Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật.

Nh­ư vậy, phư­ơng pháp siêu hình là ph­ơng pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một t­ duy cứng nhắc, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại..mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh.. mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.(Sđd, t.20, tr.37).

*. Ph­ương pháp biện chứng

– Nhận thức đối tư­ợng trong trạng thái liên hệ với nhau, ảnh h­ởng lẫn nhau và ràng buộc lẫn nhau.

– Nhận thức đối t­ượng trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển; đó là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện t­ợng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn bên trong của chúng.

Như­ vậy, ph­ương pháp biện chứng là phư­ơng pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”.

Phư­ơng pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và đ­ợc thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

– Trong phép biện chứng tự phát thời cổ đại, các nhà biện chứng cả ph­ơng Đông và phương Tây đã thấy các sự vật, hiện t­ợng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Nh­ng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, ch­a phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

– Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao là triết học cổ điển Đức (ng­ời khởi x­ớng là Cantơ và ng­ời hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử t­ duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của ph­ơng pháp biện chứng. Nh­ng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối.

– Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển d­ới hình thức hoàn bị nhất.

Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng

Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành

Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel

Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương

Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả

Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng

Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?

Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng

Giáo Án Gdcd Khối 10

Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt

Bài soạn tuần 3

Sự khác nhau giữa phương pháp siêu hình & phương pháp biện chứng

Triết học có nhiều phương pháp; trong đó có 2 phương pháp cơ bản là:

1. Phương pháp siêu hình

2. Phương pháp biện chứng.

Biện chứng và siêu hình là hai phạm trù trong triết học, nó là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau

1. Phương pháp siêu hình

Là phương pháp:

– Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác.

2. Phương pháp biện chứng

Là phương pháp

Xem xét về sự vật hiện tượng trong trạng thái động. Mọi sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ tác động qua lại nhau và trong trạng thái chung là phát triển.

VÍ DỤ

Một viên phấn

– Theo phương pháp luận biện chứng: thi dưới tác dung lực cơ học thi sau khi viết viên phấn sẽ bị mài mòn đi không còn hình dạng như trước nữa. Dưới tác dụng hoá học sẽ bị ăn mòn dần … nên theo thời gian viên phấn sẽ không còn như trước nữa.

– Theo pp luận siêu hình: thì dù bao lâu đi nữa thi viên phấn đó vẫn luôn tồn tai như thế không thay đổi.

Tại sao nói phát triển phải diễn theo đường xoáy ốc

– Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian.

– Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó.

– Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội. Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển

Tại sao có mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

Từ sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất: chất và lượng là 2 của một sự vật, chúng thống nhất với nhau. Sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn . Còn là nó, chưa trở thành cái khác.

Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật đấy,

Vd : Dưới áp suật bình thường của không khí, sự tăng giảm nhiệt độ trong khoảng giới hạn , từ 0 – 1000 độ C, nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng,

Trong mối liên hệ giữa lượng và chất, thì chất là mặt tương đối ổn định còn lượng là mặt biến đổi hơn

Sự vật động và pt của sự vật, bao giờ bắt đầu thay đổi về lượng. Xong phẩy không phải bắt kỳ sự thay đổi về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bắt kì sự thay dổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại, của sự vật .

Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định độ thì mới dẫn đến sự thay đổi về vật chất. Thời điểm mà đó dẫn ra bước nhảy, gọi là điểm nuốt . Điểm nút là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đủ làm thay đổi về chất của sự vật

VD: nhiệt độ của nước , giảm xuống 0 độ, nước thể lỏng chuyển về thể rắn,

Ý nghĩa phương pháp luận

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi.

Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy.

Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy.

Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chin muồi.

Những câu ca dao về lượng và chất

Lượng

”Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

“Yêu nhau ba bốn núi cũng trèo

Bốn sông cũng lội, năm đèo cũng qua”

“Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên”

“Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

“Trăm năm bia đá cũng mòn

Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”

“Thương em anh chẳng dám qua

Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

Chất

“Trong tốt ngoài xấu”

“Khẩu Phật , tâm xà”

“Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao”

“Con lợn có béo thì cỗ lòng mới ngon”

“Ở chi 2 dạ 3 bòng

Dạ cam thì ngọt cạ bòng thì chua”

“Nhân chi sơ tính bản thiện”

“Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”

“Thấy sang bắt quàng làm họ”

Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành

Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel

Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương

Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả

Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12

Những Nét Cơ Bản Của Phương Pháp Biện Chứng

Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng

Socrate Và Vấn Đề Tích Cực Hóa Nhận Thức

Thực Trạng Áp Dụng Phương Pháp Socrate (Truy Vấn) Và Mootcourt (Diễn Án) Trong Đào Tạo Luật Tại Một Số Trường Đại Học Và Giải Pháp Áp Dụng Tại Trường Đại Học Ngoại Thương

Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa

Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tạo Bản Đồ 3D Trong Excel

Trong sách báo triết học Liên Xô thường thấy một số tác giả tách riêng lý thuyết chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng như những phần riêng biệt của triết học Mác – Lênin. Các tác giả phân chia như vậy thường đưa học thuyết Mác về vật chất và ý thức, việc phân tích hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học vào phần lý thuyết, còn trong phần phương pháp biện chứng thì đưa học thuyết về các quy luật và phạm trù cơ bản của phép biện chứng.

Trong học thuyết triết học Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng liên hệ qua lại hữu cơ với nhau. Ở đây lý luận triết học thể hiện dưới dạng hệ thống các quan điểm đối với thế giới, cho ta một cách hiểu thống nhất về những hiện tượng xảy ra trong thế giới, xác định vị trí của con người ở đó. Lý luận này được đề ra không chỉ trên cơ sở giải quyết một cách khoa học vấn đề mối tương quan giữa vật chất và ý thức, mà còn trên cơ sở nghiên cứu những hình thức phổ biến của tồn tại, những thuộc tính và mối liên hệ phổ biến của thực tiễn khách quan, và trên cơ sở nhận thức những quy luật phổ biến hoạt động trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy con người. Còn nếu đưa học thuyết về các quy luật phổ biến của thực tiễn khỏi lý thuyết triết học, thì sẽ làm cho nó nghèo nàn đi rất nhiều, làm mất tính cơ sở và tính khoa học nhất quán của nó. Vấn đề là ở chỗ không có phép biện chứng với tư cách là lý thuyết chung của sự phát triển, không có những quy luật do phép biện chứng nghiên cứu, thì chúng ta không thể luận cứ một cách khoa học cho tính có sau của ý thức được, không thể chỉ ra rằng ý thức là kết quả phát triển của vật chất, và xuất hiện trong các tạo thể vật chất được tổ chức theo một kiểu thích hợp. Đồng thời, ta cũng không thể phát hiện được cơ chế phản ánh của thực tiễn khách quan trong ý thức, tức là không thể đề ra được lý luận nhận thức. Mặt khác, không thể loại trừ học thuyết về tính quy luật của mối liên hệ qua lại của vật chất và ý thức cũng như lý luận của sự nhận thức ra khỏi phép biện chứng. Không có cách hiểu duy vật về mối tương quan giữa vật chất và ý thức, không có lý luận của sự nhận thức như sự phản ánh tích cực, sáng tạo của thực tiễn trong ý thức con người, thì không thể nghiên cứu được một học thuyết khoa học về các quy luật phổ biến của thực tiễn và về phương pháp nhận thức biện chứng.

Không phải ngẫu nhiên C. Mác khi chỉ ra sự khác biệt về chất của phương pháp biện chứng của mình với phương pháp biện hcứng của Hê-ghen trước hết nhấn mạnh mối liên hệ của nó với việc giải quyết theo quan điểm duy vật vấn đề cơ bản của triết học. C. Mác viết: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp của Hê-ghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa. Đối với Hê-ghen, quá trình tư duy – mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm – chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng qua chỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi. Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”. Và ở một chỗ khác Mác viết: “… phương pháp nghiên cứu của tôi không giống phương pháp của Hê-ghen, bởi lẽ tôi là nhà duy vật, còn Hê-ghen là nhà duy tâm. Phép biện chứng của Hê-ghen là hình thức cơ bản của bất kỳ phép biện chứng nào, nhưng chỉ sau khi giải phóng nó khỏi hình thức thần bí của mình, và đó chính là cái khác biệt giữa phép biện chứng của Hê-ghen với phương pháp của tôi “.

Nhiều tác giả khác cũng nhấn mạnh mối liên hệ tất yếu giữa phương pháp nhận thức bei65n chứng với việc giải quyết duy vật vấn đề cơ bản của triết học. Chẳng hạn, về vấn đề này I.X. Na-rơ-xki đã viết: “Phương pháp biện chứng của Mác là phương pháp duy vật, và nó có thể trở thành phương pháp biến đổi và cải tạo thực tiễn chính bởi lẽ nó xa lạ với mọi sự tự biện định trước và bảo đảm phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan”. “Khi chúng ta nói tới ý nghĩa phương pháp lậun của các quy luật và phạm trù của phép biện chứng, – I.Đ. An-đrê-ép nhấn mạnh, – thì không phải hcúng ta nói tới phép biện chứng nói chung (mà thực ra không có), mà chính là nói tới phép biện chứng duy vật. Chúng ta đều biết rằng Mác đã nhận thấy sự khác biệt cơ bản của phương pháp duy vật biện chứng với phương pháp biện chứng của Hê-ghen, và thậm chí còn nhìn thấy cả sự đối lập trực tiếp giữa chúng chính trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học”.

Một vài tác giả có tính đến tình hình này và cho rằng nên gọi phương pháp của Mác đúng hơn là phương pháp biện chứng duy vật, chứ không chỉ đơn thuần là phương pháp biện chứng.

Khi loại trừ phép biện chứng ra khỏi lý luận về chủ nghĩa duy vật, học thuyết về các thuộc tính và mối liên hệ phổ biến của thực tiễn, về các quy luật phổ biến hoạt động trong tự nhiên, trong xã hội và tư duy đã bị đồng nhất với phương pháp biện chứng. Do đó phương pháp ở đây được hiểu không phải là những nguyên tắc định hướng con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của họ – những nguyên tắc được hình thành trên cơ sở các quy luật phổ biến của thực tiễn, mà lại được hiểu chính là các quy luật ấy, là học thuyết về chúng. Nhưng học thuyết về các quy luật hoạt động trong lĩnh vực nào đó của thực tiễn, như đã nêu trên, không phải là phương pháp, mà là lý thuyết. Vậy là, do không xem phương pháp biện chứng như tổng hòa các nguyên tắc, các yêu cầu đối với chủ thể tư duy hay chủ thể hành động, quy định hình thức hay trình tự hành động nhất định (hành vi) của chủ thể đối với khách thể, các tác giả tán thành quan điểm này đã chia học thuyết triết học Mác – Lênin thống nhất và hoàn chỉnh thành hai lý thuyết tương đối độc lập, tồn tại song song: lý thuyết về chủ nghĩa duy vật và lý thuyết về phép biện chứng. V.I. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong chủ nghĩa duy vật biện chứng liên hệ hữu cơ với nhau, và không phải là hai lý thuyết khác nhau mà chỉ là một mà thôi.

Là một phương pháp phổ biến được áp dụng trong bất kỳ lĩnh vực nào của nhận thức và hoạt động thực tiễn, phương pháp biện chứng phản ánh những thuộc tính và liên hệ phổ biến của thực tiễn khách quan. Những yêu cầu và nguyên tắc của phương pháp này được hình thành trên cơ sở các quy luật và phạm trù của phép biện chứng, là kết luận rút ra từ các tính quy luật biện chứng phổ biến và được biểu hiện trong nội dung của chúng. Những nguyên tắc này định hướng một cách đúng đắn cho con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của họ, tạo điều kiện đi sâu vào bản chất của đối tượng và cải tạo nó theo một mục tiêu nhất định, bởi lẽ những quy luật biện chứng được thể hiện trong các yêu cầu phương pháp luận và hướng quá trình tư duy vào một dòng nhất định được biểu lộ ngay trong đối tượng, và bởi lẽ là ngay trong đối tượng đó cũng có phép biện chứng.

TH: T.Giang – SCDRC

Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

Ý Nghĩa Của Phép Biện Chứng Heghen :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật

Vận Dụng Phép Biện Chứng Duy Vật Trong Quá Trình Xây Dựng Và Thực Hiện Đường Lối Đổi Mới Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Vốn Bình Quân Gia Quyền (Wacc) Là Gì? Cách Tính Chi Phí Sử Dụng Vốn Bình Quân Gia Quyền

🌟 Home
🌟 Top